PHIẾU LÀM PHÁCH HÌNH THỨC THI BÀI TẬP LỚN/ TIỂU LUẬN
Mã phách
Họ và tên sinh viên: Ma Thị Thùy
Ngày sinh: 21/03/1997
Mã sinh viên: 1505QLNB040
Lớp: ĐH.QLNN 15B
Khoa: Hành chính học
Tên Tiểu luân/Bài tập lớn: Công tác tổ chức và quản lý lễ hội đình làng Như
Xuyên huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang
Học phần: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Giảng viên phụ trách: TS. Lê Thị Hiền
Sinh viên kí tên
Ma Thị Thùy
PHIẾU CHẤM ĐIỂM HÌNH THỨC THI BÀI TẬP LỚN/ TIỂU LUẬN
Điểm, Chữ kí (Ghi rõ họ tên) của cán
bộ chấm thi
CB chấm thi số 1
CB chấm thi số 2
Điểm thông nhất của
bài thi
Bằng số
Bằng chữ
Chữ kí xác
nhận của cán
bộ nhận bài
thi
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn
đến cô TS. Lê Thị Hiền – Giảng viên học phần Phương pháp nghiên cứu khoa
học đã tận tình chỉ dạy giúp tôi hoàn thành tốt đề tài. Tôi cũng xin gửi lời cảm
ơn đến cán bộ, viên chức tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Quý đã tạo điều kiện cho
Tôi được tìm hiểu, thu thập thông tin, tài liệu một cách thuận lợi nhất. Trong quá
trình khảo sát và nghiên cứu Tôi còn gặp khá nhiều khó khăn mặt khác do trình
độ nghiên cứu của mình còn hạn chế nên dù cố gắng song đề tài của tôi không
tránh khỏi những hạn chế thiếu sót. Vì thế tôi mong nhận được sự góp ý nhiệt
tình từ thầy cô và các bạn để đề tài nghiên cứu của tôi hoàn thiện hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi thực hiện đề tài “Công tác văn thư tại Ủy ban nhân dân quận Cầu
Giấy”. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi trong thời gian
qua. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực về thông tin
sử dụng trong công trình nghiên cứu này.
Hà Nội, ngày 06 tháng 8 năm 2016
Sinh viên
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................2
3. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................2
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................3
5. Đóng góp của đề tài...................................................................................3
6. Nội dung nghiên cứu.................................................................................3
7. Cấu trúc của đề tài.....................................................................................3
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ LỄ HỘI ĐÌNH
LÀNG NHƯ XUYÊN, HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG.....4
1.1. Lễ hội truyền thống và quản lý lễ hội truyền thống...............................4
1.1.1. Khái niệm lễ hội truyền thống.............................................................4
1.1.2. Quản lý Nhà nước về lễ hội truyền thống...........................................7
1.2. Lễ hội truyền thống đình làng Như Xuyên, huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang...............................................................................................11
1.2.1. Quá trình hình thành lễ hội đình làng Như Xuyên............................11
1.2.2. Quá trình phát triển của lễ hội đình làng Như Xuyên.......................12
1.2.3. Nội dung và ý nghĩa của lễ hội đình làng Như Xuyên......................13
1.2.3.1. Nội dung lễ hội đình làng Như Xuyên...........................................13
1.2.3.2 Ý nghĩa và giá trị của lễ hội đình làng Như Xuyên.........................13
Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI
ĐÌNH LÀNG NHƯ XUYÊN, HYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN
QUANG..............................................................................................................15
2.1. Thực trạng công tác tổ chức lễ hội đình làng Như Xuyên, huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang...........................................................................15
2.1.1. Công tác chuẩn bị..............................................................................15
2.1.2. Diễn trình tổ chức lễ hội....................................................................16
2.2. Thực trạng công tác quản lý lễ hội đình làng Như Xuyên, huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang...........................................................................17
