Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

Kinh tế tri thức Nhật Bản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (144.17 KB, 22 trang )

Kinh tế tri thức Nhật Bản
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và thế giới
Thành viên- Nhóm 1-KH10TCC2
1. Đinh Thị Diệp
2. Nguyễn Thị Hồng
3. Trịnh Thị Mơ
4. Lê Thị Lài
5. Trịnh Thị Loan
6. Bùi Thị Nga
7. Nguyễn Thúy Nga
8. Trịnh Thị Phương


LỜI MỞ ĐẦU
Loài người đã trải qua hai nền văn minh và ngày nay, chúng ta đang đứng
trước ngưỡng cửa của nền văn minh thứ ba -văn minh trí tuệ. Trong nền văn minh
này, bộ phận quan trọng nhất là nền kinh tế tri thức - có thể nói là hết sức cơ bản
của thời đại thông tin.Đặc biệt là trong thập niên 90 các thành tựu về công nghệ
thông tin như: công nghệ Web, Internet, thực tế ảo, thương mại tin học.... Cùng với
những thành tựu về công nghệ sinh học: công nghệ gen, nhân bản vô tính... đang
tác động mạnh mẽ, sâu sắc làm đảo lộn toàn bộ nền kinh tế thế giới và toàn bộ xã
hội loài người đưa con người đi vào thời đại kinh tế tri thức.Rất nhiều nước trên
thế giới đều có tăng trưởng kinh tế từ tri thức.Nhật bản cũng là một trong những
quốc gia có sự phát triển về kinh tế tri thức vượt bậc đặc biệt là trong chế tạo
robot... Mặc dù, là một đất nước có nhiều khó khăn, nghèo tài nguyên thiên nhiên
thường xuyên sảy ra thiên tai nhưng bằng ý chí và nghị lực của người dân Nhật
Bản cũng như việc ứng dụng các thành tựu khoa học, các phát minh mới vào cuộc


sống, sản xuất Nhật Bản đã đang và là một siêu cường quốc trên thế giới có vai trò
đặc biệt quan trọng trên trường quốc tế. Vì vậy, chúng em đã quyết định nghiên


cứu đề tài này. Bài tiểu luận của chúng em còn nhiều thiếu sót, chúng em mong
nhận được sự đóng góp củacô và các bạn.

NỘI DUNG
Chương I: Giới thiệu chung về Nhật Bản.
I Khái quát chung về Nhật Bản.
1. Điều kiện tự nhiên
Nhật Bản là một quần đảo với trên 3.000 đảo được tạo thành từ các ngọn núi
cao nổi lên từ một dãy núi nằm sâu dưới biển Thái Bình Dương, phía ngoài lục địa
châu Á. Toàn bộ diện tích của Nhật Bản là 377.829 km2, tương đương với diện
tích của Đức, Phần Lan hay Việt Nam.
Bờ biển Nhật Bản rất đa dạng và lồi lõm rõ rệt với vô số vịnh và bán đảo,
nhưng cũng có những bãi biển dài hàng chục kilômét. Các dòng biển lạnh chảy
xuống từ hướng Bắc gặp các dòng biển nóng chảy ngược lên từ phía Nam tại các
vùng biển quanh quần đảo Nhật Bản, tạo thành vùng nước hoà trộn giữa các dòng
biển. Tại khu vực dòng xoáy này, các chất phù sa không lắng xuống đáy đại dương,
các loài sinh vật phù du phát triển và cá nhỏ sinh sôi tạo môi trường lý tưởng cho
các loài cá sống ở cả các vùng nước lạnh và nước nóng. Sự đa dạng của các loài


hải sản nước lạnh và nước nóng là một điều lý giải cho việc Nhật Bản là một trong
những nước đánh bắt cá lớn nhất trên thế giới.
2. Điều kiện dân cư – xã hội Nhật Bản.
2.1. Dân số
Tính đến 31/3/2002 dân số Nhật Bản là 127,435 triệu người, đứng hàng thứ 7 trên
thế giới sau Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Ấn Độ, Mỹ, Inđônêxia, Brazin và
Nga.
Cơ cấu tuổi của dân số Nhật Bản thay đổi nhanh trong vài thập niên gần đây. Hiện
nay tuổi thọ trung bình ở Nhật Bản là 81 đối với nam và 83 đối với nữ. Tỷ lệ người
già đang tăng mạnh và sẽ đạt 25,2 %/năm vào năm 2020. Xu hướng già hoá dân số

do giảm nhanh tỷ lệ sinh (tỷ lệ này ở Nhật Bản năm 1999 là 1,34% thấp nhất thế
giới). Già hoá dân cư đã đặt Nhật Bản vào tình trạng thiếu hụt sức lao động cũng
như tăng gánh nặng trong việc nuôi nấng cũng như chăm sóc những người già.
2.2. Gia đình:
Trước Chiến tranh Thế giới thứ hai, phần lớn người Nhật Bản sống trong những
đại gia đình gồm ba hoặc bốn thế hệ theo chế độ gia trưởng, cha mẹ có quyền lực
rất lớn. Quá trình dân chủ hoá cùng với sự tăng trưởng nhanh kinh tế và đô thị hoá
những năm sau Chiến tranh Thế giới thứ hai đã ảnh hưởng mạnh đến cuộc sống gia
đình. Gia đình mở rộng ngày càng thu hẹp nhường chỗ cho gia đình hạt nhân gồm
cha mẹ và con cái. Nhiều người suốt đời không lập gia đình sẽ làm tăng số gia đình
độc thân. Năm 1995 cả nước có 11.239 ngàn hộ gia đình độc thân so với năm 1960
chỉ có 3.722 ngàn hộ, tăng khoảng 3 lần.
2.3. Mức sống:
Mức sống của người Nhật Bản có nhiều thay đổi so với vài thập niên trước do
việc sử dụng rộng rãi các đồ dùng hiện đại trong cuộc sống hàng ngày. Mức sống
cao đã hình thành ý thức của giai cấp trung lưu trong đại bộ người Nhật Bản.Trong
khoảng 10 năm từ năm 1980 đến năm 1999 thu nhập trung bình tháng/hộ gia đình


