ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------------
VI THỊ HỒNG
Tên đề tài:
"NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LỢN CON MẮC BỆNH PHÂN
TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ TẠI HUYỆN BA CHẼ,
TỈNH QUẢNG NINH"
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú Y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2016
Thái Nguyên - năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------------
VI THỊ HỒNG
Tên đề tài:
"NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LỢN CON MẮC BỆNH PHÂN
TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ TẠI HUYỆN BA CHẼ,
TỈNH QUẢNG NINH"
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú Y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2016
Giảng viên hƣớng dẫn: TS. Nguyễn Văn Sửu
Thái Nguyên - năm 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Để trở thành một kỹ sư được xã hội chấp nhận , mỗi sinh viên khi ra
trường cần trang bị cho mình vốn kiến thức khoa học, chuyên môn vững vàng
và sự hiểu biết về xã hội. Do vậy, thực tập tốt nghiệp là việc hết sức quan
trọng giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thúc đã học, vận
dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất, tiếp cận và làm quen với công việc.
Qua đó, sinh viên sẽ nâng cao trình độ, đồng thời tạo cho mình tác phong làm
việc khoa học, có tính sáng tạo, để ra trường phải là một cán bộ vững vàng lý
thuyết, giỏi về tay nghề đáp ứng yêu cầu của sản xuất góp phần vào sự phát
triển của đất nước.
Xuất phát từ quan điểm trên sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm
khoa Chăn nuôi Thú y – trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và thầy
giáo hướng dẫn cũng như sự tiếp nhận của cơ sở. Em đã tiến hành thực tập tại
Trạm Thú y huyện Ba Chẽ với chuyên đề: “Nghiên cứu tình hình lợn con
mắc bệnh phân trắng và biện pháp phòng trị tại huyện Ba Chẽ, Tỉnh
Quảng Ninh”.
Được sự dẫn dắt tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Văn
Sửu, cùng với sự nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khóa luận. Tuy nhiên
do trình độ có hạn, bước đầu còn bỡ ngỡ trong công tác nghiên cứu. Nên khóa
luận của em không tránh khỏi những sai sót và hạn chế. Em rất mong nhận
được sự quan tâm và giúp đỡ của thầy cô giáo để bài khóa luận được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 11 năm 2015
Sinh viên
Vi Thị Hồng
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................ 35
Bảng 4.2. Tình hình mắc phân trắng của đàn lợn con tại địa bàn huyện Ba
Chẽ, tỉnh Quảng Ninh ................................................................... 36
Bảng 4.3. Tỷ lệ mắc phân trắng lợn con theo tính biệt ................................. 37
Bảng 4.4: Tỷ lệ mắc phân trắng lợn con theo tuổi ........................................ 38
Bảng 4.5: Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tháng ............................. 40
Bảng 4.6. Triệu chứng lâm sàng khi lợn con mắc bệnh phân trắng .............. 42
Bảng 4.7. Tỷ lệ lợn con chết do bệnh phân trắng theo tuổi ........................... 42
Bảng 4.8. Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn con ...................................... 44
iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Cs
Cộng sự
CNTY
Chăn nuôi thú y
LMLM
Lở mồm long móng
PTCN
Phương thức chăn nuôi
TT
Thể trọng
Vđ
Vừa đủ
iv
MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................... 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.4.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 2
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................... 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm sinh lý của lợn con .................................................................. 3
2.1.2. Bệnh phân trắng ở lợn con ...................................................................... 7
2.1.3. Giới thiệu về thuốc điều trị bệnh phân trắng ........................................ 21
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 25
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 25
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước .......................................................... 26
PHẦN 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CƢ́U ................................................................................................................ 27
3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 27
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu............................................................ 27
3.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi .......................................... 27
3.3.1. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 27
3.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi .............................................................................. 27
3.4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 27
3.5. Phương pháp xử lý số liệu........................................................................ 29
v
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ...................................................... 30
4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ........................................................... 30
4.2. Kết quả nghiên cứu .................................................................................. 36
4.2.1. Tình hình mắc bệnh phân trắng của đàn lợn tại 3 xã thuộc huyện Ba
Chẽ, tỉnh Quảng Ninh. .................................................................................... 36
4.2.2. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt ................................. 37
4.2.3. Xác định tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tuổi ......................... 37
4.2.4.Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tháng ...................................... 39
4.2.5. Triệu chứng lâm sàng của lợn con mắc bệnh phân trắng...................... 41
4.2.6. Tỷ lệ về lợn con chết do bệnh phân trắng theo tuổi .............................. 42
4.2.7. Bệnh tích của lợn con chết do nghi mắc bệnh phân trắng .................... 43
4.2.8. Kết quả phòng và điều trị bệnh phân trắng lợn con .............................. 43
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................... 45
5.1.Kết luận ..................................................................................................... 45
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 46
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi lợn ở Việt Nam là một nghề có từ lâu đời và giữ vai trò hết
sức quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Thịt lợn chiếm từ 70-80% tổng
số thịt cung cấp ra thị trường. Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn của
nước ta phát triển rất mạnh cả về số lượng, về chất lượng. Nhu cầu giống lợn
có chất lượng cao của xã hội ngày càng tăng nhanh chóng. Nhiều cơ sở chăn
nuôi lợn tập chung và các hộ gia đình đã chú ý phát triển chăn nuôi lợn nái để
tăng số lượng con giống, đáp ứng nhu cầu của chăn nuôi lợn thịt. Tuy nhiên,
việc sản xuất lợn con giống còn gặp nhiều khó khăn do tình hình dịch bệnh
xuất hiện ngày càng nhiều, làm giảm chất lượng con giống.
Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng rất phổ biến trong chăn nuôi
lợn giống ở nước ta. Nếu không được phòng trị bệnh kịp thời, tình hình lợn
con mắc bệnh phân trắng có thể gây ra tỷ lệ chết cao, thiệt hại lớn về kinh tế
cho con người chăn nuôi, làm giảm nghiêm trọng chất lượng con giống và là
nguyên nhân làm giảm năng suất của lợn trong giai đoạn nuôi thịt.
Lợn con bị bệnh phân trắng do nhiều nguyên nhân gây ra. Một trong
các nguyên nhân quan trọng gây bệnh phân trắng ở lợn con là do các vi khuẩn
như: E.coli, Salmonella…
Thực tế qua nhiều năm cho thấy đàn lợn con mắc bệnh phân trắng là rất
phổ biến và gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi. Vì vậy, việc điều tra
tình hình mắc bệnh là rất cần thiết để kịp thời đưa ra các biện pháp điều trị
nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại cho ngành chăn nuôi.
Trước tình hình thực tế và được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y
và thầy giáo hướng dẫn, trong phạm vi chuyên đề này, tôi tiến hành đề tài:
2
“Nghiên cứu tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng và biện pháp phòng
trị tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Xác định tình hình mắc bệnh phân trắng trên đàn lợn con tại huyện Ba
Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
- Đưa ra biện pháp phòng và trị bệnh phân trắng cho lợn con.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Nắm được tình hình mắc bệnh phân trắng trên đàn lợn con nuôi tại địa
bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
- Chẩn đoán và đưa ra một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng trên đàn
lợn con nuôi tại địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
- Có cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi và giúp đỡ địa
phương có những định hướng và kế hoạch trong phát triển chăn nuôi lợn.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học về bệnh
phân trắng lợn con và biện pháp phòng trị bệnh tại địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh
Quảng Ninh.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những minh chứng về tác hại của bệnh
phân trắng ở lợn con, đồng thời là những khuyến cáo có ý nghĩa cho hộ chăn
nuôi lợn trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng để chẩn đoán và phòng bệnh phân
trắng cho lợn con, góp phần khống chế bệnh, giảm thiệt hại về kinh tế cho
người chăn nuôi.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Đặc điểm sinh lý của lợn con
* Đặc điểm về sinh trƣởng, phát triển của lợn con
Lợn con trong giai đoạn này có tốc độ sinh trưởng phát dục rất nhanh.
Theo dõi tốc độ tăng trưởng của lợn con thấy rằng khối lượng lợn con lúc 10
ngày tuổi gấp 2 lần lúc sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi
gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày gấp 7- 8 lần, lúc 50 ngày tuổi gấp 10 lần, lúc 60
ngày tuổi gấp 12- 14 lần.
Lợn con bú sữa có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh nhưng không đều
qua các giai đoạn. Tốc độ nhanh nhất là 21 ngày đầu, sau 21 ngày tốc độ giảm
xuống. Có sự giảm này do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa
của lợn mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu lợn con bị
giảm thường kéo dài 2 tuần, đây được gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn
con. Chúng ta có thể hạn chế giai đoạn này bằng cách cho lợn tập ăn sớm và
bổ sung Dextran-Fe cho lợn con vào 3- 7 ngày tuổi.
Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích luỹ
chất dinh dưỡng rất mạnh, lợn con ở 21 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ
được 9- 14 g protein/kg khối lượng. Trong khi đó, lợn trưởng thành chỉ tích
luỹ được 0,3- 0,4 g protein/kg khối lượng. Qua đó, ta thấy cường độ trao đổi
chất ở lợn con và lợn trưởng thành chênh lệch khá lớn. Mặt khác, ta biết lợn
con trong thời kỳ này chỉ tích luỹ nạc là chính. Vì vậy tiêu tốn thức ăn ít hơn
so với lợn trưởng thành.
Tác giả Nguyễn Khánh Quắc, (1993) [15] cho biết: Các thành phần
trong cơ thể lợn thay đổi rất nhiều, hàm lượng nước trong cơ thể giảm dần
theo tuổi, đặc biệt lợn càng lớn thì giảm càng nhiều. Hàm lượng lipit tăng
4
nhanh theo tuổi từ khi mới đẻ đến 3 tuần tuổi. Hàm lượng protein cũng tăng
nhanh theo tuổi nhưng với hàm lượng không nhất định. Hàm lượng khoáng có
biến đổi liên quan đến quá trình tạo xương. Từ lúc mới đẻ đến 3 tuần tuổi có
hàm lượng khoáng giảm đáng kể và ở giai đoạn 21- 56 ngày tuổi giảm không
đáng kể.
* Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Cùng với sự tăng lên của khối lượng, cơ thể còn có sự phát triển của
các cơ quan trong cơ thể, trong đó cơ quan tiêu hóa của lợn phát triển nhanh
nhưng chưa hoàn thiện. So với lúc sơ sinh thì dung tích dạ dày của lợn lúc 10
ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, và lúc 60 ngày tuổi thì gấp 60
lần. Sự tăng trưởng chiều dài và thể tích ruột non có thể liên quan đến hàm
lượng xelluloze trong thức ăn bổ sung. Vì vậy, tập ăn sớm cho lợn con là biện
pháp tốt nhất trong chăn nuôi.
