Tải bản đầy đủ (.docx) (91 trang)

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG THUYẾT QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ TRONG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (435.98 KB, 91 trang )

BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG THUYẾT QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TỔNG
THỂ TRONG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

MÃ SỐ: ĐT 09/2014

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: THS. NGUYỄN ĐẠT TIẾN

HÀ NỘI - 2017
BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI


BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG THUYẾT QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TỔNG
THỂ TRONG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

MÃ SỐ: ĐT 09/2014

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: THS. NGUYỄN ĐẠT TIẾN
THÀNH VIÊN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
THS. LÊ THỊ THU - KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ


THS. CAO THỊ PHƯƠNG THÚY - KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2017

2


MỤC LỤC

3


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
KH& CN
NCKH
QLCL
QLKH&SĐ
H
TQM

Đọc là
Khoa học và công nghệ
Nghiên cứu khoa học
Quản lý chất lượng
Quản lý khoa học và Sau đại học
Mô hình quản lý chất lượng tổng thể

4



DANH MỤC HÌNH ẢNH

5


DANH MỤC BẢNG BIỂU

6


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đặc
biết đến sự phát triển KHCN, giáo dục và đào tạo coi giáo dục và đào tạo,
KHCN là quốc sách hàng đầu. Nghị quyết TW2 (Khóa VIII) của Đảng về
KHCN đã khẳng định vai trò nền tảng và động lực của KHCN đối với sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết dã chỉ rõ “Các trường đại
học phải là các trung tâm nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển giao và ứng
dụng công nghệ vào sản xuất và đời sống…” và “…đảm bảo kết hợp giữa viện
nghiên cứu và trường đại học, gắn nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh
doanh”.
Tại Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 3/11/2013 Hội nghị Trung ương 8
khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo định hướng tiếp tục
được đưa ra là “Tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiên
cứu khoa học, chuyển giao công nghệ của các cơ sở giáo dục đại học. Gắn kết
chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu, giữa các cơ sở đào tạo với các cơ sở sản
xuất, kinh doanh ”. Như vậy, đối với giáo dục đại học cần có nhiều giải pháp để
nâng cao chất lượng, không chỉ quan tâm đến đảm bảo các yếu tố cơ bản để
giảng dạy đạt chất lượng cao, mà còn quan tâm tạo dựng môi trường nghien cứu

khoa học đạt trình độ tiên tiến.
Tuy nhiên, trong quản lý chất lượng NCKH hiện nay vẫn chủ yếu được
thực hiện theo kinh nghiệm truyền thống, chưa được soi sáng bằng một tư tưởng
quản lý khoa học và bằng một hệ thống các phương pháp quy trình quản lý chất
lượng mang tính khoa học. Để đáp ứng đòi hỏi nhiệm vụ đó, vấn đề quản lý chất
lượng NCKH của các trường đại học đã và đang đặt ra cần phải có phương thức
quản lý chất lượng NCKH một cách hiệu quả, hợp lý và khoa học để đạt được
các mục tiêu trước mắt và lâu dài.
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy mô hình quản lý chất
lượng tổng thể - Total quality management (TQM) là mô hình quản lý chất
lượng đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng, tuy nhiên tùy từng quốc gia
trên mỗi lĩnh vực, nội dung cụ thể triển khai cách quản lý khác nhau. Ở Việt
Nam tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) trong giáo dục đã được áp
7


dụng rộng rãi, TQM có thể vấn dụng vào quản lý bất kỳ một hoạt động nào
trong giáo dục như quản lý nhà trường, quản lý chương trình đào tạo hay một
khóa học, khóa đào tạo. Bởi vì, TQM là triết lý quản lý chất lượng phổ biến và
hiện đại nhất và đỉnh cảo của TQM chính là một hệ thống quản lý chất lượng
được xây dựng trên nền tảng của “văn hóa chất lượng”. Mô hình TQM với
phương châm cải tiến liên tục, hướng vào khách hàng sẽ cho ta chất lượng
NCKH đáp ứng theo yêu cầu của xã hội.
Xuất phát từ thực tế và những yêu cầu của công tác quản lý chất lượng
nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, nhóm tác giả lựa chọn
vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu ứng dụng thuyết quản lý chất lượng tổng thể
(TQM) trong quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học
Nội vụ Hà Nội.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ những năm cuối của thế kỷ XX trở lại đây, khoa học công nghệ trên

thế giới phát triển như vũ bão. Sự phát triển này đã tác động mạnh mẽ đến mọi
mặt của đời sống xã hội, làm thay đổi nhiều triết lý, quan niệm và cách thức tổ
chức quản lý của hầu hết các lĩnh vực trong đó có hoạt động nghiên cứu khoa
học.
Ở Việt Nam, sau hơn 30 năm triển khai sự nghiệp đổi mới giáo dục và
nhất là trong thời gian thực hiện chiến lược phát triển giáo dục và chiến lược
phát triển khoa học công nghệ 2011-2020, công tác nghiên cứu khoa học giáo
dục ở nước ta bước đầu đã được quan tâm. Để phục vụ công tác này đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu luận bàn về các giải pháp để phát triển giáo dục
Việt Nam nói chung và nghiên cứu khoa học nói riêng.
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, trải qua 45 năm hình thành và phát triển
đến nay đã trở thành một trong những cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục
đại học ở Việt Nam, góp phần vào sự nghiệp “đào tạo, nghiên cứu khoa học,
truyền thông, cải cách, phê bình, văn hóa và xã hội, lưu trữ tri thức cho toàn
nhân loại” . Trong suốt quá trình đào tạo, có thể nói công tác quản lý chất lượng
đào tạo nói chung và quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học nói riêng có ý
nghĩa vô cùng quan trọng góp phần phát huy thế mạnh sẵn có, tạo tiền đề xây

