Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

Ôn thi VHHĐ 3 - Phạm Thanh Hùng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (158.17 KB, 11 trang )

ĐỀ CƯƠNG VĂN HỌC HIỆN ĐẠI 3
Câu 2: Phong cách tùy bút Nguyễn Tuân
- Một số tùy bút của Nguyễn Tuân
+ Trước cách mạng tháng 8/1945: Một chuyến đi (1938); tập Tùy bút I (1941); tập Tùy
bút II (1943);…
+ Sau cách mạng tháng 8/1945: Đường vui (1949); Tùy bút Kháng chiến (1955); Tùy
bút Kháng chiến và hòa bình (1956); Tùy bút Sông Đà (1960); Tập tuỳ bút Hà Nội ta
đánh Mỹ giỏi (1972);…
* Trước cách mạng tháng 8: có thể nói là cô đúc trong một chử "Ngông": Ngông là
thái độ khinh đời làm khác đời dựa trên cái tài hoa sự uyên bác và nhân cách hơn đời
của mình. (Nguyễn Tuân chỉ thực sự công nhận như một phong cách văn chương độc
đáo kể từ tùy bút - du ký "Một chuyến đi", năm 1938. Tác phẩm là tập hợp những trang
viết từ chuyến du lịch không mất tiền sang Hương Cảng để tham gia thực hiện bộ phim
"Cánh đồng ma" - một trong những phim đầu tiên của Việt Nam. Nét đặc sắc nhất ở
"Một chuyến đi" chính là giọng điệu. Có thể nói đến đây Nguyễn Tuân mới tìm được
cách thể hiện giọng điệu riêng, một giọng điệu hết sức phóng túng, linh hoạt đến kỳ ảo :
"Khi thì trang nghiêm cổ kính, khi thì đùa cợt bông đùa, khi thì thánh thót trầm bổng,
khi thì xô bồ bừa bãi như là ném ra trong một cơn say chếnh choáng, khinh bạc đấy,
nhưng bao giờ cũng rất đỗi tài hoa" (Nguyễn Ðăng Mạnh). Nhân vật chính trong tác
phẩm là cái "tôi" ngông nghênh kiêu bạc của nhà văn. Một cái "tôi" sau quá nhiều đắng
cay tủi cực đã hầu như hoài nghi tất cả, chỉ còn tin ở cái vốn tình cảm, ý nghĩ, cảm xúc
sắc sảo và tinh tế của mình tích lũy được trên bước đường xê dịch.)
- Nguyễn Tuân là một người tài hoa uyên bác: Sự tài hoa uyên bác của ông thể hiện ở
các điểm sau
+ Tiếp cận mọi sự vật ở mặt văn hóa thẫm mĩ để khám phá và... khen chê.
+ Vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hóa nghệ thuật để quan sát hiện thực sáng tạo
hình tượng. (Ông ưa một lối viết liên tưởng mang tính chất tạo hình, ông viết không chỉ
bằng ngòi bút của một nhà văn mà dường như còn viết bằng nhãn quan, bằng ngòi bút
của một họa sỹ, của một nhà điêu khắc nên văn của ông rất giàu màu sắc, rất giàu hình
khối, rất giàu chất điện ảnh. Chất điện ảnh, chất điêu khắc, chất hội họa đã làm cho sự
hoa mỹ trong lời văn của Nguyễn Tuân rất rõ nét và đa dạng.)


+ Nhìn người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ tạo nên những nhân vật tài hoa để...đem đối
lập với những con người bình thường phàm tục. (tùy bút trước Cách mạng Tháng Tám


