Tải bản đầy đủ (.doc) (61 trang)

Báo cáo thực tập tại nhà máy phân bón sao vàng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (263.69 KB, 61 trang )

Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

LỜI CẢM ƠN
Thực tiễn đã chứng mỉnh rằng thực tập là một phần không thể thiếu trong
hành trang tri thức của học sinh, sinh viên. Đây là phương pháp thực tế hóa kiến
thức giúp cho chúng ta khi ra trường có thể vững vàng, tự tin hơn để đáp ứng
được yêu cầu cuả xã hội nói chung và của các công việc nói riêng. Với sự tạo
điều kiện của trường, khoa đã giúp chúng em được hiểu rõ hơn về điều đó bằng
việc đi thực tập. Cùng với sự đồng ý của Nhà máy phân bón Sao Vàng để chúng
em được thực tập tại công ty .
Trong khoảng thời gian thực tập, kiến thức cơ bản giảng dạy của nhà
trường đã được vận dụng vào công việc thực tập của em. Với sự giúp đỡ nhiệt
tình của anh Nguyễn Đình Long – Trưởng phòng kỹ thuật, các cô, các chú, các
anh chị ở Nhà máy phân bón Sao vàng đã tạo điều kiện cho nhóm chúng em
được thực tập và giúp đỡ chúng em hoàn thành chuyên đề thực tập một cách tốt
nhất. Ngoài ra người mà chúng em không thể không kể đến là giáo viên hướng
dẫn th.S NCS Trịnh Thị Huyên đã giúp đỡ chúng em thời gian qua.
Chúng em xin chân thành cảm ơn.

Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

1


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

MỞ ĐẦU


Là một sinh viên ngành Công nghệ hóa dầu, việc tiếp xúc với các dây
chuyền công nghệ và thiết bị là điều rất quan trọng. Chính vì thế, Thực tập kỹ
thuật là một cơ hội tốt cho sinh viên học tập, tiếp cận thực tế, nhìn nhận các vấn
đề một cách sát thực và hiểu rõ hơn công việc của một kỹ sư.
Thực tế là Việt Nam là một nước nông nghiệp, vì vậy, các sản phẩm phục
vụ cho nông nghiệp là những mặt hàng vô cùng thiết yếu, trong đó, không thể
không kể đến các sản phẩm phân bón. Tổng công ty vật tư nông nghiệp Nghệ An
hiện là nhà sản xuất, phân phối hàng đầu về phân bón và một số sản phẩm hóa
chất phục vụ sản xuất và tiêu dùng của tỉnh Nghệ An. Không những thế, Tổng
công ty vật tư nông nghiệp Nghệ An còn sản xuất rất nhiều sản phẩm hoá chất
khác phục vụ cho công nghiệp. Với diện tích nhà xưởng rộng lớn, công nghệ
hiện đại, thiết bị đa dạng. Việc thực tập tại Nhà máy là một cơ hội lớn để sinh
viên được tiếp cận thực tế và trang bị thêm các kiến thức.
Báo cáo thực tập tại Nhà máy phân bón Sao Vàng (thuộc Tổng công ty vật
tư nông nghiệp Nghệ An) bao gồm các phần chính:
- Tổng quan về Tổng công ty vật tư nông nghiệp Nghệ An và Nhà máy
phân bón Sao Vàng (thuộc Tổng công ty vật tư nông nghiệp Nghệ An)
- Dây chuyền sản xuất phân NPK
- Một số thiết bị chính trong từng dây chuyền công nghệ.
- Tìm hiểu các tiêu chuẩn áp dụng trong sản xuất của nhà máy.
Nhóm sinh viên thực hiện:
Lớp DHHD10NA

Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

2


Báo cáo thực tập


Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

PHẦN A
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN
XUẤT VÀ CUNG ỨNG PHÂN BÓN CỦA TỔNG CÔNG TY
VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP NGHỆ AN
I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG TẠI TỔNG CÔNG TY VẬT TƯ
NÔNG NGHIỆP NGHỆ AN
1. Qúa Trình Hình Thành Và Phát Triển Của Tổng Công Ty Vật Tư Nông
Nghiệp Nghệ An.
Tổng Công ty vật tư nông nghiệp Nghệ An là (1 doanh nghiệp cổ phần
100% trực thuộc Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Nghệ An) doanh
nghiệp nhà nước trực thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Nghệ
An. Là một doanh nghiệp Nhà nước được thành lập ngày 01 tháng 06 năm 1960
tên gọi ban đầu là Công ty tư liệu sản xuất Nghệ An. Nghành nghề chủ yếu lúc
này là kinh doanh các loại phân bón và dụng cụ cầm tay (như cày , bừa, cuốc,
hái,...), giống, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y... phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp của Tỉnh nhà.
Đến năm 1976 hai tỉnh Nghệ An và Hà tĩnh sát nhập thành tỉnh Nghệ
Tĩnh, Công ty tách thành nhiều công ty khác( bỏ đoạn này, nếu nói tách phải nêu
được các cty thành viên). Lúc này công ty đổi tên thành Công ty vật tư nông
nghiệp Nghệ Tĩnh chuyên kinhh doanh thuần tuý phân bón để phục vụ sản xuất
nông nghiệp.
Đến năm 1990, thực hiện chủ trương chia tỉnh Nghệ Tĩnh thành hai tỉnh
Nghệ an và Hà tĩnh. Thời điểm này Công ty được chia tách ra thành Công ty vật
tư nông nghiệp Nghệ An. Sau đó Công ty được lập lại theo nghi định 388/ CP tại
QĐ số 1741 QDUB ngày 29 tháng 09 năm 1992 của UBND tỉnh Nghệ An hoạt
động hoạch toán theo cơ chế thị trường

Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA


3


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

Giấy phép kinh doanh xuất - nhập khẩu số 215.1019/GP ngày 20 tháng 12
năm 1993 do Bộ thương mại cấp. Đăng ký kinh doanh số 106.723 do Trọng tài
kinh tế Nghệ An cấp(có ngày tháng năm đưa vào thì tốt).
Công ty có trách nhiệm nhập khẩu, sản xuất, cung ứng phân bón cho nông
nghiệp – Thu mua nông sản, lương thực xuất nhập và chịu trách nhiệm bình ổn
giá phân bón trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An.
* Các mặt hàng chính bao gồm:
- Đạm Urê
- Đạm Sunphate(SA)
- Kalyclorua
- Các loại phân lân
- Các loại phân tổng hợp N-P-K
Ngoài ra đơn vị còn kinh doanh các mặt hàng khác như: các loại nông
sản, đại lý xăng dầu, vật liệu xây dựng…
Công ty có trụ sở Công ty đặt tại số 98 đường Nguyễn Trường Tộ Phường Đông Vĩnh - TP Vinh - Nghệ An. Đây là một vị trí thuận lợi chỉ cách ga
Vinh 700m, cách quốc lộ 1A gần 1km , cách Cảng Bến Thủy khoảng 9km và
cách Cảng Cửa lò khoảng 16 km nên là đầu mối giao thông quan trọng toả đi các
địa phương, các tỉnh bạn.
Công ty trực tiếp quản lý 24 đơn vị thành viên trong đó có 15 trạm vật tư
cấp huyện, 5 vùng kho trung tâm, 3 kho ngoại tỉnh, 1 đội xe vân tải nội bộ, 1
đơn vị xuất nhập ở cảng Cửa lò và 1 Nhà máy sản xuất NPK. Hệ thống tổ chức
Đảng, Công Đoàn, Phụ nữ, Đoàn thanh niên hoạt động có hiệu quả với ( bỏ

đoạn này- một đảng bộ gồm 270 thành viên,) gần 270 Cán bộ Công nhân viên,
một chi đoàn thanh niên với 39 đoàn viên sinh hoạt thường xuyên.
Suốt trong những năm qua phát huy truyền thống của một doanh nghiệp
luôn hoàn thành vượt mưc kế hoạch của nhà nước, từ những năm hoạt động
trong cơ chế cũ cho đến nay Doanh nghiệp luôn tìm tòi sáng tạo, chủ động đổi
mới vươn lên khó khăn dần được tháo gỡ, hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày
Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

4


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

một tăng. Sản lượng phân bón cung ứng luôn thoả mãn nhu cầu của người tiêu
dùng.
Những kết quả và thành tích nói trên mà từ năm 1998-2000 Công ty đã
được khen thưởng nhiều bằng khen, cờ thi đua UBND tỉnh Nghệ an, Bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn, Tông liên đoàn lao động viêtn nam 3 huân
chương lao đông nhất, nhì, ba.Đặc biệt đối với những thành tích nổi bật trong
sản xuất, phuc vụ sản xuất từ năm 1998-2000 Công ty vinh dự được nhà nước
phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới.
Năm 2003 Công ty được trao tặng giải thưởng chất lượng quốc tế châu á
Thái Bình Dương.
Đến năm 2005 Công ty chuyển đổi sang Công ty cổ phần.
Năm 2008 thành công ty cổ phần 100%.
Tháng 9/2009 Công ty được đổi tên chuyển thành Tổng Công ty cổ phần
vật tư nông nghiệp Nghệ An.
2. Cơ Sở Hạ Tầng

Là một doanh nghiệp Cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà
nước (bỏ đoạn này- nhà nước )trong nền kinh tế mở, thị trường cạnh tranh gay
gắt nhưng công ty luôn đảm bảo kinh doanh có hiệu quả, thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ đối với ngân sách nhà nước.
Bên cạnh việc không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanhTổng công ty còn giải quyết tốt việc làm, đời sống của cán bộ công nhân viên và
tham gia tích cực các hoạt động xã hội. thường xuyên quan tâm đến công tác
bảo vệ môi trường khu vực sản xuất kinh doanh. Đảm bảo vệ sinh tại các vùng
kho, cửa hàng kinh doanh phân bón và phân xưởng sản xuất.
Mỗi đơn vị trực thuộc Tổng công ty đều đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
tương đối khang trang, hệ thống mương, máng cấp thoát nước đầy. Trụ sở làm
việc của văn phòng Tổng công ty được xây dựng từ năm 1990, tu bổ và trang trí
lại nội thất làm việc năm 1996.

Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

5


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

(Bỏ đoạn này-Tổng kho Ga vinh đóng trên địa bàn phường Đông Vĩnh –
viết là) Nhà máy phân bón sản xuất phân bón Sao Vàng (sát trụ sở làm việc của
văn phòng Tổng công ty), với trữ lượng 15000 tấn phân bón và một phân xưởng
sản xuất NPK đạt công xuất 6000 tấn/năm.
Tổng kho Cửa Lò đóng trên địa bàn xã Nghi Thu (gần cảng Cửa Lò) với
trữ lượng hơn 5000 tấn phân bón. Có hệ thống giao thông thuận tiện để nhập
xuất hàng kịp thời.
Tổng kho Ga Sy đóng trên địa bàn thị trấn Diễn Châu với trữ lượng hơn

4000 tấn phân bón, có hệ thống giao thông, thủy lợi thuận tiện là địa bàn trung
tâm cung ứng và phục vụ phân bón trên địa bàn huyện Diễn Châu.
Tổng kho Sỏi (Đô Lương) đống trên địa bàn thị trấn Đô Lương với trữ
lượng 3000 tấn phân bón. Một phân xưởng sản xuất NPK. Đây là địa bàn thuận
lợi nằm trên trục đường 7, đảm bảo cung ứng phân bón cho các huyện Đô
Lương, Anh Sơn, Con Cuông,…
Tổng kho Nghía Đàn đóng trên địa bàn thị trấn Nghĩa Đàn với trữ lượng
2000 tấn phân bón, cung ứng cho các Huyện, nông trường ở Nghĩa Đàn, Quỳ
Châu, Quỳ Hợp, …
Tại các kho hàng trên đều có nền bê tông cứng, hàng hóa có bục kê, có
phân loại hàng hóa từng khu vực trong kho để thuận tiện theo dõi, kiểm tra và
xếp dỡ. Có trang bị đầy đủ cấc phương tiện phòng chống cháy, nổ theo quy định
của công an phòng cháy chữa cháy.
II. VẤN ĐỀ CỦA NHÀ MÁY SẢN XUẤT PHÂN BÓN NPK SAO VÀNG
1. Các Yếu Tố Cần Cho Cây Trồng Trong Phân Bón NPK
Cây trồng các chất dinh dưỡng cho sự sinh trưởng phát triển, trong đó chủ
yếu các chất dinh dưỡng có nguyên tố ( nguyên tố đa lượng ) gồm: N (đạm), P
(lân), K (kali). Ngoài ra cây trồng các chất dinh dưỡng khác (nguyên tố trung
bình và vi lượng) như: Ca, Mg, Si, Fe, Mo, Zn, Cu, S,…
Việc sản xuất phân bón NPK sẽ cung cấp đồng thời 3 nguyên tố đa lượng
chủ yếu cho cây trồng, ngoài ra còn cung cấp thêm một số nguyên tố trung bình
Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