8


dựng một môi trường giảng dạy chất lượng và hiện đại, mỗi thầy cô là một nhà
khoa học chân chính.
* Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Đầu thế kỷ XX, Walter A.Shewhart (1891-1967) đã đề xuất thuyết Kiểm
soát chất lượng (Quality Control) nhằm kiểm soát sản phẩm cuối cùng để phát
hiện các khuyết tật và đề ra biện pháp xử lý đồng thời sáng tao ra biểu đồ kiểm
soát chất lượng trong quản lý;
Vào những năm 50 của thế kỷ XX, quản lý chất lượng bắt đầu được quan
tâm trong lĩnh vực sản xuất - kinh doanh. Một số nhà nghiên cứu tiêu biểu của

thời kỳ này đã bắt đầu nghiên cứu về quản lý chất lượng từng công đoạn của sản
phẩm như Winslow Taylor (Mỹ), Karl Friedrich Ben (Đức)…
Năm 1951, C J.M.Juran (Hoa Kỳ) - nhà tư vấn nổi tiếng về quản lý chất
lượng đã xuất bản chuyên luận “Sổ tay về quản lý chất lượng”, công trình
này đã khẳng định chắc chắn danh tiếng của J.M Juran là chuyên gia về lĩnh
vực chất lượng, là tác giả và người đi đầu trong lĩnh vực quản lý chất lượng.
Quản lý chất lượng tổng thể (TQM) xuất phát từ kiểm soát chất lượng
tổng thể (TQC-Total Quality Control) do A. Feigenbaum xây dựng (1945) kết
hợp kiểm soát quá trình làm việc hiệu quả bằng thống kê (SPC- Statistical
Process control) do E.W. Deming đề xuất (1950) và QLCL (QM- Quality
Management) do J.Juran đề xuất (1951).
Quản lý chất lượng tổng thể trong nghiên cứu khoa học bắt đầu được đề
cập rộng rãi từ những năm cuối của thế kỷ XX đến nay, đặc biệt là ở các quốc
gia phát triển. Mục đích của quản lý chất lượng tổng thể trong nghiên cứu khoa
học nhằm tạo ra chất lượng cho các sản phẩm nghiên cứu, phát huy tối đa trách
nhiệm của mỗi thành viên trong các tổ chức khoa học – giáo dục.
Năm 1992, West Burnham công bố công trình nghiên cứu của mình về
“Quản lý chất lượng trong nhà trường”; năm 1993 Dorothy Myers và Robert
Stonihill “Quản lý chất lượng lấy nhà trường làm cơ sở”, Taylor và A.F.Hill
trong đề tài “Quản lý chất lượng trong giáo dục” đã đưa ra những quan điểm và
phương pháp vận dụng lý thuyết quản lý chất lượng trong sản xuất vào quản lý
chất lượng trong giáo dục.

9


Năm 1993, Sallis, trong tác phẩm “Total Quality Management in
Education” coi chất lượng như là phương tiện để đánh giá các sản phẩm dịch
vụ trong đó có sản phẩm nghiên cứu khoa học ở các trường đại học.
Với bề dày các công trình nghiên cứu, các lý thuyết đã được công bố

trên thế giới về quản lý chất lượng trong lĩnh vực giáo dục, trong đó bao hàm
cả hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học, Việt Nam cần không
ngừng học tập, ứng dụng các lý thuyết của thế giới vào quá trình tồn tại và
phát triển của giáo dục Việt Nam nói chung cũng như hoạt động nghiên cứu
khoa học trong các trường đại học nói riêng.
Ở Úc, Cơ quan chất lượng đại học Úc AUQA (2002) cho rằng: Chất lượng
đào tạo một phần là do các chính sách, thái độ, hành động và quy trình cần thiết
đảm bảo cho chất lượng được duy trì và nâng cao (Astralia University Quality
Agency 2001 (July 2002), Australian University Quality).
Ở Thái Lan, những nghiên cứu về chất lượng giáo dục tổng thể được giới
thiệu và áp dụng thông qua hệ thống kiểm tra chất lượng nhà trường, kiểm định
chất lượng bên ngoài và kiểm định công nhận, nhằm vào các mục tiêu giáo dục
đại học, sự thực hiện, các kết quả học tập hay các chỉ số và sự phát triển.
Ở Indonesia, kết quả nghiên cứu về đảm bảo chất lượng được xác định và
thực hiện thông qua kiểm tra nội bộ các chương trình học, các quy định của
chính phủ, cơ chế thị trường và kiểm định công nhận. Tuy nhiên, cho đến nay,
chưa có nước nào nghiên cứu về vấn đề ứng dụng lý thuyết quản lý chất lượng
tổng thể trong quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học.
* Tình hình nghiên cứu trong nước
Để đảm bảo việc quản lý chất lượng giáo dục nói chung và hoạt động
nghiên cứu khoa học trong trường đại học nói riêng, từ đầu những năm 2000 trở
lại đây, các nhà nghiên cứu trong nước đã công bố một số công trình khoa học
có giá trị về quản lý chất lượng, từ kiểm soát chất lượng đến đảm bảo chất lượng
và quản lý chất lượng tổng thể.
Năm 2000, tác giả Phạm Thành Nghị đã công bố nghiên cứu “ Quản lý
chất lượng giáo dục đại học”, công trình này đ ã đề cập đến những vấn đề cơ
bản về chất lượng và quản lý chất lượng đào tạo đại học. Tác giả đã phân
tích tổng hợp các trường phái lý thuyết về chất lượng giáo dục, đồng thời nêu
10