của Nguyễn Tuân thấm đẫm sự kiêu bạc của cái “tôi” tác giả - một con người tài hoa,
khinh bạc, muốn “nổi loạn” chống lại xã hội phàm tục) Tùy bút Nguyễn Tuân đúng là
“Tùy bút”, nghĩa là hết sức tự do. Mạch văn theo dòng suy nghĩ miên man chuyện
nọ gọi chuyện kia dường như cứ theo trí nhớ “lông bông” “tài tử” mà liên tưởng
tạt ngang hoặc cóc nhảy, bất chấp trình tự thông thường của thời gian, không gian
+ Tô đậm cái phi thường gây cảm giác mãnh liệt dữ dội.
+ Nói đến Tùy bút Nguyễn Tuân, phải nói đến giá trị của nó về mặt văn chương chữ
nghĩa hiễu theo nghĩa hẹp, nghĩa là những tìm tòi sáng tạo trong cách diễn ý, tả cảnh,
trong cách đặt câu, dùng từ. Nguyễn Tuân có một kho từ vựng hết sức phong phú mà
ông đã cù tích lũy với lòng yêu say mê tiếng mẹ đẻ. Vốn từ vựng ấy, trước cách mạng
tháng 8, ông thường dùng để chơi ngông với đời: hoặc đưa ra những cách nói oăm kỳ
cục cốt để true ghẹo thiên hạm hoặc đổ tràn ra mặt giấy để phô tài khoe chữ. Sau cách
mạng tháng 8, ông dùng vốn từ ngữ ấy để ngợi ca Tổ Quốc, ngợi ca nhân dân và để đánh
địch.
- NT là 1 con người có nhân cách đạo đức hơn đời: chổ dựa ở thái độ "ngông" của ông
không chỉ ở sự tài hoa uyên bác mà còn ở đạo đức hơn đời của ông. Cái gốc của nhân
cách đạo đức của NT là lòng yêu nước tinh thần dân tộc niềm tha thiết với cái đẹp của
văn nghệ của phong tục tập quán của thiên nhiên và những thú chơi tao nhã.
* Sau cách mạng tháng 8: có những chuyển biến quan trọng. Thái độ ngông nghênh
khinh bạc không còn nữa Giọng văn chủ yếu là tin yêu đôn hậu
- Nếu trước CMT8 NT luôn bi quan đối với hiện tại và tương lai. Ông chỉ tin vào cái đẹp
của quá khứ. Người tài hoa cái đẹp luôn lạc lõng. Cô độc giữa cuộc đời phàm tục thì sau
CMT8 ông vẫn ngợi ca những con người tài hoa ấy vẫn hướng đến những cái gì phi
thường mãnh liệt vẫn vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hóa nghệ thuật để quan sát
và mô tả vẫn tô đậm phong cách và cá tính độc đáo của mình. Điều khác là tinh thần
dân tộc và lòng yêu nước được phát huy mạnh mẽ trong tác phầm của ông. Cái đẹp

của người tài hoa có thể tìm thấy trong nhân dân trên mọi lĩnh vực
(Hai tập tùy bút : "Ðường vui" (1949) và "Tình chiến dịch" (1950) - ghi nhận chuyển
biến thật sự sâu sắc của ngòi bút Nguyễn Tuân. Ðáp lời kêu gọi của Ðảng, Nguyễn Tuân
hăng hái xốc ba lô lên vai dấn thân khắp các nẻo đường chiến dịch. Cái "tôi" giờ đây
không còn phá phách, ngông nghênh nữa mà rưng rưng hòa nhập, sẻ chia với đồng bào
đồng chí. Giọng điệu văn chương trở nên sôi nổi tin yêu, tràn ngập một tình cảm chân
thành đến hồn nhiên đối với quê hương đất nước, với Cách mạng và kháng chiến. Ngỡ
như sau phút dừng chân bên đường để định phương hướng, Nguyễn Tuân lại tiếp tục


bôn ba trên hành trình đi tìm cái Ðẹp, cái Thật. Có điều khác là những giá trị ấy giờ
đây không phải mất công tìm kiếm ở cõi quá vãng hoặc vô hình nào mà hiện hữu ngay
trong cuộc đời thực đang từng giây từng phút sinh sôi cuồn cuộn trước mắt. Nguyễn
Tuân như chuếnh choáng say sưa trước niềm hạnh phúc vô biên ấy. Ông vốc từng vốc
lớn chất liệu hiện thực và bày biện một cách hết sức tài hoa, tinh vi lên trang viết để thết
đãi cả nhân dân mình. Hàng loạt tùy bút đặc sắc ra đời trong mạch cảm hứng ấy :
"Phở", "Cây Hà Nội", "Con rùa thủ đô", "Tìm hiểu Sê Khốp",...)
- Tuy nhiên trên những trang văn phong cách riêng của ông vẫn rất rõ nét: Thiên nhiên
vẫn còn là những công trình thiên tạo tuyệt vời anh bộ đội, ông lái đò thậm chí chị hàng
cốm người bán phở... cũng là những con người tài hoa nghệ sĩ trong nghề nghiệp của
mình. ("Sông Ðà", viết từ 1958 đến 1960, là cái mốc quan trọng, đỉnh cao mới trong
sáng tác của Nguyễn Tuân từ sau Cách mạng tháng Tám. Tác phẩm như một dòng thác
lớn thanh âm ngôn ngữ, cảm xúc, tư tưởng được khơi đúng nguồn mạch chính, hệt con
sông Ðà "hung bạo và trữ tình", chảy băng băng qua vùng Tây Bắc hùng vĩ và ngạo
nghễ với thời gian. Ðọc "Sông Ðà", thấy trữ lượng cái Ðẹp - chất "vàng mười" của đất
nước và con người Việt Nam trong cuộc sống mới - quả là nhiều vô kể. Cánh cửa tâm
hồn tài hoa, lãng tử của Nguyễn Tuân như mở toang ra cho cái Ðẹp ùa vào :
"Ðời sống Tây Bắc ngày nay là một tấm lòng tin tưởng không bờ bến, tin mình tin
người, mấy chục dân tộc miền cao và đồng bằng tin cậy lẫn nhau, và nhất là tin chắc
vào cái chế độ đẹp sáng do tay mình đắp cao mãi lên trên chỗ cao nguyên tiềm tàng sức

