Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

TÀI NGUYÊN KHÍ HẬU VIỆT NAM, NHỮNG THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (115.95 KB, 17 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
NGÀNH KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
------------------------------------------

BÁO CÁO MÔN HỌC CƠ SỞ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
TÊN CHUYÊN ĐỀ : TÀI NGUYÊN KHÍ HẬU VIỆT NAM, NHỮNG THUẬN
LỢI VÀ THÁCH THỨC

Nhóm 5
Nguyễn Lê Minh Thư
Phan Thị Cẩm Tiên
Nguyễn Chí Cường
Nguyễn Trương Duy Khương

Đồng Tháp, ngày 15 tháng 11 năm 2017


Mục lục
CHƯƠNG MỞ ĐẦU.....................................................................................................2
CHƯƠNG I : CỞ SỞ LÝ THUYẾT..............................................................................3
2.1. Khái niệm tài nguyên...........................................................................................3
2.2. Khái niệm khí hậu...............................................................................................4
2.3. Tài nguyên khí hậu..............................................................................................4
2.4. Tổng quan việt nam.............................................................................................4
2.4.1. Vị trí địa lý....................................................................................................4
2.4.2. Địa hình.........................................................................................................4
2.4.3. Khí hậu..........................................................................................................4
CHƯƠNG II:TÀI NGUYÊN KHÍ HẬU VIỆT NAM...................................................5
3.1. Tài nguyên khí hậu ở việt nam............................................................................5
3.1.1. Tài nguyên bức xạ - nắng..............................................................................5


3.1.2. Tài nguyên nhiệt............................................................................................5
3.1.3. Tài nguyên ẩm...............................................................................................7
3.2. Đánh giá chung về tài nguyên khí hậu.................................................................8
3.3. Phân hạng các khu vực tài nguyên khí hậu........................................................10
3.4. Thuận lợi và thách thức của tài nguyên khí hậu việt nam..................................12
3.4.1. Thuận lợi của khí hậu Việt Nam..................................................................12
3.4.2. Thách thức của khí hậu Việt Nam...............................................................13
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN.........................................................................................15

Danh mục bảng
Bảng 2.1 : Phân hạng các khu vực địa lý theo tài nguyên và điều kiện khí hậu...........10

1


CHƯƠNG MỞ ĐẦU
Các yếu tố khí hậu có vai trò to lớn trong đời sống và sự phát triển của sinh vật
và con người. Tác động của khí hậu đến con người, tốc độ phát triển của sinh vật và
tăng trưởng sinh khối. Trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền kinh tế và giao lưu
xã hội, khí hậu, thời tiết đang trở thành một dạng tài nguyên vật chất quan trọng của
con người.Khí hậu thích hợp tạo ra các khu vực du lịch, nuôi trồng một số sản phẩm
động thực vật có giá trị kinh tế cao (hoa, cây thuốc, các nguồn gen quý hiếm khác.
Ngược lại, nhiều hoạt động thiếu tính khoa học của con người đã tác động trực
tiếp đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu, làm cho các hiện tượng thời tiết và khí hậu cực
đoan như xoáy thuận nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán và những sóng nhiệt ngày càng gia tăng,
đe dọa đáng kể tới sự phát triển bền vững
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, những đặc điểm khí hậu của Việt Nam rất
phức tạp. Trên phần lớn lãnh thổ Việt Nam, hầu như nơi nào cũng phải chịu ảnh hưởng
của những bất thường do khí hậu, thời tiết với những mức độ khác nhau


2


CHƯƠNG I : CỞ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Khái niệm tài nguyên
"Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử dụng để tạo ra của cải
vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới của con người".
Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người. Xã hội loài người càng phát
triển, số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người khai thác
ngày càng tăng.Người ta phân loại tài nguyên như sau:
Theo quan hệ với con người: Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên xã hội.
Theo phương thức và khả năng tái tạo: Tài nguyên tái tạo, tài nguyên không tái
tạo.
Theo bản chất tự nhiên: Tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài
nguyên biển, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng, tài nguyên khí hậu cảnh
quan, di sản văn hoá kiến trúc, tri thức khoa học và thông tin.
Tài nguyên thiên nhiên được chia thành hai loại: tài nguyên tái tạo và tài nguyên
không tái tạo:
Tài nguyên tái tạo (nước ngọt, đất, sinh vật v.v...) là tài nguyên có thể tự duy trì
hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý. Tuy nhiên, nếu sử
dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái không thể tái tạo được. Ví dụ:
tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn
v.v...
Tài nguyên không tái tạo: là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc biến
đổi sau quá trình sử dụng. Ví dụ như tài nguyên khoáng sản của một mỏ có thể cạn
kiệt sau khi khai thác. Tài nguyên gen di truyền có thể mất đi cùng với sự tiêu diệt của
các loài sinh vật quý hiếm.
Tài nguyên con người (tài nguyên xã hội) là một dạng tài nguyên tái tạo đặc biệt,
thể hiện bởi sức lao động chân tay và trí óc, khả năng tổ chức và chế độ xã hội, tập
quán, tín ngưỡng của các cộng đồng người.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đang làm thay đổi giá trị của nhiều
loại tài nguyên.Nhiều tài nguyên cạn kiệt trở nên quý hiếm; nhiều loại tài nguyên giá
trị cao trước đây nay trở thành phổ biến, giá rẻ do tìm được phương pháp chế biến hiệu
quả hơn, hoặc được thay thế bằng loại khác.Vai trò và giá trị của tài nguyên thông tin,
văn hoá lịch sử đang tăng lên.