ra những tiêu chí, chuẩn mực, quy trình đánh giá (trong và ngoài) đảm bảo chất
lượng giáo dục đại học;
Năm 2004, tác giả Nguyễn Đức Chính (chủ biên) đã ra mắt giới nghiên
cứu cuốn sách chuyên khảo về “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học.
Trên cơ sở các quan niệm về giáo dục đại học và các mô hình quản lý chất
lượng giáo dục đại học ở Việt Nam, đặc biệt là trong điều kiện cụ thể của Đại
học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đã trình bày bộ tiêu chí đánh giá chất lượng giáo
dục của Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các điều kiện bảo đảm để triển khai
ứng dụng Bộ tiêu chí này;
Cũng trong năm 2004, GS.TS khoa học Phan Văn Kha bảo vệ thành công
để tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý chất
lượng đào tạo đại học ở Việt Nam”. Từ việc đánh giá thực trạng quản lý chất
lượng đào tạo đại học ở Việt Nam, tác giả đã xây dựng mô hình quản lý chất
lượng đào tạo theo ISO 9000;
Luận án tiến sĩ Giáo dục học: “Vận dụng lý thuyết quản lý chất lượng
tổng thể vào quá trình dạy học ở trường trung học phổ thông dân lập” năm 2007,
của tác giả Lê Đức Ánh. Luận án tiến sĩ quản lý giáo dục: “Biện pháp quản lý
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở trường mầm non nông thôn theo quan
điểm TQM” năm 2007 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm. Các tác giả đi đến
nhận định trên thế giới và Việt Nam hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu nào
về vấn đề ứng dụng lý thuyết quản lý chất lượng tổng thể trong quản lý chất
lượng hoạt động nghiên cứu khoa học.
Năm 2009, Tạp chí Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, 25 (2009) đăng tải bài viết “Vận dụng lý thuyết quản lý chất lượng
tổng thể (TQM) trong quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học ở Đại học Quốc
gia Hà Nội” của tác giả Lê Yên Dung – Đại học Quốc gia Hà Nội. Bài viết tập
trung phân tích thực trạng quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học ở Đại học
Quốc gia Hà Nội, từ đó đưa ra những vấn đề cần giải quyết trong giai đoạn hiện
nay để nâng cao chất lượng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, tiến tới xây

dựng văn hóa chất lượng trong quá trình quản lý.

11


Năm 2010, tác giả Nguyễn Lộc, trong bài viết “TQM hay là Quản lý
chất lượng toàn thể trong giáo dục”, Tạp chí Khoa học giáo dục (số 54), 2010
đã nêu tầm quan trọng của quản lý chất lượng đào tạo, đưa ra các chỉ số và
chuẩn trong đào tạo, phương thức đánh giá, quản lý chất lượng đào tạo phù hợp
với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
Đề tài “Vận dụng lý thuyết quản lý chất lượng vào quản lý quá trình dạy
học các môn chuyên ngành ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng”,
do Nguyễn Quang Giao làm chủ nhiệm, năm 2011. Tác giả đã xây dựng khung
cơ sở lý luận về quản lý chất lượng vào quá trình dạy học, thực trạng và đề xuất
những kiến nghị liên quan đến việc vận dụng lý thuyết quản lý chất lượng để
nâng cao hiệu quả quản lý quá trình dạy học các môn học chuyên ngành ở
Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng.
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, với tư cách là một Trường chuyên đào tạo
về lĩnh vực nội vụ, hướng tới đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực đã và đang rất quan
tâm đến quản lý chất lượng đào tạo. Ngày 28/9/2016, ThS. Nguyễn Đức Hạnh –
Trưởng phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng cùng nhóm thực hiện đề tài đã
bảo vệ thành công đề tài nghiên cứu khoa hoc cấp bộ về “Quản lý chất lượng
đào tạo ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội: Thực trạng và giải pháp". Thông qua
đề tài nhóm nghiên cứu đã tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý
chất lượng đào tạo ở trường đại học hiện nay, thực trạng quản lý chất lượng đào
tạo ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, từ đó đề xuất những phương hướng và giải
pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng đào tạo ở Trường Đại học Nội vụ Hà
Nội.
Như vậy, việc nghiên cứu ứng dụng lý thuyết quản lý chất lượng nói
chung và quản lý chất lượng tổng thể nói riêng hiện nay ở Việt Nam và trên thế