sống này".
Ðặc điểm nổi bật của giọng điệu tùy bút Nguyễn Tuân chính là sự phong phú, đa
thanh, thỏa mãn đến hoàn hảo những sắc thái tình cảm tinh tế nhất. Trong mọi tình
huống nhà văn luôn có cách nói phù hợp, không chung chung, tạo được không khí cần
thiết cho ý đồ nghệ thuật của mình. Dường như một khi đã bắt đúng giọng thì không còn
giản đơn là viết nữa, nhà văn trở thành nghệ sĩ, mặc sức vẫy vùng múa lượn trên đỉnh
cao sáng tạo nghệ thuật. Như dòng sông Ðà "vừa hung bạo vừa trữ tình", mạch văn có
lúc cuồn cuộn, ầm ào, gân guốc ; có lúc đằm thắm, sâu lắng, thiết tha :
"Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to
mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là
khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu
mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tung rừng lửa, rừng
lửa càng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tới cái thác rồi. Ngoặt khúc sông
lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá".


" Con sông Ðà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây
trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt
nương xuân".)
Đặc điểm của Tùy Bút là giàu trữ tình. Nghĩa là tác giả được phép trực tiếp bộc lộ
cảm nghĩ của mình, thông qua cái tôi chủ quan mà phản ánh hiện thực. Trong Sông
Đà có lúc ông cảm thấy tâm hồn lai láng “muốn đề thơ vào sóng nước”. Thực ra
Sông Đà cũng như nhiều tùy bút khác viết về thiên nhiên đất nước, chính là những
áng thơ trự tình bằng văn xuôi ca ngợi tổ quốc giàu đẹp
Từ sau "Sông Ðà", Nguyễn Tuân tiếp tục đi và viết nhiều, chủ yếu vẫn ở thể tùy bút,
được tập trung in trong các tác phẩm tiêu biểu : "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi" (1972), "Ký"
(1976), "Hương vị và cảnh sắc đất nước" (1978). Nhìn chung, sáng tác thời kỳ này có
thể phân thành hai mảng chính : mảng thứ nhất viết về tình cảm Bắc - Nam và đấu
tranh chống Mỹ - Ngụy chia cắt đất nước ; mảng thứ hai tiếp tục khai thác vẻ đẹp của
đất nước và con người Việt Nam, của truyền thống văn hóa Việt Nam trong thời đại mới.