2.2.1. Tuyên truyền phổ biến các văn bản về quản lý lễ hội.......................17
2.2.2. Quản lý các nguồn lực cho tổ chức lễ hội.........................................18
2.2.2.1. Quản lý nguồn nhân lực.................................................................18
2.2.2.2. Quản lý nguồn tài chính.................................................................19
2.2.3. Quản lý bảo vệ di tích đình làng........................................................19
2.2.4 Quản lý dịch vụ, vệ sinh môi trường, trật tự công cộng.....................20
2.2.5 Công tác tổ chức kiểm tra, giám sát trong quá trình tổ chức lễ hội..........21
Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TỔ CHỨC
VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG NHƯ XUYÊN, HUYỆN SƠN
DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG...................................................................22
3.1. Đánh giá thực trang công tác tổ chức và quản lý lễ hội đình làng Như
Xuyên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang............................................22
3.1.1. Những thành tích đạt được................................................................22
3.1.2. Những hạn chế tồn đọng...................................................................23
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tổ chức và quản lý lễ hội.........24
3.2.1. Hoàn thiện cơ cấu bộ máy tổ chức và quản lý lễ hội........................24
3.2.2. Hoàn thiện nội dung chương trình tổ chức lễ hội..............................24
3.2.3. Chú trọng bảo tồn các gá trị của lễ hội..............................................25
3.2.4. Đẩy mạnh công tác quản lý bảo vệ cảnh quan, di tích lễ hội............25
3.2.5. Tăng cường quản lý dịch vụ, vệ sinh môi trường, trật tự công cộng 26
KẾT LUẬN........................................................................................................27
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................28
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử, hiện tượng văn hóa có mặt ở
Việt Nam từ lâu đời và có vai trò không nhỏ trong đời sống xã hội.
Những năm gần đây, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội
nhập quốc tế của nước ta, văn hóa truyền thống nói chung, trong đó có lễ hội
truyền thống đã được phục hồi và phát huy, làm phong phú hơn đời sống văn
hóa của Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, tốt đẹp trong phục
hồi và phát huy lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội đương đai thì cũng không
ít các vấn đề nảy sinh khiến xã hội cần phải nhìn nhận lại và tìm cách khắc phục
để những mặt tinh hoa của lễ hội cổ truyền được đẩy mạnh và phát huy, khắc
phục dần các hạn chế tiêu cực.
Ngày nay, lễ hội ngày càng được tổ chức ngày càng nhiều để đáp ứng
những nhu cầu trong đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần của mỗi người. Việc
tham dự các lễ hội truyền thống là nhu cầu không thể thiếu được của người dân
nhằm thỏa mãn khát vọng hướng về cội nguồn, đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm
linh cũng như nhu cầu giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, góp phần tạo
nên sự đa dạng của văn hóa. Đến nay, người dân đã có khả năng và điều kiện
làm chủ bản thân thì niềm tin vào sự thiêng liêng của thần thánh không còn nữa
mà nhường chỗ cho những tình cảm thiêng liêng nhớ về cội nguồn, lòng tôn
kính và biết ơn tổ tiên, tình yêu và niềm tự hào về quê hương đất nước trở thành
cảm hứng chủ đạo của lễ hội truyền thống .
Vì vậy, chức năng tín ngưỡng của lễ hội có phần giảm thiểu, chức năng
vui chơi, giả trí của phần hội được tăng lên. Các trò chơi dân gian, những làn
điệu dân ca được khai thác thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia
nhiêt tình.
Có một vấn đề được đặt ra là công tác tổ chức và quản lý đã phù hợp với
1
truyền thống văn hóa dân tộc, phong tục tập quán địa phương cũng như giữ gìn,
phát huy được các giá trị văn hóa truyền thống và giải quyết tốt những vấn đề
phát sinh trong khi lễ hội diễn ra chưa. Do đó, cần phải nghiên cứu, tìm hiểu về
công tác tổ chức và quản lý lễ hội để góp phần làm phong phú thêm kho di sản
văn hóa Việt Nam trong hiện nay.