giới không phải là vấn đề quá mới. Tuy nhiên, việc nghiên cứu quản lý chất
lượng tổng thể thường được nghiên cứu áp dụng trong lĩnh vực sản xuất kinh
doanh hoặc trong quản lý giáo dục nói chung. Việc ứng dụng lý thuyết quản lý
chất lượng tổng thể trong quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học chưa có nhiều
công trình nghiên cứu được ghi nhận. Đặc biệt đối với việc ứng dụng thuyết
quản lý chất lượng tổng thể trong quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học ở
12


trường Đại học Nội vụ Hà Nội lại càng là vấn đề hết sức mới mẻ và cần thiết
được đưa ra nghiên cứu.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về ứng dụng lý thuyết quản lý chất lượng
tổng thể (TQM) trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp ứng dụng lý thuyết quản lý
chất lượng tổng thể trong quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học ở Trường Đại
học Nội vụ Hà Nội, nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học trong giai
đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học theo thuyết quản lý chất lượng
tổng thể (TQM)
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Khách thể: Cán bộ quản lý, giảng viên, chuyên viên thuộc các đơn vị
thuộc và trực thuộc Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
5. Giả thuyết nghiên cứu
Việc quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Nội vụ
Hà Nội đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng còn bộc lộ một số hạn chế
như thiếu mô hình cụ thể để ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học, các tiêu
chí, yêu cầu, nguyên tắc đánh giá…Những hạn chế này thuộc về cả nguyên nhân

khách quan và những nguyên nhân chủ quan. Nếu phát hiện được thực trạng và
đề xuất được các biện pháp ứng dụng lý thuyết quản lý chất lượng tổng thể trong
quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học, thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng
quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về lý thuyết quản lý chất lượng tổng thể
(TQM).
6.2. Thực trạng quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học
Nội vụ Hà Nội

13


6.3. Xác lập mô hình quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học theo quan
điểm của thuyết quản lý chất lượng tổng thể (TQM) phù hợp với điều kiện của
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
6.4. Đề xuất biện pháp triển khai thuyết quản lý chất lượng tổng thể (TQM)
vào quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Cơ sở phương pháp luận
7.1.1. Nguyên tắc tiếp cận hệ thống
Đề tài xem xét việc ứng dụng lý thuyết quản lý chất lượng tổng thể trong
quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là một
bộ phận trong lý thuyết quản lý chất lượng tổng thể. Vì vậy, việc ứng dụng lý
thuyết quản lý chất lượng tổng thể trong quản lý chất lượng nghiên cứu khoa
học phải phù hợp với quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Nhà trường.
7.1.2. Nguyên tắc quản lý chất lượng theo quan điểm tổng thể
TQM là phương pháp quản lý của một tổ chức, dựa trên sự đồng thuận
tham gia của các thành viên với sự cam kết đảm bảo không ngừng nâng cao chất
lượng và sản phẩm, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.

Quan điểm TQM có thể vận dụng vào việc ứng dụng lý thuyết quản lý
chất lượng tổng thể trong quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học ở Trường Đại
học Nội vụ Hà Nội.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận, văn bản
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hoa các nguồn tài liệu lý
luận, các văn bản và các công trình nghiên cứu khoa học về ứng dụng lý thuyết
quản lý chất lượng tổng thể trong quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học.
7.2.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a. Phương pháp điều tra viết bằng phiếu trưng cầu ý kiến
Là phương pháp chủ yếu được sử dụng nhằm điều tra, thống kê về thực
trạng quản lý chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Nội
vụ Hà Nội. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
nâng cao hiệu quả ứng dụng lý thuyết quản lý chất lượng tổng thể trong quản lý
chất lượng nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
14


b. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu hồ sơ quản lý, văn bản chỉ đạo thực hiện và các hồ sơ đánh
giá chất lượng các công trình, đề tài khoa học đã được nghiệm thu trong quản lý
chất lượng nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
c. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý
Nghiên cứu lý thuyết quản lý chất lượng tổng thể đã ứng dụng trong quản
lý chất lượng nghiên cứu khoa học, khái quát những vấn đề lý luận, nhằm cung
cấp cơ sở cho thực tiễn trong việc đề xuất các biện pháp quản lý chất lượng tổng
thể trong quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Nội vụ Hà
Nội.
d. Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn một số cán bộ quản lý, giảng viên, chuyên viên đang công tác

tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, qua đó tìm hiểu quan điểm và đánh giá về
thực tế quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học, tiếp thu các ý kiến đó để đưa ra
các biện pháp ứng dụng lý thuyết quản lý chất lượng tổng thể trong quản lý chất
lượng nghiên cứu khoa học.
7.2.3. Phương pháp phân tích thống kê kế toán
Các kết quả nghiên cứu được phân tích bằng thống kê toán học trên phần
mềm SPSS 16.0. Đây là phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu và xứ lý thống kê
chuyên dụng. Các kết quả thu được sẽ được xử lý theo điểm trung bình, độ lệch
chuẩn, tương quan giữa các biến.
Để so sánh ý kiến đánh giá của các nhóm khách thể, nếu có sự so sánh kết
quả đánh giá giữa hai nhóm khách thể, nhóm tác giả sử dụng phương pháp kiểm
định T-test cho các mẫu độc lập, mục đích nhằm chỉ ra giữa hai nhóm khách thể
có sự khác biệt hay không khác biệt về ý kiến đánh giá. Tương tự, khi so sánh sự
khác biệt giữa ba nhóm khách thể trở lên, nhóm tác giả sử dụng phương pháp
kiểm định F-test.
8. Đóng góp của đề tài
8.1. Đóng góp về lý luận
Xây dựng cơ sở lý luận về ứng dụng quản lý chất lượng tổng thể trong
quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học
8.2. Đóng góp về thực tiễn

15


Đánh giá thực trạng quản lý chất lượng tổng thể trong quản lý chất lượng
nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Đề xuất các biện pháp ứng dụng lý thuyết quản lý chất lượng tổng thể
trong quản lý chất lượng nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho những
người làm công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học

Nội vụ Hà Nội.

16


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC THEO LÝ THUYẾT QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ (TQM)
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Chất lượng
Chất lượng là khái niệm quen thuộc trong quá trình tồn tại và phát triển
của xã hội loài người. Tùy từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà người ta có
các cách định nghĩa khác nhau về chất lượng.
Theo European Organization for Quality Control “Chất lượng là mức phù
hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng”. Ttrong khi đó, Philip B.
Crosby lại cho rằng “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”.
Khi hiểu theo nghĩa rộng “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một
thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu
cầu tiềm ẩn”
Khi hiểu theo nghĩa hẹp, chất lượng có thể được hiểu là khả năng của tập
hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay qúa trình để đáp ứng các yêu
cầu của khách hàng và các bên có liên quan1.
Sự hài lòng của khách hàng. Quan điểm của

Xuất sắc: Quan điểm của giới học thuật

CHẤT LƯỢNG

Sự phù hợp với mục đích: Quan điểm của người đánh giá ngoài để phát triển


Giá trị thành tiền : Quan điểm của ngườ

trị gia
tăng:
Ngưỡng: Quan điểm của Giá
người
thẩm
địnhQuan điểm của sinh viên

Hình 1: Sơ đồ Các quan điểm khác nhau về chất lượng
1

Dự thảo DIS 9000:2000 Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO

17


Nguồn: Luận án Tiến sĩ ngành CNTT – Tác giả: Ngô Xuân Bính
Như vậy, có thể hiểu, chất lượng là sự thỏa mãn một nhu cầu cụ thể, có
thể áp dụng cho một hệ thống hay một quá trình.
1.1.2. Quản lý chất lượng
Từ những năm 30 của thế kỷ XX, việc tiêu chuẩn hóa, dự báo chất lượng
sản phẩm đã được quan tâm ở các nước Châu Âu. Trải qua quá trình phát triển,
ngày nay Quản lý chất lượng đã trở thành phạm trù được quan tâm nghiên cứu
và ứng dụng có hiệu quả ở nhiều vùng lãnh thổ, nhiều ngành nghề và lĩnh vực.
P.Crosby (Mỹ) đã chỉ ra trong cuốn sách “Chất lượng không nước mắt”
Quản lý chất lượng là một phương tiện có tính chất hệ thống đảm bảo việc tôn
trọng tổng thể tất cả các thành phần của một kế hoạch hành động;
Theo ISO 9000: 2000: Quản lý chất lượng là các hoạt động phối hợp với
nhau để điều hành và kiểm soát một số tổ chức về mặt chất lượng;

Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5814 – 1994 (Quản lý chất lượng và
đảm bảo chất lượng thuật ngữ và định nghĩa) quản lý chất lượng là tập hợp
những hoạt động của chức năng quản lý chung, xác định chính sách chất lượng,
mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện pháp: lập kế
hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng, quản lý chất lượng và cải tiến chất
lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng
Như vậy, có thể thấy quản lý chất lượng là một khái niệm được phát triển,
mở rộng và hoàn thiện liên tục. Đây không chỉ là khái niệm dành riêng cho lĩnh
vực kinh doanh hay sản xuất mà bao gồm cả hoạt động điều hành, tổ chức và
kiểm soát hoạt động của một tổ chức.
1.1.3. Hệ thống quản lý chất lượng
Hệ thống quản lý chất lượng là hệ thống quản lý để định hướng và kiểm
soát một tổ chức về mặt chất lượng. Có nhiều phương pháp xây dựng hệ thống
quản lý chất lượng trong một tổ chức tùy theo quy mô, khả năng và tình trạng
của tổ chức.
Theo ISO 9000:2000: Hệ thống quản lý chất lượng là một hệ thống quản
lý và kiểm soát một tổ chức về chất lượng. Theo đó, hệ thống quản lý là một hệ
thống thiết lập chính sách và mục tiêu để đạt được kết quả cuối cùng. Chính
18


