Chơng II
PHáP LUậT tổ chức và hoạt động của các chủ thể kinh doanh
bảo hiểm
Các chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm: Doanh nghiệp bảo
hiểm; doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; Đại lý bảo hiểm.
1. DOANH NGHIệP BảO HIểM
1.1. Khái niệm
Theo pháp luật hiện hành thì khái niệm Doanh nghiệp bảo hiểm đợc hiểu nh sau:
Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp đợc thành lập, tổ chức và hoạt động theo
quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan để
kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm 1.
Với t cách là doanh nghiệp, nó có đầy đủ các đặc điểm của doanh nghiệp nói chung.
Tuy nhiên doanh nghiệp bảo hiểm còn có đặc điểm đặc thù giúp chúng ta nhận biết nó với
các loại doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác.
Thứ nhất, doanh nghiệp bảo hiểm có hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu thờng
xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh bảo hiểm, một lĩnh vực, ngành nghề đặc
biệt. Tính chất đặc biệt của kinh doanh bảo hiểm thể hiện ở chỗ: Nó là loại dịch vụ ti
chính đặc biệt, là hoạt động kinh doanh trên những rủi ro. Sản phẩm của bảo hiểm là sản
phẩm vô hình, nó là sự bảo đảm về mặt tài chính trớc rủi ro cho ngời đợc bảo hiểm kèm
theo là các dịch vụ có liên quan. Rủi ro là cơ sở của hoạt động bảo hiểm, là nguồn gốc phát
sinh các hoạt động bảo hiểm. Để bảo vệ mình, ngời tham gia bảo hiểm nộp phí cho doanh
nghiệp bảo hiểm, để đổi lấy lời hứa của doanh nghiệp bảo hiểm là sẽ trả tiền bảo hiểm khi
có rủi ro xảy ra. Nh vậy ở đây chỉ có cam kết từ hai phía doanh nghiệp bảo hiểm và ngời
tham gia bảo hiểm, trong đó ngời tham gia bảo hiểm phải cam kết nộp phí, còn doanh
nghiệp bảo hiểm lúc đó trở thành con nợ của những ngời tham gia bảo hiểm, cam kết sẽ bồi
thờng hay trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Chu trình kinh doanh bảo hiểm là chu trình đảo ngợc, tức là sản phẩm đợc bán ra trớc,
doanh thu đợc thực hiện, sau đó mới phát sinh chi phí. Các doanh nghiệp bảo hiểm nhận phí
bảo hiểm trớc của ngời tham gia bảo hiểm đóng góp và thực hiện nghĩa vụ sau với bên đợc
bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thực tế. Đặc tính này tạo ra tính nhàn rỗi của nguồn
vốn bảo hiểm trong những thời gian nhất định, nó cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm có
thể sử dụng chúng để đầu t sinh lời nhằm tăng khả năng tài chính cho bồi thờng và trả tiền
bảo hiểm và tăng thu nhập cho doanh nghiệp bảo hiểm. Trong thời gian bảo hiểm nếu không
có rủi ro xảy ra, thì doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thờng hay trả tiền bảo hiểm cho
bên mua bảo hiểm. Ngợc lại, xảy ra rủi ro, đối tợng bảo hiểm bị thiệt hại thì bên mua bảo
hiểm sẽ đợc bồi thờng hay đợc trả tiền bảo hiểm. Nh vậy quan hệ giữa ngời mua bảo hiểm và
doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trờng bảo hiểm vừa mang tính bồi hoàn vừa không mang
tính bồi hoàn. Đặc điểm này đã tạo ra tiền đề khách quan cho tính thơng mại của hoạt
động bảo hiểm. Nghĩa là, khi không xảy ra rủi ro bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm
không phải bồi hoàn và phí bảo hiểm sẽ tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp bảo hiểm. Khác với
khả năng bồi hoàn của các khâu tài chính khác, bồi hoàn trong kinh doanh bảo hiểm có tính
bất ngờ cả về thời gian, không gian cũng nh quy mô. Chính vì vậy, trong quá trình hoạt
động doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng các quỹ dự phòng để bảo đảm các cam kết
của mình trớc những ngời tham gia bảo hiểm khi có các sự cố bảo hiểm xảy ra. Các quỹ này
là nguồn quan trọng để tham gia đầu t nhằm tăng khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo
hiểm nhng phải đảm bảo nguyên tắc tính an toàn, tính sinh lời, và tính thanh khoản của
các khoản vốn đầu t. Thông thờng thì tính bồi thờng tổn thất thực tế cho ngời đợc bảo
hiểm trong một hợp đồng bảo hiểm thờng rất lớn, lớn gấp nhiều lần so với số phí bảo hiểm đã
đóng. Vì thế, để đảm bảo và ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất, trong
hoạt động bảo hiểm phải áp dụng nguyên tắc lấy số đông bù số ít, tức là phải cung cấp
nhiều sản phẩm bảo hiểm cho nhiều loại khách hàng, trên nhiều vùng thị trờng khác nhau
để lấy phí bảo hiểm đóng góp từ nhiều ngời nhằm bù đắp cho một số ít ngời gặp rủi ro.
Trên thực tế, đối với những hợp đồng có giá trị lớn hoặc trờng hợp có khả năng doanh nghiệp
bảo hiểm phải bồi thờng cho nhiều ngời đợc bảo hiểm trong cùng một sự cố, để giảm bớt
trách nhiệm tài chính đối với rủi ro bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm thờng phải thực hiện
nghiệp vụ tái bảo hiểm hoặc đồng bảo hiểm. Mặt khác, để giảm bớt chi phí bồi thờng,
doanh nghiệp bảo hiểm phải tăng cờng giám sát các biện pháp phòng ngừa hạn chế tổn thất
bảo hiểm.
1
Khoản 5 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000.
1
Thứ hai, Doanh nghiệp bảo hiểm đợc tổ chức thành lập và hoạt động theo các qui
định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các qui định khác của pháp luật. Xuất phát từ tính
chất đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm đ ợc coi là một tổ
chức kinh doanh ngành nghề đặc biệt, nên pháp luật phải có những qui định riêng áp dụng
cho doanh nghiệp bảo hiểm, đó là Luật kinh doanh bảo hiểm. Trong việc tổ chức thành lập
và hoạt động của mình doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân theo Luật kinh doanh bảo hiểm.
Tuy nhiên, bên cạnh việc áp dụng các qui định trong Luật kinh doanh bảo hiểm, doanh
nghiệp bảo hiểm còn phải tuân thủ theo các qui định khác của pháp luật trong hệ thống
pháp luật Việt Nam - nếu nh vấn đề nào đó Luật kinh doanh bảo hiểm không quy định,
không điều chỉnh trực tiếp Chẳng hạn doanh nghiệp bảo hiểm nhà n ớc thì việc tổ chức
và hoạt động của doanh nghiệp phải tuân theo các qui định trong Luật kinh doanh bảo
hiểm đồng thời còn phải tuân thủ các qui định dành riêng cho doanh nghiệp nhà n ớc trong
các văn bản nh Luật doanh nghiệp nhà nớc
Thứ ba, Doanh nghiệp bảo hiểm chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài chính. Để quản lý
hoạt động kinh doanh bảo hiểm hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giao cho một cơ quan
quản lý nhà nớc nhất định. Một số nớc ở Châu á nh Singapore, Philipin, cơ quan quản lý nhà
nớc về hoạt động kinh doanh bảo hiểm có tên gọi là Uỷ ban giám sát bảo hiểm. Các nớc khác
nh Anh, Nhật Bản, cơ quan này là một phòng trực thuộc vụ quản lý các ngân hàng.