Công cuộc chống Mỹ đã đưa dân tộc ta lên tầm cao của thời đại mới. Tinh thần quyết
thắng từ tầm cao lịch sử ấy là âm hưởng chung của văn học thời kỳ này. Tuy nhiên,
Nguyễn Tuân đã thể hiện tinh thần ấy theo một cách riêng. Dưới ngòi bút của ông,
người Việt Nam vừa đánh Mỹ vừa sản xuất trong tư thế ung dung, sang trọng và đầy tài
hoa ; tư thế của một dân tộc không chỉ giành được chính nghĩa trong chiến đấu giữ
nước mà còn có bề dày truyền thống văn hóa lâu đời. Nhiều bài ký khiến người đọc phải
ngỡ ngàng trước một sức bút kỳ lạ với vốn sống ngồn ngộn, tinh tế ; vừa đầy ắp liên
tưởng bất ngờ, thú vị vừa nóng hổi tính thời sự. Giai đoạn này, bọn xâm lược Mỹ và bè
lũ tay sai như lọt vào đúng tầm ngắm của Nguyễn Tuân. Sự đối lập rõ rệt giữa truyền
thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta với dã tâm của kẻ thù tạo nên nguồn cảm hứng lớn
cho sáng tác. Ông đã nã những phát cực kỳ lợi hại, bóc trần bản chất xảo quyệt của
chúng, dù được chúng ngụy trang rất khéo léo ; góp phần động viên và tăng cường
nhận thức của quần chúng.
(Các bài tùy bút đánh Mỹ mang khá nhiều dấu ấn riêng của tác giả. Đặc điểm phong
cách ấy có thể tóm gọn trong mấy chữ: “Tùy bút Nguyễn Tuân”. Bằng giọng văn chậm
rãi, đay nghiến, bằng cái nhìn hóm hỉnh, té nhị và chữ nghĩa sắc sảo, Nguyễn Tuân
dành riêng cho mình một chỗ đứng trong văn học)
Sau cách mạng, căn bản đã hết rồi cái sau sưa tư nhấm nháp mình. Trong sáng tác của
anh đã dần dần xuất hiện những con người kháng chiến mà anh yêu mến khâm phục:
anh gia thông Dầu Gáo, anh biệt động, anh tự vệ thủ đô, anh du kích Liên xã…


(Nếu trong gia đoạn kháng chiến trước, kháng chiến chống P, Nguyễn Tuân viết nhiều
về sinh hoạt chiến sĩ và nhân dân qua những chuyến đi, thì cuộc kháng chiến lần thứ hai
này, đề tài chính và đóng góp chính của NT lại tập trung và giặc lái Mỹ. Đứng trên chỗ
đứng của dân tộc và gội trong không khí chiến thắng của nhân dân mà phê phán kẻ thù,
ngòi bút NT trên những tùy bút chống Mỹ, sau này tập hợp in trong Hà Nội ta đánh Mỹ
giỏi quả có một phong vị sảng khoái, hiên ngang hiếm có. Nhà văn tập trung sức bút để
vẽ nên những hình thù Mỹ và tội ác của chúng)
Cách mạng đã đem lại cho Nguyễn Tuân một quan điểm mới trong cách nhìn nhận

người và việc. Cuộc kháng chiến chống P và cải cách ruộng đất đã tahy đổi phần lớn
tình cảm trong ông. Những trang Tùy bút Kháng Chiến và Sông Đà đã dần dần cho thấy
một Nguyễn Tuân mới, khác, biết gắn bó và yêu thương người lao động.
(Bàn về giò, phở và về nhiều thứ khác nữ trong đời sống, người đọc không ai là không
công nhận Nguyễn Tuân là người có vốn đọc, vốn hiểu biết phong phú. Nhà văn biết
nhiều chuyện, chẳng hạn lý lịch một nhân vật, một địa danh, chẳng hạn tên các loại gỗ
ở rừng, hoặc số cây trồng ở Hà Nội ở tận con số lẻ.)
Câu 3: phát họa bức chân dung tinh thần trong thơ thế hệ các nhà thơ trẻ
1. Những nhà thơ của CN hiện thực cách mạng
- Hiện thực cách mạng luôn là nguồn sáng tạo vô tận của thơ ca. Thực tế thơ ca cách
mạng đã đem cuộc sống với toàn bộ sự phong phú đa dạng của nó làm giàu cho thơ.
Những bài thơ trong giai đoạn này trực tiếp đề cập đến những vấn đề nóng hổi của đời
sống chiến đấu bảo vệ Tổ quốc & xây dựng XHCN.
- Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước mang ý nghĩa và tàm vóc của thời đại. Hiện
thực đời sống chiến tranh của dân tộc ta hơn bao giờ hết “lấp lánh chất thơ”, hiện thực
tràn vào một cách ồ ạt từ những sự kiện to lớn, những thử thách của đ/sống chiến
trường, phút giáp mặt trọng chiến đấu, tổn thất đau thương, kì tích anh hùng và cả những
chi tiết bình thường trong c/sống. Những nhà thơ phần lớn là những chiến sĩ đi vào cuộc
ch/tranh, ở giữa cuộc chiến, trưc tiếp chiến đấu, giáp mặt với kẻ thù, cái chết. Tiếng thơ
của họ từ trong khỏi lửa vẫn vút lên nhân cách cao đẹp của con người thời đại.
- Hòa nhập trong không khí của thời đại chống Mĩ, trong sức sống mãnh liệt của dân tộc,
các nhà thơ trẻ đã cảm nhận được sâu sắc hơi thở cũng như niềm vui, nỗi buồn của nhân
dân Nguyễn Khhoa Điềm đã nói hộ thế hệ mình điều lo lắng chân tình:
“Trong chiến tranh này có ai nói giùm ta
Những kì diệu như một mùa nước lớn”