Bản thân tôi sinh ra và lớn lên tại mảnh đất Tuyên Quang một tỉnh thuộc
miền núi phía Bắc của Tổ quốc với bề dày lịch sử và có nhiều nét văn hóa đặc
sắc. Đặc biệt là tôi nhận thấy rằng vấn đề nghiên cứu và tìm hiểu lễ hộ truyền
thống của địa phương mình là một việc làm cần thiết để góp phần nâng cao chất
lượng tổ chức lễ hội cũng như giữ gìn và phát huy các giá tri văn hóa truyền
thống của dân tộc ta.
Trên cơ sở đó tôi đã chọn đề tài “ Công tác tổ chúc và quản lý lễ hội đình
làng Như Xuyên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang’’ làm đề tài nghiên cức
khoa học của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác tổ chức và quản lý lễ hội đình làng Như Xuyên huyện Sơn
Dương tỉnh Tuyên Quang.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Lễ hội đình làng Như Xuyên huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang từ năm
1945 đến nay.
3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dung các phương pháp sau:
Quan sát
Phỏng vấn
Nghiên cứu tài liệu
Phân tích
2
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lễ hội đình làng Như Xuyên nhằm cung cấp một số thông tin
về sự ra đời, quá trình hình thành và phát triển, đặc điểm và những giá trị tiêu
biểu, thực trạng của công tác tổ chức và quản lý lễ hội. Từ đó, nêu ra một số giải
pháp để nâng cao hiệu quả tổ chức và quản lý lễ hội đình làng Như Xuyên,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
5. Đóng góp của đề tài
Đóng góp về tư liệu nghiên cứu: Đề tài góp phần làm phong phú hơn bản
sắc văn hóa của vùng và cũng là một nguồn tài liệu, dẫn chứng để bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Đồng thời, làm phong phú và đa dạng thêm
cho kho tàng tư liệu văn hóa dân tộc về các lễ hội.
6. Nội dung nghiên cứu
Công tác tổ chức và quản lý lễ hội đình làng Như Xuyên, huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phục lục đề tài có bố
cục gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý lễ hội truyền thống đình làng Như
Xuyên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức và quản lý lễ hội đình làng Như
Xuyên, huyên Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tổ chức va quản
lý lễ hội đình làng Như Xuyên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG NHƯ
XUYÊN, HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
1.1. Lễ hội truyền thống và quản lý lễ hội truyền thống
1.1.1. Khái niệm lễ hội truyền thống
Lễ hội là một sự liện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng.
Lễ hội là một loại hình văn hóa có thể nói là một tác phẩm văn hóa của
dân tộc người Việt, là nhu cầu không thể thiếu trong tư duy trong đời sống tinh
thần của nhân dân. Lễ hội mang những tác động tích cực, nhiều người coi lễ hội
như là một nhân tố tạo ra sự thư giãn tinh thần, là sự biểu hiện cách ứng xử văn
hóa với thiên nhiên, với thần linh và nhất là với xã hội cộng đồng..
Theo như ông Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ Sở văn hóa Việt Nam thì
cho rằng: “ Lễ hội là hệ thống phân bổ theo không gian: vào mùa xuân và mùa
thu, khi công việc đồng áng rảnh rỗi nhất, lễ hội diễn ra liên tiếp hết chỗ này đến
chỗ khác, mỗi vùng có lễ hội của riêng mình. Lễ hội có phần lễ và phần hội:
Phần lễ mang ý nghĩa tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình.
Phần hội gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú. Xét về nguồn gốc,
phần lớn các trò chơi này đều xuất phát từ những ước vọng thiêng liêng của con
người nông nghiêp’’. Bên cạnh lễ, hội có nghĩa là cuộc vui được tổ chức cho
đông đảo người tham dự theo phong tục hoặc dịp đặc biệt.
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu văn hóa Viêt Nam có nhiều cách trình bày
định nghĩa lễ hội như trong Từ điển bách hóa Việt Nam (2005) có viết: Lễ là hệ
thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với
thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống
mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiên, còn hội là sinh hoạt văn hóa, tôn
giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và
phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia
đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu
4
của mùa màng mà từ bao đời nay quy tụ niềm ước mơ chung vào bốn chữ “
Nhân khang, vật thinh’’.