ở Việt Nam, công tác quản lý nhà nớc về hoạt động bảo hiểm đợc Chính phủ giao cho
Bộ Tài chính thống nhất lãnh đạo và quản lý công tác bảo hiểm. Trớc đây do tính độc quyền
trong kinh doanh bảo hiểm, lúc đó Bộ Tài chính đã giao cho Bảo Việt thực hiện hai chức
năng quản lý và trực tiếp kinh doanh bảo hiểm. Sau khi đất nớc ta chuyển đổi sang kinh tế
thị trờng thì để đáp ứng yêu cầu quản lý trong cơ chế kinh tế này, ngày 15 tháng 5 năm
1992 Bộ trởng Bộ tài chính đã ra quyết định số 223TC/ QĐ- BTC thành lập phòng quản lý bảo
hiểm trực thuộc vụ tài chính ngân hàng và tổ chức tài chính, Nh vậy, bằng qui định trên Bộ
Tài Chính đã tách chức năng quản lý và chức năng kinh doanh bảo hiểm của Bảo Việt. Từ thời
điểm đó cho đến nay Bộ Tài chính là cơ quan của Chính phủ trực tiếp thực hiện chức năng
quản lý nhà nớc về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Điều này đã đợc Luật kinh doanh bảo
hiểm qui định cụ thể: Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trớc Chính Phủ thực hiện quản lý nhà
nớc về kinh doanh bảo hiểm (Khoản 2, Điều 121).
Đây là đặc điểm giúp ta phân biệt doanh nghiệp bảo hiểm với doanh nghiệp khác
trong nền kinh tế. Bởi vì, trong khi các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực ngành
nghề khác chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nớc khác nh các tổ chức tín dụng
chịu sự quản lý nhà nớc trực tiếp của Ngân hàng nhà nớc, các doanh nghiệp kinh doanh
chứng khoán chịu sự quản lý nhà nớc của Uỷ ban chứng khoán nhà nớc
1.2. Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm
Trớc đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung lĩnh vực bảo hiểm rủi ro là lĩnh vực
độc quyền của nhà nớc (gọi tên là bảo hiểm nhà nớc). ở nớc ta chỉ duy nhất có Tổng công ty
bảo hiểm Việt Nam (bảo Việt). Cơ quan Bảo Việt thực hiện đồng thời cả hai chức năng
quản lý nhà nớc và kinh doanh bảo hiểm rủi ro. Chuyển sang cơ chế kinh tế mới cơ chế kinh
tế thị trờng, Nhà nớc không còn giữ độc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm rủi ro mà cho phép
các thành phần kinh kế đợc tham gia kinh doanh bảo hiểm-. Nhà nớc có phân định rạch ròi
giữa chức năng quản lý và chức năng kinh doanh trong bảo hiểm rủi ro - Thị trờng bảo hiểm
đã hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội. Nhiều loại hình doanh
nghiệp bảo hiểm ra đời, sản phẩm bảo hiểm phát triển rất đa dạng để đáp ứng nhu cầu
của xã hội. Vì vậy, việc phân loại các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm là rất cần thiết. Có
nhiều tiêu chí để phân loại doanh nghiệp bảo hiểm, mỗi cách phân loại có ý nghĩa và mục
đích riêng.
* Nếu căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ trong doanh nghiệp bảo hiểm thì có
các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm sau:
- Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nớc là một tổ chức kinh doanh bảo hiểm do nhà nớc đầu
t vốn, thành lập và tổ chức quản lý, thực hiện kinh doanh bảo hiểm và thực hiện những
nhiệm vụ nhà nớc giao. Bên cạnh việc áp dụng các qui định của Luật kinh doanh bảo hiểm,
doanh nghiệp bảo hiểm nhà nớc còn phải tuân thủ các qui định trong các văn bản pháp luật
dành riêng cho doanh nghiệp nhà nớc. Trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
ở nớc ta những doanh nghiệp nhà nớc nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nhà nớc nói riêng
đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, luôn đợc Đảng và Nhà nớc ta quan tâm, tạo
điều kiện khuyến khích phát triển để nó trở thành thành phần kinh tế chủ đạo trong
những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
2
- Công ty cổ phần bảo hiểm: là loại doanh nghiệp bảo hiểm trong đó các thành viên
cùng góp vốn để kinh doanh bảo hiểm, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ t ơng ứng với
phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn
góp của mình góp vào công ty.Thực chất thì công ty cổ phần bảo hiểm là những công ty
cổ phần kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm. Việc tổ chức và hoạt động của công ty cổ
phần bảo hiểm luôn chịu sự điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật doanh
nghiệp.
- Tổ chức bảo hiểm tơng hỗ: Tổ chức bảo hiểm tơng hỗ là tổ chức có t cách pháp
nhân đợc thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tơng trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành
viên. Thành viên tổ chức bảo hiểm tơng hỗ vừa là chủ sở hữu vừa là bên mua bảo hiểm.
Theo quy định của pháp luật hiện hành,Thành viên tổ chức bảo hiểm tơng hỗ là Tổ chức,
công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoạt động
trong cùng một lĩnh vực, ngành nghề, có nhu cầu bảo hiểm đều có quyền tham gia thành
lập tổ chức bảo hiểm tơng hỗ với t cách là thành viên sáng lập. Chỉ các tổ chức, cá nhân giao
kết hợp đồng bảo hiểm với tổ chức bảo hiểm tơng hỗ mới có thể trở thành thành viên của tổ
chức bảo hiểm tơng hỗ. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tơng hỗ
do Chính phủ quy định.
Trên thế giới, phần lớn các doanh nghiệp bảo hiểm đợc tổ chức dới hình thức công ty bảo
hiểm tơng hỗ. Đây là loại hình doanh nghiệp đợc thành lập nhằm tơng trợ, giúp đỡ lẫn nhau
giữa các thành viên, mục đích kinh doanh chỉ là thứ yếu. ở Việt Nam, thị trờng bảo hiểm
mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển thì đây là một mô hình mới, cha hề có một tổ chức
bảo hiểm tơng hỗ nào tồn tại trên thực tế. Việc qui định loại hình doanh nghiệp bảo hiểm
này ở Việt Nam hiện nay là cần thiết, phù hợp với tính chất và đặc thù của nền kinh tế Việt
Nam. Bởi vì đối với một số lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ
sản tại Việt Nam là những lĩnh vực mà ta có thế mạnh mà các doanh nghiệp bảo hiểm hiện
cha phục vụ đợc hoặc hoạt động không có hiệu quả. nếu chúng ta có doanh nghiệp bảo
hiểm tơng hỗ trong những lĩnh vực nh vậy có nhiều lợi thế. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống các văn bản quy phạm về tổ chức bảo hiểm tơng hỗ là hết sức cần thiết, tạo điều kiện
để loại hình doanh nghiệp này phát triển.
- Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu t nớc ngoài (gồm doanh nghiệp bảo hiểm liên
doanh; Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu t nớc ngoài). Là doanh nghiệp bảo hiểm đợc
thành lập có một phần vốn hoặc 100% vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm nớc ngoài
để kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam. Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu t nớc ngoài tại
Việt Nam là pháp nhân Việt Nam hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
- Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh: Là doanh nghiệp bảo hiểm đợc thành lập trên cơ
sở góp vốn của bên Việt Nam và bên nớc ngoài. (Tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam trong doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh không đợc thấp hơn 30% vốn
điều lệ.)
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu t nớc ngoài: Là doanh nghiệp bảo hiểm do tổ
chức bảo hiểm nớc ngoài đầu t 100% vốn, thành lập tại Việt Nam. Doanh nghiệp này hoàn
toàn do chủ đầu t là bên nớc ngoài sở hữu và kiểm soát, không có sự tham gia của bên Việt
Nam.
Theo pháp luật hiện hành, doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu t nớc ngoài không bị
hạn chế về nội dung, phạm vi hoạt động khi bán sản phẩm bảo hiểm cho các doanh nghiệp có
vốn đầu t nớc ngoài, tổ chức và cá nhân nớc ngoài; các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; các
sản phẩm phục vụ cho những chơng trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ng nghiệp
và bảo hiểm rủi ro tài chính, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Tuy nhiên, việc mở rộng nội
dung, phạm vi hoạt động sẽ đợc thực hiện theo hớng dẫn của Bộ Tài chính, phù hợp với nhu cầu
phát triển thị trờng và các điều ớc quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Cụ thể: Trong
năm hoạt động đầu tiên, doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu t nớc ngoài chỉ đợc phép mở
một chi nhánh ngoài trụ sở chính để tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Sau 3 năm
kể từ khi hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu t
nớc ngoài đợc phép mở thêm 2 chi nhánh để tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm, môi
giới bảo hiểm. Sau 5 năm kể từ khi hoạt động, việc mở thêm chi nhánh của doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu t nớc ngoài đợc thực hiện theo nhu cầu
phát triển thị trờng và điều ớc quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
* Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đợc thực hiện thì các
doanh nghiệp bảo hiểm đợc chia thành hai loại là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.
3
- Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm
nhân thọ. Bảo hiểm nhân thọ là chế độ bảo hiểm cho tuổi thọ con ngời. Mặc dù đối tợng
bảo hiểm nhân thọ là con ngời, nhng so với các loại hình bảo hiểm con ngời khác nó có một
số dâú hiệu đặc trng sau: bảo hiểm nhân thọ thời hạn hợp đồng dài và luôn có tính đền bù.
Bảo hiểm nhân thọ là sự kết hợp giữa hình thức bảo hiểm và hình thức tiết kiệm vừa là
hình thức đầu t.
Do thời hạn bảo hiểm dài, mức phí bảo hiểm thờng lớn, pháp luật có quy định cho phù
hợp với tính chất và đặc điểm của loại hình nghiệp vụ bảo hiểm này, nhằm bảo vệ quyền lợi
cho các bên tham gia quan hệ bảo hiểm. Chẳng hạn các quy định về đóng phí bảo hiểm
của bên mua bảo hiểm, hoặc pháp luật quy định về vấn đề đầu t vốn của loại hình doanh
nghiệp bảo hiểm nhân thọ có sự khác biệt với hoạt động đầu t vốn của doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ để bảo vệ sự an toàn trong thanh toán, tính hiệu quả trong hoạt động
đầu t cho doanh nghiệp bảo hiểm, bảo vệ quyền, lợi ích cho ngời tham gia bảo hiểm và cho
cả doanh nghiệp bảo hiểm...
- Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ bảo
hiểm phi nhân thọ. Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm
dân sự và các nghiềp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.
Do sự khác nhau về tính chất, đặc điểm của mỗi loại nghiệp vụ bảo hiểm trên mà
Điều 60 khoản 2 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định Doanh nghiệp bảo hiểm không đợc
phép đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trờng hợp
doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai
nạn con ngời bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ. Vì thế trong các doanh nghiệp bảo hiểm ở nớc
ta hiện nay có hai loại hình doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Chúng khác nhau không chỉ về tên gọi, nghiệp vụ kinh
doanh mà trong những chế độ cụ thể, pháp luật có những quy định cho chúng khác nhau,
đặc biệt là trong chế độ tài chính đối với hai loại hình doanh nghiệp bảo hiểm này .
1.3. Quy chế cấp giấy phép thành lập hoạt động, kiểm soát đặc biệt, giải
thể, phá sản doanh nghiệp bảo hiểm
Pháp luật hiện hành có quy định về điều kiện và thủ tục để đợc cấp giấy phép
thành lập và hoạt động đối với các doanh nghiệp bảo hiểm. Trong đó có một số điều kiện
quan trọng nh điều kiện về vốn điều kiện về nhân sự nh:
- Không thuộc các đối tợng bị cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 13 của Luật Doanh
nghiệp;
- Phải có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của
Chính phủ (kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: 300 tỷ đồng Việt Nam; Kinh doanh bảo hiểm
nhân thọ: 600 tỷ đồng Việt Nam);
- Ngời quản trị, ngời điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ về bảo
hiểmcụ thể: Chủ tịch Hội đồng quản trị của doanh nghiệp bảo hiểm phải là ngời có uy
tín, đạo đức nghề nghiệp và kinh nghiệm về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Tổng giám
đốc (Giám đốc) của doanh nghiệp bảo hiểm phải là ngời có uy tín, đạo đức nghề nghiệp,
có thực tiễn quản lý kinh doanh hay quản lý nhà nớc về bảo hiểm ít nhất 3 năm và phải thờng
trú tại Việt Nam trong thời gian đơng nhiệm
- Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại Điều 64 của Luật
này;
- Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định của Luật này và các quy
định khác của pháp luật;
* Doanh nghiệp bảo hiểm nớc ngoài đầu t thành lập doanh nghiệp bảo hiểm 100%
vốn đầu t nớc ngoài, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh giữa doanh nghiệp bảo hiểm nớc
ngoài với doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Doanh nghiệp bảo hiểm nớc ngoài đợc cơ quan có thẩm quyền của nớc ngoài cho
phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong lĩnh vực dự kiến tiến hành tại Việt Nam;
- Doanh nghiệp bảo hiểm nớc ngoài đang hoạt động hợp pháp ít nhất 10 năm theo quy
định của nớc nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính tính tới thời điểm nộp hồ sơ xin cấp Giấy
phép;
- Doanh nghiệp bảo hiểm nớc ngoài có tổng tài sản tối thiểu tơng đơng 2 tỷ đô la Mỹ
vào năm trớc năm nộp hồ sơ xin cấp Giấy phép;
- Doanh nghiệp bảo hiểm nớc ngoài không vi phạm nghiêm trọng các quy định về hoạt
động kinh doanh bảo hiểm và các quy định pháp luật khác của nớc nơi doanh nghiệp đóng
trụ sở chính trong vòng 3 năm liền kề năm nộp hồ sơ xin cấp Giấy phép.