3


2.2. Khái niệm khí hậu
Khí hậu bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển, các
hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng khác trong khoảng thời
gian dài ở một vùng, miền xác định. Điều này trái ngược với khái niệm thời tiết về mặt
thời gian, do thời tiết chỉ đề cập đến các diễn biến hiện tại hoặc tương lai gần.Khí hậu
của một khu vực ảnh hưởng bởi tọa độ địa lý, địa hình, độ cao, độ ổn định của băng
tuyết bao phủ cũng như các dòng nước lưu ở các đại dương lân cận. Khí hậu phân ra
các kiểu khác nhau dựa trên các thông số chính xác về nhiệt độ và lượng mưa
2.3. Tài nguyên khí hậu
Tài nguyên khí hậu là nguồn lợi về ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, gió… của một
vùng nào đó mà có thể khai thác nhằm thúc đẩy sự sinh trưởng, phát triển, phát triển,
tăng năng suất cây trồng, vật nuôi hoặc phục vụ những mục đích phát triển của các
ngành KT – XH.
2.4. Tổng quan việt nam
2.4.1. Vị trí địa lý
Nước Việt Nam nằm ở đông nam lục địa châu Á, Bắc giáp nướcCộng hòa nhân dân
Trung Hoa, Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dânLào và vương quốc Campuchia,
Đông và Nam giáp Biển Đông (Thái BìnhDương), có diện tích 329.600 km2 đất liền,
gần 700.000 km2 thềm lục địavới nhiều đảo, quần đảo.
2.4.2. Địa hình
Địa hình của Việt Nam khá đặc biệt với hai đầu phình ra (Bắc bộ và

Nam bộ) ở giữa thu hẹp và kéo dài (Trung bộ). Địa hình miền Bắc tương đối
phứctạp.Địa hình Trung bộ với dải Trường Sơn trải dọc phía tây về giải
đồng bằng hẹp ven biển. Địa hình Nam Bộ bằng phẳng, thoải dần từ đông sang tâylà
vựa lúa của cả nước, hàng năm đang tiếp tục lấn ra biển hàng trăm mét.
2.4.3. Khí hậu
Tuy lãnh thổ Việt Nam nằm trọn trong vùng nhiệt đới nhưng khí hậu Việt
Nam phân bố thành 3 vùng khí hậu riêng biệt theo phân loại khí hậu Köppen với miền
Bắc và Bắc Trung Bộ là khí hậu cận nhiệt đới ẩm, miền Trung và Nam Trung bộ là khí
hậu nhiệt đới gió mùa, miền cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ mang đặc điểm nhiệt đới
xavan. Đồng thời, do nằm ở rìa phía Đông Nam của phần châu Á lục địa, giáp với biển
Đông (một phần của Thái Bình Dương), nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu khí
hậu gió mùa mậu dịch, thường thổi ở các vùng vĩ độ thấp.

4


CHƯƠNG II:TÀI NGUYÊN KHÍ HẬU VIỆT NAM
3.1. Tài nguyên khí hậu ở việt nam
3.1.1. Tài nguyên bức xạ - nắng
Bức xạ - nắng là một dạng tài nguyên khí hậu cơ bản và quan trọng của nước
ta.Các quy luật phân bố theo thời gian và không gian của dạng tài nguyên này:
Trực xạ
Là thành phần quan trọng nhất của cán bức xạ có sự biến đổi tuần hoàn ngày một
cách rõ rệt. Số liệu cho thấy trực xạ có giá trị cực tiểu vào ban đêm và cực đại vào lúc
giữa trưa. Tháng 7 là tháng có giá trị cực xạ cao nhất và cũng có sự biến đổi ngyaf
theo quy luật đó
Bức xạ tổng cộng và cán cân bức xạ
Nhờ có độ cao mặt trời lớn và thời gian chiếu sang tương đối đồng đều, nên bức
xạ tổng cộng hàng năm đến được mặt đất trên khắp lãnh thổ nước ta khá dồi dào, đạt
trong khoảng từ 100 – 170Kcal/cm2 và phân bố cũng khá đồng đều trong phạm vi cả