sách và mục tiêu đảm bảo hiệu quả, chất lượng là căn cứ quan trọng nhất để đạt
được hiệu quả của một hệ thống quản lý chất lượng.
Hệ thống quản lý chất lượng bao gồm 6 nội dung cơ bản: Xác định mục
tiêu; Các phương pháp đạt mục tiêu; Đào tạo và huấn luyện; Tổ chức thực hiện;
Kiểm tra; Cải tiến.
1.1.4. Quản lý chất lượng tổng thể (TQM)
Quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management) viết tắt là TQM,
là mô hình quản lý chất lượng được kế thừa và phát triển từ hệ thống kiểm soát
chất lượng tổng hợp -TQC (Total Quality Control) do Faygenbao xây dựng từ

năm 1950 khi ông làm việc ở hãng General Electric.
Faygenbao đưa ra quan điểm Người chịu trách nhiệm về chất lượng
không phải là cán bộ kiểm tra mà chính là những người làm ra sản phẩm, người
đứng máy, đội trưởng, khâu giao nhận hàng, cung ứng v.v.. tuỳ vào từng trường
hợp cụ thể, trên cơ sở những đúc kết trao đổi kinh nghiệm quản lý chất lượng
hàng năm đã dẫn tới hình thành phương thức quản lý chất lượng tổng thể TQM.
Theo Histoshi Kume: “TQM là một dụng pháp quản lý đưa đến thành
công, tạo thuận lợi cho tăng trưởng bền vững của một tổ chức thông qua việc
huy động hết tâm trí của tất cả các thành viên nhằm tạo ra chất lượng một cách
kinh tế theo yêu cầu của khách hàng”.
Theo John L. Hradesky: “TQM là một triết lý, là một hệ thống các công
cụ và là một quá trình mà sản phẩm đầu ra của nó phải thỏa mãn khách hàng
và cải tiến không ngừng. Triết lý và quá trình này khác với các triết lý và quá
trình cổ điển ở chỗ là mỗi thành viên trong tổ chức đều có thể và phải thực hiện
nó... TQM là sự kết hợp giữa các chiến thuật làm thay đổi sắc thái văn hóa của
tổ chức với các phương tiện kỹ thuật được sử dụng nhằm mục tiêu là thỏa mãn
các nhu cầu nội bộ, và từ đó thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng bên ngoài”.
Theo Armand V. Feigenbaum: "TQM là một hệ thống hữu hiệu nhằm hội
nhập những nỗ lực về phát triển chất lượng, duy trì chất lượng và cải tiến chất
lượng của nhiều nhóm trong một tổ chức để có thể tiếp thị, áp dụng khoa học
kỹ thuật, sản xuất và cung ứng dịch vụ nhằm thoả mãn hoàn toàn nhu cầu của
khách hàng một cách kinh tế nhất".
Theo Business Edge, TQM được hiểu theo mô hình dưới đây:
19


thể
g
n
Tổ


Ch
ất

lượ

ng

Khách hàng

Hình 2: Mô hình TQM theo tác giả Business Edge
Như vậy, Business Edge cho rằng, TQM là sự đòi hỏi mọi thành viên của
tổ chức tham gia vào một quá trình cải tiến không ngừng, nhằm mục đích thoả
mãn những mong muốn, kỳ vọng đa dạng và linh hoạt của khách hàng để
nghiên cứu, thiết kế, sáng tạo những sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng
trong tương lai.
Quản lý chất lượng tổng thể là quá trình phát triển khá lâu dài, trải qua ba
giai đoạn phát triển từ hành chính tập trung sang hình thức phi tập trung. Quá
trình này được thể hiện qua sơ đồ sau:

20


Mức độ

Văn hóa chất lượng Công cụ
Cải tiến liên tục
Thanh tra

Quản lý chất lượng tổng thể


Đảm bảo chất lượng

Kiểm soát chất lượng
Phòng ngừa
Phát hiện
Giai đoạn

Hình 3: Sơ đồ các cấp độ trong quản lý chất lượng
Nguồn: Luận án tiến sĩ CNTT – Tác giả Ngô Xuân Bính
Trong 3 cấp độ nêu trên, kiểm soát chất lượng được coi là tiền đề nền
tảng, tuy nhiên để phát huy hiệu quả chất lượng tổng thể cần chú trọng việc đảm
bảo chất lượng của từng công đoạn cũng như chú trọng đến vai trò của nhân tố
con người. Muốn như vậy, người tham gia quá trình TQM phải là những người
hiểu rõ bản chất và các nguyên tắc quản lý chung, mỗi người cần được đặt đúng
vị trí và xác định đúng nhiệm vụ của mình. Cần thực hiện thường xuyên công
tác đào tạo, tập huấn cho các thành viên trong tổ chức nhằm nâng cao khả năng
nhận thức cũng như kỹ năng thực hiện công việc, thiết lập các mục tiêu, yêu cầu
về chất lượng. Xác định rõ hoạt động của các nhóm chất lượng là một bộ phận
cấu thành quản lý chất lượng tổng thể, kết hợp chặt chẽ, có hiệu quả kế hoạch đề
ra, cách thức thực hiện và hoạt động kiểm tra đánh giá.
Như vậy, quản lý chất lượng tổng thể là cách tiếp cận về quản lý chất
lượng ở tất cả các công đoạn nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả chung của
của tổ chức. Mặc dù có nhiều quan niệm, triết lý khác nhau của nhiều tác giả
như đã trình bày ở trên, nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu, các tổ chức và
doanh nghiệp đều cho rằng TQM là sự lưu tâm đến chất lượng trong tất cả các
hoạt động, là sự hiểu biết, sự cam kết, hợp tác của toàn thể thành viên trong tổ
chức, đặc biệt là ở các cấp lãnh đạo.
1.1.5. Khoa học, nghiên cứu khoa học và lĩnh vực nghiên cứu khoa học
21