tăng gần 1,7 lần từ 349.686 yên lên 574.676 yên. Nhật Bản cũng là một trong
những quốc gia có tỷ lệ hộ gia đình có số dư tiết kiệm cao nhất so với các quốc gia
khác.Năm 1999 số dư tiết kiệm của các hộ gia đình Nhật Bản trung bình là 13,4%,
của Mỹ là 0,5%, của Anh 3,1%, của Đức 11,0%, của Pháp 9,0%, của Ý 13,6 và của
Canada 1,2%.
2.4. Giáo dục:
Một hệ thống giáo dục toàn quốc hiện đại đã được đưa vào Nhật Bản năm
1872 khi chính phủ lập ra các trường tiểu học và trung học trên khắp cả nước. Năm
1900 giáo dục phổ cập đã được thực hiện miễn phí và năm 1908 giáo dục phổ cập
đã kéo dài đến 6 năm. Hệ thống giáo dục: được chia ra 5 giai đoạn: Vườn trẻ (1-3
năm), tiểu học (6 năm), trung học bậc thấp (3 năm), trung học bậc cao(3 năm) và

đại học (4 năm) còn các trường cao đẳng (2-3 năm). Ngoài ra các trường đại học
còn có các lớp học nâng cao sau đại học.
2.5. Y tế và bảo hiểm xã hội:
Theo Bộ Y tế và Phúc lợi, tổng chi cho y tế để chữa bệnh hoặc thương tật ở Nhật
Bản trong năm tài chính 1998 là 29.825 tỷ Yên. Địa phương chi 14686 (4,9%), hệ
thống bảo hiểm cá nhân chiếm 137.823 (46,2%), bệnh nhân 44004 tỷ yên (14,6%).
Tính đến 31/3/1999 có trên 126 triệu người được bảo hiểm y tế trong đó chia ra:
36,1% (45 triệu 450 ngàn người) bảo hiểm y tế quốc gia: 25,8% (37 triệu 580
nghìn người) thuộc bảo hiểm y tế địa phương; 25,8% (32 triệu 580 nghìn người)
thuộc y tế công đoàn quản lý; 8,0% (10 triệu 140 nghìn người) do các hiệp hội
tương trợ giúp đỡ lẫn nhau Ngoài ra còn có 26 vạn người (0,2%) thuộc bảo hiểm y
tế ….

II. Lịch sử phát triển kinh tế Nhật Bản qua các thời kì
1. Thời kỳ Tokugawa
Nhờ sự ổn định chính trị, kinh tế Nhật Bản thời kỳ Tokugawa phát triển nhanh,
tạo ra nhiều tiền đề quan trọng cho phát triển kinh tế ở các thời kỳ sau này.


Nền kinh tế thời kỳ Tokugawa mặc dù là nền kinh tế nông nghiệp, song đã là
một nền kinh tế hàng hóa phát triển tương đối rộng khắp. Một phần khá đông dân
số đã tham gia vào thương mại ở các mức độ khác nhau, nhất là ở vùng đô thị.
Hoạt động tiền tệ, tín dụng phát triển mạnh. Nhiều công cụ tín dụng được sử dụng
phổ biến thay cho tiền mặt. Những hình thức sơ khai của ngân hàng đã ra đời. Do
nhu cầu chế tạo vũ khí quân sự, nền công nghiệp nhỏ ở các lãnh địa cũng phát triển
theo.
2. Thời kỳ công nghiệp hóa
2.1 Thời kỳ 1870-1890
Năm 1868, sau chiến tranh Boshin, Thiên hoàng Minh Trị tiến hành cuộc Minh
Trị Duy Tân, mở ra kỷ nguyên hiện đại hóa đất nước. Chính phủ mới coi công

nghiệp là một trong những trụ cột của một quốc gia hiện đại, và vì vậy đã đề ra
nhiều chính sách phát triển nền công nghiệp.
Sau một loạt cải cách cho phép được tự do lựa chọn nghề nghiệp và nắm được cơ
sở thuế vững chắc dựa trên thuế ruộng đất, chính phủ đã bắt tay vào công nghiệp
hóa thông qua "Chính sách xúc tiến công nghiệp". Xúc tiến xây dựng hệ thống
ngân hàng, cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ngay từ đầu đã cho phép Nhật Bản
rút ngắn thời gian, nhanh chóng hiện đại hóa, đi vào công nghiệp hóa thay thế nhập
khẩu hàng sơ cấp.
Năm 1898, Nhật Bản đã đóng được tàu thủy trọng tải trên 6 ngàn tấn.
2.2 Thời kỳ 1900-1919
Năm 1900, Nhật Bản hoàn thành giai đoạn thay thế nhập khẩu hàng dệt và bắt
đầu xuất khẩu mặt hàng này. Sau đó, các hàng công nghiệp nhẹ khác cũng gia nhập
danh sách hàng xuất khẩu. Nhật Bản đã chuyển sang giai đoạn công nghiệp hóa
theo định hướng xuất khẩu hàng sơ cấp trong khi vẫn làm sâu thêm thay thế nhập
khẩu hàng sơ cấp.