Các nhà thơ trẻ chủ động tìm đến những thử thách quyết liệt nhất của cuộc sống để ìm
cảm hứng sáng tạo, tìm chất thơ trong đời sống và để nâng cao tầm nhận thức và sâu sắc.
Nhạy cảm và giàu vốn sống chiến trường đó là ưu thế của các nhà thơ trẻ hơn các nhà

thơ trước. Với tư thế của người trong cuộc họ đã bổ sung vào bức tranh toàn cảnh của
cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước một mảng đ/sống lớn: đ/s chiến trường & trong
đó châm dung mhuoiwf cầm súng chống Mĩ.
* Đời sống chiến trường:
Sự đóng góp lớn của những cây bút trẻ họ đã đưa vào thơ những chi tiết ngổn ngang, bề
bộn, phức tạp, sống động của đ/s chiến trường. CŨng có lẽ bởi tâm hồn trẻ trung của
các nhà thơ trẻ
giàu sức đầm thắm yêu thương nên các anh dễ rung động trước những khía cạnh bình
thường trước cuộc sống:
“Giữa một vùng lửa cháy bom rơi
Tất cả lộ nguyên hình trân trụi
Cây xấu hổ với màu xanh bối rối
Tự dấu mình trong lá khép lim dim” ( Cây xấu hổ - Anh Ngọc)
Nghe tiếng chim kể chuyện trên đồi chốt, trong giây phút bình yên, giữa hai trận đánh,
tâm hôn anh lính trẻ Hoàng Nhuận Cầm xốn xang:
“Mũ tai bèo cứ nghiêng nghiêng
Nghe lăn lăn những tiếng chim xuống hầm” (Tiếng chim sau trận B52)
Cái mái tăng, một sự vật bình thường, gắn bó mật thiết vói c/s người lính dưới cái nhìn
của Nguyễn Duy nó trở nên thú vị, nên thơ “bầu trời vuông”:
“Trời tròn có lúc mưa rơi
Trời vuông vuông suốt bốn mùa nắng xanh” (bầu trời vuông)
Con người thấy được cái đẹp của ngoại cảnh là do cái đẹp trong tâm hồn. Người chiến sĩ
có thanh thản, có đùm bọc nhau trong gian khó, có hiểu vì sao lại nằm hầm thì mới hiểu
được:
Gió đùa đom đóm rừng sâu / Trong hầm nhấp nháy những bầu trời riêng.
Trong thơ Phạm Tiến Duật có đầy những chi tiết còn tươi nguyên sự sống chiến trường.
Đó là âm thanh tiếng cười, tiếng hát át tiếng bom của những con người mang trong mình
dòng máu chủ nghĩa anh hùng cách mạng giữa trường sơn. Khi là tiếng cười “ha ha” của