Khoa học là “hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự
vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy” 2
Theo đó, hệ thống tri thức được hiểu là hệ thống tri thức khoa học. Khoa
học, trong trường hợp này được hiểu như một hệ thống tĩnh tại các tri thức, xem
khoa học như một sản phẩm trí tuệ được tích lũy từ trong hoạt động tìm tòi, sáng
tạo của nhân loại 3.
Nghiên cứu khoa học, là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận
thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ
thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người4
Nói đến nghiên cứu khoa học là nói đến hoạt động tìm kiếm, xem xét,
điều tra hoặc thử nghiệm. Căn cứ vào những kết quả tìm kiếm đạt được người ta
khám phá và khai thác những cái mới của sự vật. Sản phẩm của nghiên cứu khoa
học là hệ thống tri thức khoa học với tư cách là những hiểu biết của con người
được tích lũy một cách có hệ thống thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học những hoạt động được thực hiện trên các cơ sở thực tiễn, các căn cứ khoa học cụ
thể và được thể hiện thông qua các phương pháp nghiên cứu khoa học. Tri thức
khoa học khác với các tri thức kinh nghiệm, nó là sản phẩm của các nhà khoa
học, đi sâu vào bản chất của sự vật, sự việc, được tổ chức trong khuôn khổ các
ngành và các bộ môn khoa học.
Lĩnh vực nghiên cứu khoa học là những vùng kiến thức khoa học được
khai thác nhằm khám phá ra những học thuyết mới, những sản phẩm khoa học
mới. Những sản phẩm hay học thuyết mới này, tốt hơn, có thể thay thế dần
những cái cũ, không còn phù hợp. Sự phân chia các lĩnh vực nghiên cứu khoa
học có thể có sự khác nhau giữa các quốc gia. Tùy điều kiện, thế mạnh cụ thể,
mỗi quốc gia hoặc nhà nghiên cứu để có thể ưu tiên lựa chọn những lĩnh vực
nghiên cứu khoa học khác nhau để đầu tư nghiên cứu.
Ở Việt Nam, căn cứ Quyết định số 12/2008/QĐ – BKHCN ngày 4/9/2008
của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 4/9/2008, Quyết định số 37/QĐ – BKHCN
ngày 4/01/2009 của Bộ Khoa học và Công nghệ đính chính quyết định


2 Pierre Auger: Tendences actuelles de la recherche scientifique, UNESCO, Paris 1961, tr 17 - 19
3 Vũ Cao Đàm, Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục Việt Nam, tr 12
4 Vũ Cao Đàm, Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục Việt Nam, tr 35

22


12/2008/QĐ – BKHCN, Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia phân
loại các lĩnh vực khoa học công nghệ gồm 6 lĩnh vực như sau:
- Khoa học tự nhiên;
- Khoa học kỹ thuật và công nghệ;
- Khoa học Y, dược;
- Khoa học nông nghiệp;
- Khoa học xã hội;
- Khoa học nhân văn.
1.2. Hoạt động nghiên cứu khoa học-nhiệm vụ quan trọng của trường đại
học
1.2.1. Vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học với bản thân trường đại học
Hoạt động nghiên cứu khoa học là một trong những yếu tố quan trọng góp
phần nâng cao chất lượng và tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao
của xã hội. Hoạt động nghiên cứu khoa học không những góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo mà còn tạo ra những tri thức mới, sản phẩm mới phục vụ cho
sự phát triển của nhân loại. Để khoa học công nghệ thực sự là quốc sách hàng
đầu, Nghị quyết đại hội 2, Ban chấp hành TW khóa VIII của Đảng cộng sản Việt
Nam đã nêu: "Các trường đại học phải là các trung tâm nghiên cứu khoa học,
công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất vào đời sống".
Việc NCKH và tổ chức các hội nghị khoa học công nghệ là một trong
những nhiệm vụ đào tạo của trường đại học. Giảng viên và sinh viên là những
người có nhiệm vụ thực hiện công tác nghiên cứu khoa học để vừa phục vụ cho

công tác đào tạo, vừa tham gia giải quyết những vấn đề khoa học công nghệ để
đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.
Đối với giảng viên, hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công
nghệ góp phần quan trọng vào việc nâng cao trình độ khoa học của giảng viên,
nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời khẳng định vị thế và uy tín của trường
với xã hội. Theo điều 1, Quyết định số 64/2008/QÐ-BGDÐT ngày 28 tháng 11
năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chế độ làm việc đối với giảng viên
“Chế độ làm việc đối với giảng viên giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học,
bao gồm: nhiệm vụ của giảng viên; định mức thời gian làm việc; giờ chuẩn
giảng dạy, quản lý, sử dụng và áp dụng thời gian làm việc” đã cho thấy vị trí, vai
trò quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học đối với giảng viên.
23


