PHÂN TÍCH THÔNG TIN,
D ữ KIỆN SÓ LIỆU VÈ GIÁO DỤC,
THI CỬ NHO HỌC Ở NAM Bộ NỬA ĐÀU THÉ KỶ XIX
Đặng Ngọc Ha
1. Hệ thống giáo dục Nho học
Nam Bộ là vùng đất không cỏ truyền thống thi cử Nho học. Do đặc trưng về
thiên nhiên, quần cư, đời sống kinh tế, văn hóa và hành chính dẫn đến sự xâm nhập
của Nho giáo ờ đây không mạnh mẽ. Trước yêu cầu phải có tầng lớp quan lại nguồn
gốc Nam Bộ và kéo Nam Bộ vào quỹ đạo tư tưởng Nho giáo cho nên nhà Nguyễn
đã thúc đẩy mạnh mẽ giáo dục Nho học.
Lúc còn ở Nam Bộ trong cuộc chiến với Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã từng tổ
chức các cuộc khảo thí, sát hạch những người đi học nhằm tuyển quan lại nhưng
công việc này chỉ là biện pháp tạm thời. Ngay khi thành lập năm 1802, triều
Nguyễn đã tổ chức khảo thí nhằm chọn tuyển quan lại1. Sang năm 1803, quy chế
giáo dục Nho học chính thức được ban hành2. Đến năm 1805 công việc tổ chức hệ
thống giáo dục Nho học hoàn thiện thêm một bước nữa với việc đặt một viên quan
đốc học cùng hai vị phó đốc học để phụ trách giáo dục, thi cử3. Như vậy, trong nửa
thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XIX hệ thống giáo dục Nho học đã được thành lập và từ
đó về sau là quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống này.
Từ đầu thế kỷ XVIII, trong quá trình mở đất của chúa Nguyễn ở Nam Bộ, biểu
tượng của Nho giáo là Văn miếu đã được xây dựng tại đinh Trấn Biên (thể kỷ XIX
thuộc tinh Biên Hòa) là một vùng đất địa đầu4. Hơn một thế kỷ sau, Văn miếu thứ
hai của Nam Bộ mới được xây dựng ở tinh Gia Định5. Đến giừa thế kỷ XIX, Văn
* Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quổc gia Hà Nội.
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 484.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 1, sđd, tr. 574.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 1, sđd, tr. 640.
4. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 1, sđd, tr. 133.
5. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2006, Đại Nam nhất thống chí , tập 5, Nxb. Thuận Hóa, Huế,
tr. 273.
3 22
PHÂN TÍCH THÔNG TIN, DỬ KIỆN s ố LIÊU.
Miếu ở Vĩnh Long cũng được xây dựng1. Trong 6 tỉnh Nam Bộ chi có 3 tỉnh xây
dựng Văn Miếu điều này cho thấy tính chất Nho giáo không lan mạnh ở toàn bộ
vùng đốt này.
Thiết chế quan trọng bậc nhất của giáo dục là trường học, các trường học từ
huyện trở lên ở Nam Bộ hầu hết được xây dựng sau năm 1830. Trường học cấp tỉnh
Gia Định được xây dựng sớm nhất vào năm 1805, riêng Hà Tiên không có trường
cấp tỉnh. Trường học cấp huyện được xây đựng muộn nhất ở Vĩnh Long vào năm
1861. Theo Đại Nam nhất thống chỉ đến giữa thế kỷ XIX Nam Bộ có 24 trường học
từ cấp huyện trở lên, trong đó có 5 trường cấp tỉnh, 8 cấp phủ và 11 cấp huyện; bên
dưới cấp huyện là các trường được tổ chức trong các thôn làng.
Con số trường học trên chỉ bằng khoảng 1/7 của cả nước. Trung bình số
trường học ở mỗi tỉnh Nam Bộ thấp hơn châu thổ Bắc Bộ, ở châu thổ Bắc Bộ mỗi
tình trung bình có khoảng 11 trường học từ cấp huyện trở lên. Dựa theo ghi chép về
sổ đinh của Đại Nam nhất thống chí ở giữa thế kỷ XIX thì Nam Bộ trung bình gần
5.000 đinh có một trường học, con sổ này ở châu thổ Bắc Bộ thấp hom với trên
4.000 đinh. Cũng giống như cả nước, cơ quan phụ trách giáo dục ở Nam Bộ gồm
đội ngũ giáo chức được tổ chức theo ngành dọc từ đốc học xuống đến giáo thụ,
huấn đẹo ở phủ, huyện; dưới thôn làng là các thầy đồ. Tuy nhiên, có khi hệ thống
giáo dục này không liên thông với hệ thống hành chính, năm 1822 Minh Mệnh có
chiếu tuyển học sinh Nam Bộ ra làm việc nhưng như lời của phó đốc học Gia Định
nói với Minh Mệnh thì cơ quan hành chính không gửi thông tin cho cơ quan giáo
dục che nên dù biết nhưng do sợ vượt quyền mà cơ quan giảo dục không dám cử
người2.
Ban đầu cả vùng Nam Bộ khi đó là trấn Gia Định (sau là thành Gia Định) chi
có một đốc học phụ trách giáo dục, bên dưới là hai phó đốc học. Đến năm 1822,
trong 5 trấn của thành Gia Định mỗi trấn đều có chức đốc học, sang năm 1823 chức
đốc học của thành Gia Định phụ trách chung 5 trấn bị bãi bỏ3. Cũng năm 1823, bắt
đầu đặt giáo thụ các phủ và huấn đạo các huyện. Sau cải cách Minh Mệnh, Vĩnh
Lọng và Biên Hòa là hai tỉnh có chức đốc học sớm nhất bắt đầu khi thành lập tỉnh
vào năm 1832, hai năm sau Định Tường và Gia Định cũng có đốc học, đến tận năm
1840 An Giang mới có chức đốc học. Riêng Hà Tiên không có chức đốc học vì dân
số nhỏ và “hay di chuyển bất thường”4.