4
* Về Hồ sơ xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động thực hiện theo quy định
tại Luật Doanh nghiệp, Điều 64 của Luật Kinh doanh bảo hiểm cụ thể hoá trong 7 NĐ
45/2007/NĐ- CP bao gồm:
a) Đơn xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động theo mẫu do Bộ Tài chính quy định;
b) Dự thảo điều lệ doanh nghiệp phù hợp với quy định tại Luật Doanh nghiệp, Luật Kinh
doanh bảo hiểm và các văn bản hớng dẫn thi hành. Dự thảo Điều lệ doanh nghiệp phải có đầy
đủ chữ ký của ngời đại diện theo pháp luật, của các cổ đông sáng lập hoặc ngời đại diện
theo uỷ quyền của cổ đông sáng lập;
c) Danh sách cổ đông sáng lập và các giấy tờ kèm theo
d) Xác nhận của ngân hàng đợc phép hoạt động tại Việt Nam về mức vốn điều lệ gửi
tại tài khoản phong toả mở tại ngân hàng đó;
đ) Phơng án hoạt động 5 năm đầu phù hợp với lĩnh vực kinh doanh xin cấp Giấy phép,
trong đó nêu rõ phơng thức trích lập dự phòng nghiệp vụ, chơng trình tái bảo hiểm, đầu t
vốn, hiệu quả kinh doanh, khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và lợi ích kinh tế
của việc thành lập doanh nghiệp kèm theo các quy trình nghiệp vụ, quy trình kiểm soát nội
bộ, quy trình quản lý rủi ro;
Các quy định về phơng thức trích lập dự phòng nghiệp vụ, chơng trình tái bảo hiểm,
khả năng thanh toán của doanh nghiệp không áp dụng đối với doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm;
e) Danh sách, lý lịch, các văn bằng có xác nhận của công chứng chứng minh năng lực,
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của ngời quản trị, ngời điều hành doanh nghiệp;
g) Mức vốn góp và phơng thức góp vốn, danh sách những tổ chức, cá nhân chiếm 10%
số vốn điều lệ trở lên; tình hình tài chính và những thông tin khác có liên quan đến các tổ
chức, cá nhân đó;
h) Quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng bảo hiểm của loại sản phẩm bảo hiểm dự
kiến tiến hành. Quy định này không áp dụng đối với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Hồ sơ xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm liên
doanh, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh theo quy định tại khoản 1 Điều 109 của
Luật Kinh doanh bảo hiểm bao gồm:
- Các tài liệu theo quy định tại các điểm a, b, d, đ, e và h khoản 1 Điều này;
- Điều lệ, Giấy phép thành lập và hoạt động của các bên tham gia liên doanh;
- Hợp đồng liên doanh;
- Bảng tổng kết tài sản, báo cáo tài chính hàng năm có xác nhận của tổ chức kiểm
toán độc lập về tình hình hoạt động của các bên tham gia liên doanh trong 3 năm gần nhất;
- Văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nớc nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính:
+ Cho phép doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thành lập doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh tại Việt Nam. Trờng hợp quy định
của nớc nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính không yêu cầu phải có văn bản chấp thuận thì
phải có bằng chứng xác nhận việc này;
+ Xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang hoạt động
kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm trong lĩnh vực dự kiến tiến hành hoạt động ở Việt
Nam;
+ Xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang trong tình
trạng tài chính lành mạnh và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quản lý tại nớc nơi doanh nghiệp
đóng trụ sở chính;
Hồ sơ xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm 100% vốn đầu t nớc ngoài theo quy định tại khoản 2 Điều 109 của
Luật Kinh doanh bảo hiểm bao gồm:
- Các tài liệu theo quy định tại các điểm a, b, d, đ, e và h khoản 1 Điều này;
- Điều lệ, Giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp
môi giới bảo hiểm nớc ngoài nơi đóng trụ sở chính;
- Giấy uỷ quyền cho Tổng giám đốc (Giám đốc) tại Việt Nam;
- Bảng tổng kết tài sản, báo cáo tài chính hàng năm có xác nhận của tổ chức kiểm toán
độc lập về tình hình hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
nớc ngoài nơi đóng trụ sở chính trong 3 năm gần nhất;
- Văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nớc nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính:
+ Cho phép doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thành lập doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tại Việt Nam. Trờng hợp quy định của nớc
nơi doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đóng trụ sở chính không yêu
cầu phải có văn bản chấp thuận thì phải có bằng chứng xác nhận việc này;
5
+ Xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang hoạt động
kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm trong lĩnh vực dự kiến tiến hành hoạt động ở Việt
Nam;
+ Xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang trong tình
trạng tài chính lành mạnh và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quản lý tại nớc nơi doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đóng trụ sở chính.
Hồ sơ xin cấp Giấy phép của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
đợc lập thành 3 (ba) bộ trong đó có 1 (một) bộ là bản chính, 2 (hai) bộ là bản sao. Hồ sơ đề
nghị cấp Giấy phép của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn
đầu t nớc ngoài đợc lập thành 3 (ba) bộ, mỗi bộ gồm 1 (một) bản bằng tiếng Việt và 1 (một)
bản bằng tiếng nớc ngoài thông dụng. Các bản sao tiếng Việt và các bản dịch từ tiếng nớc
ngoài ra tiếng Việt phải đợc cơ quan công chứng Việt Nam xác nhận theo quy định của pháp
luật về công chứng. Chủ đầu t phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ xin cấp
Giấy phép.
Pháp luật quy định rõ cơ quan nhà nớc có thẩm quyền cấp và thu hồi giấy phép thành
lập và hoạt động cho các doanh nghiệp bảo hiểm cụ thể: Bộ Tài chính cấp giấy phép thành
lập và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động, Bộ Tài chính phải cấp hoặc
từ chối cấp giấy phép. Trong trờng hợp từ chối cấp giấy phép, Bộ Tài chính phải có văn bản
giải thích lý do. Giấy phép thành lập và hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh.
Pháp luật còn quy định: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày đợc cấp Giấy phép thành
lập và hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải đăng báo
hàng ngày của báo trung ơng và báo địa phơng nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính trong 5
số báo liên tiếp về những nội dung chủ yếu nh sau: Tên, địa chỉ trụ sở chính, Chi nhánh,
Văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm; Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động;
Mức vốn điều lệ và số vốn điều lệ đã góp; Họ, tên của ngời đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp; Số Giấy phép và ngày cấp Giấy phép thành lập và hoạt động; Các nghiệp vụ
bảo hiểm, nghiệp vụ môi giới bảo hiểm đợc phép kinh doanh.
Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày đợc cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải hoàn tất các thủ tục cần thiết theo quy
định của pháp luật để chính thức hoạt động kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm. Nếu quá
thời hạn này mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không bắt đầu hoạt
động thì bị thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động.
Doanh nghiệp bảo hiểm phải đợc Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản khi thay đổi
một trong những nội dung sau đây: Tên doanh nghiệp; Vốn điều lệ; Mở hoặc chấm dứt hoạt
động của chi nhánh, văn phòng đại diện; Địa điểm đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại
diện; Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động; Chuyển nhợng cổ phần, phần vốn góp chiếm 10%
số vốn điều lệ trở lên; Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc); Chia, tách, sáp
nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp
Doanh nghiệp bảo hiểm có thể bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi xảy ra
một trong những trờng hợp nh: Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin
cố ý làm sai sự thật; Sau 12 tháng kể từ ngày đợc cấp giấy phép thành lập và hoạt động mà
không bắt đầu hoạt động; Giải thể, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, phá sản, chuyển đổi
hình thức doanh nghiệp; Hoạt động sai mục đích hoặc không đúng với nội dung quy định
trong giấy phép thành lập và hoạt động; Không bảo đảm các yêu cầu về tài chính để thực
hiện các cam kết với bên mua bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu t nớc ngoài có thể
bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi doanh nghiệp bảo hiểm nớc ngoài nơi đóng
trụ sở chính bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động.