6


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM


và vi lượng khác cho cây trồng, mặt khác NPK là phân hỗn hợp dạng viên nên
khi bón cho cây trồng NPK tan chậm sẽ giúp cho cây trồng có được nguồn cung
cấp dinh dưỡng lâu dài đảm bảo cho sự sinh trưởng và phát triển của cây, … do
vậy càng có nhiều bà con nông dân sử dụng phân bón NPK bón cho cây trồng.
Tăng cường công tác quản lý chất lượng sản phẩm phân bón hỗn hợp
NPK là một trong những chủ trương lớn của Tổng công ty cổ phần vật tư nông
nghiệp Nghệ an. Đây là một trong các yếu tố nhằm đảm bảo sự phù hợp của hệ
thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 mà Tổng công ty đang áp dụng.
2. Tình Hình Sản Xuất Của Nhà Máy
Kết quả sản xuất NPK của Nhà máy trong mấy năm gần đây( các năm
qua là ):
Năm sản xuất
2008
2009
2010
3 tháng đầu năm 2011

Sản phẩm NPK các loại
38 738 tấn
52 400 tấn
46 432 tấn
13 460 tấn

Sản lượng các sản phẩm chủ yếu:
- Sản xuất năm 2008:
STT
1
2
3
4

5
6

Sản phẩm NPK
NPK 8.10.3
NPK 5.10.3
NPK 3.9.6
NPK 16.16.8
NPK 15.5.20
NPK 10.5.10

Sản lượng
20 000 tấn
2 450 tấn
1 740 tấn
3 549 tấn
4 162 tấn
6 873 tấn

- Sản xuất năm 2009:
STT
1
2

Sản phẩm NPK
NPK 8.10.3
NPK 5.10.3

Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA


Sản lượng
40 000 tấn
1 048 tấn

7


Báo cáo thực tập

3
4
5
6

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

NPK 3.9.6
NPK 16.16.8
NPK 15.5.20
NPK 10.5.10

448 tấn
2 620 tấn
3 144 tấn
5 140 tấn

- Sản xuất năm 2010:
STT
1
2

3
4
5
6

Sản phẩm NPK
NPK 8.10.3
NPK 5.10.3
NPK 3.9.6
NPK 16.16.8
NPK 15.5.20
NPK 10.5.10

Sản lượng
38 000 tấn
928 tấn
312 tấn
1657 tấn
2 121 tấn
3 414 tấn

Nhà máy sản xuất các sản phẩm NPK theo thời vụ. Vì vậy sản lượng sản
xuất của Nhà máy theo các quý sau:
Quý I: Từ tháng 1 đến tháng 3 chiếm khoảng : 27.6%
Quý II: Từ tháng 4 đến tháng 6 chiếm khoảng : 20.04%
Quý III: Từ tháng 7 đến tháng 9 chiếm khoảng : 20.04%
Quý IV: Từ tháng 10 đến tháng 12 chiếm khoảng : 32.32%

PHẦN B:
QUY TRÌNH SẢN XUẤT PHÂN NPK

I. QUY ĐỊNH CHUNG
Trước lúc sản xuất, tất cả người lao động trực tiếp sản xuất đều phải đeo
bảo hộ cá nhân bao gồm: quần áo bảo hộ lao động, găng tay, đội mũ (đối với nữ
giới phải búi tóc), đeo khẩu trang mặt, đi dày dép …
Vệ sinh sạch sẽ, tạo môi trường làm việc thoáng mát, khô ráo, thoải mái
dễ thao tác,…tại nơi làm việc.
Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

8


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

Tập trung nguyên vật liệu cần sản xuất quanh vị trí làm việc hoặc có bộ
phận vận chuyển nguyên liệu để quá trình sản xuất không bị gián đoạn.
Kiểm tra máy móc thiết bị trước lúc làm việc bao gồm : búa,sàng, băng
tải, động cơ, ổ bi, máy khâu, hệ thống điện, hệ thống nước phun…nếu không
bảo đảm an toàn cho sản xuất thì lập tức báo ngay cho nhười trực cơ điện để tìm
hiểu biện pháp xử lý tốt nhất.Khi thiết bị máy móc bảo đảm an toàn cho sản xuất
thì trước lúc sản xuất phải cho máy chạy thử không tải từ 1-3 phút.
- Không được uống rượu, bia trước và trong lúc làm việc.
- Không nô đùa xô đẩy nhau, lấy vỏ bao tải, hàng hoá ném nhau trong lúc
đang làm việc.
- Khi có biểu hiện khác lạ của máy móc thiết bị, xảy ra sự cố thì người
trực tiếp sản xuất phải báo kịp thời cho cấp trên để xử lý, đồng thời cắt cầu giao
điện cho máy có sự cố.
- Sau khi làm việc xong phải vệ sinh sạch sẽ nơi làm việc, tắt các loại
động cơ, đèn, quạt …bàn giao nhà xưởng cho thủ kho.


II. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN SẢN XUẤT PHÂN NPK
* SƠ ĐỒ LƯU TRÌNH CÔNG NGHỆ

Nguyên liệu

Tạo hạt
Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

K

ng
đạ
t

ch
th
ướ
c

Kho

9


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

Sấy


Bơm
nước

Máy
nghiền
lân

Máy
nghiền
SA

Sàng

Béc
phun

Bồn
dầu
F.O

Không đạt

Làm nguội, đóng bao
Băng
tải

Băng tải
tháo liệu


Máy tạo
viên

Cyslon
lắng

Kiểm tra

Béc
đốt dầu
F.O

Xử lý theo tiêu
Máy sấy
của nhà
thùng quay

Băng tải
chuẩn
nạp
sấy

Quạt
sấy

Đạt

Nhà điều khiển
trung tâm + tủ
Lưuđiều

khokhiển điện
(nhôm, kính)

Máy
nghiền
liệu

Bộ tách
tạp chất
lớn

Sàng
phân
loại

Trống làm
nguội

Băng tải nạp
nguội

Băng
tải nạp
sàng

Quạt
làm
nguội

* SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT PHÂN BÓN N.P.K

Đi về máy
sấy thùng
quay

Băng tải liệu
lên bồn chứa

Cylon
lắng

Bồn chứa
liệu + đóng
bao
Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA
Xuất xưởng