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2006,
Đại Nam nhất thống chí, tập 5, sđd, tr. 170.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 303.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004,
Đại Nam thực lục, tập 2 sđd, tr. 306.
4. Trịnh Hoài Đức, 2006, Gia Định thìinh thông chí, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai, tr. 189.
323
VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ T ư
Huấn đạo là giáo chức cấp cơ sờ có vai trò sát sao nhất trong hệ thống quan
chức giáo dục. Chức vụ này chỉ có ở các huyện giáo dục, thi cử Nho học phát triển.
Năm 1830 các huyện Phước Chính, Bình An, Long Thành, Tân Minh, Vĩnh Bình,
Kiến Hưng, Kiến Đăng có nhiều người đi học nên mới lập chức huấn đạo cho mỗi
huyện1. Việc cắt cử hay bãi bỏ chức vụ này tùy thuộc vào số lượng người đi học, đi
thi. Huyện Long Xuyên ở Hà Tiên có chức huấn đạo năm 1827, nhưng đến năm
1836 chức này bị bãi bỏ và cho tri huyện kiêm chức, đến năm 1844 lại đặt chức
huấn đạo riêng2. Với mục đích “giáo hỏa”, triều Nguyễn rất quan tâm đặt chức huấn
đạo ở các huyện nhiều người thiểu số; năm 1829, Minh Mệnh đặt chức vụ này ờ hai
huyện Tuân Nghĩa, Trà Vinh3 nơi có nhiều người Khmer.
Nguồn gốc xuất thân của các vị giáo chức ở Nam Bộ rất khác nhau. Con
đường hoạn lộ của những vị quan trước khi đến Nam Bộ làm giáo chức khá đa
dạng. Thống kê trong Đại Nam thực lục cho thấy có 11/42 người là quan từ chính
quyền trung ương được cử xuống làm đốc học ở Nam Bộ; cũng có 11/42 người là
quan hành chính được thuyên chuyển làm đốc học; 8/42 người là giáo chức được
chuyển làm đốc học4. Thậm chí có người chi là “sĩ nhân Nghệ An” cũng được thăng
làm phó đốc học thành Gia Định năm 18215. Những vị giáo chức ở Nam Bộ đến từ
nhiều vùng miền trong nước. Con số thống kê từ Quốc triều hương khoa lục6 cho
biết có 20 người quê quán ở Nam Bộ đảm nhiệm các chức vụ giáo chức ngay tại
quê hương mình, nhưng cũng có 5 người ở Hà Nội, Thanh Hóa, Thừa Thiên đến
làm giáo chức ở Nam Bộ7. Cũng có người là tri huyện Ý Yên, Nam Định đến Nam
Bộ làm đốc học trấn Vĩnh Thanh8.
Nội dung giáo dục Nho học ở Nam Bộ không khác nội dung chung được sử
dụng cho cả nước. Quy định nội dung học tập ở Nam Bộ được ban hành năm 1803
như sau: từ 8 tuổi bắt đầu học Hiếu kinh, Trung kinh; đến 12 tuổi trở lên học Luận
ngữ, Mạnh Tử sau đó là Trung dung, Đại học-, từ 15 tuổi trở lên học Thi Thư, Dịch
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 3, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 104.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn, 1971, Đại Nam thực lục, tập 25, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,
tr. 51.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập
2, sđd, tr.
868.
4. Đặng Ngọc Hà, 2007, Giáo dục và thi cừ Nho học ở Nam Bộ (1802 - 1867), Khóa luận tốt
nghiệp ngành Lịch sử, Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, tr. 52-54.
5. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr. 124.
6. Cao Xuân Dục, 1993, Quốc triều hương khoa lục , Nxb. Tp Hồ Chí Minh, tr. 742.
7. Đặng Ngọc Hà, 2007, Giảo dục và thi cừ Nho học ở Nam Bộ (1802 - 1867), sđd, tr. 58-59.
8. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2 sđd, tr. 775.
324
PHÂN TÍCH THÔ NG TIN, DỮ KIỆN s ố LIỆU.
Lễ, Xuân Thu, Chư Tử và lịch sử1. Đe đẩy mạnh chất lượng giáo dục, từ 1832 nhà
Nguyễn ban hành quy chế giảng dạy riêng cho Nam Bộ2. Theo đó, mật độ học tập
cùa người học vất vả hơn, mỗi ngày các giáo chức phải thực hiện 3 lần giảng, mỗi
lần đều ra theo 4 nội dung của thi Hương, thi Hội.
Người đi học có thể dự thi đều đặn các kỳ thi Hương, thi Hội đặc biệt các kỳ
thi Hương được tổ chức ngay tại Nam Bộ với trường thi Gia Định, sau này khi Nam
Kỳ bị Pháp chiếm nhà Nguyễn lập trường An Giang. Có 20 kỳ thi Hương được tổ
chức ở Nam Bộ từ năm 1813 đến 1864, trong thời gian này các trường thi ờ châu
thổ Bẳc Bộ đã diễn ra 24 kỳ thi. Có nhiều kỳ thi Hương Nam Bộ không tổ chức
trường thi do ít người dự thi hoặc ảnh hưởng của cuộc chiến chổng Lê Văn Khôi
hay bị Pháp xâm lược.