Mặc dù sinh trưởng nhanh, nhưng cơ quan tiêu hóa chưa hoàn thiện về
chức năng, đặc biệt là hệ thống thần kinh. Vì vậy, lợn con phản ứng chậm với
các yếu tố tác động lên chúng. Do cơ quan tiêu hóa chưa thành thục nên lợn
con dễ mắc bệnh tiêu hóa, dễ rối loạn tiêu hóa. Do một số men tiêu hóa thức
ăn ở lợn con chưa có hoạt tính mạnh, nhất là 3 tuần đầu sau khi sinh, như
pepsin, Amilaza, maltaza, saccaraza, nên khả năng tiêu hóa của các loại thức
ăn khác ngoài sữa mẹ kém. Nhìn chung, lợn con bú sữa chỉ có khả năng tiêu
hóa các chất dinh dưỡng trong sữa mẹ, còn khả năng tiêu hóa các chất bổ
sung kém (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [14].
Ở lợn từ 14-16 ngày tuổi, tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn ở
trạng thái sinh lý bình thường nữa. Việc cho lợn tập ăn sớm có tác dụng thúc
đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện vì thế sẽ
rút ngắn giai đoạn thiếu HCl. Vì khi bổ sung thức ăn sẽ kích thích tế bào thành
dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị.
5
Lợn con dưới 1 tháng tuổi trong dịch vị không có HCl, vì lúc này lượng
axit tiết ra rất ít và nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch. Hiện tượng này
được gọi là Hypoclohydric, là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hóa ở dạ
dày lợn con. Vì thiếu HCl tự do nên dịch không có tính sát trùng, vi sinh vật
xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây nhiều bệnh tiêu hóa
ở lợn con (Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm, 1995) [7].
Trong dịch vị của lợn con mới đẻ trong khoảng 20-25 ngày đầu thiếu
HCl. Lợn con 3-4 tuần tuổi thì dạ dày chưa có HCl tự do, vì lúc này lượng
HCl tiết ra rất ít và nó nhanh chóng kết hợp với dịch vị dạ dày. Dịch vị thu
được ở lợn con 7 ngày tuổi có pH= 2,8; ở 10 ngày tuổi có pH=2,4-2,7. Do
hàm lượng HCl rất ít nên hệ vi sinh vật phát triển mạnh gây ra bệnh phân
trắng ở lợn con.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [14], dịch tụy có ý nghĩa quan trọng
đối với sự. Nó phân giải 60-80% protein, gluxit và lipit trong thức ăn. Dịch
tụy bao gồm các bicacbonat và chứa các enzyme giúp cho qua trình tiêu hóa
tinh bột, protein, chất béo… Các enzyme đó là Trypsin, Cacboxypeptiaza,
Galactaza, Dipeptitaza, Protaminaza, Nucleaza…
Sự tiêu hoá tiêu hoá của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt. Khi cho
ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết dịch vị mạnh, hơn
nữa dịch vị thu được khi cho ăn thức ăn hạt chứa HCl nhiều hơn và sức tiêu
hoá nhanh hơn dịch vị khi cho ăn sữa.
Men amilaza và maltaza có từ khi lợn con mới đẻ song hoạt tính thấp,
sau 3 tuần tuổi mới tiêu hoá tinh bột nhanh và mạnh.
Men saccaraza: Đối với lợn dưới 2 tuần tuổi thì hoạt tính thấp.
Men catepsin: Là men tiêu hoá protein trong sữa đối với lợn con dưới 3
tuần tuổi, men này đầu tiên hoạt động mạnh sau đó giảm dần.
6
Men lipaza và chimosin: 2 men này có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu
sau đó giảm dần.
* Đặc điểm cơ năng điều tiết thân nhiệt
Cơ năng điều tiết nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt
chưa ổn định, nghĩa là sự sinh nhiệt và thải nhiệt chưa cân bằng. Khả năng
điều tiết nhiệt của lợn con còn kém do nhiều nguyên nhân:
- Lông thưa, lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ glycozen dự trữ
trong cơ thể còn thấp, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể lợn so với khối lượng
chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt
cho lợn con chống rét còn thấp nên lợn con dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi.
- Hệ thần kinh điều khiển cân bằng nhiệt chưa hoàn chỉnh nên năng lực
phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng khi khí hậu bên ngoài thay đổi đột ngột.
Mức độ hạ thân nhiệt nhiều hay ít , nhanh hay chậm chủ yếu phụ thuộc
vào nhiệt độ chuồ ng nuôi và tuổi của lợn con. Nhiệt độ chuồng nuôi càng thấp
thân nhiệt lợn con hạ xuống càng nhanh, tuổi của lợn con càng ít thân nhiệt hạ
xuống càng nhiều.
* Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Lợn con khi mới sinh ra hầu như không có kháng thể. Lượng kháng thể
tăng lên rất nhanh kể từ khi bú sữa đầu của mẹ. Cho nên khả năng miễn dịch
của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thụ
được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ.
Trong sữa đầu của lợn mẹ có hàm lượng protein rất cao. Những
-
globulin ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm tới 18-19%,
trong đó lượng
- globulin chiếm số lượng khá lợn (30-35%).
- globulin có
tác dụng tạo sức đề kháng, cho nên sữa đầu có vai trò rất quan trọng đối với
khả năng miễn dịch của lợn con. Lợn con hấp thu
-globulin bằng con đường
7
ẩm bào. Quá trình hấp thu nguyên vẹn phân tử
theo thời gian. Phân tử
-globulin giảm đi rất nhanh
- globulin chỉ có khả năng thấm qua thành ruột lợn
con rất tốt trong 24 giờ đầu kể từ khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men
antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách
giữa các tế bào vách ruột của lợn con khá rộng. Cho nên sau 24 giờ sau khi
được bú sữa đầu, hàm lượng
-globulin trong máu của lợn con đạt 20,3
mg/100ml máu. Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và
khoảng cách giữa các tế bào vách ruột hẹp dần, nên sự hấp thu
-globulin
trong máu lợn con tăng lên chậm hơn. Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24
mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65 mg
-
globulin trong 100 ml máu). Do đó, lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm
càng tốt. Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì 20-25 ngày tuổi mới có khả
năng tự tổng hợp kháng thể. Do đó, những lợn con không bú sữa đầu thì sức
đề kháng rất kém, dễ mắc bệnh.