10


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

Ghi chú:
- sơ đồ công nghệ trên chỉ tính số lượng thiết bị chính và cơ bản
- Các thiêt bị: Van phân phối liệu, đường ống, máng dây điện, v.v…chưa
thể hiện được ở sơ đồ công nghệ này
1. Nguyên Liệu Đầu vào
1.1. Phân lân SUFEPHOSPHAT (sufe lân)
Hàm lượng P2O5 hữu hiệu > 16%

Hàm lượng Lưu Huỳnh (S) >10%
Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

11


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

Độ ẩm (H2O) < 13%
Hình thức: tơi sốp, đã được đánh tung
* Phương pháp thử - áp dụng theo:
TCVN 5815-2001
10TCVN 307-97 : Xác định photpho hữu hiệu.
10TCVN 3636-97 : Xác định lưu huỳnh
1.2. Phân bón AMONIUM SULPHATE (SA)
CTHH: (NH4)2SO4
Hàm lượng N > 19.5%
Hàm lượng Lưu Huỳnh (S) >22%
Độ ẩm (H2O) < 1%
Hình thức: Dạng tinh thể rắn, khô rời, màu vàng nhạt hoặc xám, rất dễ bị
hút ẩm và đóng rắn. trường hợp bị đóng cục, chảy nước thì phải phân tích lại
hàm lượng và sử lý đập, nghiền, sàng.
* Phương pháp thử - áp dụng theo:
TCVN5815-2001
10TCVN 304-97 : Xác định nito tổng
10TCVN 3636-97 : Xác định lưu huỳnh
1.3. Phân bón KALI CLORUA (KCl)
CTHH: KCl

Hàm lượng K2O > 60%
Độ ẩm (H2O) < 1%
Cỡ hạt: 0.5- 1 mm.
Hình thức: Ở dạng tinh thể đỏ hoặc trắng.
* Phương pháp thử - áp dụng theo:
TCVN5815-2001
10TCVN 308-97 : Xác định kali hòa tan.
1.4. Phân bón URE ( cacbamit)
CTHH: CO(NH2)2
Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

12


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

Hàm lượng N > 46%
Độ ẩm (H2O) < 1%
Cỡ hạt: 1- 4mm toinhs theo phần trăm khối lượng >90%
Hình thức : Ở dạng viên trứng nhện, màu trắng hơi ngả màu vàng, tan tốt
trong nước, loại phân trung tính, không độc. ure ở môi trường bình thường dễ
hút ẩm và bị thủy phân. Trường hợp bị đóng cục, chảy nước thì phải phân tích
lại hàm lượng và sử lý đập, nghiền, sàng.
* Phương pháp thử - áp dụng theo:
TCVN5815-2001
10TCVN 304-97 :Xác định nito tổng.
1.5. Phân bón DIAMONIUM PHOSPHATE (DAP)
CTHH: (NH4)HPO4

Hàm lượng N tổng > 18%
Hàm lượng P2O5 hữu hiệu >46%
Độ ẩm (H2O) < 0.5%
Cỡ hạt : 2 - 4 mm.
Hình thức: Ở dạng hạt màu nâu sẫm hay xám đá. DAP tổn thất Amoniac ở
700c và chuyển thành Mono Amon Phosphat.
* Phương pháp thử - áp dụng theo:
TCVN5815-2001
10TCVN 304-97 :Xác định nito tổng.
10TCVN 307-97 : Xác định photpho hữu hiệu.
1.6. Phân bón MONOAMONIUM PHOSPHATE (MAP)
CTHH: NH4H2PO4
Hàm lượng N tổng > 10%
Hàm lượng P2O5 hữu hiệu >45%
Độ ẩm (H2O) < 0.5%
Hình thức : Ở dạng bột mịn trắng. MAP là một hợp chất khá bền vững ở
100- 1100C, không bị phân hỷ và thất thoát amoniac.
Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

13


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

* Phương pháp thử - áp dụng theo:
TCVN5815-2001
10TCVN 304-97 :Xác định nito tổng.
10TCVN 307-97 : Xác định photpho hữu hiệu.

1.7. Các chất phụ gia
Như cao lanh, quặng secpentin, phophorit, than bùn, …
Phụ gia là các chất có tính ưu việt trong công tác sản xuất và có ích cho
cây trồng.
Phụ gia phải được gia công thành dạng bột khô, mịn,… đáp ứng các yêu
cầu trong công tác sản xuất.
2. Vận Hành Tủ Điều Khiển Hệ Thông Điện
- Trước khi dóng điện cần kiểm tra cách điện giữa thiết bị và nền nhà, mặt
tủ
- Kiểm tra cách đóng điện giã ác-to-mát và tủ diện.
- Đóng ác-to-mát cấp nguồn không tải, kiểm tra điện áp nguồn
- Ấn còi báo cho máy hoạt động.
- Ấn nút điều khiển cho các thiết bị cấn sử dụng, thứ tự cách nhau 1-5
phút.
- Khi nào dòng khởi động giảm về vị trí tối thiểu( đồng hồ A báo) mới
dược đóng diện cho máy khác hoạt động.
- Khi có sự cố máy móc thợ vận hành cắt điện cầu giao nguồn cấp điện
cho từng máy và treo biển cấm đóng diện.
- Nếu có sụ có chập điện trong tư đện phải cắt ngay cầu dao tổng và báo
cho tổ kỹ thuật.
- Kết thúc quá trình sản xuất thợ điện cần phải kiểm tra lại hệ thống điện
an toàn khu vực, cắt át-to-mát tổng ở tủ điện, cắt điện ánh sáng, quạt gió...
Chú ý: Tụ điện phải được đảm bảo ở môi trường khô ráo thoáng mát
3. Nghiền Nguyên Liệu
3.1. Mục đích
Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