Trong trờng hợp Bộ Tài chính cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, chấp
thuận cho doanh nghiệp bảo hiểm thay đổi một trong những nội dung quy định, Bộ Tài
chính thông báo ngay bằng văn bản kèm theo bản sao giấy phép thành lập và hoạt động,
quyết định thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động hoặc quyết định chấp thuận việc
sửa đổi, bổ sung giấy phép thành lập và hoạt động cho cơ quan đăng ký kinh doanh cấp
tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện.
Doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá trình
hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm đợc coi là có đủ khả năng thanh
toán khi đã trích lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ theo quy định và có biên khả năng thanh
toán không thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy định của Chính phủ. Trong
trờng hợp có nguy cơ mất khả năng thanh toán (khi biên khả năng thanh toán của doanh
6
nghiệp đó thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy định) thì doanh nghiệp
bảo hiểm phải chủ động thực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán đồng
thời phải báo cáo nguy cơ mất khả năng thanh toán cho Bộ Tài chính trong đó nói rõ về thực
trạng tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán và các biện pháp
khắc phục.Trong trờng hợp doanh nghiệp bảo hiểm không khôi phục đợc khả năng thanh
toán theo phơng án đã đợc chấp thuận, thì Bộ Tài chính có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo
hiểm thực hiện khôi phục khả năng thanh toán, gồm những biện pháp nh : Bổ sung nguồn
vốn chủ sở hữu; Tái bảo hiểm; thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động; đình chỉ
một phần hoặc toàn bộ hoạt động; Củng cố tổ chức bộ máy và thay đổi ngời quản trị,
điều hành của doanh nghiệp; Yêu cầu chuyển giao hợp đồng bảo hiểm; Các biện pháp khác.
Trong trờng hợp doanh nghiệp bảo hiểm không khôi phục đợc khả năng thanh toán theo
yêu cầu của Bộ Tài chính thì Bộ Tài chính ra quyết định thành lập Ban kiểm soát khả năng
thanh toán để áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo
hiểm.
Ban kiểm soát khả năng thanh toán có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Chỉ đạo và giám sát việc triển khai thực hiện các biện pháp khôi phục khả năng
thanh toán theo phơng án đã đợc chấp thuận;
- Thông báo cho các cơ quan nhà nớc có liên quan về việc áp dụng các biện pháp khôi
phục khả năng thanh toán để phối hợp thực hiện;
- Hạn chế phạm vi và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm;
- Đình chỉ những hoạt động có thể dẫn đến việc doanh nghiệp bảo hiểm mất khả
năng thanh toán;
- Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chuyển giao toàn bộ hợp đồng bảo hiểm của một
hoặc một số nghiệp vụ bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác;
- Tạm đình chỉ quyền quản trị, điều hành và yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thay
thế thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó
giám đốc) nếu xét thấy cần thiết;
- Yêu cầu Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc) miễn nhiệm, đình chỉ công
tác đối với những ngời có hành vi vi phạm pháp luật, không chấp hành phơng án khôi phục khả
năng thanh toán đã đợc chấp thuận;
- Kiến nghị với Bộ Tài chính tiếp tục hoặc chấm dứt các biện pháp khôi phục khả năng
thanh toán;
- Báo cáo Bộ Tài chính về việc áp dụng và kết quả của việc áp dụng các biện pháp khôi
phục khả năng thanh toán.
Ban kiểm soát khả năng thanh toán phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình
theo quy định của pháp luật trong quá trình áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh
toán của doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm thực hiện các yêu
cầu, quyết định của Ban kiểm soát khả năng thanh toán.
Việc áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán chấm dứt trong các trờng hợp
: Hết hạn áp dụng biện pháp khôi phục khả năng thanh toán; Hoạt động của doanh nghiệp bảo
hiểm trở lại bình thờng; Doanh nghiệp bảo hiểm đã đợc hợp nhất, sáp nhập trớc khi hết thời hạn
áp dụng biện pháp khôi phục khả năng thanh toán; Doanh nghiệp bảo hiểm lâm vào tình trạng
phá sản.
Việc chấm dứt áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán đợc thực hiện theo
quyết định của Bộ trởng Bộ Tài chính. Quyết định này đợc thông báo cho các cơ quan có
liên quan.
Doanh nghiệp bảo hiểm giải thể trong các trờng hợp sau đây: Tự nguyện xin giải thể
nếu có khả năng thanh toán các khoản nợ; Khi hết thời hạn hoạt động quy định trong giấy
phép thành lập và hoạt động mà không có quyết định gia hạn; Bị thu hồi giấy phép thành
lập và hoạt động theo quy định; Các trờng hợp khác theo quy định của pháp luật. Việc giải
thể doanh nghiệp bảo hiểm phải đợc Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản.
Trong trờng hợp doanh nghiệp bảo hiểm không có khả năng thanh toán các khoản nợ
đến hạn, sau khi áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán mà vẫn mất khả năng
thanh toán thì việc phá sản doanh nghiệp bảo hiểm đợc thực hiện theo quy định của pháp
luật về phá sản doanh nghiệp.
1.4. Tổ chức và điều hành của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm
Tổ chức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm bao
gồm:
- Trụ sở chính;
7
- Chi nhánh, sở giao dịch, hội sở, công ty thành viên hạch toán phụ thuộc (đợc gọi là Chi
nhánh) trực thuộc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, có nhiệm vụ thực
hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo uỷ
quyền;
- Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp
môi giới bảo hiểm, có nhiệm vụ đại diện theo uỷ quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo
vệ các lợi ích đó;
- Địa điểm kinh doanh, phòng giao dịch (đợc gọi là địa điểm kinh doanh) là nơi hoạt
động kinh doanh cụ thể, trực thuộc Chi nhánh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp
môi giới bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm muốn mở Chi
nhánh, Văn phòng đại diện phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Vốn điều lệ thực có phải đảm bảo theo quy định của Bộ Tài chính;
- Bộ máy quản trị, điều hành và hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ hoạt
động có hiệu quả;
- Không vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật trong 3 năm liên tục
ngay trớc năm nộp hồ sơ. Doanh nghiệp bảo hiểm không vi phạm quy định về khả
năng thanh toán;
- Có Quy chế tổ chức và hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện;
- Ngời điều hành Chi nhánh, Văn phòng đại diện có kinh nghiệm và kiến thức
chuyên môn về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và không thuộc các đối tợng bị cấm
theo quy định của pháp luật;
- Có hồ sơ xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện theo quy định
Hồ sơ xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện bao gồm:
- Đơn xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện có chữ ký của ngời đại diện có thẩm quyền
của doanh nghiệp, trong đó trình bày tóm tắt sự cần thiết, tên gọi, địa điểm, nội dung, phạm
vi hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện;
- Phơng án hoạt động 3 năm đầu của Chi nhánh, Văn phòng đại diện trong đó nêu rõ
nhu cầu khách hàng; dự báo thị trờng; nội dung, phạm vi hoạt động, các sản phẩm bảo hiểm
dự kiến kinh doanh; dự kiến kết quả kinh doanh; tổ chức bộ máy, nhân sự; địa điểm đặt
Chi nhánh, Văn phòng đại diện và cơ sở vật chất kỹ thuật;
- Giấy tờ hợp lệ chứng minh doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
đáp ứng các điều kiện quy định.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đợc đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài
chính phải trả lời bằng văn bản về việc chấp thuận hoặc từ chối chấp thuận. Trong
trờng hợp từ chối chấp thuận, Bộ Tài chính phải có văn bản giải thích lý do.