2.1.2. Bệnh phân trắng ở lợn con
Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của hội chứng bệnh lý đặc thù của
đường tiêu hóa. Hiện tượng lâm sàng này xuất phát từ nguyên nhân, triêu
chứng, đặc điểm và tính chất của bệnh, được gọi với nhiều tên khác nhau:
Tên chung nhất: Hội chứng tiêu chảy (Dyspepsia).
Bệnh tiêu chảy không nhiễm trùng (Non-ifectivediarrh).
Bệnh phân sữa (Milk-Scours).
Hoặc tiêu chảy là triệu chứng của các bệnh truyền nhiểm như: Phó
thương hàn, E.coli, viêm dạ dày ruột truyền nhiễm, dịch tả, rota virut.
Bệnh phân trắng gây thiệt hại đáng kể trong ngành chăn nuôi lợn. Bệnh
xuất hiện ở 2 giai đoạn chính:
Giai đoạn 1: Ở lợn sơ sinh đến vài ngày tuổi.
8
Giai đoạn 2: Ở lợn con theo mẹ.
Ở nước ta bệnh tiêu chảy ở lợn xảy ra quanh năm, đặc biệt là vụ Đông
Xuân, khi thời tiết thay đổi đột ngột, vào nhưng giai đoạn chuyển mùa trong
năm (Lê Văn Tạo và cs, 1996 [15]).
* Nguyên nhân gây bệnh phân trắng
Trong lịch sử nghiên cứu về phân trắng, nhiều tác giả đã nghiên cứu về
nguyên nhân gây bệnh, làm cơ sở cho việc chữa trị. Tuy nhiên, bệnh phân
trắng là một hội chứng có liên quan đến các yếu tố là nguyên nhân nguyên
phát. Vì vậy việc xác định nguyên nhân gây bệnh phân trắng ở từng nơi và
trong từng giai đoạn khác nhau cũng thu được kết quả khác nhau.
Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [10] cho rằng, bệnh xảy
ra có rất nhiều nguyên nhân. Cho đến nay, chưa có ai xác định được nguyên
nhân nào là nguyên nhân chính, nhưng căn nguyên chính xác là các vi khuẩn
đường ruột họ Enterobacteriae, trong đó vai trò quan trọng nhất là trực khuẩn
E.coli.
Những nguyên nhân chính gây bệnh phân trắng ở lợn con đã được
nhiều tác giả khẳng định, bao gồm:
- Vi khuẩn E.coli
Đây là 1 trong những nguyên nhân phổ biến và quan trọng nhất được
nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước công nhận. Lê Văn Tạo và cs (1996)
[16], cho biết, tỷ lệ lợn mắc bệnh tiêu chảy ở 6 tỉnh đồng bằng sông Cửu
Long biến động từ 64,5% (Sóc Trăng) đến 70-73% (Kiên Giang, Trà Vinh);
tỷ lệ chết so với mắc bệnh cao nhất là Sóc Trăng (75%), Vĩnh Long (33%),
Kiên Giang (32,3%).
Về lâm sàng vi khuẩn này thường gây sốt cao, tiêu chảy. Một số tác giả
cho rằng ở lứa tuổi sơ sinh và suốt thời kì lợn con theo mẹ, lợn con sau cai
sữa dễ nhiễm vi khuẩn mắc tiêu chảy do vi khuẩn E.coli tác động đến.
9
Hồ Văn Nam và cs (1997) [11] khi nghiên cứu về vi khuẩn đường ruột,
nhận thấy vi khuẩn E.coli không chỉ là vi khuẩn thường xuyên có trong ruột
lợn con đang bú sữa và bội nhiễm khi ỉa chảy mà còn tìm thấy ở 100% mẫu
phân lợn ở lứa tuổi lớn hơn. Ngay ở lợn khỏe mạnh, E.coli cũng tăng theo lứa
tuổi. Trong 1 gam phân lợn từ 1-21 ngày tuổi, số lượng E.coli là 55,4 triệu
con, và số lượng E.coli tăng dần theo lứa tuổi ở lợn từ 22-60 ngày tuổi (90,9
triệu) và 150 triệu vi khuẩn trong 1g phân lợn nái bị viêm ruột ỉa chảy. Kết
quả cho thấy E.coli không chỉ bội nhiễm ở lợn dưới 2 tháng tuổi mà những
lợn lớn hơn cả lợn nái cũng có tình trạng tương tự.
Bệnh phân trăng ở lợn con do E.coli gây ra đã và đang là đề tài thu hút
nhiều sự quan tâm của các tác giả trên thế giới. Các chủng E.coli thuộc nhóm
ETEC (Ebtero Toxigenic E.coli) tham gia vào quá trình gây bệnh với 2 đặc tính:
- Khả năng bám dính vào các tế bào biểu mô ruột nhờ các yếu tố bám
dính ở bề mặt vi khuẩn (fimbriae) như: F4 (K88), F5 (K99), F6 (9871), F41,
F17 và F18.
- Khả năng sinh sản 1 hoặc nhiều loại độc tố đường ruột bao gồm bao
gồm độc tố không chịu nhiệt (LT1 và LT2) và độc tố chịu nhiệt (ST1, ST2).