Đối với người học, hoạt động nghiên cứu khoa học được đánh giá là
phương pháp hiệu quả để người học mở rộng vốn kiến thức cũng như vốn kỹ
năng mềm của bản thân; là cơ hội để người học áp dụng những kiến thức lý
thuyết đã học vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn.
Hoạt động nghiên cứu khoa học của người học ở các trường đại học được
thực hiện nhằm ba mục đích cơ bản: Góp phần nâng cao chất lượng đào tạo; tiếp
cận và vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học; giải quyết một số vấn
đề khoa học và thực tiễn.
Đối với các trường đại học, cùng với hoạt động giảng dạy, hoạt động
nghiên cứu khoa học là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao vị thế của nhà
trường. Theo tiêu chí của bảng xếp hạng các trường đại học ở Việt Nam được
các chuyên gia độc lập công bố vào đầu tháng 9 năm 2017, việc xếp hạng các
trường đại học dựa trên 3 tiêu chí: nghiên cứu khoa học; giáo dục đào tạo; cơ sở
vật chất và quản trị, trong đó, riêng tiêu chí về nghiên cứu khoa học chiếm tới
40% tổng số các tiêu chí. Như vậy, trong bảng xếp hạng này, các trường có thứ
hạng cao chủ yếu là những trường có nhiều thành tích nghiên cứu khoa học, đặc

biệt là có các công trình công bố quốc tế.
Do lĩnh vực đào tạo ở các trường đại học là khác nhau, Bảng xếp hạng
thường niên do Quacquarelli Symonds (QS) – Công ty giáo dục và du học ở Anh
đã xây dựng và chuẩn hóa bộ tiêu chí xếp hạng các trường đại học. Theo đó, có
03 tiêu chí được xác định trong bảng xếp hạng: Danh tiếng học thuật (40%),
danh tiếng của sinh viên tốt nghiệp được tuyển dụng (10%), tỷ lệ giảng viên /
sinh viên (20%).
Như vậy, ở Việt Nam cũng như các quốc gia phát triển trên thế giới, hoạt
động nghiên cứu khoa học luôn là yếu tố đóng vai trò quan trọng quyết định vị
thế của một trường Đại học.
Đối với Trường đại học Nội vụ Hà Nội, hoạt động nghiên cứu khoa học
được xác định là tiêu chí hàng đầu trong đánh giá chất lượng giảng viên và vị
thế của Nhà trường trong quá trình phát triển và hội nhập. Giai đoạn 2011 –
2015 là cột mốc đánh dấu 05 năm Nhà trường vận hành theo cơ chế của trường
24


đại học. Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, hoạt động nghiên
cứu khoa học của Nhà trường đã và đang được triển khai ngày càng có hiệu quả,
từng bước xứng tầm với vị thế mới của Nhà trường, đáp ứng yêu cầu phát triển
của xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học,
trong thời gian tới Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tiếp tục hoàn thiện và đẩy
mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học.
1.2.2. Vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học với xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử của một quá trình phát
triển lâu dài không ngừng nghỉ. Con người càng văn minh càng ý thức được tầm
quan trọng của những đóng góp khoa học công nghệ trong quá trình tồn tại và
phát triển của mình. Hoạt động nghiên cứu khoa học luôn luôn được đề cao, đó
là nguồn lực quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng năng suất lao
động, bảo vệ cuộc sống của con người trước sự đe dọa của thiên nhiên hay ứng

phó với những biến đổi trong tự nhiên và xã hội do chính con người tạo ra.
Khi nhắc đến những nền văn minh rực rỡ từng tồn tại trong lịch sử phát
triển của xã hội loài người, người ta thường gắn chúng với những thành tựu
khoa học nhất định, điển hình như văn minh Ai Cập gắn liền với thành tựu về
xây dựng kim tự tháp, khoa học ướp xác; đế chế Macedonia gắn liền với thành
tựu về khoa học quân sự; đế chế Ba Tư gắn liền với khoa học về hệ thống số,
toán học, hóa học …Trong giai đoạn phát triển sau này, xã hội loài người cũng
tiến thêm được những bước tiến rất dài nhờ những phát minh khoa học như:
động cơ hơi nước, động cơ đốt trong, máy laser, thuốc kháng sinh, máy in, máy
tính điện tử, internet…Chính vì vậy, các nhà khoa học toàn cầu đã có chung
nhận định rằng những phát minh vĩ đại đã làm thay đổi thế giới.
Như vậy, không có khoa học thì không có tri thức, không có nền văn
minh. Không có hoạt động nghiên cứu khoa học thì con người mãi mãi sống
trong tăm tối. Một quốc gia muốn phát triển vững mạnh, quốc gia ấy nhất thiết
phải đầu tư đúng mức cho hoạt động nghiên cứu khoa học.
1.3. Thuyết quản lý chất lượng tổng thể (TQM)
1.3.1. Triết lý quản lý chất lượng TQM
25


×