người đồng chí coi kho, tiếng cười giòn của những cô gái thanh niên xung phong. Khi là
tiếng hát bộc phá của anh công binh lầm lì, khi là tiếng hát đong đưa của cô gái hát trong
rừng. Khi thoáng nghe tiếng hát của những cô gái thanh niên xung phong làm cho các
anh lính trẻ trở nên hoạt bát, nhanh nhẹn lạ thường. Cuộc sống gắn liên vơi bom đạn tạo
những chi tiết được chắt từ đ/s hiện thực ch/ trường. Có những chi tiết bình thường
nhưng người đọc có thể cảm nhận mọt cách sâu sắc nghiệt ngã của chiến tranh. Ấy là đất
nước dân tộc VN đã phải hiến dân bao dòng máu tươi trẻ nhất của mình cho cuộc chiến,
những chàng trai, những cô gái trẻ trung hồn nhiên lạc quan yêu đời. Hơn nữa người đọc
còn cảm nhận tinh thần vượt lên trên tình thế của tuổi trẻ cầm súng. Sự ác liệt dữ dội, tàn
khốc, nghiệt ngã của chiên tranh được gợi lên chân thực, cụ thể sinh động trong thơ các
nhà thơ trẻ. Họ không hề né tránh đ/s chiến tranh:
“Ngày em phá nhiều bom nổ chậm
Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà” (Gửi e cô thanh niên xung phong)
Cô gái thanh niên xung phong hi sinh thói quen của mình vì thói quen ngang tầm với
mạng sống. Phá bom nổ chậm là một việc làm vô cùng nguy hiểm nhưng các cô gái chân
yếu tay mềm lại dám làm. Sự tàn khốc của chiến tranh thâm nhập cả vào trong giấc mơ,
hiện lên trong tiếng nói mớ vang nhà. Hay hình ảnh những chiếc xe không kính cũng gợi
lên phần nào sự dữ dội, hiểm nguy trên đường.
2. Chân dung tinh thần của người lính trẻ trong trang thơ trẻ
Phản ánh hiện thực trong những năm chiến tranh, các nhà thơ trẻ đều có xu hướng tập
trung khắc họa hình tượng nhân vật người lính. Bằng máu thịt của tâm hồn mình, các
nhà thơ trẻ đã dựng lên một cách cụ thể, sinh động bức chân dung tinh thần của các thế
hệ cầm súng, một thế hệ dàng hàng “ gánh đất nước trên vai”.
Hình ảnh người lính được khắc hạo trong thơ những nhà thơ lớp trước. Trong thơ của
họ, cái đẹp của người lính là cái đẹp về thế hệ đi trước, khí phách hào hùng, thái độ bất
khuất, sự hi sinh và trung thành tuyệt đối. Tố Hữu trong nhiều sáng tác luôn ngưỡng mộ
ngợi ca giải phóng quân gọi anh là con người đẹp nhất, con người ấy mang theo cội
nguồn dòng máu của dân tộc. Ngoài ra ông còn ngợi ca cái chết bất tử của anh giải
phóng quân:
“Anh đứng đây như nhười xưa đứng gác

Hùng vĩ, tự hào, nghe gọi điểm danh”
Những bài thơ của nhà thơ lớp trước viết về người lính cầm súng cũng gây nhiều xúc
động trong lòng người đọc. Nhưng phải đến các nhà thơ trẻ thì bức chân dung tinh thần


của các thế hệ trẻ cầm súng mới thực sự hoàn hảo. Họ là anh bộ đội, là cô gái thanh niên
xung phong, là những chiến sĩ lại xe…ở khắp các chiến trường đánh Mĩ & có thể gọi họ
bằng cái tên chung:NGười Lính.
Đó là những con người tồn tại trong vô van mối quan hệ & cac bình diện: tập thể - cá
nhân, lí tưởng – hiện thực, tiền tuyến – hậu phương, sống – chết, được – mất, cho –
nhận, vì mình – vì người, lí tưởng chung - số phận riêng, đội ngũ – cá nhân,…Nhà thơ
là người trực tiếp cầm súng: “Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình” (Hữu Thỉnh) &
mỗi câu thơ rút ra từ một cuộc đời người lính:
“ Mỗi câu thơ như sợi tơ dài
Rút ra từ tháng ngày bom đạn
Có thể là lời ca trên môi bạn
Có thể là ngọn lửa ở tay tôi” ( Trường ca sư đoàn – Nguyễn Đức Mậu)
Cho nên người lính trong thơ trẻ “ vừa là nhân vật trữ tình thắm thiết vừa mang sắc thái
tự biểu hiện gần gũi”
Người lính xuất hiện trong thơ trẻ không phải chỉ là con người có lí tưởng, có hành động
cao đẹp, mà còn là con người với tất cả sự phong phú, sâu sắc của đ/s tâm hồn.
Người lính bước vào cuộc chiến đấu khi còn rất trẻ. Họ lên đường đánh giặc rất đàn
hoàng, tự tin và khí thế. Ngay từ đầu họ đã nhận thức được trách nhiệm nặng nề của dân
tộc ta, của thế hệ trẻ đối vói nhân loại trong cuộc chiến đấu này:
“Bởi vì VN hôm nay
Là VN chống Mĩ
Chúng tôi gánh trên vai hành trang nặng nề của thế kỉ
Để bạn bình tâm bước vào ngưỡng của tự do” ( Mặt đường khát vọng – NK Điềm)
Sau sự nhận thức là sự khẳng định sự lựa chọn của mình là đúng:
“Người ta không thể chọn để được sinh ra