Quy mô trường thi Hương ở Nam Bộ nhỏ hơn châu thổ Bắc Bộ. Theo quy
định năm 1834, số lượng các ngạch quan chức làm việc tại trường thi Gia Định ít
hơn so với các trường thi lớn như Hà Nội, Nam Định, Nghệ An, Thừa Thiên3. Có
trường hợp năm 1841 triều Nguyễn còn bớt sổ người làm công tác thi như quy định
ờ trường Gia Định vì: “số thí sinh ở trường thi Gia Định rất ít”4. Nội dung thi
Hương, thi Hội được quy định chung trên cả nước, Nam Bộ cũng không phải là
ngoại lệ. Ban đầu 1802 khi khảo thí ở Nam Bộ chi thi 3 kỳ là kinh truyện; chiếu,
chế biểu; thơ, phú. Năm 1807 quy định thi Hương gồm 4 kỳ thi: kinh nghĩa; chiếu,
biểu; thơ, phú; văn sách. Nội dung thi Hội cũng gồm 4 kỳ thi.
Nội dung học tập, thi cử thường tỏ ra khó khăn với người học ở Nam Bộ. Điển
hình có người học trò ở Nam Bộ 4 năm tham gia kiểm tra năng lực học tập với 8 lần
khảo khóa mà vẫn lchông đạt yêu cầu5. Minh Mệnh sửng sốt với thông tin này và
ông phải điều chinh quy chế thi kiểm tra năng lực (khảo khóa) ở Nam Bộ để thuận
lợi cho người học. Những người đỗ thi Hương ở đây chỉ chiếm 1/10 cả nước, suốt
lịch sử giáo dục triều Nguyễn ở Nam Bộ chỉ có 3 người đỗ Tiến sĩ. Thậm chí có
trường hợp hy hữu xảy ra năm 1819, khi gặp phải đề thi khó, học trò nổi loạn nên
quan coi trường thi Gia Định phải ra đề thi khác6.
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 1, sđd, tr. 574-575.
2. Ọuốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr. 309-310.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 117120.
4. Quốc sử quán triều Nguyễn, 1970, Đại Nam thực lục, tập 23, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,
tr. 421.
5. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr.g 56.
6. Quốc sừ quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập ỉ, sđd, tr. 993-994.
325
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ TƯ
Các thứ bậc trong sát hạnh người đi thi Hương có quy định chung (gồm 4
hạng là ưu, bình, thứ, liệt) nhưng năm 1855 Biên Hòa, Gia Định đặt thêm một
ngạch nữa là bình thứ ở khoảng giữa bình và thứ, Tự Đức cho rằng điều này khóng
nên mà nên làm theo cách của tinh An Giang sắp xếp thứ tự trong hạng bình1.
Hệ thống giáo dục Nho học ở Nam Bộ được tổ chức khá hoàn bị. Tuy nhiên,
các thiết chế giáo dục ở đây không quy mô như vùng châu thổ Bắc Bộ. Cơ cấu nhân
sự trong tổ chức giáo dục có thành phần đa dạng nhưng không đông đảo. Các kỳ thi
Hương chưa được tổ chức thường xuyên do hiện tượng ít người học hoặc do những
biến cố về quân sự.
2. Chính sách khuyến khích giáo dục Nho học
Nhà Nguyễn hết sức quan tâm đến Nam Bộ vì là đất “trung hưng” của họ
Nguyễn, đồng thời là khu vực hệ trọng trong quan hệ ngoại giao với Chân Lạp,
Xiêm. Từ kinh nghiệm chiến trường lâu dài ở Nam Bộ, Gia Long đánh giá: “Gia
Định là thành lớn ở phương Nam, lại có việc ngoại giao quan trọng, không có người
giỏi thì không xong”2. Nhà Nguyễn tiến hành rất nhiều công việc quan trọng ở Nam
Bộ trong đó có giáo dục, thi cử. Chính sách khuyến khích phát triển giáo dục, th: cử
Nho học nhàm tạo ra những quan chức có nguồn gốc Nam Bộ phục vụ cho công tác
quản lý đồng thời muốn kéo Nam Bộ vào quỹ đạo của tư tường chính thống Nho
giáo. Chính sách khuyến khích của triều Nguyễn là hệ thống khá toàn diện tác đ)ng
đến nhiều đối tượng của giáo dục Nho học.
Triều Nguyễn nhận thức đầy đủ thực trạng yếu kém của giáo dục Nho học
Nam Bộ nên hệ các chính sách khuyến khích đã ra đời ngay từ thời Gia Long.
Trước việc không tuyển được nhiều quan lại, cộng với các vị trí quan trọng ở ch'nh
quyền trung ương phần nhiều là người miền Bắc3 nên Minh Mệnh phải thốt lên
rằng: “ngày xưa nói văn thần võ tướng, đầy rẫy đông đúc, để nên sự nghiệp tmng
hưng, không ai không phải là người Gia Định, mà sau ngày nay lại vắng vẻ như
thế?”4. Chính sách khuyến khích giáo dục càng được đẩy mạnh vào thời Vinh
Mệnh khi ông xác định Nam Bộ là đất “văn phong mới mở”, “văn học mới ctớm
nở”, “phong hóa chưa thấm nhuần”.
Trọng tâm của chính sách khuyến khích giáo dục Nho học ở Nam Bộ được đật
vào đối tượng người đi học. Chúng tôi không phân tích các chính sách khiyốn
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, 1973, Đại Nam thực lục, tập 28, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,
tr. 116-118.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004,
Đại Nam thựclục, tập 1, sđd, tr. 938.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004,
Đại Nam thựclục, tập 4, sđd, tr. 117.
4. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004,
Đại Nam thựclục, tập 2, sđd, tr.g 789.
326
PHÂN TÍCH THÔ NG TIN, DỮ KIỆN s ố LIỆU.
khích chung với người đi học mà chỉ đi vào chính sách riêng ở Nam Bộ. Chính sách
này tác động vào các yếu tổ xã hội liên quan đến người đi học, quá trình học tập, thi
cử và việc tuyển chọn người ra làm quan.