Lễ hội còn được coi là “ngồn sữa mẹ” nuôi dưỡng các loại hình nghệ
thuật. Lễ hội hỗn dung các tầng lớp văn hóa của dân tộc người và các yếu tố văn
hóa của người trong tién trình lịch sử, lễ hội đã bảo lưu, nuôi dưỡng và phát
triển nhiều truyền thống văn hóa của cộng đồng các làng xã. Lễ hội còn là chỗ
dựa tinh thần của người nông dân, thể hiện quan niệm đối với cái đẹp và cái khát
vọng vươn lên cái đẹp của họ.
Ở khía cạnh dân gian, Ngô Đức Thịnh và Frank Proscha đưa ra định nghĩa
“ Lễ hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ biểu thị thế giới quan của một nền
văn hóa hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơi
truyền thống”.
Như vậy, lễ hội là hoạt động của một tập thể người liên quan đến tín
ngưỡng và tôn giáo. Lễ hội bao gồm hai thành tố là lẽ và hội kết hợp giữa tín
ngưỡng và vui chơi, giữa con người và thần linh, giữa thế giới âm và dương... để
thông qua đó con người có thể bày tỏ niềm mong ước của mình vào các vị thần
linh trên đời. Đồng thời, thỏa mãn khát vọng trở về cội nguồn và đáp ứng nhu
cầu văn hóa tâm linh cũng như nhu cầu giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng
đồng.
Xưa kia, con người chưa có đủ khả năng chinh phục, chế ngự và làm chủ
thiên nhiên cũng như làm chủ xã hội bị bất lực và chi phối bởi những thiên tai
bất trắc, may rủi hay bất công do thiên nhiên hay do con người gây nên. Vì thế,
thần linh là nơi họ đặt niềm tin vào đó như: thần linh trời đất, thần linh núi
sông...Vậy nên, xưa kia có nhiều làng xã đã xây dựng đình, miếu... để thờ các vị
thần linh tịa đị phương và thường tổ chức lễ hội tại những nơi đó, nhằm thể hiện
sự biết ơn đối với các vị thần linh đã ban cho người dân nơi đó sức khỏe, mà
màng bội thu. Hơn thế nữa, họ còn cầu mong các vị thần tiếp tục che chở, bảo vệ
và ban phúc lành may mắn, thịnh vượng cho họ. Trong lễ hội truyền thống có sự
5
tác động và ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng. Tôn giáo thông qua lễ
hôi làm phương tiện phô trương thanh thế, ngược lại lễ hội thông qua tôn giáo,
tín ngưỡng để thần linh hóa trần tục.
“ Lễ hội truyền thống” còn có khái niệm “Lễ hội cổ truyền” dùng với
nghĩa gần như tương đương nhau. Truyền thống hay cổ truyền thật ra là hai thuật
ngữ Hán – Việt dùng để nói về cùng một đối tượng.
Lễ hội truyền thống là một bộ phận những giá trị tốt đẹp trong lễ hội cổ
truyền của dân tộc được các thế hệ sau nối tiếp các thế hệ trước tái tạo và khẳng
định để bảo tồn và phát huy theo hướng tích cực trong đời sống xã hội. Như vậy,
lễ hội truyền thống được coi như là một thành tố quan trọng cấu thành nên hình
thái sinh hoạt văn hóa lịch sử tương ứng với những mô hình xã hội được tổ chức
theo những giai đoạn lịch sử khác nhau. Trong Hán – Việt Từ điển bách khoa,
Đào Duy Anh đã định nghĩa truyền thống như sau: “ Thống gồm có nghĩa là mỗi
tỏ, đường mối, đầu gốc; còn truyền là trao lại, trao cho và chúng luôn đi liền với
nhau mang ý nghĩa “ Đời nọ truyền xuống đời kia”.
Ngoài hai lễ hội là “ Lễ hội truyền thống” và “ Lễ hội cổ truyền” còn có “
Lễ hội dân gian” là lễ hội trong các đời sống văn hóa tinh thần của các xã hội
truyền thống. Xã hội truyền thống có thể hiểu là những tập hợp người được tổ
chức bởi các đơn vị “cộng đồng”, dựa trên ưu thế của tính chất “cộng đồng”.
hơn nữa, xã hội truyền thống là các cộng đồng thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc,
các xã hội tiền công nghiệp tồn tại trước khi hình thành những dân tộc quốc gia.