Nhưng chúng tôi đã chọn cánh rừng phút giây năm tháng ấy”
Cả một thế hệ đã nhận ra tình yêu TQ ko phải bằng những lời nói suông, mà bằng hành
động. Chiến trường với những cuộc đụng độ quyết liệt với kẻ thù hung bạo, những khó
khăn gian khổ tưởng chừng ko thể vượt qua vậy mà là nơi thử thách, thử lửa:
“Nơi cao nhất thử lòng ta yêu TQ


Thử lòng ta chung thủy vô tư” (Thanh thảo)
Xác định mục đích của cuộc chiến đấu là để g/phóng miền Nam, thống nhất đất nước, để
ngày mai có cảnh: “ Anh giắt tay em trời chi chít sao giăng – Thắp đèn ta sẽ chơi trăng
ngoài thềm”.
 Đó là hành động của những con người luôn suy nghĩ và cảm thụ thực tại của
mình trong tình cảm lớn của TQ, nhân dân. Những người lính với những hành
động dũng cảm như vậy xuất hiện nhiều trong thơ ca các nhà thơ trẻ ở giai đoạn
đầu và giai đọn giữa cuộc chtranh
Ở giai đoạn sau khi có một khoảng thời gian cho phép nhân vật trữ tình sống lại những
khía cạnh khác của con người trong chiến tranh. Tuy là những con người với tình cảm
lớn nhưng họ khong thoát khỏi những trăn trở trĩu nặng tâm tư. Hữu Thỉnh cũng như
những đồng đội của ông đang đọc lại những tâm tình của người lính trước giây phút hi
sinh vẫn đang mong chờ một lá thư, vẫn đang hình dung ra mẹ “Đang xếp lại cho anh
bộn bề giá sách”. Đây là bức chân dung người lính trên chiến trường có ung dung thanh
thản, có trăn trở suy nghĩ nhưng cuối cùng họ đi đến quyết định hi sinh cho tổ quốc. Qua
đó người đọc thấy được phần nào chiều sâu về đsống nội tâm phong phú của những
người lính, của những hành động dũng cảm.
Người lính với đs nội tâm phong phú đc in đậm trong các trang thơ của các nhà thơ trẻ,
điều đó làm cho bức chân dung người lính hoàn hảo hơn. Đi vào cuộc chiến đấu với tất
cả tính chất chủ đọng tự tin của những người lính có lí tưởng cao đẹp, có sức mahj và
tiềm lực, nên tâm hồn họ có những nét thanh thản hồn nhiên. Hơn nữa giữa chiến tranh
đau khổ khi cái chết kề bên những người lính gắn bó yêu thương nhau hơn bao giờ hết.
Đó là tình yêu thương giữa những con người cùng chung lí tưởng. Họ biết nhường thuận

lợi cho bạn nhận khó khăn về mình. Một anh công binh làm đường biết a lái xe hay bật
đèn ngầm đã ý tứ cắm biển thấp hơn để bạn dễ nhìn thấy. Một anh trinh sát tự nguyện
nếm một loại rau rừng để tìm ra thức ăn cho đồng đội:
“ Rau trinh sát ăn rồi nhớ lâu
Thêm hiểu tình rừng hai lần kháng chiến
Thêm hiểu những ngày áo xanh cầm súng
Dấu chân in khắp nẻo rừng già”
Tình đồng đội đẹp đẽ, cao thượng được Thanh Thảo nhắc nhiều đến trong thơ và trừơng
ca để rồi anh cảm nhận sự tồn tại của mình không phải vì một lí tưởng xa xôi nào mà
chính là nhờ đồng đội:


“Tôi đi giữa bàn tay hơi thở bạn đường
Không phải bó đuốc một trái tim riêng lẻ”
Trong tấm lòng người lính có khoảng không rông nhất sâu nhất dành cho quê hương,
hậu phương lớn. Hậu phương là đông lực là sức mạnh vô tận. Người mẹ là hình ảnh lớn
lao nhất tập trung nhất vơi nỗi biết ơn vô hạn :
“Qua giá buôt mới thấy mùa xuân đẹp
Mẹ đã vỗ cánh cho con thành người lính hôm nay”
Ở chiến trường xa xôi Nguyễn Đức Mậu mong được sống trong tình yêu thương chăm
sóc của mẹ “Mong về phép được ăn bát cơ mẹ xới”. Đối vơi Hữu Thỉnh thì sự hi sinh
của mẹ gắn liền vơi sự thực nghiệt ngã của một đất nước chiến tranh. Phải có sự từng
trải hiểu biết về cuộc đời yêu thương con người thì mới có khả năng dựng lại những hình
ảnh thực đến cốt lõi như vậy:
“Mẹ nén đau
Dấu tờ báo tử
Sáng mai lại tiễn con nhập ngũ
Bốn nghìn năm đất nước mấy khi yên”
Hon thế nữa sự thống nhất hài hòa giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu quê hương được
các nhà thơ thể hiện một cách sâu sắc thấm thía. Chỉ có trong giai đoạn này ty đôi lứa

mơi thcuwj sự mãnh liệt. Ty với tất cả sự phong phú với những cung bậc khác nhau đã in
đậm trong trang viết của nhiều nhà thơ. Chtranh ác liệt không làm mất đi cái thi vị ngọt
ngào của ty người lính trẻ. Cái “hương thầm”trong buổi tiễn đưa người ra trận “ Họ chia
tay vẫn chẳng nói điều gì/ Mà hương thầm thơm mãi bước người đi.”. Và rồi tình yêu
đôi lứa lại tạo động lực thôi thúc vẩy gọi “Tình yêu như một cánh chim/ Trông theo bàn
tay em vẫy/ Rập rờn bay suốt những chiến hào”. Ty thường gắn liền với nỗi nhớ đặc biệt
là nỗi nhớ da diết của người con gái hậu phương: Sóng (Xuân Quỳnh). Nỗi nhớ người
yêu thường trực với các anh trên đường hành quân và cây lad Trường Sơn như chứng
kiến tất cả “ Em ơi em anh không sao viết kịp một vần thư/ Thương nhớ là gì mà anh
mang nặng thế”. THương nhớ người yêu nhưng không phải ủy mị yếu mềm mà lại tiếp
thêm sức mạnh cho người lính chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ TQ, bảo vệ hạnh phúc cá
nhân.
 Nhìn lại ta thấy mỗi TG mỗi khám phá riêng về người lính nhưng all dựng nên
bức chân dung tinh thần của thế hệ trẻ chống Mĩ khá hoàn hảo. Những con người
vượt qua gian na vất vả chồng chất của cs, trên đường hành quân, vượt lên trên sự


tàn bạo của kẻ thù để cầm súng đánh giặc, để yêu thương suy nghĩ trăn trở… Bức
tranh không thể có được từ cái nhìn của người ngoài cuộc, một cảm giác hòi hợt,
một sự tưởng tượng chủ quan mà nó đucợ dựng lên bằng máu, mồ hôi, nước mắt
của chính những người cầm súng – những con người dập tắt lửa chiến tranh bằng
mau cuộc đời mình.
 Những cây bút thời chống Mĩ đã đưa vào thơ nhiều chi tiết sự kiện hình ảnh để
thấy được cách nhìn nhận đánh giá hiện thực đs, về chtranh.
 Đọc thơ của các nhà thở trẻ chúng ta hiểu hơn, sông hơn với thực tại chiến
trường,đs của chiến sĩ, đồng thời hiểu đucợ tâm trạng, suy nghĩ của nhũng người
cầm súng những năm chống Mĩ.
 Cuộc chiến đấu của dân tộc là cái nền chung tạo ra cảm xúc và là cái nguồn trong
những chất liệu chính tạo cảm hứng trong thơ. Mỗi nhà thơ trẻ đem lại cách nhìn,
cách khám phá riêng, một cách đặt vấn đề mang bản sắc của mình mà luôn có ý

nghã với all mọi người.
 Sự mở rông và tăng cường tính hiện thực trong thơ qua việc phản ảnh những
mảng hiện thực chiến tranh thật chân thực cụ thể với những chi tiết ngổn ngang bề
bộn còn bám đầy bụi đất chiến trường và nồng nặc mùi khét nghẹt của bom đạn
mà còn thể hiện chiều sâu tâm trạng, nội tâm phong phú cuat những người lính
trẻ.



×