Ngay sau khi giành lại được độc lập hạn chế đối vấn đề thuế quan vào
năm 1902 và độc lập đầy đủ vào năm 1911, chính phủ đã trực tiếp bảo hộ các
ngành công nghiệp của mình bằng nâng mức thuế nhập khẩu lên.
2.3 Thời kỳ 1920-1937
Đầu thập niên 1920, công cuộc công nghiệp hóa của Nhật Bản đã chuyển sang
giai đoạn thay thế nhập khẩu hàng thứ cấp.Chủ nghĩa tư bản nhà nước phát triển
mạnh mẽ. Cơ cấu công nghiệp thời kỳ này được xem là "nhân tạo" do có sự can
thiệp mạnh mẽ của chính phủ.
Ngay trước Chiến tranh thế giới thứ hai, công nghiệp nặng của Nhật Bản đã thu
hút tới 40% tổng số lao động và đóng góp 50% vào sản lượng công nghiệp của đất
nước.
Nhật Bản đã phát triển được các công nghệ tiên tiến nhất thời bấy giờ trong các
lĩnh vực đóng tàu, chế tạo máy bay.

2.4 Tái thiết sau chiến tranh
Thời kỳ khôi phục kinh tế của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai kéo dài
từ năm 1945 đến 1953. Đây cũng là thời kỳ của những cuộc cải cách theo đề nghị
của Lực lượng Đồng Minh đang quân quản Nhật Bản.


Những cải cách: Cuối năm 1945, Tư lệnh Lực lượng Đồng mình Quân quản
ra lệnh cải cách ruộng đất ở nông thôn. Cuộc cải cách ruộng đất này đã tạo ra cơ sở
để tăng năng suất nông nghiệp và để ổn định các vùng nông thôn. Những cải cách
dân chủ hóa kinh tế này có tác dụng nâng cao vị trí của tư bản công nghiệp, khuyến
khích tinh thần kinh doanh và đầu tư.



Ổn định kinh tế: Sau chiến tranh, Để khôi phục và ổn định kinh tế, chính
phủ đã phải tiến hành phân phối lương thực, kiểm soát hành chính đối với giá cả,
chống nạn đầu cơ, "đông lạnh" tiền gửi ngân hàng, đổi tiền, phát hành trái
phiếu chính phủ, tập trung sức khôi phục và phát triển một số ngành ưu tiên như
than, thép, phân bón, điện lực, v.v...




Đường lối Dodge: Cuối năm 1948, chính phủ Mỹ cử Joseph Dodge sang
Nhật Bản để điều hành nền kinh tế ở đây. Ông này chủ trương cân đối ngân sách
thông qua hạn chế chi tiêu, ngừng kiểm soát giá, cố định tỷ giá hối đoái Yên
Nhật/Dollar Mỹ là 360




Ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Triều Tiên: Chiến tranh Triều Tiên bùng
nổ vào tháng 6 năm 1950. Mỹ và Nhật Bản liền ký hiệp định hòa bình để Mỹ rảnh
tay hơn đối phó với chiến sự. Những đơn đặt hàng của lực lượng quân sự Mỹ để
cung cấp cho mặt trận Triều Tiên gần đó đã làm tăng tổng cầu của Nhật Bản. Nó
tạo điều kiện cho Nhật Bản khắc phục một số lệch lạc của nền kinh tế, thúc đẩy
tiêu dùng.
2.5 Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh

So sánh tốc độ tăng GNP bình quân đầu người của Nhật Bản giữa các thời kỳ.
Thời kỳ gần 20 năm từ năm 1955 đến năm 1973 là thời kỳ mà nền kinh tế
Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng rất cao. GDP thực tế theo giá so sánh hàng năm
(năm gốc là 1965) của Nhật Bản trong thời kỳ này hầu hết đều có tốc độ tăng lên
tới hai chữ số. Chính trong thời kỳ này, kinh tế Nhật Bản đã đuổi kịp các nền kinh
tế tiên tiến của thế giới. Trong kỷ nguyên tăng trưởng nhanh, Nhật Bản tiếp tục
hoàn thành giai đoạn thay thế nhập khẩu tư liệu sản xuất trong khi vẫn đẩy mạnh
xuất khẩu hàng tiêu dùng lâu bền và chuyển sang xuất khẩu máy móc như ô tô,
thiết bị điện tử cao cấp như máy tính. Năm 1973, chiến tranh Trung Đông lần thứ
4 bùng nổ là một trong những nguyên nhân dẫn tới cú sốc dầu lửa. Kinh tế Nhật
Bản tăng trưởng âm trong năm 1974. Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh chấm dứt.


3. Thời kỳ chuyển đổi
Thời kỳ này có đặc trưng là tốc độ tăng GDP không ổn định và nhìn chung
thấp bằng nửa thời kỳ tăng trưởng nhanh. Một loạt cuộc khủng hoảng kinh tế đã
xảy ra vào các năm 1973-1975, 1981-1982 và 1985-1986. Hai cuộc khủng hoảng
đầu tiên có nguyên nhân chính là các cú sốc dầu lửa. Còn cuộc khủng hoảng thứ ba
có nguyên nhân từ việc đồng Yên Nhật lên giá sau Thỏa ước Plaza.
Nhờ những cải cách tích cực, Nhật Bản đã hồi phục sau khủng hoảng 19731975 và chị bị ảnh hưởng nhẹ trong cuộc khủng hoảng 1979-1981. Tốc độ tăng
trưởng GDP thực tế của Nhật Bản vẫn cao hơn của các nước công nghiệp phát triển
khác.