nước. Nhìn chung, bức xạ tổng cộng năm vẫn có sự giảm dần theo vĩ độ trong phạm vi
từ cực Nam Trung Bộ (Phan Thiết) đến đồng bằng Bắc Bộ. Riêng đồng bằng Nam Bộ
có trị số bức xạ tổng cộng năm nhỏ hơn vùng Nam Trung Bộ. Tham gia mạnh mẽ vào
quá trình phân phối lượng bức xạ tổng cộng là đặc điểm địa hình, nhất là những địa
hình có hiệu ứng rõ rệt với gió mùa đông. Ví dụ: dãy Hoàng Liên Sơn đã ngăn chặn
được ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nên khu vực Tây Bắc có lượng bức xạ tổng
cộng khá cao, hơn cả vùng Đông Bắc, duyên hải Bắc Bộ và Trung Bộ.
Liên quan đến sự tăng cường ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc, cán cân bức xạ
giảm đi rõ rệt theo vĩ độ.Độ cao địa lý và độ xa, gần biển tuy có ảnh hưởng đến cán
cân bức xạ, song cũng không thật rõ rệt như một vài yếu tố khí hậu khác. Ở cùng vĩ độ,
các đảo có cán cân bức xạ cao hơn đất liền.
3.1.2. Tài nguyên nhiệt
Sự biến đổi theo thời gian của nhiệt độ
Sự biến đổi tuần hoàn ngày của nhiệt độ là hệ quả trực tiếp của tuần hoàn ngày
của các đặc trưng bức xạ, trước hết là trực xạ.Nhịp điệu của biến trình ngày hầu như
không đồng nhất trên mọi miền của lãnh thổ nước ta. Song, mức độ biến đổi, trước hết
là biên độ, phụ thuộc khá chặt chẽ với vĩ độ, độ cao và khoảng cách đến biển.
Hầu hết các nơi trên nước ta, biên độ nhiệt độ ngày đều đạt chỉ tiêu khí hậu nhiệt
đới, nghĩa là không dưới 60C, chỉ trừ một số vùng duyên hải và đảo ở phía Bắc.Biến
đổi tuần hoàn của năm của nhiệt độ là hệ quả của tuần hoàn năm về cân bằng bức xạ
và của hoàn lưu gió mùa.
Mức độ biến đổi, nhất là biên độ năm, có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng khác
nhau trên lãnh thổ nước ta, cụ thể:
Ở Nam Bộ : 3 – 4oC
5


Nam Trung Bộ: 4 – 8oC
Bắc Trung Bộ: 9 -13oC
Bắc Bộ : 10 – 14oC

Sự hoạt động của gió mùa Đông Bắc đã tạo nên mùa lạnh ở phần phía Bắc với
tiêu chuẩn là nhiệt độ trung bình tháng ổn định dưới 20 0C. Mùa lạnh kéo dài 4 – 5
tháng ở Bắc Bộ và 1 – 3 tháng ở Bắc Trung Bộ. Ở Miền Nam, hầu như không có tháng
nào nhiệt độ dưới 200C, vì vậy không có mùa lạnh
Đối với các vùng núi cao ở phía Bắc, mùa lạnh thường bắt đầu sớm hơn và kết
thúc muộn hơn.Ở độ cao trên 1500m, hầu như quanh năm nhiệt độ đều đạt tiêu chuẩn
mùa lạnh.Vào nửa năm sau, mùa lạnh được thay thế bằng mùa nóng với tiêu chuẩn
nhiệt độ trung bình tháng ổn định trên 25 0C.Ở Miền Bắc, mùa nóng kéo dài 4 – 5
tháng.Ở Nam Trung Bộ lên đến 9 – 10 tháng.Nam Bộ và Thuận Hải thì Quanh năm là
mùa nóng.
Đối với khí hậu nhiệt đới, theo một số nhà khí hậu, biên độ năm của nhiệt độ
phải dưới 60C. Ở nước ta, chỉ các vùng dưới vĩ tuyến 13 0B mới đạt tiêu chuẩn này.
Như vậy, khí hậu nước ta, tuy nằm trong đới nhiệt đới, song do sự tác động của hoàn
lưu gió mùa đã có sự khác biệt sâu sắc về nền nhiệt, đặc biệt là ở phần phía Bắc của
lãnh thổ, so với các vùng nhiệt đới khác trên thế giới.
Phân bố theo không gian của nhiệt độ trung bình
Nhiệt độ trung bình (nhiệt độ trung bình năm, trung bình tháng I tiêu biểu cho
mùa đông và trung bình tháng VII tiêu biểu cho mùa hè) là những đặc trưng quan
trọng để đánh giá tài nguyên khí hậu.
Theo số liệu, nhiệt độ trung bình năm có quy luật phổ biến nhất là giảm dần theo
vĩ độ và theo độ cao địa lý. Ở nước ta, trên dãi đồng bằng duyên hải từ Phan Thiết đến
Quảng Ninh, nhiệt độ trung bình năm giảm khoảng 0,40C trên 1 vĩ độ. Trên các vùng
núi cao và vừa , trị số này gaimr khoảng 0,50C trên 100m chiều cao.
Sự phân bố tổng nhiệt độ năm trên lãnh thổ nước ta bị chi phối chủ yếu là do các
nhân tố phi nhiệt đới giảm dần từ Bắc vào Nam và các yếu tố nhiệt đới lại tang dần
theo hướng đó. Vì vậy, trên tổng thể, đã hình thành cá vàng đai tổng nhiệt độ theo độ
cao. Dộ cao của các vành đai này thấp dần theo vĩ độ.