Từ đó có thể thấy, “ Lễ hội truyền thống”, “ Lễ hội cổ truyền” hay “ Lễ hội dân
gian” là đồng nhất với nhau nói về lễ hội trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của
người dân xưa và nay.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về lễ hội truyền thống, tùy thuộc vào cách
tác giả tiếp cận ở khía cạnh nào theo phương thức nào lễ hội truyền thống sẽ có
định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu văn hóa đều cho rằng lễ
hội truyền thống là hình thái văn hóa có tính chất hai mặt trong một chỉnh thể
6
thống nhất. Lễ hội truyền thống là một hệ thống hành vi nghi thức biểu đạt thế
ứng xử của cộng đồng hướng tới một đối tượng thần linh nhất định và những
hoạt động văn hóa để minh họa cho các hành vi nghi lễ.
Mặc dù vậy, khi đứng ở góc độ quản lý văn hóa để tiếp cận và tìm hiểu về
lễ hội thì tất cả các yếu tố của lễ hội sẽ được quan tâm nhằm bảo tồn và phát huy
những giá trị văn hóa truyền thống dân gian của dân tộc, đồng thời tái sáng tạo
những giá trị văn hóa bác học dựa trên yếu tố dân gian. Có thể nói quản lý văn
hóa quan tâm đến việc bảo tồn ,phát huy và khai thác những vốn văn hóa truyền
thống cùng với sự tái sáng tạo để làm nền những lễ hội truyền thống mang đúng
nghĩa của nó, đáp ứng đươc nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của mọi người
dân.
Lễ hội truyền thống là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến của
cộng đồng cư dân nông nghiẹp nước ta. Tính nguyên hợp của lễ hội thể hiện ở
chỗ lễ hội vừa là hoạt động tín ngưỡng thờ cúng các vị thần linh, vừa là hoạt vui
chơi giải trí, là sinh hoạt văn hóa tinh thần gắn bó trực tiếp với hoạt động sản
xuất vật chất.
Như vậy, có thể hiểu: Lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và lưu
truyền theo phương thức dân gian được hình thành trong các hình thái văn hóa
lịch sử, truyền lại trong các cộng đồng nông nghiệp với tư cách như một phong
tục tập quán.
1.1.2. Quản lý Nhà nước về lễ hội truyền thống
Trong đời sống xã hội ngày nay trong mọi lĩnh vực của xã hội để tồn tại
và phát triển trong một tổ chức hay một nhóm nào đó con người đều chị sự chi
phối và quản lí của nó. Do đó, quản lý là một khái niệm được sử dụng rộng rãi
trong các lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, luật học, điều khiển học... Chính vì
thế, ở từng lĩnh vực của xã hội mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan
niệm khác nhau về quản lý.
Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người.
7
Theo nghĩa hẹp,quản lý là sự sắp đặt,chăm nom công việc.
Ngoài ra còn có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý.
Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người
kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung.
Quản lý là quá trình cùng làm viẹc và thông qua các cá nhân, cac nhóm
cũng như các ngòn lực khác để hoàn thành các mục đích chung của một nhóm
người, một tổ chức.
Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc
điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những khác.
Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó
thấy được rằng, họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.
Theo Từ điển tiếng Việt (viện Ngôn ngữ - nxb Đã Nẵng năm 2002) thì
quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động hoặc trông coi và giữ gìn theo
những yêu cầu nhất định.
Quản lý là sự điều khiển, định hướng, chỉ đạo một hệ thống hay một
quá trình căn cứ vào những quy luật, định lật hay nguyên tắc, luật định tương
ứng để cho quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được
mục đích đã định trước.