4 Thời kỳ bong bóng kinh tế
Thời kỳ bong bóng kinh tế của Nhật Bản kéo dài 4 năm 3 tháng, từ tháng 12
năm 1986 đến tháng 2 năm 1991. Kinh tế Nhật Bản thời kỳ này có những đặc điểm
như đồng Yên cao giá so với Dollar Mỹ, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế cao, tỷ
lệ lạm phát cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp, giá tài sản (bất động sản lẫn tài sản tài
chính) cao,tiêu dùng mạnh. Các nhà đầu tư bắt đầu thay đổi danh mục đầu tư của
mình khi tỷ giá Yên/Dollar thay đổi và nhất là sau sự kiện Ngày thứ Hai đen
tối trên thị trường chứng khoán Mỹ. Họ giảm đầu tư vào tài sản của Mỹ và tăng
đầu tư vào các tài sản của Nhật Bản. Lạm phát tăng tốc kích thích tiêu dùng. Bong
bóng kinh tế nói chung và bong bóng giá tài sản chỉ được nhận ra sau khi chúng
bắt đầu vỡ vào đầu thập niên 1990.
Đồng Yên tăng giá đã kích thích các xí nghiệp của Nhật Bản đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài. Nó cùng với việc người Nhật trở nên giàu hơn đã kích thích họ
mua các tài sản của nước ngoài (chẳng hạn như mua xưởng phim của Mỹ, mua các
tác phẩm hội họa nổi tiếng) và đi du lịch nước ngoài.
Năm 1989, Nhật Bản nâng thuế suất thuế tiêu dùng. Cùng năm Iraq xâm
lược Kuwait dẫn đến Chiến tranh vùng Vịnh khiến giá dầu lửa tăng vọt. Tháng 10
năm 1990, Ngân hàng Nhật Bản thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt. Bong bóng
kinh tế vỡ vào năm 1991 và bong bóng giá tài sản vỡ vào năm 1992.


5. Trì truệ kinh tế kéo dài

Thiểu phát và giảm phát trong thời kỳ trì trệ kinh tế kéo dài.

Sau khi bong bóng kinh tế vỡ đầu thập niên 1990, kinh tế Nhật Bản chuyển
sang thời kỳ trì trệ kéo dài. Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân hàng năm
của giai đoạn 1991-2000 chỉ là 0,5%- thấp hơn rất nhiều so với các thời kỳ trước.

Chương II Thực trạng nền kinh tế tri thức Nhật Bản

I. Những thành tựu đạt được của kinh tế tri thức Nhật Bản.
- Nhật Bản là một quốc gia nhận thức sâu sắc về vai trò của phần mềm, mạng lưới
máy tính tốc độ cao và các hoạt động liên quan đến Internet đối với nền kinh
tế đất nước trong tương lai. Do đó, ngay từ namư 1994, Nhật Bản đã nhanh
chóng thành lập hơn 2000 các công ty chuyên doanh vầ sản phẩm phần mềm
và internet với niềm tin là các lực lượng công nghệ đã từng chi phối nước
Mỹ sẽ nhanh chóng che phủ khắp nước Nhật.
+ Đến nay, lượng máy tính cá nhân của Nhật Bản chỉ đứng sau Mỹ trong số
nhóm các nước công nghiệp G7. Năm 1998, số bắng phat minh sáng chế được cấp
cho công dân mang quốc tịch Nhật Bản là 32119, tăng 32% so với năm 1997 và
gấp 3 lần so với Đức trong cùng một thời điểm và chỉ sau người Mỹ. Theo OECD
thì những ngành dựa trên tri thức của Nhật Bản đã trở thành ngành trụ cột của nền
kinh tế Nhật Bản với 53% GDP.


+ Số công ty chuyên doanh phần mềm và internet đã tăng gần gấp đôi để phục
vụ cho hơn 1/2 dân số Nhật Bản. Năm 2005, số người truy cập internet lên đến 77
triệu người, còn thị trường kinh doanh liên quan đến internet như dịch vụ nối mạng
internet, dịch vụ quảng cáo trên internet…đã tăng từ 61 tỷ USD năm 1999 lên 297
tỷ USD năm 2005. Doanh thu từ thương maị điện tử năm 1998 mới đạt 68 tỷ USD
đến năm 2003 tăng lên khoảng 9 lần với doanh thu là 613 tỷ USD.
+ Công nghệ tin học được coi là một trong những nghành kinh tế mũi nhọn và
được kỳ vọng có khả năng kéo toàn bộ nền kinh tế tiến sâu vào nền kinh tế tri thức.
Người máy công nghiệp và người máy gia dụng cũng là một trong những đặc trưng
của đất nước mặt trời mọc này góp phần đẩy mạnh năng suất lao động xã hội, giải
quyết được tình trạng thiếu hụt lao động và làm cho nhiều sản phẩm của Nhật có
thể cạnh tranh đựơc với các sản phẩm cùng loại về giá.
- Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới trong các lĩnh vực về nghiên cứu khoa
học, công nghệ máy móc, nghiên cứu y học. Những phát minh trong các lĩnh vực
điện tử, ô tô máy móc, robot công nghiệp, quang học của Nhật Bản có vai trò đặc

