TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA VĂN THƯ - LƯU TRỮ
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: CÔNG TÁC VĂN THƯ - LƯU TRỮ TRONG CƠ QUAN TỔ CHỨC
ĐẢNG VÀ TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
Đề bài: Tìm hiểu về Hội Nông dân Việt Nam
Giảng viên : Trịnh Thị Năm
Thực hiện : Nhóm
Lớp
: ĐH. Lưu trữ học 14B
HÀ NỘI - 2017
DANH SÁCH NHÓM
1.
CHU MINH PHƯƠNG
2.
VÀ THỊ QUẤT
3.
NGÔ NGỌC SƠN
4.
VŨ PHƯƠNG THẢO
5.
TRƯƠNG THỊ THẢO
6.
VŨ THỊ PHƯƠNG THẢO
7.
PHAN VĂN THẮNG
8.
VŨ THỊ THANH THỦY
9.
MAI THỊ THỦY
10.
NGUYỄN THỊ THÚY
11.
ĐINH HUYỀN THƯƠNG
Đề bài: Tìm hiểu về Hội Nông dân Việt Nam
Hội Nông dân Việt Nam (tên gọi cũ là Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt
Nam trước 1991) là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; cơ sở chính
trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hội Nông dân Việt Nam mà tiền thân là Nông hội đỏ được thành lập ngày 1410-1930, trải qua các thời kỳ cách mạng luôn trung thành với Đảng và dân tộc.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam luôn là tổ
chức trung tâm, nòng cốt trong các phong trào nông dân và xây dựng nông thôn mới.
Hội Nông dân Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân
chủ.
Nhiệm kỳ đại hội cấp cơ sở, huyện, tỉnh và Trung ương là năm năm. Trường
hợp đặc biệt đại hội nhiệm kỳ có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn thời gian quy định
nhưng không quá một năm và phải được hội cấp trên trực tiếp đồng ý, thông báo cho
hội cấp dưới biết.
Cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội của mỗi cấp hội là Ban Chấp hành do
đại hội nhiệm kỳ cùng cấp bầu ra theo quy định của Điều lệ.
Ban Chấp hành là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội, Ban Chấp hành cấp
dưới phải được Ban Chấp hành cấp trên trực tiếp công nhận. Ban Chấp hành bầu
Ban Thường vụ, bầu chủ tịch, các phó chủ tịch trong số ủy viên Ban Thường vụ.
Cơ cấu tổ chức của Hội Nông dân Việt Nam tổ chức theo đơn vị hành chính
nhà nước với các cấp từ trung ương đến cơ sở: Trung ương, tỉnh, huyện, xã và các
đơn vị tương đương cùng cấp.
Hội Nông dân Việt Nam cấp Trung ương
1
a) Chức năng
- Tập hợp, vận động, giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ,
tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt.
- Đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và khối đại
đoàn kết toàn dân tộc;
- Chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân; tổ
chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn hỗ trợ nông dân trong sản xuất và đời sống.
b) Nhiệm vụ
- Tuyền truyền, giáo dục cho cán bộ, hội viên, nông dân hiểu biết đường lối
của Đảng, chính sách, Pháp luật của Nhà nước; nghị quyết, chỉ thị của Hội, khơi dậy
và phát huy truyền thống yêu nước, ý chí cách mạng, tinh tuần tự lực, tự cường, lao
động sáng tạo của nông dân.
2
- Vận động, tập hợp và làm nòng cốt tổ chức các phong trào nông dân phát
triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần của hội viên, nông dân.
- Các cấp Hội là thành viên tích cực trong hệ thống chính trị thực hiện các
chính sách, pháp luật, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước ở
nông thôn. Hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp. Tổ
chức các hoạt động dịch vụ tư vấn, hỗ trợ và dạy nghề giúp nông dân phát triển sản
xuất, nâng cao đời sống, bảo vệ môi trường.