Do đó, có thể định nghã về quản lý theo Mai Hữu Luân trong cuốn Lý
luận quản lí hành chính nhà nước (2003) như sau: “Quản lý hoạt động nhằm tác
động có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá
trình hành vi của con người nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của đối tượng
theo những mục đích nhất định”. Hay “Quản lý là sự tác động của chủ thể đối
tượng quản lý nhằm mục tiêu đề ra”.
Quản lý nhà nước là tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước,
chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng
đối nội, đối ngoại của nhà nước. Tất cả các cơ quan nhà nước đều làm chức năng
8
quản lý bằng chính sách và pháp luật Nhà nước trao cho các tổ chức hoặc cá
nhân để họ thay mặt Nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước.
Quản lý nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy nhà nước trong
lĩnh vực hành pháp nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam. Nhà
nước với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị, đại diện cho
nhân dân, đảm bảo cho mọi người dân đều được thực hiện các quyền cơ bản của
mình trong đó có các quyền về văn hóa như: quyền học tập, sáng tạo, phê bình
văn hóa nghệ thuật, tự do sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng... Nhà nước có trách
nhiệm điều tiết để đảm bảo sự hài hòa giữa các thành tố văn hóa, điều tiết lợi ích
văn hóa của các giai tầng, yêu cầu phát triển và thỏa mãn nhu cầu văn hóa của
toàn xã hội.
Ở Trung ương, các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về văn hóa là
Chính phủ và Bộ văn hóa, Thể thao và du lịch. Chính phủ thống nhất quản lý và
phát triển sự nghiệp văn hóa – nghệ thuật trên cả nước. Thi hành các biện pháp
để bảo tồn và phát triển văn hóa, chống các hiện tượng, hành vi truyền bá tư
tưởng văn hóa phản động, đồi trụy, các hủ tục mê tín dị đoan. Chính phủ và Bô
văn hóa, Thể thao và Du lịch trình dự án, pháp lệnh về tổ chúc hoạt động và
quản lý văn hóa, quyết định quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển văn
hóa. Ban hành các nghị định, chế tài quản lý, quyết định các chính sách, đầu tư,
tài trợ, hợp tác với nước ngoài về viêc tổ chức hoạt đông phát triển văn hóa.
Nhà nước tiến hành quản lý văn hóa bằng chính sách và pháp luật về văn
hóa. Chính sách pháp luật về văn hóa được hiểu là những nguyên tắc thực hiện
tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về chủ trương đường lối, phương hướng xây
dựng và phát triển nền văn hóa phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất
nước. Song song với việc tiến hành các chính sách về văn hóa, để quản lý văn
hóa, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về văn hóa nhằm
phát huy tác dụng của văn hóa đối với việc hình thành nhân cách, nâng cao chất
lượng cuộc sống tính thần của con người, chế ước những ảnh hưởng tiêu cực,
9
loại bỏ những hủ tục lạc hậu. Quản lý văn hóa bằng pháp luật là một yêu cầu
mang tính chất khách quan. Cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật, Nhà
nước tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, rộng mở cho việc bảo tồn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc. Quản lý lễ hội là một lĩnh vực cụ thể trong ngành
văn hóa.
Theo tác giả Bùi Hoài Sơn thì: “quản lý lễ hội là công viêc của Nhà nước
được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát
việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội truyền thống nhằm mục
đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa cảu lễ hội được công đồng coi
trọng, đồng thời góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói
riêng, của cả nước nói chung”.
Còn tác giả Phạm Thanh Quy lại cho rằng: “ Quản lý lễ hội bao gồm quản
lý nhà nước và những hình thức quản lý khác đối với các hoạt động lễ hộ. Quản
lý lễ hội nhằm đáp ứng các nhu cầu phát tiển được hiểu là sự tổ chức, huy động
các nguồn lực. Nói cách khác thì quản lý lễ hội nhằm các mục tiêu lợi ích công
cộng, mục tiêu lợi nhuận hoặc xu hướng phát triển đất nước”.