biệt quan trọng đối với thế giới. Nhật Bản dẫn đầu thế giới trong ngành khoa học
robot, đây là quốc gia sở hữu hơn nửa (402.200 trong tổng 742.500) số robot cho
công nghiệp sản xuất.Nhật Bản đã phát minh ra QRIO, ASIMO và Aibo. Nhật Bản
cũng là nhà sản xuất ô tô lớn nhất trên thế giới và là quê hương của 6 trong tổng số
15 nhà sản xuất ô tô lớn nhất toàn cầu cũng như 7 trong số 20 nhà sản xuất chất
bán dẫn lớn nhất thế giới.
Nhật Bản đang có những kế hoạch rất sáng sủa trong ngành thám hiểm không
gian, trong đó có kế hoạch xây dựng một trạm mặt trăng vào năm 2030
- Trong những năm gần đây, Nhật Bản đã nhận thức rõ khoa học - kỹ thuật là yếu
tố cơ bản tạo nên tính cạnh tranh quốc tế và là nền tảng để chuyển đổi sang xã hội
tri thức. Chính phủ đã đề ra kế hoạch cơ bản phát triển khoa học - kỹ thuật với mục
đích không chỉ đưa Nhật Bản trở thành quốc gia có tính cạnh tranh kinh tế cao và
phát triển bền vững, mà còn là quốc gia có thể đóng góp cho thế giới thông qua
sáng tạo và áp dụng tri thức.


II. Những khó khăn, hạn chế của nền kinh tế tri thức
Nhật Bản.
Sẽ không quá lời khi nói Nhật Bản là một cường quốc khoa học - kỹ thuật.
Trình độ khoa học - kỹ thuật của Nhật Bản, theo đánh giá tổng hợp của Bộ Giáo
dục, Văn hoá, Thể thao, Khoa học và Kỹ thuật Nhật Bản chỉ thua kém Mỹ nhưng
vượt Đức, Anh, Pháp. Sản phẩm công nghiệp dựa trên kỹ thuật cao của Nhật Bản
có mặt trên khắp thế giới. Số lượng bằng phát minh sáng chế của các công ty Nhật
Bản không ngừng tăng và không ít nhà khoa học Nhật Bản đã đoạt giải Nobel.
Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn bị coi là cường quốc khoa học - kỹ thuật “vô định” vì
thiếu một chiến lược phát triển tổng thể. Những thành tựu khoa học - kỹ thuật chưa
được tận dụng hiệu quả, mối gắn kết giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học và doanh
nghiệp yếu và việc chuyển giao tri thức, công nghệ chậm chạp.
- Nguyên nhân cản trở phát triển khoa học - kỹ thuật không chỉ dừng lại ở việc
thiếu một chiến lược và chính sách linh hoạt với mục tiêu cụ thể, mà còn nằm ở

phong cách quản lý khoa học không theo kịp với những thay đổi quốc tế. Người
Nhật thường tránh cách đánh giá thẳng thừng mà coi trọng quan hệ trên dưới, quen
biết, dẫn đến môi trường hạn chế những sáng tạo của các nhà khoa học trẻ. Cơ chế
quản lý cứng nhắc dẫn đến nhân tài không được đánh giá đúng mức và làm xuất
hiện hiện tượng chảy máu chất xám sang những nước có môi trường nghiên cứu ưu
việt hơn, điển hình là Mỹ.
- Việc thiếu quan tâm đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ bản cũng dẫn đến hậu
quả là Nhật Bản không có được những phát minh khoa học lớn làm tiền đề cho
những nghiên cứu trong tương lai. Việc tập trung vốn đầu tư vào nghiên cứu các
lĩnh vực “ít rủi ro” đã làm cho Nhật Bản bỏ lỡ nhiều cơ hội đưa Nhật Bản dẫn đầu
thế giới trong những ngành khoa học mũi nhọn. Kết quả là Nhật Bản xếp hạng cao
trong công nghệ vật liệu và năng lượng, đặc biệt trong công nghệ siêu nhỏ, tiết
kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, nhưng lại tụt hậu trong công nghệ sinh học
và công nghệ thông tin – những lĩnh vực hiện đang mang lại những thay đổi hết


sức to lớn. Ngay cả trong những lĩnh vực Nhật Bản từng chiếm ưu thế như công
nghệ siêu nhỏ, sức cạnh tranh của Nhật Bản cũng đã yếu đi rõ ràng sau nhiều năm
không được đầu tư đúng mức.
- Mặc dù là đất nước có mức độ phát triển về phần mềm và tin học cao nhưng
những khu vực nhạy cảm ngân hàng, môi giới, bán lẻ và một số ngành dịch vụ
khác hầu như chưa bắt đầu giai đoạn quá độ chuyển sang kỷ nguyên thông tin.
Năm 2000 có khoảng 60% trường học ở Nhật có internet và hầu hết internet ở Nhật
được nối qua đường dây điện thoại chứ ko phải qua đường truyền tốc độ cao như ở
Mỹ.
- Nhật Bản là nơi đóng trụ sở chính của nhiều tập đoàn điện tử hàng đầu thế giới,
nhưng xét về khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ thông tin Nhật Bản chỉ
đứng thứ 14, mức độ sử dụng điện thoại, phổ cập internet trong đời sống xã hội
còn thấp. Hoạt động khoa học cchỉ thiên về tính ứng dụng chiếm khoảng 80%,
trong khi chưa quan tâm đầy đủ đến việc nghiên cứu các lĩnh vực khoa học công