Ngoài ra các nhà chuyên môn nhận định đó là bệnh ghép có thể ghép
với các loại vi khuẩn, kí sinh trùng:
- Salmonella choleraresuis và Sal.typhymurium là hai tác nhân gây tiêu
chảy ở lợn con sau cai sữa và vỗ béo (Laval. A, 1997, [22]).
- Clostridium perfeingens type A và type C gây bệnh viêm ruột.
- Erysipelothrix: gây bệnh đóng dấu.
- Trepenoma: gây hồng lỵ.
- Cầu trực khuẩn Amip: gây bệnh ỉa chảy kiết lỵ.
- Ký sinh trùng: ký sinh trùng nói chung và ký sinh trùng đường tiêu
hóa nói riêng là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn và các gia
10
súc khác. Ký sinh trùng gây ỉa chảy tồn tại trong phân, nước tiêu, thức ăn khi
vào cơ thể gặp điều kiện thuận lợi chúng trưởng thành và phát triển thành ký
sinh trùng gây bệnh. Tác hại của chúng là lấy chất dinh dưỡng của cơ thể , tiết
ra các độc tố (nô ̣i, ngoại độc tố ). Ngoài ra trong quá trình di hành, sinh trưởng
và phát triển chúng gây tổn thương niêm mạc ruột gây viêm ruột ỉa chảy. Các
loại ký sinh trùng đường ruột gây tiêu chảy ở lợn:
+ Emimeria spp
: gây bệnh cầu trùng.
+ Ascaris suum
: giun đũa.
+ Fasciolopsis buski : sán lá ruột.
- Do vi rút
Đã có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định Rotavirut, Enteravirut,
Andenovirut, Coronavirut, Pestivirut (dịch tả ) là nguyên nhân chủ yếu gây
viêm ruột với triệu chứng tiêu chảy đặc trưng ở lợn. Các virut này tác động
gây viêm loét niêm mạc ruột ở nhiều mức độ khác nhau, chính từ đó quá trình
tiêu hóa hấp thụ ở lợn bị rối loạn, cuối cùng là triệu chứng ỉa chảy.
- Do ký sinh trùng
Giun đũa (Ascaris suum) và một số động vật đơn bào (Protozoa) đều có
thể gây ra bệnh phân trắng ở lợn. Tác hại của chúng là cướp chất dinh dưỡng
của cơ thể, tiết ra các độc tố làm giảm sức đề kháng, gây trúng độc, tạo điều
kiện cho bệnh khác phát sinh. Chúng gây ra tổn thương niêm mạc ruột, gây
viêm ruột và ỉa chảy. Do vậy, việc tẩy giun sán là rất quan trọng trong phòng
trị phân trắng (Trịnh Văn Thịnh, 1964 [17]).
- Do ngoại cảnh
Có rất nhiều nguyên nhân tác động của ngoại cảnh có thể gây rối loạn
quá trình cân bằng hệ vi sinh vật trong đường ruột của vật chủ. Trong đó, có
yếu tố thời tiết và điều kiện chăm sóc.
11
Theo Sử An Ninh (1993) [13], yếu tố thời tiết lạnh ẩm là nguyên nhân
hàng đầu gây phân trắng ở lợn con.
Yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng đến sức đề kháng tự nhiên của cơ thể.
Nếu lợn con không được bú sữa đầu, sẽ không nhận được kháng thể từ sữa
mẹ, rất dễ bị mắc bệnh phân trắng. Khi lợn con theo mẹ phản ứng thích nghi,
bảo vệ chưa hoàn thiện, nên trong điều kiện nhiệt độ quá nóng, quá lạnh, mưa
gió, độ ẩm cao kết hợp với vệ sinh chuồng trại kém, chuồng trại không đảm
bảo thoáng mát về mùa Hè, ấm áp vào mùa Đông, khẩu phần ăn không hợp
lý, sữa mẹ kém chất lượng… lợn con dễ mắc bệnh phân trắng.
Với lợn con các yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn vì các phản
ứng thích nghi của chúng chưa hoàn thiện.
Đào Trọng Đạt và cs (1991) [5] cho thấy: độ ẩm và nhiệt độ là yếu tố
quan trọng nhất trong việc khống chế tiểu khí hậu chuồng nuôi. Độ ẩm thích
hợp cho lợn con theo mẹ là 70- 85%, vì thế việc sưởi ấm cho lợn bằng các
phương pháp khác nhau trong mùa Đông và trong những ngày mưa là hết sức
cần thiết.
- Do chăm sóc, nuôi dƣỡng:
Trong rất nhiều trường hợp tiêu chảy ở gia súc nói chung và ở lợn nói
riêng, phát sinh hàng loạt những thiếu sót trong quá trình nuôi dưỡng chăm
sóc như:
+ Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, nấm mốc, tạp khuẩn và các chất độc
khác, thức ăn quá nhiều đạm, quá nhiều chất béo lợn ăn gây nên ỉa chảy.
+ Nước uống bẩn, lượng sữa mẹ ít, lợn con đói phải gặm mút lung tung
trong đó có các chất thải bị nhiễm E.coli.
+ Thay đổi khẩu phần ăn đột ngột làm cho khả năng tiết men của lợn
không kịp.
+ Chế độ nghỉ ngơi ăn uống không hợp lý, khai thác sử dụng quá mức.
12
+ Chuồng bẩn, lợn con luôn bú lợn mẹ có bầu vú nhiễm E.coli.
+ Lợn mẹ bị viêm vú, đặc biệt là E.coli gây ra. Khi bú sữa lợn mẹ bị
viêm vú thì lợn con sẽ bị phân trắng ngay sau đó.