- Đoàn kết, tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức hội phát triển và nâng cao
chất lượng hội viên. Xây dựng tổ chức hội vững mạnh về mọi mặt; đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
- Tham gia xây dựng Đảng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Tham gia
giám sát và phản biện xã hội theo quy chế. Kịp thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng
của nông dân với Đảng và Nhà nước; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng hợp
pháp của hội viên, nông dân. Thực hiện Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã phường,
thị trấn, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nông dân; góp phần xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chống quan liêu,
tham nhũng lãng phí và các tệ nạn xã hội.
- Mở rộng hoạt động đối ngoại theo quan điểm, đường lối của Đảng, tăng
cường hợp tác, trao đổi, học tập ánh nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật,
quảng bá hàng hoá nông sản, văn hoá Việt Nam với tổ chức nông dân tổ chức quốc
tế, các tổ chức chính phủ. phi chính phủ trong khu vực và trên thế giới.
Hội Nông dân Việt Nam cấp Tỉnh
Cơ quan Hội Nông dân tỉnh là cơ quan chuyên trách của Ban Chấp hành Hội
Nông dân tỉnh, có chức năng tham mưu giúp việc cho Ban Chấp hành, Ban Thường
vụ Hội Nông dân tỉnh trong lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng và tổ chức các hoạt động
của Hội theo Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam; tham mưu cho Tỉnh uỷ, Ban Thường
vụ Tỉnh uỷ về việc lãnh đạo tổ chức Hội và phong trào nông dân tỉnh.
a, Cơ cấu tổ chức
3
Cơ cấu tổ chức của Hội Nông dân tỉnh bao gồm các phòng ban:
1. Ban Tuyên huấn
2. Ban Kiểm tra
3. Ban Tổ chức
4. Văn phòng
5. Ban Kinh tế
6. Ban Điều hành Quỹ HTND
7. Ban Xã hội
Dưới đây là sơ đồ tổ chức bộ máy cơ quan Hội Nông dân tỉnh Nam Định
b, Chức năng Hội Nông dân tỉnh
Cơ quan Hội Nông dân tỉnh là cơ quan chuyên trách của Ban Chấp hành Hội
Nông dân tỉnh, có chức năng tham mưu giúp việc cho Ban Chấp hành, Ban Thường
vụ Hội Nông dân tỉnh trong lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng và tổ chức các hoạt động
của Hội theo Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam; tham mưu cho Tỉnh uỷ, Ban Thường
4
vụ Tỉnh uỷ về việc lãnh đạo tổ chức Hội và phong trào nông dân tỉnh.
Tập hợp, vận động, giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ, tích
cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt.
Đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước về khối đại
đoàn kết toàn dân tộc.
Chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân, tổ chức
các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân trong sản xuất và đời sống
c, Nhiệm vụ của Hội Nông dân tỉnh
- Giúp Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh điều hành, giải quyết công việc
hàng ngày.
- Nghiên cứu, tham mưu cho Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nông dân
tỉnh về chủ trương, nghị quyết, chương trình, kế hoạch công tác của Hội, phong trào
nông dân ở địa phương; tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Hội theo quy định của
Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam và các nhiệm vụ do cấp uỷ giao.
- Tham gia xây dựng, tuyên truyền, giám sát, tổ chức thực hiện các chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có liên quan đến
nông dân. Tham gia giám sát và phản biện xã hội theo quy chế; bảo vệ quyền và lợi
ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân.
- Hướng dẫn, kiểm tra các cấp Hội ở địa phương trong việc thực hiện Điều lệ,
Nghị quyết Đại hội, Nghị quyết Ban Chấp hành, chương trình, kế hoạch công tác của
Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và Hội Nông dân tỉnh.
- Tập hợp, đề xuất với Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh
những tâm tư, nguyện vọng của hội viên, nông dân, kịp thời phản ánh với Tỉnh uỷ,
UBND tỉnh để có chủ trương, biện pháp giải quyết.