14



Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

Nghiền nhỏ các vật liệu đông cục, kết tảng, hạt to và trộn đều giữa các
nguyên liệu như: DAP, MAP, Đạm SA, KCl, Lân su-pe, Urê,…tạo thuận lợi cho
quá trình vê viên NPK (vê viên dễ hơn, hạt NPK đồng đều, ít sản phẩm phụ…)
Cung cấp nguyên liệu đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, đầy đủ, kịp thời cho bộ
phận vê viên hạt. Đây là công đoạn sơ chế ban đầu cho sản xuất NPK
3.2. Các yêu cầu kỹ thuật và biên pháp thực hiện
Nghiền nguyên liệu gồm có 3 giai đoạn:
+ Lân và sản phẩm phụ được nghiền và trộn đều ( chúng được đóng trong
bao 50kg/bao)
+ Nghiền, trộn các loại nguyên liệu hạt như : Đạm Urêa, Đạm SA, DAP,
MAP, Kali, …(chúng được đóng bao 50kg/bao)
+ Vận chuyển, xếp các nguyên liệu sau khi nghiền, trộn và các nguyên
liệu khác thong qua sơ chế lên bệ pháo và sàn thao tác.
- Cách tiến hành chung cho máy nghiền:
+ Ấn nút khởi động cho máy hoạt động không tải khoảng 30 giây- 1 phút,
và tắt ngay để kiểm tra lại các thông số kỹ thuật của máy.
+ Khi các thông số kỹ thuật dảm bảo, đóng lại điện cho máy hoạt động
đòng thời tiến hành cho nguyên liệu vào máy nghiền để nghiền
+ Trong quá trình vận hành nếu có tiếng kêu lạ, hoặc giảm vòng tua, mùi
khét nhựa của môtơ hay dây cu-roa thì phải cắt ngay nguồn điện và báo cáo
ngay cho tổ cơ điện biết để có biện pháp xử lý kịp thời.
Nếu có các nguyên liệu cứng, ướt, kết tảng thì phải đập nhỏ, tơi (có thể
độn với các nguyên liệu khô) và cho vào máy nghiền phải từ từ.
Kết thúc quá trình sản xuất công nhân vận hành máy nghiền phải cho máy
chạy không tải khoảng 30 giây - 1 phút để cho hết nguyên liệu trong máy ra
ngoài.

3.2.1. Công đoạn 1: Nghiền lâm su-pe, sản phẩm phụ
Công đoạn này được thực hiện tại vị trí máy nghiền lân

Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

15


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

Sản phẩm phải được phân bổ đều với nguyên liệu lân để nghiền. số lượng
căn cứ thực tế của nguyên liệu lân, lượng sản phẩm phụ được tổ kỹ thuật và tổ
kho thống nhất quy định trong tùng ca sản xuất. do sản phẩm phụ là phụ gia nên
phải đặc biệt quan tâm không được dồn sản phẩm phụ về cuối ca để nghiền làm
ảnh xấu đến chất lượng sản phẩm NPK
Trường hợp do lân hay sản phẩm phụ quá ẩm, dính bệt làm tắc sàng thì
phải báo về kỹ thuật để có giải pháp phối trộn phù hợp giữa các loại lân hay thay
đổi sàng.
Trong quá trình vận hành máy đập lân người đổ liệu phải rải đều, trộn đều
các loại lân khô, ướt ẩm, sản phẩm phụ. Tránh trường hợp đổ ập cả bao vào hộc
liệu gây nghẹt máy làm ảnh hưởng xấu đến giây cu-roa, mô-tơ của máy đập lân.
Phải bổ xung một người chọc phễu để tránh trường hợp tắc máy, loại bỏ
các loại rác ra khỏi máy.
Lân sau khi nghiền phải đống đều, đủ lượng vào bao (khoảng 50 5 kg)
phù hợp với nguyên liệu khác như than mùn, cao lanh,… và để công tác đổ liệu
của bộ phận vê viên được đồng đều giữa các nguyên liệu lân, hỗn hợp SA, phụ
gia…
Yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm Lân su-pe, sản phẩm phụ sau khi

nghiền như sau:
- Hạt có kích cỡ < 1 mm chiếm không quá 85%
- Hạt có kích cỡ 1 4 mm chiếm không quá 10%
- Hạt có kích cỡ > 4 mm chiếm không quá 5%
3.2.2. Công đoạn 2
Nghiền, trộn qua sàng và đóng bao các loại nguyên liệu hạt.
Nguyên liệu trước khi phối trộn phải được tập kết đầy đủ theo từng loại
theo máy nghiền SA và theo từng mẻ nghiền.
Các thao khi nghiền trộn SA:
Mỗi loại nguyên liệu khi dùng để trộn phải có ít nhất một người đổ liệu,
công đoạn mở bao phải có nhiều công nhân thao tác để tránh trường hợp may
Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

16


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

chạy không tải. nguyên liệu ướt, vón cục nhiều thì phải bổ xung một người chọc
phễu để tránh trường hợp tắc máy, loại bỏ các loại rác ra khỏi máy.
Khi thực hiện phối trộn để nghiền phải thông báo qua kỹ thuật hoặc tổ
kho để lắm bắt tỷ lệ trộn theo công thức. Các công nhân vận đổ các loại nguyên
liệu phải thực hiện quá trình trộn theo nguyên tắc đúng tỷ lệ dã có và lấy loại
nguyên liệu có tỷ lệ ít nhất làm chuẩn.
Quá trình trộn liệu phải phối trộn sao cho đều giữa các nguyên liệu và
phải đổ từ từ vào hộc máy tránh tắc nghẽn máy. Tỷ lệ nguyên liệu phải đổ nhiều,
tỷ lệ nguyên liệu ít phải đổ ít. Sau khi lượng nguyên liệu chuẩn hết thì tất cả các
nguyên liệu khác cũng hết theo đúng tỷ lệ của kỹ thuật đè ra.

Sau khi nguyên liệu được phối trộn đều theo tỷ lệ và qua máy nghiền phải
được đóng bao (khoảng 50  5 kg/bao). Sau đó được vận chuyển lên pháo cho
bộ phận đổ liệu vê viên. Gọi là hỗn hợp SA.
* Yêu cầu kỹ thuật của hạt nguyên liệu sau khi trộn nghiền:
- Tùy thuộc loại nguyên liệu mà bộ phận kỹ thuật sẽ cho sử dụng các loại
sàng khác nhau để tăng tốc độ nghiền. trán tắc nghẽn máy và hạn chế đến mức
tôi đa việc cục nguyên liệu còn sót lại sau khi nghiền.
- Lượng các hạt nguyên liệu sau hki đóng bao phải đồng đều theo tỷ lệ
quy định của kỹ thuật thì bộ phận trộn liệu máy SA chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Lưu ý: khi gặp thời tiết ẩm mà nguyên liệu có đạm urea thì không trộn
liệu trước khi vào sản xuất quá 2 giờ để trán hiện tượng hút ẩm chảy nước của
urea.
3.2.3. Công đoạn 3
Vận chuyển, bốc xếp các loại nguyên liệu lên bệ pháo và sàn thao tác.
Chủng loại và lượng nguyên liệu đưa lên sàn thao tác do kỹ thuật quy
định. Liệu đua lên sàn thao tác bằng băng tải 1 và 2 hoặc trực tiếp. Trên sàn thao
tác liệu dược xếp thành hai hàng dọc thao sàn thao tác. Số lượng chiều cao của
nguyên liệu xếp chồng không quá 10 bao loại 50kg/bao. Nếu có 2 loại nguyên

Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

17


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

liệu bọc áo thì phải xếp rải đều 2 loại liệu để tiện cho việc bọc áo theo đúng quy
trình kỹ thuật.