+ Lợn con không được bú sữa đầu, mà khả năng miễn dịch của lợn con
phụ thuộc chủ yếu lượng kháng thể hấp thu được từ sữa mẹ. Do đó sức kháng
thể của cơ thể lợn con còn yếu dễ mắc bệnh.
Đào Trọng Đạt và cs (1991) [5] cho thấy, ở lợn con không được bú sữa
đầu kịp thời hoặc sữa mẹ kém phẩm chất do lợn mẹ không được nuôi dưỡng
hợp lý cũng là nguyên nhân gây tiêu chảy.
- Chăm sóc nái chửa không đảm bảo kỹ thuật như
: Thức ăn lợn mẹ
không đảm bảo vệ sinh , thành phầ n dinh dưỡng trong khẩu phần không cung
cấp đủ cho nhu cầu của lợn nái chửa. Do đó lợn con sinh ra bị nhiễm E.coli từ
lợn mẹ hoặc sinh ra còi cọc, sức sống yếu, khả năng chống các yếu tố bất lợi
của môi trường giảm nên lợn dễ bị mắc bệnh.
- Do dinh dƣỡng
+ Thiếu vitamin nhón B, B1, B2...B12 cũng dẫn đến rối loạn tiêu hóa
và ỉa chảy.
+ Thiếu vitamin A, Cu, Selen…dẫn đến rối loạn trao đổi chất , rối loa ̣n
tiêu hóa và gây ỉa chảy.
+ Do trữ lượng sắt trong bào thai chưa đủ, khi sinh ra không được cung cấp
đầy đủ nhu cầu, thiếu cả coban, B12 nên sinh bần huyết, cơ thể suy yếu nên không
thể hấp thụ đây đủ dinh dưỡng, sinh ra hiện tượng không tiêu ỉa chảy.
* Cơ chế sinh bệnh
Cơ chế sinh bệnh và đường sinh bệnh của E.coli là đề tài thu hút nhiều
nghiên cứu của các nhà khoa học. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế sinh
bệnh và tiến triển của bệnh như: Những tổn thương của đường ruột, phủ tạng
13
cho phép E.coli xâm nhập . Tuy nhiên, để gây bê ̣nh , số lượng E.coli phải đủ
lớn mới có thể gây bệnh cho lợn.
Đến nay, người ta cho rằng cơ chế sinh bệnh E.coli ở lợn con được biểu
hiện thông qua:
- Trực tiếp xâm nhập vào đường hô hấp trên hoặc phía trên của ruột
non của những con lợn không có miễn dịch và gây ra nhiễm khuẩn máu.
- Tấn công, phá hủy hệ thống lông nhung của tế bào niêm mạc ruột gây
ỉa chảy mất nước dữ dội. Giảm đáng kể bề mặt hấp thu của ruột non.
- Sinh sản các độc tố ruột (Enterotoxin). E.coli trong ruột bám trên hệ
thống lông nhung, tăng sinh và sinh sản độc tố . Những độc tố này ảnh hưởng
trực tiếp đến áp suất thẩm thấ u màng tế bào niêm mạc ruột , gây rối loạn chức
năng trao đổi chất của các tế bào. Đặc biệt ảnh hưởng đến quá trình trao đổi
nước và các chất điện giải.
Theo Lê Văn Thọ (2007) [18], vi khuẩn E.coli sinh sản độc tố đường
ruột (Enterotoxin) tác động vào quá trình trao đổi muối nước ở ruột, làm cho
nước và chất điện giải không được hấp thu từ ruột vào cơ thể mà ngược lại
được thẩm suất từ cơ thể vào ruột. Nước tập trung vào ruột làm cho ruột căng
lên, cộng với các khí do E.coli trong ruột lên men tạo ra càng làm cho ruột
thêm căng, sức căng của ruột càng kích thích vào hệ thần kinh thực vật ở ruột
tạo nên những cơn nhu động đẩy nước và phân ra ngoài, gây nên tiêu chảy.
Enterotoxin thuộc nhóm LT bám trên bề mặt tế bào làm nước và muối
tràn ra ngoài và nó ngăn cản không cho nước và muối hấp thu trở lại. Bởi vậy
nước ngấm vào ruột bị đẩy ra ngoài cho nên lợn con tiêu chảy mất nước.
Enterotoxin thuộc nhóm ST cũng làm ngấm nước ra nhưng không ngăn nước
hấp thụ ngược vào tế bào nên lợn ít tiêu chảy hơn.
- Sự sinh sôi của E.coli trong ruột non, đặc biệt là ruột già, làm chúng
xâm lấn, phá hủy tế bào niêm mạc, gây viêm ruột, sau đó ỉa chảy mất nước.
14
Khi lợn ỉa chảy càng nhiều sẽ dẫn đến mất nước gây rối loạn chức năng sinh
lý tiêu hóa. Do rối loạn tiêu hóa dẫn tới sự rối loạn cân bằng hệ vi sinh vật
đường ruột. Một số vi khuẩn có hại phát triển nhanh, song song với sự phát
triển về số lượng vi khuẩn có hại, độc tố của nó tiết ra cũng tăng nhiều. Độc
tố vào máu làm rối loạn cơ năng giải độc của gan và quá trình lọc ở thận (Hồ
Văn Nam và cs, 1997 [11]).