6



3.1.3. Tài nguyên ẩm
Biến đổi theo thời gian đặc trưng của mưa
Trên nước ta, nơi nào cũng có sự tương phản sâu sắc về các đặc trưng mưa giữa
thời kỳ mưa nhiều (mùa mưa) và thời kỳ mưa ít (mùa khô)
Mùa khô ở nước ta trên phần lớn lãnh thổ là thời kỳ thịnh hành của gió mùa Tây
Nam hoặc gió mùa Đông Nam. Riêng vùng duyên hải Trung Bộ, do hiệu ứng của Dãy
Trường Sơn đối với gió mùa Tây Nam nên mùa mưa bắt đầu từ giai đoạn gió mùa Tây
Nam suy yếu và gió mùa Đông Bắc ở giai đoạn cực thịnh
Ở Bắc Bộ, mùa mưa kéo dài từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 9 hoặc đầu tháng 10.
Mưa nhiều nhất là các tháng 7 hoặc 8
Ở Duyên hải Trung Bộ, có thời kỳ mưa tiểu mãn từ giữa tháng 5 đến giữa tháng
6. Sau đó là thời kỳ khô, nóng lien tục cho đến giữa tháng 8. Mùa mưa bắt đầu từ cuối
tháng 8 cho đến tháng 11,12 thậm chí là thangs1. Lượng mưa đặc biệt lớn vào tháng
9,10 ở Bắc Trung Bộ và vào các tháng 10, 11 ở Nam Trung Bộ.
Ở Tây Nguyên, Nam Bộ và Thuận Hải, mùa mưa kéo dài từ cuối tháng 4, đầu
tháng 5 cho đến giữa tháng 11. Các tháng 8,9,10 là các tháng có lượng mưa trung bình
và vì thế mỗi năm đêu có chuẩn sai riêng.
Các yếu tố lượng mưa, số ngày mưa, cường độ mưa đều có chuẩn sai âm và
dương xấp xỉ nhau.Có nghĩa là số năm có lượng mưa hụt so với trung bình gần bằng
số năm vượt hơn trung bình.
Phân bố không gian đặc trưng của mưa
Lượng mưa năm ở nước ta xê dịch trong phạm vi khá rộng, từ 700 – 5000mm.
Tuy vậy lượng mưa phổ biến là 1000 – 2400mm. Những nơi có lượng mưa ngoài giới
hạn phổ biến là các trung tâm mưa lớn hoặc mưa nhỏ
Nhìn chung, lượng mưa năm ở miền Bắc nhiều hơn một ít so với ở Miền Nam.
Khó có thể nêu quy luật và quan hệ giữa lượng mưa với vĩ độ, tuy nhiên cũng có thể
có một số nhận xét như sau:
Ở Bắc Bộ: lượng mưa ở Tây bắc và Quảng Ninh có xu thế tăng theo vĩ độ.
Ở Trung bộ: lượng mưa giảm dần từ Bắc Nghệ An đến nam Hà Tĩnh , từ Bắc

Quảng Trị đến Huế, nhưng lại có xu thế tăng dần theo vĩ độ đoạn từ Bình Thuận đến
Quảng Ngãi.
Ở Nam Bộ càng về phía Nam, mưa càng tăng
Số ngày mưa ở nước ta dao động từ 70 – 220 ngày.Sự phân hóa số ngày mưa
không sâu sắc như lượng mưa. Vùng ít mưa : vùng núi thấp Đông Bắc, đồng bằng ven
biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ với số ngày mưa thường dưới 100 ngày
Lượng mưa ngày lớn nhất : ngày có lượng mưa trên 50mm được coi là ngày mưa
lớn, trên 100mm đươc coi là ngày mưa cực lớn. Lượng mưa ngày lớn nhất là 731mm
quan trắc được ở Thanh Hóa và Huế. Trị số phổ biến trong khoảng 200-500mm. Mưa
lớn thường gặp lũ lụt bất thường và nhiều tác hại khác như gây xói mòn đất rất mạnh
7


Phân bố gió
Hướng gió
Ở nước ta các mùa gió tương ứng với mùa hoàn lưu: mùa đông và mùa hè.Hướng
gió mùa đông: hướng chủ đạo là Đông và Bắc. Trên vùng đồng bằng duyên hải Bắc Bộ
có hướng gió Đông Bắc, Đông. Đến Bắc Trung Bộ chuyển thành Tây Bắc, đến Nam
Trung Bộ và Nam Bộ là hướng Đông.Hướng gió tháng chuyển tiếp (tháng IV): hướng
gió giống mùa đông song tần suất đồng đều hơn.
Hướng gió mùa hè: hướng chủ đạo là Tây và Nam. Ở Nam Bộ hướng gió thịnh
hành là Tây Nam, vùng Nam Trung Bộ là gió Nam.Đến Bắc Trung Bộ lại chuyển
thành gió Tây Nam và thành gió Nam hoặc Đông Nam ở Bắc Bộ.
Ở Tây Nguyên và Tây BẮc gió có thành phần hướng Tây: thịnh hành với tần suất
70%.Hướng gió tháng chuyển tiếp (tháng X) về cơ bản đã có những nét của hướng gió
mùa đông song tần suất các hướng gió thiên Bắc chưa cao.
Phân bố tốc độ gió
Tần suất lặng gió
Tháng 10 là tháng có tần suất lặng gió lớn nhất, ở các đảo gần bờ, vùng đồng
bằng duyên hải và Tây Nguyên đạt 20-40%, ở Vùng Tây Bắc đạt tới 60%. Như vậy tần