Tóm lại, quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hộ nó chung, lễ hộ truyền
thống nói riêng được hiểu là quá trình sử dụng các công cụ quản lý: chính sách,
pháp luật, các nghị định, chế tài, tổ chức bộ máy vận hành và các nguồn lực để
kiểm soát, can thiệp vào các hoạt động của lễ hội bằng các phương thức tổ chức
thự hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm duy trì việc thực hiện hệ thống chính
sách, hệ thống các văn bản pháp quy, chế tài của Nhà nước đã ban hành. Quản lý
lễ hội là môt quá trình thực hiện bốn công đoạn: xác định nội dung và phương
thức tổ chức, xây dựng kế hoạch; tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, giám sát
việc thực hiện: tổng kết, đúc kết kinh nghiệm.
10
1.2. Lễ hội truyền thống đình làng Như Xuyên, huyện Sơn Dương,
tỉnh Tuyên Quang.
1.2.1. Quá trình hình thành lễ hội đình làng Như Xuyên
- Sự tích của hội:
Theo như lời kể lại của các cụ sống gần đình làng rằng: Cách đây khoảng
100 năm có một nhóm người di cư từ phía bắc Trung Quốc đến vùng đất này để
khai hoang lập nghiệp và định cư tại đây. Từ khi có sự quản lý của nhà nước nơi
đây được đặt tên là Như Xuyên thuộc xã Đồng quý, huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang. Trong quá trình khai hoang lập nghiệp họ đã gặp không ít khó
khăn, cuộc sống không mấy thuận lợi, mùa àng bị tàn phá, dịch bệnh sảy ra liên
tiếp. Trên mảnh đất này người dân phát hiện bốn cây Đa to nhưng kì la thay có
một cái cây duy nhất mọc ngược, ngừoi dân ở đây cho rằng nếu muốn có cuộc
sống ổn định mùa màng bội thu thì phải lập đền thờ thần linh. Vì thế, tất cả
người dân trong thôn đã họp bàn nhau lập đình thờ thần linh tại khu vực nốn cây
Đa vào năm 1938 và tổ chức rước ba vị vua là Lịch Sơn, U Sơn, Út Sơn từ Đền
Hùng ở (Phú Thọ) về thờ. Từ đó, cuộc sống của những người dân nơi đây luôn
gặp may mắn, con người mạnh khỏe, mùa màng bội thu, chăn nuôi phát triển.
Để tỏ lòng biết ơn các vị thần linh, hàng năm họ tổ chức dâng lễ vật lên để cúng
tạ ơn các vị thần linh và cầu mong cho dân an khang, mùa màng bội thu.
- Không gian của hội:
Quần thể di tích của hội gồm khu vực đình làng với một mái đình và bốn
cây đa cổ thụ nhưng hiện nay chỉ còn lại hai cây. Đình là nơi sẽ diễn ra lễ tế tạ
ơn ở khu vực đình làng sẽ có hồ lớn uốn quanh được chộn làm nơi tổ chức phần
hội sau khi phần lễ kết thúc. Đến với đình làng du khách sẽ được thỏa mãn nhu
cầu sinh hoạt tâm linh và đắm chìm trong không gian huyền ảo của cảnh quan
nơi đây, ngoài ra du khách còn được thưởng thức và tham gia các trò chơi dân
gian tại nơi đây. Với những ai thích khám phá có thể chọn nơi đây để khám phá
với loại hình leo núi, đi bộ hoặc du thuyền trên hồ... Chắc chắn đây sẽ là điểm
11
đến lí thú với mọi người.
1.2.2. Quá trình phát triển của lễ hội đình làng Như Xuyên
Quá trình hình thành và phát triển của đình làng Như Xuyên được chia
làm 3 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn từ năm 1938 – 1945.
Đây là khoảng thời gian mà đình mới được xây dựng và phát triển với
những đồ vật được làm bằng đồng, sơn son thiếp vàng... Bên ngoài đình là bốn
cây Đa tồn tại lâu đời. Từ khi được xây dựng đình là nơi đã tổ chức được bốn
lần cúng lễ vào các ngày mùng 06 tháng giêng, 13/5, 14/7, 6/12 tính theo âm
lịch. Người dân nơi đây chọn ngày mùng 06 tháng giêng hàng năm là ngày tổ
chức chính của lễ hội. Đến nay lễ hội vẫn còn tính nguyên sơ của nó.