Nguyên liệu được đua lên sàn thao tác ( dùng bọc áo)trong một ca sản
xuất chia nhiều đợt:
Đợt đầu: Đưa lên không quá 6 tấn nguyên liệu của Các loại trước khi
bước vào sản xuất (xếp mỗi bệ 6 cọc, mỗi cọc không quá 10 bao).
Các đợt sau: đưa lên không quá 4 tấn ( xếp mỗi bên bệ 5 cọc, mỗi cọc
không quá 8 bao).
Yêu cầu xếp liệu bọc áo trên sàn thao tác : không được để nguyên liệu
chèn, lấp công tắc điện băng tải điện 1 và 2, che lấp miệng chảo, gây cản chở và
nguy hiểm cho công tác ve viên,…
* Vận chuyển, bôc xếp nguyên liệu lên bệ pháo theo yêu cầu sau:
- Nguyên liệu được đưa lên bệ pháo thành nhiều đợt. mỗi đợt phải đưa lên
pháo đầy đủ các loại nguyên liệu theo công thức kỹ thuật quy định.
- Nguyên liệu được xếp thành cọc, mỗi loại đồng đều cho 2 máy vê viên
để thuận tiện cho viêc thao tác đổ liệu. không được xếp chồng cao quá 4 bao trên
pháo để đảm bảo an toàn ho việc thao tác trong sản xuất.
- Trong các đợt đưa nguyên liệu lên bệ pháo phải bổ xung thường xuyên
lên pháo đầy đủ các loại nguyên liệu và cân đối kịp thời, đúng tiến độ sản xuất
vê viên.
- Quá trình chuyển liệu lên pháo mà có nhiều loại nguyên liệu cần phải bổ
xung trong quá trình sản xuất thì phải chuyển sao cho không ách tắc trong việc
vận chuyển. Thông thường bằng các chuyển so le 2 nguyên liệu lên 2 pháo
(pháo này chuyển lân thì pháo kia chuyển SA,…).
Lưu ý:Khi nguyên liệu có dạng dễ vón cục thì bộ phận chuyển phải tiến
hành xếp cao không quá 3 bao/cọc để giảm bớt tính đè nén lên nguyên liệu,
giảm lượng kết tảng gây cục trong sản phẩm.
3.3. Ý nghĩa

Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

18



Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

-Tạo cho sản phẩm NPK sản xuất trong ca đạt đúng hàm lượng N, P 2O5,
K2O như đã tính toán, nếu để lại ca sản xuất sau thì hàm lượng N, P 2O5, K2O
không đạt tỷ lệ NPK như đã tính toán.
- Nguyên liệu bị kết tảng nhiều như Lân su-pe, SA thì tổ trưởng tổ liệu
phải biết trước ca mình sản xuất với khối lượng bao nhiêu, sau đó tập trung đầy
đủ nguyên liệu xung quanh vị trí nghiền.
- Qúa trình nghiền phải tiến hành chậm, tốc độ nghiền khoảng 1 phút
được 2 bao 50kg lân su-pe. Lân su-pe tạo thành có độ mịn cao(kích cỡ
<=0,5mm) không còn kết khối và tảng.Tuyệt đối không nghiền quá nhanh tránh
hiện tượng tắc máy Lân, làm hỏng máy.
- Khi nghiền xong bỏ vào bao tải khoảng 50kg/bao để chuyển lên pháo vê
viên (mục đích tạo thuận tiện cho người đổ liệu cho tỷ lệ tính trên lý thuyết là
50kg/bao.
- Riêng đạm Urêa không được nghiền trước ca sản xuất hơn 2 giờ vì lý do
đạm dễ bị hút ẩm chảy nước kết khối.
4. Vê Viên Tạo Hạt
4.1. Mục đích
Cung cấp nguyên liệu cho đĩa vê viên theo tỷ lệ quy định, tạo khả năng
phân phối đều các thành phần chất dinh dưỡng trong hạt phân. Giúp cho quá
trình vê viên tạo hạt ổn định, đồng đều.
Nhằm tạo hình dáng, khích thước, màu sắc của viên phân phù hợp với
yêu cầu kỹ thuật. viên phân phải tròn, nhẵn, khích thước đông đều hạt săn, chắc
4.2. Yêu cầu kỹ thuật và thao tác thực hiện
* Thao tác :

- Tiến hành đóng điện cho máy chạy không tải khỏagr 30 giây- 1 phút sau
đó tắt ngay để kiểm tra lại các thiết bị máy móc.
- Điều chỉnh lại xẻng chắn liệu hoặc gậy chắn liệu cho phù hợp và an
toàn.

Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

19


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

- Ấn nút cúp điện để chảo vê viên hoạt động liên tục: (Thông thường hệ
thống kiểu nối dây của máy vê viên được đặt ở chế độ tự động – tức là khi ấn
công tắc cấp điện cho máy vê viên thì nguồn điện cấp vào ở chế độ sao  , sau
khoảng 10 giây hệ thống tự chuyển sang chế độ kiểu nối dây tam giác Y). Do
đặc tính này của hệ thống máy của máy vê viên khi khởi động cần lưu ý: Khởi
động máy vê viên này được 5-10 phút mới được khởi động máy vê viên kia
phòng tránh hiện tượng giảm dòng điện.
- Khi máy vê viên quay đều mới tiến hành nạp liệu vào máy vê. Lượng
liệu cho vào chiếm khoảng 2/3 chảo để tạo mầm.
- Sau đó tiến hành mở van cấp nước ở chế độ nước phù hợp.
- Khi hạt phân được tạo mầm tròn từ 1-3 mm mới nạp liệu tiếp và tiến
hành vê viên liển tục. Các hạt mầm được bọc thêm và lớn lên, chúng nổi lên trên
bề mặt chaorvaf tự chảy ra vành ngoài để được bọc áo làm khô
- Quá trình bọc áo phải khô, săn, đều hạt sản phẩm, kích thước sản phẩm
từ 2-5 mm chiếm > 85%, sau đó sản phẩm được chuyển qua sàng xuống băng tải
để tới các công đoạn sau.