Thứ nhất, triều Nguyễn thực hiện việc “phụ thí” linh động ở Nam Bộ. Từ năm
1821, triều Nguyễn cho phép những người học đã cư ngụ ở Nam Bộ được phép thi
Hương tại trường thi Gia Định, còn Phú Yên ra miền Bắc phải về nguyên quán thi
Hương1. Hơn 10 năm sau, chính quyền lại ra quy định thứ hai nói rõ những người
hiện sống ở Nam Bộ quê quán khác nhau nhưng vẫn được thi ở trường thi Gia
Định2. Đốn giữa thế kỷ XIX, nhà nước lại đưa ra chính sách những người quê Nam
Bộ sinh sống trên địa bàn cả nước đến kỳ thi Hương đều được phép thi tại nơi ở
hiện tại3. Năm 1834, cuộc chiến chống Lê Văn Khôi làm náo loạn Nam Bộ, triều
Nguyễn cũng cho phép người đi học ở Nam Bộ ra Thừa Thiên thi Hương4. Không
có con số về những người ở nơi khác đến dự thi ở Nam Bộ, nhưng cặn cứ theo
Quốc triều Hương khoa lục thì có 25 người ở nơi khác đỗ cử nhân ở các trường thi
Nam Bộ trong đó phần lớn những người này đến từ Khánh Hòa và Bình Thuận.
Chính sách “phụ thí” đã tạo điều kiện thuận lợi trong thi cử cho những người quê ở
Nam Bộ sống trên địa bàn cả nước và những người nơi khác hiện đang sinh sống ở
Nam Bộ.
Thứ hai, không đòi hỏi cao trong kỳ thi khảo khóa. Khảo khóa là các kỳ kiểm
tra quá trình học tập, chuẩn bị cho kỳ thi Hương. Năm 1832, triều Nguyễn sửa đổi
quy chế khảo khóa, cho phép trong 4 năm đến năm 1836 việc chấm thi khảo khỏa,
thi hạch được: “tùy văn mà phê chuẩn”5 không cần đúng theo quy cách chung; đồng
thời cũng cho phép người đi học được tham gia 8 lần thi khảo khỏa. Đến năm 1833,
khi cuộc chiến chống Lê Văn Khôi vẫn đang diễn ra, để tạo thuận lợi cho việc học
tập ở Nam Bộ, triều Nguyễn nhấn mạnh trong hai năm 1834, 1835 cho phép các
giáo quan: “tùy theo văn lý điểm duyệt, phê lấy, không câu nệ là thể văn nào”6 và
gia hạn thêm thời gian sửa đổi khảo khóa đến hết năm 1837, và từ 1838 trở đi việc
khảo khóa phải trở về với quy định chung của cả nước. Sửa đổi quy chế khảo khóa
nhằm tạo điều kiện dễ dàng hơn trong nội dung học tập ở Nam Bộ.
1. Quốc sử
quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr. 136.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr. 117.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, 1973, Đại Nam thực lục, tập 28, sđd, tr. 426-427.
4. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr. 180.
5. Quốc sử quán triều Nguyễn,2004, Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr. 309-310.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr. 823.
327
VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẺ LÀN THỨ TƯ
Thứ ba, sửa đổi quy chế thi Hội tạo thuận lợi cho người đi thi vùng Nam Bộ.
Triều Nguyễn đã thực hiện hai động thái để cụ thể hóa chính sách này. Đầu tiên là
đặc cách lấy Tiến sĩ là người Nam Bộ. Năm 1826, Minh Mệnh nhận thấy trải qua
hai kỳ thi Hội mà không có ai người từ Thừa Thiên trở vào Nam nên lấy đỗ thêm
một Tiến sĩ là Phan Thanh Giản người Vĩnh Long nhằm: “cổ lệ sĩ phong” 1. Tiếp
theo, thay đổi cơ chế sắp xếp phòng thi Hội diễn ra năm 1835, theo đó các thí sinh ở
Thừa Thiên trở vào Nam Bộ thi phòng riêng gọi là “vi giáp”, từ Thừa Thiên ra Bắc
thi ở phòng riêng gọi là “vi ất”. Đen khi chấm bài sẽ chấm riêng hai phòng thi,
phòng thi “vi giáp” sẽ được xem xét cho phù hợp hom nhàm: “lượm lặt không sót,
mà việc thu dùng nhân tài mới có công hiệu thực sự”2.
Triều Nguyễn cho rằng việc học tập ở Nam Bộ có nhiều người tài năng nhung
họ “chưa tinh chuyên về cử nghiệp”3 như người học ở miền Bắc. Năm 1827, chính
quyền ban quy chế đến các cơ quan giáo dục về cách thức giảng dạy nên: “cốt phát
huy ý sách, lời văn dồi dào đẹp đẽ, chớ chuyên dùng cách thức học quy”4. Từ năm
1832, Minh Mệnh đã chia sẻ với nhận định của Thượng thư Bộ Binh Lê Văn Đức
về nguyên nhân người miền Nam đỗ Tiến sĩ rất ít ỏi: “Từ Nghệ An trở ra Bắc, văn
chương chẳng phải đều tinh túy, đẹp đẽ cả, song vì sĩ tử phần nhiều có gia giáo, cho
nên dễ đỗ; còn từ Quảng Bình trờ vào Nam, chẳng phải không học rộng, chi vì văn
thể chưa am luyện nên đến kỳ thi Hội, ít đỗ đó thôi”5. Như vậy, chính quyền đã
nhận thấy khoảng cách giữa kiến thức học tập và việc thực hành trong mô phạm
nhất định của kỳ thi. Do đó cơ chế phòng thi Hội năm 1835 được thay đổi. Sự thay
đổi này đã có kết quả ngay lập tức khi Đinh Văn Minh ờ Định Tường đỗ Phó bảng
ừong kỳ thi Hội năm 1835. Sau đó Nam Bộ có thêm 2 người đồ Tiến sĩ6.