- Xây dựng, củng cố tổ chức Hội vững mạnh; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng,
hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ Hội các cấp. Xây dựng quản lý cơ sở
vật chất và các nguồn tài chính bảo đảm điều kiện hoạt động của Ban Chấp hành,
Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh.
- Tham mưu trong việc quản lý nhân sự, thực hiện chính sách đối với cán bộ,
hội viên theo quy định của pháp luật và Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam.
5
Hội Nông dân Việt Nam cấp Huyện
a, Cơ cấu tổ chức
Theo Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam quy định, Công văn số 2267-CV/BTC,
ngày 26/05/2015 của Ban Tổ chức Tỉnh uỷ về việc xây dựng phương án tổ chức bộ
máy và chức năng, nhiệm vụ Hội Nông dân cấp huyện. Hội Nông dân cấp huyện có
tối thiểu phải là 4 người gồm: Chủ tịch, các phó Chủ tịch và cán bộ Văn phòng
b, Chức năng của Hội Nông dân Việt Nam cấp Huyện
Hội Nông dân huyện là cơ quan tham mưu cho Huyện uỷ; tập hợp, vận động,
giáo dục hội viên nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình
độ, năng lực về mọi mặt. Đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà
nước và Khối đại đoàn kết dân tôc. Chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng,
hợp pháp của nông dân; tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân trong
sản xuất và đời sống.
c, Nhiệm vụ của Hội Nông dân Việt Nam cấp Huyện
- Đề xuất các chủ trương, nghị quyết, chương trình, kế hoạch công tác của
Ban chấp hành, Ban thường vụ Hội Nông dân cùng cấp và các phong trào nông dân
theo yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương và chỉ đạo của hội cấp trên. Tham
gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Tham gia giám sát và phản
biện xã hội theo quy định. Kịp thời phản ảnh tâm tư nguyện vọng của nông dân với
Đảng và Nhà nước; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông
dân. Thực hiện pháp lệnh dân chủ cơ sở; giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nông dân;
góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội; phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và tệ nạn xã hội. Phối hợp
giải quyết khiếu nại, tố cáo của hội viên, nông dân theo quy định.
- Tham mưu, giải quyết các chế độ, chính sách liên quan đến quyền, lợi ích,
nhiệm vụ của hội và cán bộ, công chức, người lao động trong cơ quan.
- Xây dựng kế hoạch công tác nhiệm kỳ, hàng năm sát với thực tế; triển khai
thực hiện chương trình, kế hoạch có kiểm điểm đánh giá; tổ chức hội nghị sơ kết,
tổng công tác hội và phong trào nông dân theo chương trình công tác đề ra.
- Triển khai, giám sát cơ sở Hội trong việc thực hiện các chủ trương, nghị
6
quyết, chương trình phối hợp, kế hoạch công tác của Ban chấp hành, Ban thường vụ
Hội Nông dân huyện và Hội cấp trên.
- Tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, hội viên, nông dân hiểu biết đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, ý chí cách mạng tinh thần tự lực, tự
cường, lao động sáng tạo của nông dân.
- Giúp Ban thường vụ Hội Nông dân cùng cấp quản lý, điều hành, bảo đảm
điều kiện hoạt động của cơ quan, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và người lao
động có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, kỹ năng công tác, xây dựng cơ quan,
đơn vị vững mạnh.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ban thường vụ cấp uỷ cùng cấp và Hội cấp
trên giao.
Hội Nông dân Việt Nam cấp Xã
a, Cơ cấu tổ chức
- Ban Chấp hành cấp xã hội do đại hội Hội Nông dân xã, phường, thị trấn,
nông trường, lâm trường, hợp tác xã bầu ra
- Nhiệm kỳ 5 năm, làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Ban Chấp hành cấp xã của hội gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các ủy viên
thường vụ và các ủy viên Ban Chấp hành; một số đồng chí ủy viên Ban Chấp hành
trực tiếp làm chi hội trưởng và một số đồng chí khác được cơ cấu ở một số ngành có
liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân.