suất lặng gió tăng từ biển vào đất liền
Tốc độ gió trung bình
Nhìn chung, trên các đảo ngoài khơi, tốc độ gió trung bình năm đều đạt trên
4m/s. Ở vùng đồng bằng duyên hải tốc độ gió trung bình năm phổ biến là 1-2m/s (Bắc
Bộ); 1,5-2,5 m/s (Bắc Trung Bộ) và đến 2,5-4,0 m/s ở Nam Trung Bộ
Ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ gió vùng núi yếu hơn ở Đồng Bằng, song ở Tây
Nguyên thì lại rất cao.
Tốc độ gió cực đại
Tốc độ gió cực đại ở miền Bắc lớn hơn hẳn miền Nam.Ở miền Nam gió mạnh
nhất phổ biến là 20-30 m/s và ít có sự khác biệt giữa đồng bằng và miền núi. Trái lại, ở
miền Bắc tốc độ gió cực đại ở đồng bằng ven biển lớn hơn so với ở vùng núi, trung
du.
Hầu như gió mạnh nhất đều xảy ra vào mùa hè (gió dông, gió bão).Tuy nhiên, gió
mạnh còn có thể là gió mùa Đông bắc. Vì vậy, kể cả trong mùa hè lẫn mùa đông, mỗi
nơi đều có khá nhiều ngày có gió trên 10 m/s, trên 15 m/s và lớn hơn nữa
3.2. Đánh giá chung về tài nguyên khí hậu
Ở một nước nông nghiệp như nước ta, mối quan hệ chủ yếu giữa khí hậu và sự
phát triển kinh tế - xã hội là quan hệ sản xuất nông nghiệp.
Quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên khí hậu là khai thác những điều kiện ánh
sang, nhiệt độ, nước để nuoi dưỡng thực vật nhằm chuyển hóa năng lượng mặt trời
thành vật chất hữu cơ cần thiết, để thực vật có thể hoàn thành một cách tốt nhất các
giai đoạn sinh trưởng, phát triển của mình. Vì vậy, điều kiện khí hậu thích nghi với cây
8


trồng, thông qua sự thích nghi về điều kiện nhiệt, ẩm, ánh sang… sẽ được coi như
những dạng tài nguyên thiên nhiên có lợi để khai thác và sử dụng. Ngược lại, nhiều
hiện tượng thời tiết có hại cho sản xuất như: hạn hán, bão lụt, sương muối, gió Tây khô
nóng… được coi như là những điều kiện khí hậu bất lwoji, không còn mang giá trị tài
nguyên đối với sản xuất nông nghiệp nữa. Nói như thế, không có nghĩa là không cần

quan tram, nghiên cứu các hiện tượng này mà ngược lại, phải chú trọng hơn nhằm hạn
chế các tác hại của chúng.
Trong nền sản xuất nông nghiệp ở nước ta, cây lúa nhiệt đới là cây hang đầu,
chiếm gần 90% diện tích canh tác. Vì vậy, đánh giá tài nguyên khí hậu nước ta đối với
sản xuất nông nghiệp, trước hết là xem xét mối quan hệ giữa khí hậu với các nhu cầu
khí hậu sinh thái của cây lúa.
Khí hậu nước ta mang tính nhiệt đới gió mùa, trong đó có sự phân chia thành
miền khí hậu phía Bắc có mùa đông lạnh và miền khí hậu phía Nam quanh năm đều
nóng. Mặc khác, với lãnh thooer kéo dài hơn 15 vĩ độ, với trên 80% diện tích đồi núi,
trong đó, có trên 10% là núi cao, khí hậu còn mang nhiều sắc thái khác nhau từ nhiệt
đới điển hình đến khí hậu Á nhiệt đới, ôn đới núi cao… Vì vậy, khí hậu nước ta đáp
ứng được yêu cầu khí hậu sinh thái của nhiều giống, loài thực vật, động vật có các
nguồn giốc khác nhau.
Khí hậu Nam Bộ đáp ứng đầy đủ nhu cầu khí hậu sinh thái cho các vùng trồng
cây cao su, hồ tiêu, xoài… những cây nhiệt đới điển hình, ưa nhiệt độ cao quanh năm,
mưa nhiều, giàu ánh sang.
Ở các vùng núi cao của nước ta, sự phân hóa thành các vành đai nhiệt theo độ
cao, trong điều kiện mưa - ẩm lớn đã tạo khả năng trồng nhiều giống cây trồng có
nguồn gốc A nhiệt đới, ôn đới ưa lạnh như bắp cải, su hào, đào, lê, táo, mận… Đặc biệt
một số cây thuốc quý như nhân sâm, dương quy, đỗ trọng đều tìm được những vùng
khí hậu sinh thái thích hợp trên các vùng núi của nước ta để phát triển.
Điểm đặc biệt quan trọng là chế độ khí hậu gió mùa nhiệt đới ở nước ta đã có
những sắc thái riêng biệt, phản ánh tính đa dạng của cấu trúc thời tiết trong năm.Vì
vậy, mỗi khu vực đều có một cơ cấu cây trồng và thời vụ tương ứng.Mặc khác, tại mỗi
khu vực tồn tại những điều kiện bất lợi về khí hậu, có khi rất phổ biến nhưng lại mang
tính cục bộ của địa phươg đó.Những bất lợi khí hậu đáng chú ý nhất là:
Rét lạnh, sương giá, sương muối trong mùa đông.
Trong mùa đông, xuất hiện các đợt rét lạnh hoặc sương giá, sương muối làm cây
lúa, cây mạ có thể bị chết rét.Cây ưa nóng khi gặp các đợt rét mạnh, sương muối nắng
đều có thể bị ức chế.