- Giai đoạn từ năm 1945 – 1990.
Giai đoạn này có chiến tranh và nạn đói năm 1945 nên người dân phải sơ
tán, đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn. Đình làng cũng bị tàn phá bởi
chiến tranh, do đó, những người còn lại ở đây đã không tổ chức cúng lễ thần linh
như hằng năm được. Vì chiến tranh tàn phá và không thể tổ chức lễ hội được
nên đình làng gần như bị bỏ hoang trong một thời gian dài.
- Giai đoạn từ năm 1990 đến nay.
Đây là thời kì khôi phục đình làng và tổ chức lễ hội. Do bị tàn phá bởi
chiến tranh và bị bỏ hoang mà một số đồ vật trong đình không còn nhiều, việc
trùng tu lại đình cần mất một khoảng thời gian dài vì thế mà người dân và quản
lý địa phương không thể tổ chức lễ hội trong khoảng thời gian này. Ngoài ra,
cuộc sống của nông dân nơi đây vẫn còn nghèo nàn hậu quả của chiến tranh để
lại còn đó cũng là một trong lý do không thể tổ chức lễ hội. Khoảng 1 – 2 năm
sau đó, do nhận thấy cuộc sống không thoát khỏi được tình trạng đói kém người
dân đã quyết định tổ chức lễ cúng thần linh mà không có sự tham gia của cơ
quan quản lý. Từ khi lễ hội được tổ chức thì đời sống nhân dân được cải thiện
hơn, mùa màng bội thu... Đó cũng là tín ngưỡng là tâm linh mà người dân nới
12
đây hướng đến các vị thần linh.
Từ năm 2008 đến nay việc trùng tu đình làng hoàn thành lễ hội từ đó được
tổ chức hàng năm. Mỗi dịp tổ chức lễ hội lại thu hút đông đảo người dân trong
và ngoài xã tham gia.
1.2.3. Nội dung và ý nghĩa của lễ hội đình làng Như Xuyên
1.2.3.1. Nội dung lễ hội đình làng Như Xuyên
Lễ hội đình làng Như Xuyên mang những nét đặc trưng của lễ hội của cư
dân Bắc Bộ và cũng giống như các lễ hội truyền thống của các vùng khác gồm
có hai phần là: phần lễ và phần hội. Lễ hội đình làng Như Xuyên đậm nét tín
ngưỡng nông nghệp, tín ngưỡng thờ thành hoàng. Lễ hội hằng năm được tổ chức
vào ngày mùng 06 tháng giêng trong không khí nô nức háo hức của người đến
tham gia.
Phần lễ với các nghi lễ và để tỏ lòng biết ơn các vị thần linh người dân đã
dâng lễ vật và thành tâm cầu mong được sức khỏe, muàng màng bội thu, không
có tai ương dịch bệnh...
Phần hội được tổ chức tại sân đình, trên bờ và dưới mặt nước hồ Như
Xuyên với các tiết mục diễn xướng dân gian: múa trống sành, tra mộ nương, giã
cốm và các tieét mục hát Sình Ca của dân tộc Cao Lan, các trò chơi dân gin:
tung còn, đua thuyền, chọi gà, vật truyền thống...
1.2.3.2 Ý nghĩa và giá trị của lễ hội đình làng Như Xuyên
Lễ hội truyền thống là dịp để người dân hóa thân nhập cuộc và tham gia
sáng tạo cũng như thưởng thức các giá trị văn học nghệ thuật mang tính chất dân
gian kết hợp với những yếu tố hiện đại. Do đó, lễ hội đình làng Như Xuyên cũng
góp phần tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến đời sống tâm linh, đến việc hun đúc
tâm hồn tính cách con người Việt Nam.
Lễ hội đình làng Như Xuyên với các nghi lễ tâm linh, thể hiện sự kính
trọng, lòng biết ơn của nhân dân với các vị Vương tổ của người Cao Lan, với
Thành Hoàng làng và các vị thần, cầu cho một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa
13