Thứ tư, ưu tiên của người đi học ở Nam Bộ được làm việc trong các cấp chính
quyền, đặc biệt ở chính quyền trung ương. Năm 1834, Minh Mệnh than phiền trong
cơ quan trung ương ở kinh đô có ít người Nam Bộ và ông bắt đầu thực hiện chính
sách bổ dụng người Nam Bộ trong các cơ quan trung ương dù họ xuất thân khoa cử
hay không phải khoa cừ nhưng có tài năng7. Trong các năm tiếp theo như 1834,
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004,
Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr. 489.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004,
Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr. 508-511.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004,
Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr. 508.
4. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004,
Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr. 640.
5. Quốc sử quán triều Nguỹễn, 2004,
Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr. 389.
6. Xem thêm: Cao Xuân Dục, 1962, Quốc triều đăng khoa lục, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất
bản, Sài Gòn, 1962.
7. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr. 117.
3 28
PHÂN TÍCH TH Ô N G TIN, DỮ KIỆN SỐ LIỆU...
1835, 1838 nhiều học trò, tú tài (không đồ thi Hương, học vị thấp hơn cử nhân một
bậc ở Nam Bộ về làm việc ở kinh đô. Thực ra, trước năm 1834, cả Gia Long và
Mirn Mạng đều ưu tiêu người Nam Bộ làm việc ở các cơ quan trung ương nhưng
cliưi trở thành chính sách cụ thể chỉ là những biện pháp tản mạn.
Ngoài ưu tiên làm việc tại cơ quan trung ương, triều Nguyễn nhiều lần lựa
chọi những người chưa đỗ kỳ thi Hương ở Nam Bộ làm việc ngay tại các cơ quan
Nan Bộ. Có thể kể đến một sổ chiếu chỉ vào năm 1823, 1828, 1864....
Ngoài những chính sách ưu tiên, triều Nguyễn còn tỏ ra rất tôn trọng người đi
học Năm 1834, Minh Mệnh cho các quan đi hòi tham dò ý kiến của học trò khắp
Nan Kỳ xem có nên mở kỳ thi Hương năm này không vì lúc này cuộc chiến chống
Lê /ăn Khôi chưa chấm dứt. Các tinh thông báo rằng đa sổ người học muốn để
san' năm 1835 mở kỳ thi Hương'.
Ngoài việc áp dụng cho người đi học, chính sách khuyến khích giáo dục cũng
hưcng đến các giáo chức. Giáo chức ở Nam Bộ có thể không nhất thiết phải có bằng
cấp theo quy định. Năm 1834 ở Nam Bộ thiếu nhiều chức huấn đạo, triều Nguyễn
đà Úy người Nam Bộ cho chức vụ này với yêu cầu chỉ cần là tú tài từ 40 tuổi trở lên
và (ó đức hạnh tốt . Việc lựa chọn với yêu cầu như vậy là khá thấp, trong một quy
địrứ năm 1857 thì chí ít huấn đạo là cử nhân dự thi đạt kết quả tốt trong kỳ thi Hội3,
nhu vậy chính sách này nhằm tạo điều kiện cho người Nam Bộ làm trong các cơ
quai giáo dục ngay tại quê hương nọ.
Việc lựa chọn chức đốc học cho Nam Bộ dường như cũng không quá khắt
khe Có 3 trường hợp từ tri huyện được điều vưựt cấp lên đốc học của các tỉnh
Nan Bộ4. Cũng có trường hợp chi là “sĩ nhân” chưa hề trải qua công việc nào
trorg cơ quan giáo dục hay hành chính cũng được điều làm phó đốc học thành Gia
Địm năm 1821.
Như vậy, chính sách khuyến khích giáo dục Nho học ở Nam Bộ tác động đến
nhiói yếu tố trong hệ thống giáo dục nhằm tạo điều kiện hết sức cho người đi học
trờ lên tích cực trong việc học tập, thi cử.
3. Dữ kiện số liệu về thực trạng thi cử Nho học
Diện mạo thực trạng thi cử Nho học ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XIX rất đa
dạr»Ị, thú vị. Dựa vào ghi chép về những người đỗ kỳ thi Hương trong Quốc triều
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr. 294.
2. Cuốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr. 200.
3. Cuốc sử quán triều Nguyễn, 1973, Đại Nam thực lục, tập 28, sđd, tr.g 398.
4. Eặng Ngọc Hà, 2007, Giảo dục và thi cừ Nho học ở Nam Bộ (1802 - 1867), sđd, tr. 52-54.
329
VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI T R Ù ) QUỐC TÉ LÀN THỨ T ư
hương khoa lục có thể phác họa drợc diện mạo này. Quốc triều hương khoa lục là
tác phẩm ghi chép tất cả những người đỗ thi Hương ở Việt Nam dưới thời nhà
Nguyễn. Đối với Nam Bộ, kỳ thi Hương đầu tiên diễn ra năm 1813 và kết thúc năm
1864 khi thực dân Pháp xâm lược nơi đây. Tổng hợp ghi chép về kỳ thi Hương trên
toàn quốc trong hơn 50 năm giúp nhận diện thực trạng thi cử Nho học ở Nam Bộ so
với các vùng khác và trong nội vùng Nam Bộ.
Tính đến năm 1864, nhà Nguyễn đã tổ chức 24 kỳ thi Hương, trong đó ở Nam
Bộ diễn ra 20 kỳ thi. Có 19 kỳ thi diễn ra ở trường thi Gia Định, kỳ thi cuối cùng ở
Nam Bộ tổ chức tại trường thi An Giang, tổng số người đỗ cử nhân ở hai trường thi
này là 269 người. Nam Bộ cũng chi có 3 người đỗ Tiến sĩ trong các kỳ thi Hội là
Phan Thanh Giản, Phan Hiển Đạo, Nguyễn Chánh và 1 người đỗ Phó bảng là Đinh
Văn Minh trong khi đó trên cả nước từ năm 1822 đến năm 1865 có gần 300 người
đỗ Tiến sĩ1.