Hạn hán mùa đông Bắc Bộ.
Ở Bắc Bộ có nhiều năm mưa ít, khô hanh kéo dài 3-4 tháng. Kết quả là, lúa mùa
trỗ muộn, không được thu hoạch hết, cây vụ đông phải tưới tiêu thường xuyên, lúa
chiêm, lúa xuân phát triển rất kém.
9


Nắng nóng, khô hạn cuối mùa đông ở Nam Bộ và Tây Nguyên.
Do thời kỳ mùa đông mưa rất ít, bốc hơi lớn và đến cuối mùa đông là thời kỳ
nắng nóng và khô hạn gay gắt, nên cây lúa không phát triển được, nhiêu cây nông
nghiệp phải tưới thường xuyên mới sống nổi qua thời kỳ này.
Nắng nóng, khô hạn kéo dài giữa mùa hè ở duyên hải Trung Bộ.
Vào thời kỳ này, cây trồng thiếu nước trầm trọng, lúa mùa không đủ nước, nên
phải cấy muộn vì vậy, khi trỗ bông lại gặp mùa lũ lụt.
Bão lũ, úng vào mùa hè ở Bắc Bộ.
Ngay từ tháng VI, VII nhiều đợt mưa lớn, tập trung hay kéo dài gây ra tình trạng
dư thừa nước ở các vùng đồng bằng. Từ chối tháng VII đến tháng IX, nhiều đợt mưa
lớn ở cả thượng nguồn (vùng núi) và đồng bằng đã gây nên nhiều cơn lũ lớn. Mặc
khác, do ảnh hưởng của bão, dải hội tụ nhiệt đới, khắp Bắc Bộ có lượng mưa rất lớn,
gây úng ngập hang vạn ha hoặc gây vỡ đê.
Bão, mưa lũ ở Trung và Nam Bộ
Ở Trung Bộ, khi kết thúc mùa gió Tây khô nóng là mùa mưa lũ dồn dập và tập
trung rất lớn, dẫn đến tình trạng úng lụt nghiêm trọng, gây tác hại to lớn đến sản xuất,
đời sống xã hội.
Ở Nam Bộ mưa lũ và lũ lụt lội thường xuyên xảy ra và gây thiệt hại to lớn cho cả
phần đồng bằng Nam Bộ
3.3. Phân hạng các khu vực tài nguyên khí hậu
Các yếu tố khí hậu đều có ý nghĩa riêng biệt đối với sản xuất, đời sống xã hội.Ở
góc độ khai thác này, một yếu tố nào đó là thuận lợi, nhưng nếu ở gốc độ khác, có khi
yếu tố khí hậu đó lại là sự bất thuận lợi. Vì vậy, phân hạng mức độ thuận lợi của các

yếu tố khí hậu không thể tổ hợp thành một điều kiện khí hậu thuận lợi đồng nhất của
một vùng cho mỗi lĩnh vực kinh tế - xã hội. Các khu vực địa lý ở nước ta được đánh
giá theo các mức độ thuận lợi khác nhau, riêng biệt theo từng yếu tố khí hậu khác nhau
Bảng 2.1 : Phân hạng các khu vực địa lý theo tài nguyên và điều kiện khí hậu
Hạng Bức xạ nắng

Nhiệt độ

Tài nguyên
mưa

Gió

Tài nguyên
nhiệt mùa
đông

Khu vực
địa lý

Khu vực
địa lý

Khu vực địa


Khu vực địa


Khu vực địa



10

Tài
nguyên
mưa mùa

Khu vực
địa lý

Tận
dụng
mưa
bão
Khu
vực địa



1

Ninh
Thuận
Bình
Thuận

Ninh
Thuận
Bình

Thuận
Nam Bộ

Việt Bắc
Quảng Ninh
ĐB Bắc Bộ

Ninh Thuận
Bình Thuận
Nam Bộ
Tây Nguyen

Ninh Thuận
Bình Thuận
Nam Bộ
Bình Trị
Thiên
Duyên Hải
Nam Bộ

ĐB Bắc Bộ Tây
Đông Bắc
Bắc

2

Nam Bộ
Tây
Nguyên
Duyên Hải

Nam Trung
Bộ

Tây
Nam Bộ
Nguyên
Tây Bắc
Duyên Hải Tây Nguyên
Nam
Trung Bộ

ĐB Bắc Bộ
Quảng Ninh
Thanh Nghệ
Tĩnh
Bình Trị
Thiên
Duyên Hải
Nam Trung
Bộ

ĐB Bắc Bộ
Thanh Nghệ
Tĩnh
Tây Nguyên

Ninh
Thuận
Bình
Thuận

Nam Bộ
Tây
Nguyên

Đông
Bắc

3

Tây Bắc
Thanh
Nghệ Tĩnh
Bình Trị
Thiên

Thanh
Nghệ Tĩnh
Bình Trị
Thiên

Đông Bắc
Tây Bắc

Đông Bắc
Tây Bắc

Tây Bắc

4


ĐB Bắc Bộ ĐB Bắc
Đông Bắc
Bộ
Đông Bắc
Tây Bắc

Ninh
Thuận
Bình
Thuận
Nam
Bộ
ĐB
Bắc Bộ
Duyên
Hải
Nam
Trung
Bộ
Quảng
Ninh
Thanh
Nghệ
Tĩnh
Bình
Trị
Thiên

5


Đông Bắc

Ninh Thuận
Bình Thuận

Thanh Nghệ
Tĩnh
Bình Trị
Thiên
Duyên Hải
Nam Trung
Bộ

3.4. Thuận lợi và thách thức của tài nguyên khí hậu việt nam
11

Thanh
Nghệ Tĩnh
Bình Trị
Thiên
Duyên Hải
Trung Bộ


3.4.1. Thuận lợi của khí hậu Việt Nam
Khí hậu Việt Nam thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật. Các loài động vật ở
khí hậu nhiệt đới có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn và có số cá thể hằng năm nhiều hơn.
Làm tăng khả năng phân bố, tính thích nghi và đa dạng về loại của động vật. Duy trì số
lượng, đa dng không dẫn đết tuyệt chủng. Ngoài ra nguồn thức ăn đa dạng và phong
phú giúp cho động vật duy trì về số lượng và mật độ của loài