Ngời quản trị, điều hành doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm:
Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc) của doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải là ngời có trình độ chuyên môn, năng lực quản trị, điều
hành doanh nghiệp theo hớng dẫn của Bộ Tài chính. Tổng giám đốc (Giám đốc) doanh nghiệp
bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải c trú tại Việt Nam trong thời gian đơng nhiệm.
Việc bổ nhiệm, thay đổi Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc) của
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải có sự chấp thuận của Bộ Tài
chính.
Chuyên gia tính toán (Appointed Actuary): Chuyên gia tính toán có nhiệm vụ
tổ chức thực hiện công tác đảm bảo an toàn tài chính cho doanh nghiệp bảo hiểm
nhân thọ. Chuyên gia tính toán có quyền độc lập về chuyên môn nghiệp vụ và
không đợc đồng thời kiêm nhiệm các chức vụ sau: Tổng giám đốc; Kế toán trởng;
Thành viên Hội đồng quản trị.
Bộ Tài chính quy định tiêu chuẩn và việc sử dụng chuyên gia tính toán của
doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.
Kiểm tra, kiểm soát nội bộ: Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới
bảo hiểm:
- Phải xây dựng, triển khai và giám sát việc thực hiện các quy chế phân công
trách nhiệm trong nội bộ doanh nghiệp; quy trình nghiên cứu phát triển sản phẩm,
khai thác, thẩm định, bồi thờng, tái bảo hiểm và các quy trình nghiệp vụ khác theo
quy định pháp luật.
- Phải lập hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ bảo đảm doanh nghiệp hoạt
động an toàn và đúng pháp luật.
8
- Phải thờng xuyên kiểm tra việc chấp hành pháp luật, các quy trình nghiệp vụ
và quy định nội bộ; trực tiếp kiểm tra, kiểm soát các hoạt động nghiệp vụ trên tất
cả các lĩnh vực tại trụ sở chính, Chi nhánh, Văn phòng đại diện và các địa điểm kinh
doanh nhằm đánh giá chính xác kết quả hoạt động kinh doanh và thực trạng tài
chính của doanh nghiệp.
Kết quả kiểm tra, kiểm soát nội bộ phải đợc lập thành văn bản và lu giữ tại
doanh nghiệp.
1.5. Hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm
Nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm:
Thứ nhất, kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm.
Trong kinh doanh bảo hiểm, Doanh nghip bo him c quyn ch ng bỏn bo him di cỏc hỡnh
thc sau: Trc tip; Thụng qua i lý bo him, mụi gii bo him; Thụng qua u thu; Cỏc hỡnh thc khỏc phự hp
vi quy nh ca phỏp lut.
Doanh nghiệp bảo hiểm đợc mời chào khách hàng tham gia bảo hiểm theo nội dung,
phạm vi hoạt động quy định trong giấy phép thành lập và hoạt động của mình. Không đ ợc
ép buộc các tổ chức, cá nhân mua bảo hiểm dới mọi hình thức. Không đợc phép đồng thời
kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trờng hợp doanh nghiệp bảo
hiểm nhân thọ kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con ngời bổ trợ
cho bảo hiểm nhân thọ.
- Tuân thủ các quy định về quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm trong các chế độ
bảo hiểm theo quy định. Trong trờng hợp doanh nghiệp bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo
hiểm không theo quy tắc, điều khoản, biểu phí đã đợc Bộ Tài chính ban hành (đối với loại
hình bảo hiểm bắt buộc) hoặc phê chuẩn (đối với các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo
hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con ngời) hoặc đã đăng ký với Bộ Tài chính (đối với các
sản phẩm bảo hiểm khác) thì doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thờng thiệt hại phát sinh cho
bên mua bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm.
Quy tắc, điều khoản, biểu phí do doanh nghiệp bảo hiểm xây dựng phải đảm
bảo:
- Tuân thủ pháp luật; phù hợp với thông lệ, chuẩn mực đạo đức, văn hoá và
phong tục, tập quán của Việt Nam;
- Ngôn ngữ sử dụng trong quy tắc, điều khoản bảo hiểm phải chính xác, cách
diễn đạt đơn giản, dễ hiểu. Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội
dung, thì phải định nghĩa rõ trong quy tắc, điều khoản bảo hiểm;
- Thể hiện rõ ràng, minh bạch quyền lợi có thể đợc bảo hiểm, đối tợng bảo
hiểm, phạm vi và các rủi ro đợc bảo hiểm, quyền lợi và nghĩa vụ của bên mua bảo
hiểm và ngời đợc bảo hiểm, trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, điều khoản
loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, phơng thức trả tiền bảo hiểm, các quy định giải
quyết tranh chấp;
- Phí bảo hiểm phải đợc xây dựng dựa trên số liệu thống kê, đảm bảo khả năng
thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và phải tơng ứng với điều kiện và trách
nhiệm bảo hiểm.
- Các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ đợc chi trả hoa hồng bảo hiểm từ phần phí bảo hiểm
thực tế thu đợc theo tỷ lệ hoa hồng bảo hiểm do Bộ Tài chính quy định cho từng nghiệp vụ
bảo hiểm. Đối tợng đợc hởng hoa hồng bảo hiểm bao gồm: Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; Đại
lý bảo hiểm. Không đợc chi trả hoa hồng bảo hiểm cho các đối tợng sau: Tổ chức, cá nhân
không đợc phép hoạt động đại lý bảo hiểm, hoạt động môi giới bảo hiểm tại Việt Nam;Tổ chức,
cá nhân trực tiếp mua bảo hiểm, trừ trờng hợp đại lý bảo hiểm mua bảo hiểm nhân thọ cho
chính mình; Cán bộ, nhân viên của chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Trong kinh doanh tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền chuyển nhợng một
phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho một hay nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nh ng
không đợc nhợng toàn bộ trách nhiệm bảo hiểm đã nhận trong một hợp đồng bảo hiểm cho
doanh nghiệp bảo hiểm khác để hởng hoa hồng tái bảo hiểm.
- Doanh nghiệp bảo hiểm có thể nhận tái bảo hiểm trách nhiệm mà doanh nghiệp bảo
hiểm khác đã nhận bảo hiểm. Khi nhận tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải đánh giá
rủi ro để bảo đảm phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp
Thứ hai, Quản lý quỹ và đầu t vốn.
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì mức vốn điều
lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định đợc quy định. Trờng hợp doanh nghiệp bảo
hiểm thay đổi vốn điều lệ đã ghi trong điều lệ doanh nghiệp hoặc việc chuyển nh ợng cổ
phần của các cổ đông, phần vốn góp của các bên liên doanh chiếm 10% vốn điều lệ trở lên
9
thì doanh nghiệp bảo hiểm phải có đơn đề nghị và văn bản giải trình gửi Bộ Tài chính và
phải đợc Bộ Tài chính chấp thuận trớc khi thực hiện
- Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày đợc cấp giấy phép thành lập và hoạt động, doanh
nghiệp bảo hiểm phải sử dụng một phần vốn điều lệ đã góp để ký quỹ tại một ngân hàng
thơng mại hoạt động tại Việt Nam. Tiền ký quỹ đợc hởng lãi theo thoả thuận với ngân hàng nơi
ký quỹ. Mức tiền ký quỹ của doanh nghiệp bảo hiểm bằng 2% vốn pháp định đợc quy định.
Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ đợc sử dụng tiền ký quỹ để đáp ứng các cam kết đối với bên
mua bảo hiểm khi khả năng thanh toán bị thiếu hụt và phải đợc Bộ Tài chính chấp thuận
bằng văn bản. Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày sử dụng tiền ký quỹ, doanh nghiệp bảo
hiểm có trách nhiệm bổ sung tiền ký quỹ đã sử dụng. Doanh nghiệp bảo hiểm đ ợc rút toàn
bộ tiền ký quỹ khi chấm dứt hoạt động.
Doanh nghiệp bảo hiểm trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ:
Dự phòng nghiệp vụ là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập nhằm
mục đích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đã đợc xác định trớc và phát sinh từ
các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết.
Dự phòng nghiệp vụ phải đợc trích lập riêng cho từng nghiệp vụ bảo hiểm và phải tơng ứng với phần trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm theo hớng dẫn của Bộ Tài chính
Doanh nghiệp bảo hiểm phải lập quỹ dự trữ bắt buộc để bổ sung vốn điều lệ và
bảo đảm khả năng thanh toán. Quỹ dự trữ bắt buộc đợc trích hàng năm theo tỷ lệ 5% lợi
nhuận sau thuế. Mức tối đa của quỹ này bằng 10% mức vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Ngoài quỹ dự trữ bắt buộc, doanh nghiệp bảo hiểm có thể lập các quỹ dự trữ khác từ lợi
nhuận sau thuế của năm tài chính theo quy định trong điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm.
Đầu t vốn: Việc đầu t vốn của doanh nghiệp bảo hiểm phải bảo đảm an toàn, hiệu
quả và đáp ứng đợc yêu cầu chi trả thờng xuyên cho các cam kết theo hợp đồng bảo hiểm.
Nguồn vốn đầu t của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm: Vốn điều lệ; Quỹ dự trữ bắt
buộc; Quỹ dự trữ tự nguyện; Các khoản lãi của những năm trớc cha sử dụng và các quỹ đợc sử
dụng để đầu t hình thành từ lợi tức để lại doanh nghiệp; Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng
nghiệp vụ bảo hiểm.
- Việc đầu t từ nguồn vốn chủ sở hữu phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và tính thanh
khoản theo hớng dẫn của Bộ Tài chính. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm đợc phép đầu t ra nớc ngoài theo quy định của pháp luật đối với phần vốn chủ sở hữu
vợt quá mức vốn pháp định hoặc biên khả năng thanh toán tối thiểu, tùy theo số nào lớn hơn.
- Đầu t vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm đợc
thực hiện trực tiếp bởi doanh nghiệp bảo hiểm hoặc thông qua uỷ thác đầu t và chỉ đợc
đầu t tại Việt Nam trong các lĩnh vực sau:
Mua trái phiếu Chính phủ; Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp; Kinh doanh bất
động sản; Góp vốn vào các doanh nghiệp khác; Cho vay theo quy định của Luật các tổ chức
tín dụng; Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng.
Đối với nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm thì việc đầu t vốn đợc
pháp luật quy định cụ thể danh mục đầu t và tỷ lệ vốn nhàn rỗi đợc phép đầu t vào mỗi
danh mục đầu t nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp bảo hiểm luôn duy trì đợc khả năng
thanh toán cụ thể:
* Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ thì nguồn vốn nhàn rỗi từ dự
phòng nghiệp vụ đợc đầu t để:
- Mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ
chức tín dụng không hạn chế;
- Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào các doanh
nghiệp khác tối đa 35% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm;
- Kinh doanh bất động sản, cho vay, ủy thác đầu t qua các tổ chức tài chính - tín
dụng tối đa 20% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm
* Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ thì nguồn vốn nhàn rỗi từ dự
phòng nghiệp vụ đợc sử dụng để đầu t:
- Mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ
chức tín dụng không hạn chế,
- Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào các doanh
nghiệp khác tối đa 50% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm;
- Kinh doanh bất động sản, cho vay, ủy thác đầu t qua các tổ chức tài chính - tín dụng
tối đa 40% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.
10
Thứ ba, Doanh nghiệp bảo hiểm đợc thực hiện các hoạt động khác nh:Đề phòng,
hạn chế rủi ro, tổn thất; Giám định tổn thất; Đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi
thờng, yêu cầu ngời thứ ba bồi hoàn và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp bảo hiểm có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa để bảo đảm an
toàn cho đối tợng bảo hiểm khi đợc sự đồng ý của bên mua bảo hiểm hoặc cơ quan nhà nớc
có thẩm quyền. Các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất bao gồm: Tổ chức tuyên truyền,
giáo dục; Tài trợ, hỗ trợ các phơng tiện, vật chất để đề phòng hạn chế rủi ro; Hỗ trợ xây dựng
các công trình nhằm mục đích đề phòng, giảm nhẹ mức độ rủi ro cho các đối tợng bảo
hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm đợc trích một tỷ lệ trên phí bảo hiểm thực thu theo quy định
của Bộ Tài chính để thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất
2. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là doanh nghiệp thực hiện hoạt động môi giới bảo
hiểm theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có
liên quan.
Theo pháp luật hiện hành, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đợc thành lập để thực hiện
các hoạt động nh:
- Cung cấp thông tin về loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, phí bảo hiểm,
doanh nghiệp bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm;
- T vấn cho bên mua bảo hiểm trong việc đánh giá rủi ro, lựa chọn loại hình bảo hiểm,
điều kiện, điều khoản, biểu phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm;
- Đàm phán, thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên
mua bảo hiểm;
- Thực hiện các công việc khác có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm
theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm.
Tổ chức, cá nhân muốn thực hiện hoạt động môi giới bảo hiểm phải thành lập doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm theo một trong các loại hình sau: Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
nhà nớc; Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm; Công ty trách nhiệm hữu hạn môi giới bảo hiểm;
Công ty hợp danh môi giới bảo hiểm; Doanh nghiệp t nhân môi giới bảo hiểm; Doanh nghiệp
môi giới bảo hiểm liên doanh; Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm 100% vốn đầu t nớc ngoài.
Quy chế tổ chức hoạt động của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đợc thực hiện tơng tự
nh doanh nghiệp bảo hiểm. Tuy nhiên, có một số quy định khác biệt chẳng hạn vốn pháp định
chỉ cần 4 tỷ VND và một số quy định của doanh nghiệp bảo hiểm không áp dụng cho doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm nh quy định về trích lập dự phòng nghiệp vụ, tái bảo hiểm, đầu t
vốn, khả năng thanh toán
Pháp luật quy định doanh nghiệp môi giới bảo hiểm trong hoạt động có các quyền và
nghĩa vụ sau:
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đợc hởng hoa hồng môi giới bảo hiểm. Hoa hồng môi
giới bảo hiểm đợc tính trong phí bảo hiểm.
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có nghĩa vụ: Thực hiện việc môi giới trung thực;
Không đợc tiết lộ, cung cấp thông tin làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua
bảo hiểm; Bồi thờng thiệt hại cho bên mua bảo hiểm do hoạt động môi giới bảo hiểm gây ra.