Trong hom nửa thế kỷ, hai trường thi Hương ở Nam Bộ lấy đỗ số cử nhân rất
thấp chỉ chiếm hơn 10% so với cả nước. Thừa Thiên và Hà Nội là hai trường thi có
nhiều cử nhân nhất. Vào thời Thiệu Trị, trường thi Gia Định có số lượng cử nhân
nhiều nhất, thời gian này chênh lệch giữa trường thi Gia Định với các trường thi lớn
như Hà Nội, Nam Định không nhiều.
r
SỐ lượng cử nhân tại các trường thi Nam Bộ có xu hướng tăng mạnh hơn theo
thời gian. Vào thời Gia Long số lượng cử nhân tại trường Gia Định chênh lệch rất
lớn so với hai trường thi lớn nhất lúc đó là Sơn Nam và Hà Nội. Từ thời Minh
Mệnh trở về sau số lượng cử nhân ở Nam Bộ tăng nhanh hơn và sự chênh lệch so
với các trường thi lớn có giảm đi. Một phần nhà nước có sự cân đối giữa các trường
thi và khuyến khích người đi học ở Nam Bộ, nhưng mặt khác cũng cho thấy sự phát
triển hơn của giáo dục ở Nam Bộ. Và dường như đến thời Minh Mệnh: “sau gần 20
năm “dự nhập” trong không khí chung của giáo dục cả nước thì thời điểm này giáo
dục ở Nam Bộ có bước tiến mạnh hơn”2.
Việc lẩy nhiều hay ít cử nhân là do quy định của nhà nước, nhưng một thực tế
chung là các trường thi ở đất Nam Bộ chưa thu hút được nhiều người đi thi Hương.
Nguyên nhân tình trạng lấy ít cử nhân Nam Bộ một phần do dân số ở đây ít, hơn
nữa số lượng người đi học cũng ít hơn các nơi khác của cả nước.
1. Xem thêm: Đặng N gọc Hà, 2007, Giáo dục và thi cừ Nho học ờ Nam Bộ (1802 - 1867), sđd,
phần Phụ lục.
2. Đặng Ngọc Hà, 2007, Giáo dục và thi cử Nho học ờ Nam Bộ (1802 - 1867), sđd, tr. 84.
330
Bảng 1: Số lượng cử nhân ử các trường thi Hương (1807 - 1864)1
ường thi*
G ia Long
Số lưọrng
Hà Nội“
Nam Định
Kinh Bẩc
Hài Dương
ơn Tây
ơn Nam
hanh Hóa***
Nghệ An
ni 4 rpí
•A
Tự Đức
Số lượng
%
180
20,02
157
¡7,46
ryiÁ
Tông
Số lượng
383
7
2,75
7
5
1,96
5
19
53
4,73
7,37
19
112
34
7,45
30,59
10,58
13,33
127
17,66
111
26
10,20
152
21,14
209
78
27
34
83
9,23
163
18,17
135
34,2 ì
223
15,02
24,81
407
OIO
72
8,01
259
1
10
1,11
100
10
0
39
20
255
7,84
100
83
719
11,54
100
84
611
1
¡
0
0
0
4
6
470
13,75
100
899
1
~H
ầ
Thừa Thiên
Bình Đinh
Gia Định
An Giang
Tổng
♦•••
39
%
15,30
Thời gian trị vì
Minh Mệnh
Thi<ỊUTrị
Số lưọnng
Số lư ợ n g
%
%
144
20,03
107
17,51
126
17,53
100
16,36
2.484
hợp số liệu Irong: Cao Xuân Dục, 1993, Quốc triều hương khoa lục, sđd, tr. 92-372.
trường thi Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn T ây ch i được mờ duy nhất một lần vào năm 1807. Trường thi Sơn Nam được mờ dưới t
, Minh Mệnh. Trường thi Thanh Hóa băt đâu mở từ thời Gia Long, bị gián đoạn dưới thời Thiệu Trị sau đỏ Tự Đức lại cho mở
Hai trường thi Bình Định, An Giang bắt đầu được mở vào thời Tự ĐứcT
ước 1834 gọi là trường thi Thăng Long.
ước 1825 gọi là trường thi Thanh Hoa.
rước 1825 gọi là trường thi Quảng Đức, riêng năm 1819 gọi là trường thi Trực Lệ.
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ T ư
Nếu nhóm 12 trường thi trên thành bốn khu vực lãnh thổ để nhìn nhận nguồn
gốc quê quán của người dự thi Hương thì số lượng cử nhân ở Nam Bộ thấp nhất
trong cả nước. Cách nhìn này mang tính khái quát, bởi lẽ có khi đỗ cử nhân ở
trường thi này nhưng lại là người quê ở vùng khác, tuy nhiên với số lượng lớn gần
2.500 cử nhân được xem xét thì có thể coi việc phân tích này có độ tin cậy cao khi
sự xáo trộn dân cư không diễn ra quá mạnh dưới thời Nguyễn. Nam Bộ chì có 269
người đỗ cử nhân, có số này chỉ gần bằng 1/4 so với cái nôi của Nho học ở châu
thổ Bắc Bộ và bằng một nửa so với Bắc Trung Bộ là vùng có truyền thống Nho học
ờ xứ Nghệ.
Sự phát triển giáo dục ở Nam Bộ thế kỷ XIX được chia thành hai thời kỳ lớn:
thời kỳ từ đầu thế kỷ XIX đến cuối những năm 30; thời kỳ từ đầu những năm 40
đến khi Pháp bắt đầu xâm lược miền Tây Nam Bộ. Thời kỳ thứ nhất được coi là:
“sự tiếp nối truyền thống trong hoàn cảnh lịch sử mới” 1 và có thể chia làm hai giai
đoạn, giai đoạn đầu gọi là thời kỳ “dự nhập” vào nền giáo dục chung của cả nước,
giai đoạn thứ hai thời kỳ bắt đầu phát triển. Chính giai đoạn thứ hai của thời kỳ
thứ nhất là bước đệm cho sự phát triển hơn của giáo dục thi cử Nam Bộ vào thời
kỳ thứ hai.