Khí hậu Việt Nam phù hợp với nhiều loại cây trồng nông nghiệp khác nhau giúp
kinh tế phát triển, vì Việt Nam phát triển kinh tế chủ yếu nhờ nông nghiệm. Đặc biệt
nền nhiệt ẩm cao, khí hậu phân mùa tạo điều kiện cho chúng ta phát triển nên nông
nghiệp lúa nước. Một trong những nền nông nghiệp chủ lực của nước ta.
Khí hậu Việ Nam cung cấp lượng bức xạ lớn, nguồn ánh sáng dồi dào, nguồn
nhiệt phong phú cho cây trồng phát triển quanh năm và cho năng suất cao. Độ ẩm
không khí cao, lượng mưa dồi dào cho phép cây trồng tái sinh mạnh mẽ, thúc đẩy nở
hoa, kết trái. Cũng trong điều kiện nóng - ẩm còn giúp cho cây ngắn ngày tăm thêm từ
1 đến 2 vụ/ năm; đối với cây dài ngày có thể khai thác được nhiều đợt, nhiều lứa/năm.
Do các đặc trưng của khí hậu nước ta, đã tạo điều kiện để bố trí một tập đoàn cây trồng
– vật nuôi đa dạng bao gồm cả nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới với hệ sinh thái phát triển
bền vững.
Năng lượng mặt trời ở Việt Nam có tiềm năng to lớn về khai thác và ứng dụng.
Việt Nam có lợi thế là nước nằm trong giải phân bổ ánh nắng mặt trời nhiều nhất trong
năm trên bản đồ bức xạ mặt trời của thế giới. Vì vậy, ứng dụng năng lượng mặt trời ở
Việt Nam như một nguồn năng lượng tại chỗ để thay thế cho các dạng năng lượng
truyền thống, đáp ứng nhu cầu của các vùng dân cư này là một kế sách có ý nghĩa về
mặt kinh tế, an ninh quốc phòng.
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với bờ biển dài, Việt Nam cơ bản
để phát triển năng lượng gió. So sánh tốc độ gió trung bình trong vùng Biển Đông Việt
Nam và các vùng biển lân cận cho thấy gió tại Biển Đông khá mạnh và thay đổi theo
mùa. Việt Nam là nước có tiềm năng gió lớn nhất trong 4 nước trong khu vực. Phù hợp
phát triển năng lượng gió, năng lượng sạch hạn chế ô nhiễm môi trường và đem lại
tiềm năng về kinh tế. Hơn nửa việc phát triển năng lượng gió cần một lực lượng lao
động là các kỹ sư kỹ thuật vận hành và giám sát vì vậy giúp tạo thêm nhiều việc làm
cho người dân. Ngoài ra người dân không phải chịu thiệt hại do thất thu hoa mầu hay
tái định cư và cũng không phải gánh chịu các tác động xâu, ô nhiễm môi trường đến
sức khỏe
Việt Nam có điều kiện khí hậu ôn hòa thuận lợi ít biến động, cảnh quan đẹp, đa
dạng về sinh học, các mùa rõ rệt trong năm rất phù hợp phát triển du lịch. Từ du lịch

biển, du lịch sinh thái miền Tây sông nươc, hay đến các vùng núi cao đều thuận lợi
cho việc phát triển du lịch.
12


3.4.2. Thách thức của khí hậu Việt Nam
Việt Nam đang đối mặt với biến đổi khí hậu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi
khí hậu là phát triển kinh tế nước ta. Sự biến đổi khí hậu làm cho khí hậu các vùng của
nước ta nóng lên, kết hợp với sự suy giảm lượng mưa làm cho nhiều khu vực khô hạn.
Ảnh hưởng đến cây trồng, hạn chế sự phát triển của nông nghiệp. Cần tìm ra các giải
pháp để thích nghi với biến đổi khí hậu như tìm ra các loại giống cây nông nghiệp chịu
hạn tốt, sinh trưởng mạnh trong thời tiết tay đổi và khắc nghiệt. Ngoài ra xâm nhập
mặn cũng là một trong những vấn đề cần được quan tâm nhất là khu vực Tây Nam Bộ,
nơi chủ yếu là nông nghiệp lúa nước. Xâm nhập mặn tiêu diệt và phá hủy nhiều loại
sinh vật nước ngọt, làm suy giảm năng suất lúa. Gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh
tế nước ta. Thách thức được đề ra cho nước ta là tìm kiếm, nghiên cứu các giống lúa
chịu được mặn và ngập nước cao nhưng vẫn cho chất lượng tốt và năng suất ổn định.
Ngoài ra xâm nhập mặn còn làm thu hẹp diện tích sản xuất nông nghiệp của nước ta đe
dọa nghiệp trọng đến an ninh lương thực quốc gia. Sự thay đổi các yếu tố khí hậu có
thể làm nảy sinh một số bệnh mới đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy cầm và có
thể phát triển thành dịch hay đại dịch. Ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân trong
vùng. Tạo nên áp lực lớn về an sinh, xã hội của nước ta.
Khí hậu nhiệt đới ẩm đem lại cho ta nhiều thuận lời tuy nhiên cũng có không ít khó
khăn:
Độ ẩm cao gây khó khăn trong việc bảo quản máy móc, thiệt bị. Đặc biệt nhất
đó chính là nông sản của người dân.
Các thiên tai như mưa bão, lũ lụt, hạn hán hằng năm gây tổn thất rất lớn cho các
ngành sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến hoa màu, cây trồng, và động vật. Ngoài ra
còn gây thiệt hại về người và tài sản. Gây áp lực về phúc lợi xã hội. Gây ảnh hưởng
đến mỹ quan vùng đó. Ảnh hưởng đến tìm năng phát triển du lịch. Ngoài ra còn làm ô