Do cơ chế phòng hộ của lợn con chưa được phát triển hoàn thiện, stress
và các yếu tố khác làm giảm khả năng phòng vệ của con vật. Những yếu tố di
truyền, nồng độ HCl trong dạ dày thấp, thay đổi hệ vi sinh vật trong đường
ruột, khả năng phòng hộ không đặc hiệu của sữa đầu và kháng thể đặc hiệu
giảm, cảm nhiễm bệnh khác (Rotavirut, virut gây dịch tả ỉa chảy, cầu trùng
…) kể cả môi trường và yếu tố quản lý, cũng là nguyên nhân giảm khả năng
kháng bệnh ở lợn con. Khi đó, E.coli xâm nhập với số lượng đủ lớn sẽ phát
triển thành tác nhân gây bệnh.
Tóm lại: E.coli muốn gây được bệnh phải có những điều kiện sau:
+ Phải có khả năng bám dính vào lông nhung (kháng nguyên
Ficubriae).
+ Phải có yếu tố xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô.
+ Sản xuất độc tố đường ruột.
* Dịch tễ của bệnh
Cách phòng bệnh trong chăn nuôi ít tốn phí có hiệu lực nhất là dựa vào
công tác vệ sinh, đó là làm cho gia súc và các nguyên nhân gây bệnh cách xa
nhau. Để có các biện pháp vệ sinh tốt cần hiểu biết dịch tễ của bệnh.
Hoàng Văn Tuấn và cs (1998) [19], qua tình hình điều tra dịch bệnh và
bệnh tiêu chảy ở lợn tại một trại giống hướng nạc trong 3 năm 1995, 1996,
1997, cho thấy:
15
- Tỉ lệ hao hụt ở lợn con theo mẹ (dưới 45 ngày tuổi) qua các năm là:
25,8% và 15%. Trong đó tỉ lệ chết do tiêu chảy chiếm 67,67% và 80% trong
tổng số lợn chết.
- Ở lợn cai sữa (45 - 65 ngày tuổi ): Tỷ lệ hao hụt do dịch bệnh là
15,18% và 12%. Trong đó tỉ lệ chết do tiêu chảy chiếm 32,52% và 38% trong
tổng số lợn chết.
Bệnh phân trắng ở lợn con theo me ̣ xảy ra quanh năm , nhưng cao nhất
là tháng 5 - 8.
Đào Xuân Cường (1981) [3] cho biết, bệnh có thể phát triển quanh
năm, nhiều nhất là cuối Đông sang Xuân, cuối Xuân sang Hè, sau nhiều trận
mưa to gió lớn , thời tiết thay đổi đột ngột , tỉ lệ mắc bệnh có thể tăng lên tới
100%, tỉ lệ chết đến 30-40%.
Trương Lăng và Xuân Giao (1999) [9] cho biết, ở nước ta, lợn con mắc
bệnh phân trắng phổ biến trong các cơ sở chăn nuôi, tỉ lệ mắc bệnh từ 25100%, tỉ lệ tử vong lên tới 70%, bệnh hầu như quanh năm, nhiều nhất ở cuối
Đông sang Xuân, cuối Xuân sang Hè. Điều kiện phát bệnh thường thấy:
- Thời gian nào độ ẩm cao, phát tiển nhiều.
- Tỉ lệ mắc bệnh ở các cơ sở chăn nuôi vùng trung du, miền núi ít hơn
thời gian ngắn hơn so với đồng bằng.
- Chuồng nền đất, sân chơi rộng rãi, hạn chế nhiều sự phát triển của bệnh.
- Đất ở đồi núi, trung du (mà lợn con có thể gặm ăn được) là một điều
kiện để ngăn ngừa bệnh, vì đất đồi có nhiều nguyên tố vi lượng bổ xung cho
sự thiếu hụt của thức ăn.
- Chuồng trại nơi trũng, ướt tạo nên điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển
.
* Đƣờng truyền bệnh
Bệnh do E. coli xảy ra như một dịch bệnh điển hình ở phần lớn các đàn
con trong vụ đẻ, nguồn phát triển bệnh chính là những nái mang mầm bệnh.
16
Theo các kết quả nghiên cứu thì mầm bệnh nhiều nhất ở các nái chờ
phối (96,9%) và ít nhất ở nái chửa kì 2 là 45%. Trong các trường hợp này lợn
con bị mắc bệnh phân trắng ngay từ những ngày đầu tiên sau khi mới đẻ và
đến giai đoạn cai sữa giảm xuống còn 67,5%, tất nhiên, sau cai sữa lợn con
ốm khỏi sẽ trở thành vật mang bệnh, bởi vì vậy người ta bố trí chuồng nái đẻ
và lợn nuôi vỗ béo cách ly nhau.
Mầm bệnh cũng có thể được truyền trực tiếp từ lợn mẹ nhiễm E. coli
sang lợn con khi còn là bào thai. Thực tế đã chứng minh, bệnh phân trắng
không những xuất hiện vào những ngày đầu tiên mới đẻ mà thậm chí vào
những giờ đầu tiên sau khi sinh. Điều đó cho thấy đã có sự nhiễm bệnh của
bào thai ngay từ khi còn trong bụng mẹ, do đó con vật đẻ ra là con vật bệnh.
Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc kip thời đề xuất những biện
pháp nhằm phòng trừ có hiệu quả ngay từ khi con vật còn trong bụng mẹ
(Đào Trọng Đạt và cs, 1995 [4]).
Lợn con bị mắc phân trắng chủ yếu qua đường tiêu hóa, có thể bị
nhiễm E. coli theo đường bào thai.
Ở các cơ sở chăn nuôi, E. coli có thể lan truyền bằng con đường cơ học
(do chuột, chó, mèo côn trùng) hoặc do người đưa thức ăn, dụng cụ nhiễm
E.coli từ nơi này qua nơi khác.
Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [11] cho biết, khả năng
gây bệnh ở các vi khuẩn này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: lợn con mới
sinh chưa có hệ thống phòng thủ hoàn chỉnh, chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ
chưa phù hợp, chuồng trại ẩm ướt, vệ sinh kém, không thông thoáng thiếu sắt
và một số vitamin A, PP, B5. Bội nhiễm vi khuẩn Samolmonella cholelasuis,
Starphylococus, Clostrydium virus, cầu trùng, giun, sán, cùng những tác nhân
gây bệnh cho lợn con trong giai đoạn này. Sau khi bám dính vào thành ruột
non, vi khuẩn tăng sinh và sản sinh độc tố hướng ruột, những độc tố này tác
17
động trực tiếp lên tế bào thượng bì ruột non gây ra rối loạn chức năng như:
Không hấp thu được các chất dinh dưỡng mất nước của các chất điện giải
quan trọng dẫn đến các triệu chứng lâm sàng, tiêu chảy trầm trọng mất nước,
giảm thể tích máu.
* Triệu chứng lâm sàng
Lợn con bị mắc phân trắng có biểu hiện yếu, chậm chạp, bỏ bú, thân
nhiệt tăng nhẹ, tiêu chảy nhiều, mất nước, biếng ăn, suy nhược, đôi khi còn
nôn mửa. Phân lúc đầu có thể táo, sau đó ỉa lỏng, có màu vàng nhạt, vàng
trắng hay trắng ngà, mùi thối khó chịu. Ở các bệnh do giun sán, phân lỏng
hoặc vọt cần câu, màu trắng, vàng, xanh nhạt màu hạt đậu. Vì mất nước nhiều
nên lợn ốm bị khát nước dẫn đến sinh loạn dưỡng trong cơ thể, bụng hóp lại,
da nhăn nheo, lông xù, phân dính xung quanh hậu môn, 2 chân sau rúm lại.
Bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào vụ Đông Xuân khi độ ẩm môi
trường cao.
Nguyễn Hữu Vũ và cs (2003) [20] cho biết, lợn bị phân trắng có biểu
hiện phân có màu trắng ngà đến vàng nhạt, mùi thối khắm, tanh, lông xơ xác
gầy tóp, chân đi lảo đảo không định hướng, đuôi và hậu môn luôn dính phân.
Theo Lê Văn Tạo và cs (1996) [16], khi lợn bị nhiễm E.coli thì có triệu
chứng đặc trưng của bệnh là: Đầu tiên trong một đàn lợn có 1 - 2 con bị bệnh
rồi lây sang con khác, có khi cả đàn bị bệnh, lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, sốt nhẹ. Khi
bệnh nặng lợn bỏ ăn hoàn toàn nhiệt độ tăng dần. Bệnh tiến triển theo 2 thể:
- Thể quá cấp tính: Lợn chết nhanh, từ khi phát hiện triệu chứng ăn ít
chết trong vòng từ 6-20 giờ, lợn bỏ ăn hoàn toàn, đi lại siêu vẹo loạng choạng
thích năm bẹp một chỗ, ho nhiều nước mũi đặc nhầy như mủ, phần rìa tai,
mõm tím tái, thở thể bụng rất khó khăn, phân lỏng màu trắng lầy nhầy, có
trường hợp toàn nước với máu tươi, có mùi hôi tanh khó chịu trước khi lợn
chết thường có những cơn co giật ở chân.
18
- Thể cấp tính: Thường chết chậm hơn (2-4 ngày sau khi phát hiện triệu
chứng đầu tiên). Triệu chứng tương tự như thể quá cấp tính: Lợn bị sưng mí
mắt, viêm giác mạc mắt, mắt phù thũng, phân lỏng màu vàng xám. Trước khi
chết cũng co giật rồi kiệt sức và chết.
* Bệnh tích
- Thể quá cấp tính: Lợn chết nhanh, từ khi phát hiện triệu chứng ăn ít
chết trong vòng tư 6-20 giờ, lợn bỏ ăn hoàn toàn, đi lại siêu vẹo loang choạng
thích năm bẹp một chỗ, ho nhiều nước mũi đặc nhầy như mủ, phần rìa tai,
mõm tím tái, thở thể bụng rất khó khăn, phân lỏng màu trắng lầy nhầy, có
trường hợp toàn nước với máu tươi, có mùi hôi tanh khó chịu trước khi lợn
chết thường có những cơn co giật ở chân.
- Thể cấp tính: niêm mạc dạ dày phủ đầy dịch nhờn, xung huyết và xuất
huyết rất rõ, niêm mạc ruột bị tổn thương mạnh, có vùng bị hoại tử, niêm mạc
ruột già tổn thương rất rõ, hạch lâm ba ruột sưng màu đỏ sẫm. Xét nghiệm vi
mạch hạch lâm ba thường có tăng sinh đại thực bào. Có trường hợp tế bào này
tập trung thành một u, một số u bị hoại tử bên trong.
+ Gan nhão, dễ vỡ, đôi khi có xuất huyết ở gan.
+ Túi mật sưng, xuất huyết, dịch mật biến đổi màu.
- Thể mãn tính: đặc trưng là tăng sinh tế bào, trong u tế bào tăng sinh
có các đại thực bào với các hạt nhân màu sáng, đó là các sản phẩm của biểu bì
võng mô, chúng có khả năng thực bào.
+ Lách sưng to, màu đỏ sẫm, đôi khi màu đen, rìa lách cong.
+ Thận không có biến đổi đặc trưng.
+ Trong phổi thấy u mủ hoăc hoại tử, bề mặt phổi xung huyết.
+ Xuất huyết tim, màng tim dễ bóc, chứa đầy nước và có những điểm
xuất huyết rõ ràng.