Bỉểu đồ 1: Sổ lượng cử nhân ở các vùng lãnh thổ (1807 - 1864)
1200
1000
800
600
400
200
0
ĐồngbẳngBắc Bộ
Bắc Trung Bộ
■ 1807-1840
Duyên hài Nam
TningBỘ
■ 1841-1864
■ 1807-1864
Triều Nguyễn đều coi trọng phát triển giáo dục ở Thuận Quảng cũ và Nam Bộ
nhưng nhìn vào số lượng đỗ cư nhân thấy kết quả ở hai vùng khác xa nhau. Nhà
nước rất muốn phát triển giáo dục, thi cử ở Nam Bộ, các chính sách khuyển khích
được ban hành có hệ thống nhưng việc học ở đây có sự phát triển chậm. Vùng đất
1. Cao Tự Thanh, 1996, Nho giáo ở Gia Định , Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 120.
332
PHÂN TÍCH THÔNG TIN, DỮ KIỆN SỐ LIỆU.
cùa triều Nguyễn là Thuận Quảng nơi dòng họ này cát cứ chổng lại họ Trịnh và
là kinh đô hiện tại của vương triều cũng được chính quyền rất quan tâm và vùng này
có sự phát triển giáo dục Nho học nhanh hơn Nam Bộ rất nhiều, số lượng cử nhân
vùng Thuận Quàng cũ có sự phát triển mạnh mẽ ở các kỳ thi Hương thời Thiệu Trị,
Tự Đức (13 kỳ thi trong cả nước từ năm 1841 đến năm 1864) so với thời gian Gia
Long và Minh Mệnh (11 kỳ thi trong cả nước từ năm 1807 đến năm 1840). Phải
còng nhận một thực tế nhà Nguyễn đặc cách cho trường thi Hương ở kinh đô được
lây nhiều người đỗ, nhưng việc đặc cách này cũng phải căn cứ vào thực trạng sự
phát triển giáo dục, chất lượng bài thi, và do đó một điều dễ nhận thấy là giáo dục
Nho học ờ vùng Thuận Quảng cũ phát triển nhanh chóng hơn rất nhiều so với vùng
đất “trung hưng” Nam Bộ.
CÙ
Trong các kỳ thi Hương, số lượng đỗ cử nhân ở Nam Bộ không có chênh lệch
lớn. Có 241 cử nhân là người gốc Nam Bộ thi đỗ ờ các trường thi Gia Định, An
Giang; có 25 người ở nơi khác đến dự thi trong đó phần lớn ở miền Thuận Quảng
cu cụ thể ở hai tỉnh Khánh Hòa và Bình Thuận. Năm 1840 có số người đồ cử nhân
thấp nhất với 5 người, cỏn lại các nãm khác sổ người đỗ cử nhân khá đồng đều.
Trong nội vùng Nam Bộ có sự chênh lệch rất lớn về thi cử giừa các tỉnh. Gia
Định ià tinh có nền giáo dục, thi cử phát triển nhất ở Nam Bộ. Gia Định chiếm một
nửa tổng số cử nhân toàn Nam Bộ. Vĩnh Long, Định Tường là những tinh giáo dục
thi cử phát triển chi sau Gia Định. Hai tỉnh An Giang, Biên Hòa xếp ở vị trí tiếp
theo. Đặc biệt, suốt nửa thế kỷ tinh Hà Tiên không cỏ ai đỗ cử nhân tại các trường
thi Nam Bộ. sổ lượng cử nhân ở Gia Định gấp gần 6 lần so với An Giang, Biên Hòa
và 3 lần so với Vĩnh Long, Định Tường.
Phân bố không đồng đều sổ lượng cử nhân ở Nam Bộ phụ thuộc vào nhiều yếu
tổ. Yếu tố quan trọng nhất là sổ lượng dân đinh trong mỗi tỉnh. Nếu lấy số đinh của
các tinh Nam Bộ giữa thế kỷ XIX1 làm chuẩn để so sánh số lượng cử nhân thì thứ tự
sổ lượng cử nhân ở trùng hợp với thứ tự sổ đinh. Gia Định có sổ đinh lớn nhất với
hom 30000 người, tiếp sau là Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Biên Hòa, Hà
Tiên. Thời gian định cư, mật độ dân cư cũng ảnh hưởng đến số lượng cử nhân, tinh
Gia Định là trung tâm của Nam Bộ có thời gian định cư lâu dài và có sự phát triển
mạnh về đời sống văn hóa ở nhiều khu vực dân cư trù mật nên việc học tập ở đây
trờ thành mối quan tâm của cư dân. Hoạt động kinh tế là một phần lý giải cho chênh
lệch số lượng cử nhân ở các tỉnh, Hà Tiên có mật độ dân cư thấp, ngoài ra hoạt
động nông nghiệp rải rác nên làm cho cư dân ở đây ít quan tâm đến việc học hành,
thi cử.
I . Tham khảo: Quốc sử quán triều Nguyễn, 2006, Đại Nam nhất thằng chí, tập 5, sđd, tr. 475.