nhiễm môi trường và tổn thất phục hồi môi trường sau thiên tai. Làm môi trường thiên
nhiên dễ bị suy thoái.
Ngoài ra du lịch Việt Nam còn phụ thuộc vào thiên nhiên quá nhiều. Nhiều
nghiên cứu cho thấy “ Nhiệt độ tăng thì doanh thu du lịch sẽ giảm”. Cần có những biện
pháp ngăn chặn phòng ngừa biến đổi khí hậu làm giảm các hiện tượng cực đoan như
bão, lốc xoáy, lũ về tần suất xuất hiện và cường độ. Để hạn chế sự suy giảm về tài
nguyên du lịch cũng như tiềm năng du lịch và làm giảm kinh phí phục hồi các điểm
du lịch sau thiên tai.
Mưa đóng vai trò quan trọng nhất trong việc cung cấp nước cho cơ thể sống. Tuy
nhiên mưa cũng làm ảnh hưởng xấu đến sự sống của sinh vật, môi trường và du lịch
cũng như ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế như sau :Mưa rào gây nhiều thiệt hại
như các chồi non cây bị hư thối, ngăn chặn sự nẩy mầm của hạt giống và các chồi
mầm dưới đất do mưa quá lớn làm đất mặt bị nén chặt. Gây ra xói mòn và rửa trôi lớp
đất mặt và đất nhanh bị thoái hóa. Gây thiệt hạng về cây trồng, nông sản, kiềm hãm sự
13


phát triển của nông nghiệp ở nước ta. Thách thức đối với nước ta là tìm ra các cách
thức hạn chế xói mòn và rửa trôi của đất. Làm giảm thiểu các tác động của mưa rào
đối với vây non, sự nảy mầm của hạt giống. Ngoài ra mưa trái vụ còn ảnh hưởng đến
năng suất của cây trồng
Tuy tiềm năng về năng lượng gió rất cao nhưng bên cạnh đó cũng còn rất nhiều
hạn chế như. Những nơi có lượng gió phù hợp để khai tác năng lượng gió là những nơi
có dân cư thưa thớt, thời tiết khô nóng, khắc nghiệt và là những vùng dân tộc đặc biệt
khó khăn của Việt Nam. Ngoài ra còn gây ra tiếng ồn trong khi vận hành cũng như
phá vỡ cảnh quan tự nhiên và có thể ảnh hưởng đến tín hiệu của các sống vô tuyến.
Kinh phí vận hạnh khá cao. Giá điện cũng sẽ tăng lên rất nhiều. Gây trở ngại lớn cho
người dùng. Ngoài ra nhược điểm lớn nhất của năng lượng gió là phụ thuộc vào khí
hậu, thời tiết và độ gió. Vì vậy nếu muốn phát triển năng lượng gió cần hết sức nghiên
cứu hết sức nghiêm túc, kỹ càng về chế độ gió, địa hình khu vực. Vì những lý do trên,

tuy năng lượng gió ngày càng hữu dụng nhưng không thể là loại năng lượng chủ lực

14


CHƯƠNG III: KẾT LUẬN
Nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa là điều kiện để phát triển nông
nghiệp đặc biệt là nông nghiệp lúa nước một trong những nguồn lợi chính cho kinh tế
nước ta. Thuận lợi cho đời sống của con người cũng như sự phát triển và sinh trưởng
của động, thực vật. Tài nguyên khí hậu nước ta phù hợp để khai thác năng lượng sạch
và tiềm năng phát triển năng lượng sạch. Tuy nhiên thì hiện nay năng lượng sạch vẫn
còn khá xa lạ với chúng ta. Để phát triển các mô hình năng lượng sạch cần có sự đầu
tư nghiêm túc về nghiên cứu, về thiết bị kỹ thuật để hạn chế rủi ro đối với đời sống con
người và cảnh quan nước ta.
Ngoài những thuận lợi thì song song đó cũng còn những khó khăn và thách thức
mà nước ta đang phải đối mặt như biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn. Hiện nay biến
đổi khí hậu đã và đang diễn ra làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân, ảnh hưởng
đến phát triển kinh tế, gây ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó xâm nhập mặn cũng gây
nên những tổn thất nặng nề đối với nông nghiệp lúa nước.
Cần theo dõi và dự đoán trước tình hình của biến đổi khí hậu. Để đưa ra những
biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa một cách kịp thời. Làm hạn chế tổn thất, thiệt hại về
người, và làm ảnh hưởng xấu đến môi trường nước ta. Đầu tư nghiên cứu khoa học kỹ
thuật tìm ra các loại giống có thể chống chịu được với biến đổi khí hậu. Tuyên truyền
và hướng dẫn người dân cách phòng chóng và nhận thức được những hậu quả mà biến
đổi khí hậu gây ra.

15


16




×