b, Chức năng
Tổ chức cơ sở hội có vị trí vai trò rất quan trọng: là nền tảng của Hội ở cơ sở,
là cầu nối giữa Hội với hội viên, nông dân, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chủ
trương của Đảng chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết, chỉ thị của Hội
cấp trên;
Là nơi rèn luyện, giáo dục, kết nạp hội viên, là cầu nối giữa Đảng với nông
dân, tuyên truyền vận động nông dân vào Hội;
Nắm và phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của hội viên, nông dân với
Đảng, chính quyền; là cấp cuối cùng trong tổ chức hội.
c, Nhiệm vụ
7
- Hướng dẫn các chi hội, tổ hội học tập, thực hiện Điều lệ và nghị quyết, chỉ
thị của Hội; các nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và của cấp
ủy đảng, chính quyền cơ sở.
- Thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; phối hợp với
chính quyền, các ngành, Mặt trận. đoàn thể ở cơ sở tuyên truyền, vận động nông dân
tích cực tham gia các phong trào phát triển kinh tế xã hội tham gia kinh tế hợp tác và
hợp tác xã, làng nghề, trang trại và các loại hình kinh tế tập thể khác. Tổ chức hoạt
động hỗ trợ, tư vấn, dịch vụ giúp nông dân phát triển sản xuất, tạo việc làm tăng thu
nhập; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân.
- Nâng cao chất lượng hội viên; bồi dưỡng cán bộ hội; duy trì nền nếp sinh
hoạt với nội dung thiết thực; xây dựng quỹ hội, thu nộp hội phí đúng quy định.
- Kiểm tra việc thực hiện Điều lệ, chỉ thị, nghị quyết của Hội; phối hợp với
chính quyền, Mặt trận, đoàn thể giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật ở nông
thôn; tham gia thực hiện Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã phường, thể trấn góp phần
xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; bồi dưỡng và giới thiệu với
Đảng những cán bộ, hội viên ưu tú để Đảng xem xét, kết nạp.
- Thường xuyên phản ánh tình hình tổ chức, hoạt động của Hội, tình hình sản
xuất, đời sống, tâm tư, nguyện vọng và những kiến nghị của hội viên, nông dân với
cấp ủy đảng, chính quyền cùng cấp và Hội cấp trên.
- Chuẩn bị nội dung, tổ chức đại hội khi hết nhiệm kỳ
Qua những gì đã tìm hiểu về Hội Nông dân Việt Nam, ta có thể thấy được Hội
Nông dân Việt Nam là 1 tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp nông dân do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ sở
chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, điều hành của Chính phủ, sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân cả
nước, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện
và to lớn, góp phần ổn định chính trị- xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ
vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
- Công tác củng cố, xây dựng tổ chức Hội được triển khai thực hiện thường
xuyên. Công tác phát triển hội viên và nâng cao chất lượng hội viên được chú trọng;
8
nhiều loại hình tập hợp nông dân vào Hội được triển khai thực hiện. Chất lượng hội
viên được nâng lên, tích cực tham gia sinh hoạt, hoạt động, thực hiện các phong trào
do Hội phát động, ngày càng tin tưởng và gắn bó với tổ chức Hội.
- Tổ chức bộ máy của Hội Nông dân các cấp được kiện toàn theo hướng tinh
gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Ban
Chấp hành Hội Nông dân các cấp được cơ cấu hợp lý và có chất lượng.
- Hội Nông dân các cấp ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ
chức; hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở Hội và chất lượng hội viên được nâng
lên; công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng; công tác cán bộ có nhiều chuyển
biến tiến bộ, trình độ năng lực cán bộ được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ. Vai trò đại diện của Hội trong việc chăm lo cải thiện đời sống vật chất,
tinh thần; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên nông dân được
phát huy.
- Các phong trào thi đua do Hội phát động tiếp tục phát triển sâu, rộng và
được nâng cao về chất, có sức lan tỏa góp phần phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của nông dân.