Lưu ý:
Khi làm việc ở vị trí vê viên , người vận hành phải tỉnh táo, không được
ngồi, không nô đùa và chọn vị trí đứng an toànđể tránh cá nguy cơ về tai nạn alo
động.
Khi máy dừng do mất điện đột ngột, cần phải dùng xẻng chuyển bớt liệu
ra khỏi máy vê viên để khi có điện máy hoạt động trở lại với lượng tải bé
Khi công nhân thao tác trên chảo mà chảo đang hoạt động thì bắt buộc
phải đúng vị trí an toàn... để đảm bảo an toàn
4.2.1. Đổ liệu
Trước khi tiến hành đổ liệu công nhân đổ liệu phải nắm vững tỷ lệ đổ liệu
theo định mức của kỹ thuật đối với từng loại sản phẩm, từng loại nguyên liệu và
với từng loại định mức.

Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

20


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

Phải đổ từng loại nguyên liệu xen kẽ với nhau, rải đều trên băng tải với tỷ
lệ đổ nhỏ nhất, tránh trường hợp đổ dồn từng loại với lượng quá lớn làm ảnh
hưởng tới quá trình tạo hạt vê viên. Mỗi loại nguyên liệu không được đổ quá 3
bao(loại 50kg/bao) 1 lần.
Lần đổ đầu tiên không quá 5 bao hỗn hợp SA để làm nhân tạo mầm cho
quá trình vê viên.
Cứ mỗi loại sản xuất được khoảng 20 30 tấn sản phẩm và cuối ca sản
xuất công nhân đổ liệu phải kiểm tra lại lượng các loại nguyên liệu đang còn để

đối chiếu với tỷ lệ đổ liệu và có sự điều chỉnh tỷ lệ hợp lý, tránh trường hợp
thiếu, thừa các lọa nguyên liệu làm ảnh hưởng tới quá trình vê viên, tỷ lệ N-P-K
trong sản phẩm, không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.
Cuối ca phải để dư 3-5 bao Lân hoặc mùn để bọc hết nhân trong chảo vê
để làm khô sản phẩm.
Trong quá trình đổ liệu bao bì phải xếp gọn gàng, không vớt bừa bãi gây
bừa bộn nhà xưởng, tránh bao bì quấn vào con lăn băng tải, tránh bao bì theo
băng tải vào chảo vê. Khi đổ liệu phải hết lượng nguyên liệu có trong bao đựng.
4.2.2. Vê viên tạo hạt
Trước lúc cho liệu vào vê viên công nhân vận hành phải tiến hành các
bước sau:
- Vệ sinh chảo vê, tiến hành các thủ tục bắt buộc khác như: tráng chảo
tránh chôi chảo khi vê, kiểm tra tỷ lệ bọc áo, kiểm tra loại nguyên liệu vê viên,
kiểm tra mặt hàng vê viên, kiểm tra đường mức và béc phun nước,…
- Cho máy chạy không tải 1-2 phút, khi máy qay đều và ổn định mới nạp
liệu vào chảo vê.
- Ban đầu cho vào đĩa vê viên khoảng 5 bao hỗn hợp SA để làm nhân tạo
mầm. để đĩa quay đều trộn liệu và tiến hành kiểm tra và chỉnh béc nước phun.
(riêng nguyên liệu có đạm urea thì phải cho vào trước 1-2 bao Lân hoặc mùn để
tránh chảy nước urea)

Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

21


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM


Sau khi các yếu tố sãn sàng cho quá trình vê viên, bắt đầu cho từ từ nước
vào chảo ở mức độ nước nhỏ và nạp nguyên liệu theo đúng tỷ lệ quy định vào
khoảng 2/3 chảo vê để tạo mầm. quá trình này thường kéo dài 5- 10 phút tùy
thuộc vào loại nguyên liệu do vậy người vận hành phải chú ý cho nước và
nguyên liệu vào từ từ với mứ độ nhỏ và đều. (thông thường chế độ nước phun
được chỉnh ở dưới dạng sương mà để tránh vón cục trong trình vê viên).
Khi mầm NPK lớn lên khoảng 1-3mm bắt đầu cho liệu vào để mầm được
tạo hạt lớn nhanh để tràn ra vành ngoài. Quá trình tạo hạt đã được thực hiện
đúng quy trình kỹ thuật đề ra.
Đối với từng loại sản phẩm khác nhau thì chế độ nạp liệu và phun nước
khác nhau.
Phải thường xuyên kiểm tra độ ẩm của nguyên liệu vào, hạt trong chảo để
điều chỉnh chế độ phun nước phù hợp cũng như chế độ vào liệu hợp lý.
Hạn chế việc phun nước cục bộ - đó là khi phun nhiều, khi phun ít nước,
khi đóng khi mở nước – làm cho quá trình tạo hạt mất tính ổn định dẫn đến kích
thước hạt phân không đồng đều, kết tảng sản phẩm.
Sản phẩm ra ngoài theo hiện tượng tự chảy. đó là bán sản phẩm ở vành
trong đầy vành ta cấp tiếp nguyên liệu thì bán thành phẩm có hạt to sẽ nổi lên
mặt trên và tự chảy ra vành ngoài. Khi vành đầy sản phẩm mà bán thành phẩm ở
vành trong vẫn tràn ra thì sản phẩm vành ngoài sẽ tràn xuống phễu qua sàng
xuống băng tải để đi đến quá trình sấy phân.
Mầm (còn gọi là bán sản phẩm) sau khi tràn ra vành ngoài thì người công
nhân vận hành vê viên phải tiến hành bọc áo ở vành ngoài để tăng kích thước
hạt, khô hạt, tạo màu cho hạt, làm nhẵn hạt và săn hạt,…
Bọc áo phải đều đặn, xen kẽ giữa các loại bọc áo. Không được để thừa
hay thiếu nguyên liệu bọc áo hoặc bọc không đều làm ảnh hưởng đến năng xuất
chất lượng sản phẩm.
Khi hạt phân được bọc khô, nhẵn, săn, đạt màu sắc và kích thước mới
được cấp liệu vào để tạo mầm ở vành trong và bọc áo ngoài theo chế độ tự chảy.
Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA


22


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

Hạt được chảy xuống băng tải để đưa hạt đến phân đoạn máy sấy làm khô sản
phẩm.
Cuối ca sản xuất, hết nguyên liệu, dừng giữa ca để sửa máy,… người vận
hành vê viên phải tắt nước, cho một số nguyên liệu bọc áo vào vành trong để
làm khô sản phẩm ở vành trong và xúc ra ngoài.
Lưu ý:
+ Tuyệt đối không được dung xẻng hay bất cứ dụng cụ nào xúc sản phẩm
ra từ vành trong ra vành ngoài, từ vành ngoài xuống băng tải trong lúc đang vê
viên. Trương hợp có sự cố phải dừng đĩa vê viên, thì phải xúc bớt ở vành ngoài
và vành trong xuống băng tải để khi khởi động lại máy đảm bảo yêu cầu quản lý
thiết bị.
+ Các hạt tạo mầm như : Urê, MAP, DAP, SA, Kali,… phải được bọc áo
kín để hạt sản phẩm có màu sắc đồng đều, khô. Tránh được hiện tượng hút ẩm
và đóng cụ sản phẩm trong quá trình bảo quản.
- Yêu cầu sản phẩm sau khi vê viên như sau:
+ Tạo hạt sản phẩm có dạng đồng đều, tròn, săn.
+ Hạt sản phẩm phải khô đều.
+ Kích thước hạt sản phẩm tạo ra có kích cỡ chuẩn là 2  6 mm chiếm từ
80 90%.
+ Sản phẩm khô, rời, độ ẩm <12%
+ Màu sắc : tùy thuộc chủng loại sản phẩm mà có màu sắc khác nhau
4.2.3. Ý nghĩa

- Liệu cho vào quá nhanh thì thời gian tạo mầm chưa đạt dẫn đến nát sản
phẩm, hạt nhỏ, bọc không hết sản phẩm. Nếu liệu vào quá chậm hoặc lượng
nước phun quá nhiều dần đến sản phẩm ccos hạt to nhiều, quá ướt sản phẩm dẫn
đến kết cục sản phẩm, sản phẩm bị loại nhiều sau khi qua sàng phân loại.
- Bọc áo phải đồng đều cho sản phẩm, tạo bề mặt trơn, săn cho sản phẩm
- Trong lúc vê viên phải loại bỏ các nguyên liệu sản phẩm kết khối có
trong đĩa vê bằng cách dùng xẻng để vớt ra hoặc tuyển lựa qua sàng võng.
Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

23


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

4.2.4. Yêu cầu chung
- Tốc độ nguyên liệu vào 1-3 phút /100kg nguyên liệu
- Sản phẩm ra tự động, tuyện đối không được xúc ra trong quá trinh vê
viên.
- Cỡ hạt sản phẩm có kích thước chuẩn 2-6 mm chiếm >85%
- Độ ẩm sản phẩm phải <=12%
- Màu sắc sản phẩm phải đồng đều, màu sản phẩm phải đạt theo yêu cầu
kỹ thuật.
5. Hệ Thống Lò Đốt
5.1. Mục đích
Khi sản phẩm được qua quá trình vê viên tạo hạt sản phẩm đang còn ướt,
lên ta tiến hành làm khô sản phẩm.
5.2. Thao tác quá trình sấy sàng
Hệ thống lò đốt được vận hành trước khi có sản phẩm đưa vào hệ thống

khoảng 15-30 phút
Khi tiến hành đốt lò cho hệ thống quạt hút khói, trống sấy làm việc. Sau
đó tiến hành cho hệ thống băng tải,sàng hoạt động.
Sau khi sản phẩm vào trống sấy được khoảng 10-20 phút thì sản phảm sẽ
chảy ra phía sau trống. Kiểm tra độ khô của sản phẩm để tiến hành điều chỉnh
mức van cấp điện.
Do quá trình sấy điều chỉnh nhiệt độ thời gian dài mới tác động đến sản
phẩm nên quá trình vê viên phải cho đến sản phẩm ra từ đầu ca đến cuối ca.
6. Vận Hành Hệ Thống Làm Nguội
6.1. Mục đích
Khi sản phẩm qua quá trình sấy sản phẩm bị nóng hơn nhiệt độ môi
trường, ta tiến hành đưa sản phẩm hạ thấp nhiệt độ nhằm đảm bảo chất lượng
cho sản phẩm.
6.2. Thao tác quá trình làm nguội

Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

24


Báo cáo thực tập

Khoa công nghệ, trường ĐH công nghiệp TP.HCM

Sản phẩm NPK sau khi qua máy sấy được băng tải đưa đến có nhiệt độ
800C, kích thước 2,5 – 5 mm, độ ẩm < 5 % vào máy làm nguội kiểu thùng quay.
Nhờ độ nghiêng, sản phẩm dịch chuyển tư đầu vào đến đầu ra thùng làm
nguội. Không khí ngoài trời được quạt hút vào thùng làm nguội đi ngược chiều
với sản phẩm trong thùng. Sản phẩm được làm nguội từ 80 0C xuống còn 300C ra
khỏi thùng làm nguội, sau đó xuống băng tải sang công đoạn đóng bao.

7. Đóng Bao – Vận Chuyển – Lưu Kho
7.1. Mục đích
- Để thuận tiện cho vận chuyển,lưu kho và sử dụng trong nông nghiệp
- Tạo sự chính xác về khối lượng ở trong bao, đảm bảo chất lượng sản
phẩm khi vận chuyển, lưu kho.
- Bao bì đạt tiêu chuẩn về: hình dáng, sạch sẽ vỏ bao…
- Tránh hiện tượng ẩm ướt sản phẩm, kết tảng, vỡ hạt sản phẩm,…khi vận
chuyển, lưu kho.
7.2. Thao tác
Sau khi sản phẩm đã được làm khô đạt tiêu chuẩn, sản phẩm được băng
truyền đưa qua bộ phận phân loại tới phễu để tiến hành đóng bao.
7.2.1. Bộ phận phân loại
Bộ phận phân loại thô(bộ phận đạp sàng vê)
Sàng được dùng tại vị trí vê viên với khích thước lỗ to hơn sàng phân loại
tinh tại vị trí miệng phễu.
Công nhân thao tác phải loại các cục sản phẩm phụ, cục mùm to ra khỏi
sản phẩm. đập nhỏ để loại bỏ các cục hỗn hợp SA. Loại bỏ rác thải ra khỏi sản
phẩm chính và sản phẩm phụ.
Tuyệt đối không được để sản phẩm vượt sàng, tràn sàng.
Bộ phận phân loại tinh (bộ phận đạp sàng phễu)
Sàng có khích thước lỗ nhỏ, được đặt trước phễu.
Công nhân thao tác phải phân loại hoàn toàn các cục sản phẩm phụ, cục
SA, Lân, mùn,… ra hỏi sản phẩm
Nhóm sinh viên thực tập lớp DHHD10NA

25


×