333
VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ TƯ
Bảng 2. Sổ lượng cử nhân trong các kỳ thi ở Nam Bộ (1813 - 1864)'
Ẩ
Tông
rfi
Tỉnh
N ăm
An
Giang
Biên
Hòa
Định
Tường
Gia
Định
1
1
Hà
Tiên
Vĩnh
Long
Số
lượng
%
7
8
3,32
1
8
10
4,15
2
1
10
14
5,81
1
1
8
4
14
5,81
1828
2
10
3
15
6,22
1831
1
7
2
10
4,16
1813
1819
1821
1
1825
fTP • A
1835
2
1
3
3
9
3,73
1837
1
1
7
2
11
4,56
3
2
5
2,07
1
2
6
*2
13
5,40
3
4
6
3
16
664
1840
1841
2
1842
1843
1
3
3
4
3
14
581
1846
3
1
1
6
2
13
5 39
1847
3
1
1
5
6
16
6,64
1848
1
2
9
5
17
705
1849
1
4
8
2
15
622
1852
2
3
4
3
12
500
1855
1
1
2
6
1
11
456
1858
1
1
4
2
1
9
3 73
1864
1
2
1
2
3
9
3 73
Số
Tông lưọng
16
21
39
120
0
45
241
¡00
6,64
8,72
16,18
49,79
0
16,87
100
%
9
9
' f
1. Tập hợp sô liệu trong: Cao Xuân Dục, 1993, Quỏc triêu hương khoa lục , sđd, tr. 92-372.
334
PHẢN TÍCH THỔNG TIN, DỮ KIỆN s ố LIỆU.
Biểu đồ 2: Số luọng cử nhân ở các tỉnh Nam Bộ (giai đoạn 1813 - 1864)
■ 1S13-1S40
«1S41- 1S6 4
■1813-1S64
120
All Giang
Biên Hòa
ĐịiihTitờiig
GiaĐịnlì
Hà Tiên
Vĩnh Lous
Có sự phát triên vê sô lượng cử nhân trong các tỉnh Nam Bộ ở các kỳ thi thời
Thiệu Trị, Tự Đức (11 kỳ thì ở Nam Bộ từ năm 1841 đến năm 1864) so với các kỳ
thi thời Gia Long, Minh Mệnh (9 kỳ thi ở Nam Bộ từ năm 1807 đến năm 1840).
Riêng Gia Định quá trình này lại ngược lại, số cử nhân giữa hai thời kỳ này là 58 và
62 người.
Đa số các huyện ở Nam Bộ có người đồ cử nhân thấp, chênh lệch số lượng cừ
nhân giữa các huyện rất lớn. Hom 2/3 sổ huyện chỉ có dưới 10 người đỗ cử nhân
trong suốt nửa thế kỷ. 7 huyện ở Nam Bộ có số cử nhân từ 10 đến dưới 30 người.
Huyện Bình Dương, tinh Gia Định có số cử nhân cao nhất vùng Nam Bộ với 68 cử
nhân, với sổ lượng này còn lớn hơn tỉnh Vĩnh Long và gần gấp đôi tỉnh An Giang,
Biên Hòa cộng lại. Nhưng con số này chưa phải quá cao, riêng một làng ở châu thổ
Bắc Bộ như Đông Ngạc (Hà Nội) thời Nguyễn cũng có đến 35 cử nhân'. Tại tinh
Gia Định, số lượng cừ nhân ờ các huyện rải rác trong 6 cấp độ từ không có người
đồ đến huyện có nhiều người đỗ nhất.
Dữ liệu số liệu về các kỳ thi Hương đã phản ánh sống động bức tranh giáo dục
Nhơ học ở Nam Bộ. Chính sách giáo dục của chính quyền đã đem lại một tác dụng
cụ thể là số lượng cử nhân ngày càng nhiều. Tuy nhiên, nền giáo dục thi cừ Nho học
ở Nam Bộ chưa thể sánh vai cùng các khu vực như châu thổ Bắc Bộ hay Thanh
Nghệ. Chính sách giáo dục dường như đem lại tác động lớn nhất đến trung tâm cùa
vùng là tỉnh Gia Định.
I . Bùi Xuân Đính, Nguyễn Viết Chức (Đồng chủ biên), 2004, Các lùng khoa bàng Thăng Long
- Hìi Nội, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 110.
335
VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ TƯ
*
♦
*
Việc phân tích thông tin, so sánh đối chiếu thông tin một cách toàn diện đã
tái hiện sinh động tình hình Nho học ở Nam Bộ thế kỷ XIX trong khung cảnh lớn
của cả nước.
Nho giáo ở Nam Bộ phát triển khác với các vùng trên cả nước, ảnh hưởng
của Nho giáo ở đây không mạnh mẽ. Với những đặc thù về lịch sử, Nho giáo vào
Nam Bộ rất muộn. Đen khi thành lập, chính quyền nhà Nguyễn ưu tiên xây dựng
hệ thống giáo dục ở đây khá hoàn bị. Bên cạnh đó, chính sách khuyến khích giáo
dục, thi cử được áp dụng toàn diện, mạnh mẽ. Đối tượng người học được “gia ơn”
với rất nhiều nội dung. Việc làm của chính quyền với hai mục đích quan trọng
nhất nhằm đào tạo quan lại và thúc đẩy sự phát triển của hệ tư tường chính thống
trên vùng đất mới.
Tuy nhiên, giáo dục, thi cử Nho học ở Nam Bộ sau nửa thế kỷ vẫn không thể
vươn lên sánh ngang với các khu vực vốn có truyền thống về Nho giáo. Mặc dù, thi
cử đặc biệt là thi Hương có những bước tiến lớn nhưng không được như sự kỳ vọng
của triều Nguyễn. Người ta đã làm mọi cách để phát triển thi cử, thậm chí còn cho
rằng vấn đề ở Nam Bộ chỉ là “cử nghiệp”, cách thức thi cử chứ không phải kiến
thức và đã đơn giản hóa cách chấm thi, chia phòng thi riêng.... Nhưng nguyên nhân
làm Nam Bộ trở thành mắt xích yếu kém nhất về Nho giáo không phải trong cách
thức thi mà do ảnh hưởng của môi trường kinh tế, văn hóa. Tính “trọng nghĩa khinh
tài” được tạo nên trong môi trường đặc biệt nơi kinh tế nông nghiệp có các nguồn
lực trở nên vô hạn và do đó người dân Nam Bộ ít quan tâm đến học hành thi cử.
336