nghệ mang tính độy phá.
-Bên cạnh đó, Lãnh thổ Nhật Bản không lớn, dân số đông, tài nguyên khoáng
sản nghèo nàn, thường xảy ra thiên tai ( động đất, núi lửa,... ), nền công nghiệp hầu
như phụ thuộc hoàn toàn vào các nguồn nguyên liệu và nhiên liệu nhập khẩu cúng
là một trong những nguyên nhân quan trọng làm kìm hãm sự phát triển của Nhật
Bản.
+ Trong vòng 1 thế kỷ qua, Nhật Bản đã bị 24 vụ động đất mạnh từ 6 độ trở
lên (tính theo thang độ của Cục khí tượng Nhật Bản, cũng tương tự như thang độ
Richter của phương Tây).
Khủng khiếp nhất phải kể đến vụ đại động đất Kanto xảy ra ở khu vực Tokyo vào
năm 1923, mạnh tới 7,9 độ, làm hơn 140.000 người bị thiệt mạng và thiệt hại vật
chất tới hàng tỉ đôla. Chỉ riêng ở Tokyo, trận động đất này đã cướp đi sinh mạng
của hơn 60.000 người, trong đó hơn 50.000 bị chết thiêu trong các vụ cháy do
động đất.
+ Vụ động đất Hanshin-Awaji, mạnh 7,2 độ, xảy ra vào 5h46 phút sáng 17


tháng giêng năm 1995 tại khu vực thành phố Kobe phía nam tỉnh Hyogo với con số
thiệt mạng là 6.427 người, hơn 40.000 người bị thương và gần 400.000 ngôi nhà bị
sập hoặc hư hại.
Gần đây nhất là thảm họa động đất 10/3/2011 Đó là một buổi chiều thứ sáu tại
Nhật Bản, khi trận động đất xảy ra. Cơn sóng thần kinh hoàng đã làm thiệt mạng ít
nhất gần 16.000 người. Theo ước tính, thiệt hại của thảm họa này đối với nền kinh
tế lên tới con số 300 tỷ USD.
- Là một trong những trung tâm kinh tế - tài chính thế giới, Nhật Bản luôn gặp sự
cạnh tranh quyết liệt của Mĩ, Tây Âu, các nước công nghiệp mới ( NICs ), Trung
Quốc,... và tâm lí e ngại ở nước ngoài về một đế quốc kinh tế Nhật Bản.

* Một số biện pháp giải quyết khó khăn.
- Tăng cường hiệu quả quản lý cũng như năng lực của các nhà lãnh đạo đất nước

để đưa ra được những chính sách hợp lý. Kích thích sự tăng trưởng của kinh tế,
phát triển xã hội.
- Cần chú trọng đầu tư vào công nghệ thông tin. Phát triển những ngành công
nghiệp mang tính đột phá, phát triển hệ thống internet với đường truyền tốc độ cao.
- Xây dựng hệ thống cảnh báo về động đất, sóng thần để hạn chế những thiệt hại
do nó gây ra.
- Khuyến khích các công ty đầu tư mạo hiểm vào các công nghệ mới. Nhà nước
sửa đổi thuế để đảm bảo cho các công ty.
- Cải cách giáo dục, bớt thói quen học thuộc lòng, tăng tính sáng tạo cho học sinh.
Tăng tỉ lệ sử dụng internet trong các trường học. Cải tạo các phòng thí nghiệm
trong trường học để tăng cuờng nghiên cứu cơ bản.

Chương III. Nền kinh tế tri thức ở một số quốc gia
trên thế giới. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.


I. Nền kinh tế tri thức Mỹ.
Mỹ là quốc gia đi tiên phong trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới,
đặc biệt đã thu được rất nhiều thành tựu trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Mỹ có
nền kinh tế tri thức phát triển hơn rất nhiều so vơi Nhật Bản. Khác với Nhật thì ở
Mỹ lại chú trọng phát triển giáo dục, 100% các trường đều sử dụng internet bằng
đường truyền với tốc độ cao. Tăng đầu tư cho nghiên cứu và triển khai vào việc
sáng tạo mới, tin học hoá tất cả các lĩnh vực như truyền thông, giáo dục, bảo
hiểm…đặc biệt so ới Nhật Bản thì cơ chế quản lý và vận hành ở Mỹ rất năng động
và sáng tạo. Mỹ có một nền kinh tế tri thức phát triển vào bậc nhất trên thế giới
được thể hiện trên tất cả các mặt, lĩnh vực, đời sống - xã hội được thể hiện qua một
số mặt cơ bản như:
- Các ngành hướng về kinh tế tri thức ngày càng thu hút nhiều lao động. Công
nghệ cao, dịch vụ truyền tải, xử lý và cung cấp thông tin đã thu hút 80% lao động
của Mỹ. Lực lượng lao động thường xuyên được đào tạo và tự đào tạo đẫ tạo ra ưư

thế cho Mỹ.
- Tiêu dùng cho các sản phẩm về tri thức ngày càng tăng mạnh so với các hàng
hoá tiêu dùng khác.
- Mức độ truy cập internet ở Mỹ cao gấp nhiều lần so với các nước công nghiệp
khác. Tính đến năm 2000 thì cứ 1 triệu dân Mỹ đã sử dụng 170 máy chủ so với 55
ở Anh và 15 ở Nhật.
- Công nghệ cao và kĩ thuật internet còn được phổ cập đến đông đảo mọi tầng
lớp dân chúng thông qua các dịch vụ hành chính điện tử công và hệ thống trường
công lập.
- Đầu tư của Mỹ vào công nghệ thông tin gia tăng với tốc độ nhanh chóng, cao
hơn hẳn so với các nước trong nhóm G7. Ngoài ra, số lượng bằng phát minh sáng
chế được cấp ở Mỹ tăng từ 58000 năm 1984 lên 127000 năm 1997.

II. Kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Qua 20 năm đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập
vào nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn,


tốc độ tăng trưởng thuộc loại cao nhất thế giới, kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với
tiến bộ và công bằng xã hội; là nước có thành tích giảm nghèo được thế giới khen
ngợi; đời sống nhân dân nâng cao rõ rệt. Tuy vậy, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả
và tính cạnh tranh của nền kinh tế còn rất thấp, chứa đựng nhiều yếu tố phát triển
không bền vững, đặc biệt là nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước khác, trong bối
cảnh nền kinh tế thế giới đang chuyển tiếp từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông
tin và tri thức. Việt nam đang đứng trước cơ hội tiếp cận nền kinh tế tri thức, nếu
bỏ lỡ không biết tận dụng cơ hội, đổi mới cách nghĩ cách làm, bắt kịp tri thức mới
của thời đại, đi tắt vào những ngành kinh tế dựa vào công nghệ cao, dựa vào tri
thức thì sẽ tụt hậu. Đại hội VIII đã khẳng định phải: "đi tắt đón đầu" nếu không
làm được thế thì sự tụt hậu là rất dễ xảy ra.


1. Tình hình kinh tế tri thức ở Việt Nam.
- Với việc lựa chọn và bước đầu thực hiện mô hình kinh tế tri thức, chúng ta
đã xây dựng, hình thành được những ngành kỹ thuật cao, tạo điều kiện và hỗ trợ
cho quá trình phát triển kinh tế tri thức một cách bền vững.
+ Sự kết hợp của cách mạng công nghệ thông tin và sự phát triển như vũ
bão của khoa học kỹ thuật cao đã tạo nên thành quả này từ bản thân của nó trong
quá trình thực hiện. Trong vòng hơn 20 năm qua, nhân loại đã chứng kiến sự bùng
nổ của các ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi mặt của quá trình sản xuất và
đời sống xã hội. Điều này xuất phát từ việc giá thành của phần cứng giảm, tốc độ
của vi xử lý ngày càng tăng cao với thiết kế kích thước nhỏ gọn, internet, công
nghệ cao… đã được ứng dụng rộng rãi trong toàn xã hội.
+ Cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã dẫn đến sự gia tăng số lượng và
giá trị các tri thức được “số hóa”, giúp cho quá trình sử dụng, tái sử dụng, lưu trữ
và sáng tạo những tri thức mới trong tất cả các lĩnh vực được dễ dàng hơn bao giờ
hết.


- Chúng ta đã từng bước hình thành kết cấu hạ tầng then chốt cho kinh tế tri
thức: Mạng thông tin được đánh giá là một trong những kết cấu hạ tầng quan trọng
nhất của xã hội và nền kinh tế tri thức. Trong những năm qua nhờ nỗ lực thực hiện
chương trình quốc gia về Công nghệ thông tin và chiến lược đẩy nhanh phát triển
lĩnh vực viễn thông, mạng thông tin đã được hình thành và phát triển nhanh chóng,
viễn thông được đánh giá là một trong những lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh
nhất nền kinh tế. Hiện nay mạng viễn thông ở Việt Nam đã được tự động hóa hoàn
toàn với 100% các hệ thống chuyển mạch số và truyền tải số trên toàn quốc và kết
nối với quốc tế. Một loạt các dịch vụ bưu chính viễn thông và Internet được tạo lập
và nở rộng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, phục vụ các hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý nhà nước, giáo dục, y tế, nghiên cứu, giải trí, giao tiếp…
- Quy mô kinh tế ngày càng được mở rộng, vốn và tri thức được luân chuyển
nhanh chóng đã đến được những nơi khó khăn, tạo đà cho sự phát triển đồng bộ
giữa các vùng, các miền trong cả nước. Trình độ phát triển, mức chênh lệch giữa

các vùng miền đã được giảm đi đáng kể.
- Trên cơ sở tiếp thu những thành tự khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin từ
nước ngoài đã giúp cho Việt nam giảm thiểu được những chi phí đầu tư và nghiên
cứu ở trong nước. Trên cơ sở tiếp thu, chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, khi
đưa về lại được vận dụng, sáng tạo một cách khéo léo để phù hợp với hoàn cảnh
đất nước.
- Chính việc lựa chọn mô hình phát triển kinh tế tri thức, ở trong nước đã
hình thành được một mạng lưới bán hàng qua mạng (online) với rất nhiều các trang
web uy tín, đảm bảo.
Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam còn lạc hậu, chưa phát triển. Sự đầu tư cho
khoa học, công nghệ ở Việt Nam so sánh tương quan với các quốc gia trong khu
vực là rất thấp. Hiện nay, Việt Nam chỉ dành khoảng 0,3% GDP cho hoạt động
khoa học, công nghệ, trong khi đó con số này ở Malaysia là 1%, Singapore là 3%.


Một trong những tiêu chí quan trọng của kinh tế tri thức là sự ứng dụng công
nghệ vào sản xuất kinh doanh và quản lý. Phần lớn các doanh nghiệp ở nước ta đều
thiếu thông tin về công nghệ. Theo một khảo sát của Viện Nghiên cứu và Quản lý
TW trên 82 doanh nghiệp, chỉ có 16 doanh nghiệp có ý tưởng đổi mới công nghệ.
Xét một cách tổng quát, những yếu tố cho sự ra đời và phát triển kinh tế ở Việt
Nam hiện nay đang ở thời kỳ hình thành.
Các ngành mới, đại diện cho kinh tế tri thức hoặc chưa hình thành hoặc mới ở
trình độ phát triển rất sơ khai. Đây là một trong những yếu tố gây chậm phát triên
của nền kinh tế Việt Nam.