- Đạt được những kết quả trên là có sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, sự chỉ
đạo, điều hành của Chính phủ đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Sự lãnh
đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Hội và Hội Nông dân các cấp cùng với
sự nỗ lực, cố gắng của toàn thể cán bộ, hội viên nông dân.
Bên cạnh những ưu điểm, hội Nông dân Việt Nam vẫn tồn tại những hạn ché,
yếu kém như sau:
- Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho hội viên, nông dân
một số nơi còn hạn chế; hình thức, phương pháp tuyên truyền chậm được đổi mới,
hiệu quả thấp. Có nơi nông dân bị kẻ xấu lợi dụng lôi kéo tham gia khiếu kiện đông
người, gây mất an ninh trật tự ở địa phương.
- Công tác xây dựng tổ chức Hội còn một số bất cập: tổ chức bộ máy cán bộ
cấp tỉnh, huyện chưa có văn bản hướng dẫn để thống nhất trong cả nước; trình độ,
năng lực của đội ngũ cán bộ một số tổ chức Hội chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
9
Một số địa phương sinh hoạt chi, tổ Hội chưa đều, nội dung sinh hoạt còn nghèo nàn,
thiếu hấp dẫn; tỷ lệ hội viên tham gia sinh hoạt còn thấp.
- Phương thức hoạt động của Hội một số nơi chậm đổi mới, còn mang tính
hành chính, hình thức, kém hiệu quả. Công tác sơ, tổng kết, khen thưởng có lúc chưa
kịp thời.
- Một số nơi chưa chú trọng công tác kiểm tra, giám sát. Việc nắm bắt tình
hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhất là diễn biến tư tưởng, băn khoăn, bức
xúc của nông dân còn chậm. Công tác tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền
tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất và đời sống của hội viên, nông dân chưa kịp
thời.
- Phong trào nông dân phát triển chưa đều giữa các địa phương; chất lượng
và hiệu quả 3 phong trào lớn của Hội một số nơi còn thấp. Việc hướng dẫn phát triển
các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn còn lúng túng; việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm
có giá trị và sức cạnh tranh cao còn chậm.
- Tổ chức hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ nông dân, hợp tác quốc
tế, triển khai một số chương trình, dự án hiệu quả chưa cao. Năng lực cán bộ tham
gia xây dựng và phản biện chính sách còn nhiều hạn chế, chưa làm tốt chức năng đại
diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân.
→ Ta có thể thấy cần có sự quan tâm, sát sao hơn nữa của Đảng, của Ban
Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; các cấp Hội cần nắm vững và vận
dụng sáng tạo chủ trương đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước nhất
là về nông nghiệp, nông dân, nông thôn để gắn vào công tác Hội và các phong trào
nông dân; chủ động tham mưu cho cấp ủy Đảng để có chủ trương lãnh đạo cụ thể;
tranh thủ sự hỗ trợ của chính quyền để có nguồn lực hoạt động; phối hợp chặt chẽ
với các bộ, ban, ngành, đoàn thể để có sức mạnh tổng hợp trong triển khai thực hiện
công tác Hội và phong trào nông dân;kịp thời đổi mới phương thức hoạt động phù
hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; mọi chủ trương, nhiệm vụ công tác
Hội và phong trào nông dân phải xuất phát từ lợi ích thiết thực của hội viên, nông
dân. Trong lãnh đạo, chỉ đạo phải có trọng tâm, trọng điểm, hướng mạnh về cơ sở;
10
coi trọng chỉ đạo điểm để nhân ra diện rộng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát,
kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, xử lý vi phạm; thường xuyên củng cố nâng cao chất
lượng, hiệu quả hoạt động của Hội Nông dân các cấp; chăm lo xây dựng, đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội các cấp có đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ của Hội; thường xuyên chỉ đạo đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước;
phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết, tuyên truyền phổ biến và nhân rộng các điển hình tiên
tiến trong công tác Hội và phong trào nông dân.
11