2. Bài học kinh nghiệm và một số giải pháp để phát triển mô
hình kinh tế tri thức ở Việt Nam
Thực tiễn phát triển của chính nước ta trong những năm vừa qua đã chứng tỏ
một cách thuyết phục rằng, Việt Nam có đủ năng lực và điều kiện để thực hiện
thành công đường lối phát triển kinh tế tri thức, một đường lối táo bạo và đầy tính

sáng tạo. Kinh nghiệm phát triển lĩnh vực công nghệ thông tin - viễn thông, việc
chế tạo thành công các sản phẩm Nano, những thành tựu trong công nghệ sinh học
cùng với năng lực sáng tạo trong toán học, vật lý học… cho thấy, nếu mạnh dạn, có
quyết tâm và nghiêm túc bước vào quỹ đạo phát triển hiện đại, chắc chắn chúng ta
sẽ thành công. Niềm tin đó sẽ được củng cố thêm khi bên cạnh chúng ta có những
kinh nghiệm phát triển kinh tế tri thức thành công của Nhật Bản, Hàn Quốc,
Singapore và Trung Quốc. Niềm tin còn trở nên mạnh mẽ gấp bội nếu chúng ta ý
thức đầy đủ hơn về lợi thế to lớn của một nước đi sau mà Việt Nam đang sở hữu.
Xuất phát từ tình hình trong nước và những thành tựu, hạn chế của nước ta
từ khi lựa chọn mô hình phát triển kinh tế tri thức thì chúng tôi đưa ra một số giải
pháp sau để phát triển kinh tế tri thức ở Vịêt Nam trong giai đoạn hiện nay:


Thứ nhất: Khẩn trương xây dựng một Chương trình phát triển kinh tế tri
thức mang tầm cỡ chiến lược quốc gia, coi đây là “trục” của Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại.
Thứ hai: Phải đổi mới cơ chế và chính sách, tạo lập một khuôn khổ pháp lý
mới, phù hợp với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cơ chế chính sách phải thực sự khuyến khích và buộc các doanh nghiệp phải luôn
đổi mới, và phải thúc đẩy sự ra đời nhanh chóng các doanh nghiệp mới, nhất là các
doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm mới, công nghệ mới. Phải tạo môi trường cạnh
tranh bình đẳng, chống độc quyền. Nhà nước thực sự đóng vai trò bà đỡ, tạo khung
khổ pháp lý và hỗ trợ các điều kiện cần thiết để phát triển khoa học - công nghệ và
cho hoạt động nghiên cứu, nghiên cứu - triển khai.
Thứ ba: Tiếp tục cải cách mạnh mẽ, có hiệu quả nền giáo dục và đạo tạo
theo hướng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng và phát huy nhân tài.
Thứ tư: Tăng cường năng lực khoa học và công nghệ quốc gia để có thể
tiếp thu, làm chủ, vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học và công nghệ mới nhất
của thế giới cần thiết cho sự phát triển nước ta, từng bước sáng tạo những công
nghệ mới đặc thù của nước ta, xây dựng nền khoa học và công nghệ tiên tiến của

Việt Nam.
Thứ năm: Phát triển mạnh khoa học, công nghệ, chú trọng vào việc
việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Công nghệ thông tin là chìa khoá để đi vào kinh tế tri thức.
Muốn rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, rút ngắn khoảng cách với
các nước, phải khắc phục khoảng cách về công nghệ thông tin. Trước năm 2010
trình độ công nghệ thông tin của Việt Nam phải đạt mức tiên tiến trong khu vực.
Trong tổng thể những nội dung đổi mới toàn diện, cần tập trung trọng tâm vào
việc nhận thức lại và thực hiện đúng chức năng, vai trò của Nhà nước đối với phát
triển kinh tế, từ điều khiển, chỉ huy sang là “kiến trúc sư” trong cải cách giáo dục
- đào tạo, trong phát triển khoa học, công nghệ, trong việc tạo môi trường thuận lợi


và động viên mọi nguồn lực để thực hiện bước chuyển đổi từ nền kinh tế công
nghiệp sang nền kinh tế tri thức.

KẾT LUẬN

Tuy không được thiên nhiên ưu đãi về điều kiên tự nhiên nhưng Nhật Bản đã
đang và sẽ khẳng định được mình trên trường quốc tế để trở thành một trong
những siêu cường quốc trên thế giới. Cùng với sự phát triển không ngừng của nền
kinh tế tri thức sẽ thúc đẩy đất nước Nhật Bản phát triển ổn định và bền vững.
Nhật Bản cần phải phát huy hơn nữa tất cả các điểm mạnh của mình đồng thời
khắc phục những hạn chế để đưa đất nước phát triển vượt bậc. Mặc dù, nền kinh tế
tri thức ở Việt Nam còn mới mẽ nhưng cũng đã đạt được một số thành tựu. Nhật
Bản là một tấm gương để Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm cũng như tăng
cường khả năng giao lưu hợp tác giữa hai quốc gia để Việt Nam có thể hội nhập
được với thế giới, bắt nhịp được với thời đại, đưa đất nước phát triển sánh vai với
các cường quốc năm châu, đồng thời giữu gìn đậm đà bản sắc dân tộc.



Danh mục tài liệu tham khảo
1. Giáo trình kinh tế tri thức và sở hữu trí tuệ – Học viện hành chính
2. Bài báo Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam –
Tuanvietnam.net.
3. www.Vi.wikipedie.org.vn
4. www.duhocnhat.edu.vn
5. www.nhatban.net
6. www.điendankinhte.net
7. Sở hữu trí tuệ – một công cụ đắc lực đê phát triển kinh tế. của tổ chức sở hữu trí
tuệ thế giới.




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×