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm chỉ đợc t vấn, giới thiệu cho bên mua bảo hiểm các
quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm đã đợc Bộ Tài chính ban hành, phê chuẩn hoặc
doanh nghiệp bảo hiểm đã đăng ký với Bộ Tài chính.
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho
hoạt động môi giới bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở Việt Nam.
3. Đại lý bảo hiểm
Đại lý bảo hiểm là tổ chức, cá nhân đợc doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở
hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của Luật
kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trong trờng hợp đại lý bảo hiểm vi phạm hợp đồng đại lý bảo hiểm, gây thiệt hại đến
quyền, lợi ích hợp pháp của ngời đợc bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu
trách nhiệm về hợp đồng bảo hiểm do đại lý bảo hiểm thu xếp giao kết; đại lý bảo hiểm có
trách nhiệm bồi hoàn cho doanh nghiệp bảo hiểm các khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm
đã bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm.
Đại lý bảo hiểm có thể đợc doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền tiến hành các hoạt động
nh: Giới thiệu, chào bán bảo hiểm; Thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm; Thu phí bảo
hiểm; Thu xếp giải quyết bồi thờng, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;Thực hiện
các hoạt động khác có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm.
* Điều kiện hoạt động đại lý bảo hiểm
11
Cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện cụ thể: phải là công
dân Việt Nam thờng trú tại Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
Có chứng chỉ đào tạo đại lý bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm hoặc Hiệp hội bảo hiểm
Việt Nam cấp.
Tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện là tổ chức đ ợc thành lập
và hoạt động hợp pháp; Nhân viên trong tổ chức đại lý trực tiếp thực hiện hoạt động đại lý
bảo hiểm phải có đủ các điều kiện theo quy định.
Ngời đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành hình phạt tù
hoặc bị Toà án tớc quyền hành nghề vì phạm các tội theo quy định của pháp luật không đ ợc
ký kết hợp đồng đại lý bảo hiểm.
*Nguyên tắc hoạt động đại lý bảo hiểm
- Tổ chức, cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ điều kiện hoạt động đại lý
theo quy định và phải ký hợp đồng đại lý bảo hiểm theo quy định .
- Cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp bảo hiểm không đợc làm đại lý bảo hiểm cho
chính doanh nghiệp bảo hiểm đó.
- Tổ chức, cá nhân không đợc đồng thời làm đại lý cho doanh nghiệp bảo hiểm khác
nếu không đợc chấp thuận của doanh nghiệp bảo hiểm mà mình đang làm đại lý.
* Quyền và nghĩa vụ của đại lý bảo hiểm
Đại lý bảo hiểm có các quyền sau:
- Lựa chọn và ký kết hợp đồng đại lý bảo hiểm đối với doanh nghiệp bảo hiểm theo
đúng quy định của pháp luật;
- Tham dự các lớp đào tạo, bồi dỡng, nâng cao trình độ cho đại lý bảo hiểm do doanh
nghiệp bảo hiểm tổ chức;
- Đợc cung cấp thông tin cần thiết cho các hoạt động của mình và các điều kiện khác
để thực hiện hợp đồng đại lý bảo hiểm;
- Hởng hoa hồng và các quyền, lợi ích hợp pháp khác từ hoạt động đại lý bảo hiểm;
- Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm hoàn trả tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp theo
thoả thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm.
Đại lý bảo hiểm có các nghĩa vụ sau:
- Thực hiện cam kết trong hợp đồng đại lý bảo hiểm đã ký với doanh nghiệp bảo hiểm;
- Ký quỹ hoặc thế chấp tài sản cho doanh nghiệp bảo hiểm nếu có thoả thuận trong
hợp đồng đại lý bảo hiểm;
- Giới thiệu, mời chào, bán bảo hiểm; cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác cho bên
mua bảo hiểm; thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo phạm vi đợc ủy quyền trong hợp đồng đại
lý bảo hiểm;
- Chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền và thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
Chơng III: Hợp đồng bảo hiểm.
1.Khái niệm.
Kinh doanh bảo hiểm là một quan hệ kinh doanh đợc thiết lập trên cơ sở hợp đồng.
Hợp đồng bảo hiểm chính là hình thức pháp lý của quan hệ kinh doanh bảo hiểm, là công cụ
để doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Theo điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm: Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa
bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí
bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng hoặc bồi thờng
cho ngời đợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm là dạng quan hệ hợp đồng cụ thể. Vì thế hợp đồng bảo hiểm có các
đặc điểm chung của các quan hệ hợp đồng nói chung. Bên cạnh đó hợp đồng bảo hiểm còn
có đặc điểm riêng sau:
Trớc hết, Hợp đồng bảo hiểm là loại hợp đồng dịch vụ tài chính. Bên cung ứng dịch vụ
là doanh nghiệp bảo hiểm và ngời đợc cung ứng dịch vụ là bên tham gia bảo hiểm. Hai nói
cách khác,doanh nghiệp bảo hiểm thoả thuận cung ứng cho khách hàng là sản phẩm vô hình
là sự bảo đảm về mặt tài chính trớc rủi ro cho ngời đợc bảo hiểm. Để bảo vệ lợi ích cho
mình, ngời tham gia bảo hiểm nộp phí cho doanh nghiệp bảo hiểm, để đổi lấy lời hứa của
doanh nghiệp bảo hiểm là sẽ trả tiền hoặc bồi thờng bảo hiểm khi có rủi ro xảy ra. Nh vậy ở
đây có cam kết từ hai phía doanh nghiệp bảo hiểm và ngời tham gia bảo hiểm, trong đó
ngời tham gia bảo hiểm phải cam kết nộp phí, còn doanh nghiệp bảo hiểm cam kết sẽ bồi th-
12
ờng cho ngời đợc bảo hiểm hay trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng khi có sự kiện bảo hiểm
xảy ra.
Trong một chừng mực nhất định bảo hiểm là cuộc chơi đợc điều chỉnh bằng pháp
luật. Ngời mua bảo hiểm đều không thể chắc chắn về khả năng xảy ra rủi ro đối với mình.
Ngời mua bảo hiểm hiểu rằng việc xảy ra sự kiện bảo hiểm là ngẫu nhiên, họ trả tiền cho sự
ngẫu nhiên đó để nhận tiền bồi thờng hoặc không nhận đợc gì, ngời mua bảo hiểm tham
gia hợp đồng bảo hiểm ít nhiều giống nh một trò may rủi. Duy chỉ có điều bất cứ ngời mua
bảo hiểm chân chính nào không muốn thắng trong cuộc chơi, không muốn rủi ro xảy ra với
mình và phía ngời cùng chơi. Đối với DNBH cuộc chơi đối với họ cũng nh là một trò cá cợc mà
việc đợc thua hoàn toàn phụ thuộc vào sự may rủi. DNBH thờng phải đối mặt với sự lựa chọn
bất lợi. Ví dụ trong những ngời tham gia bảo hiểm sinh mạng thì xác suất tử vong của ngời đợc bảo hiểm cao hơn xác suất tử vong trung bình của những ngời cùng độ tuổi theo thống kê
dân số, chính ngời đợc bảo hiểm hiểu hơn ai hết về tình trạng sức khoẻ của họ và xu thế tự
nhiên ngời có sức khoẻ yếu có bệnh đều muốn tham gia bảo hiểm sinh mạng với mức phí tơng đơng với ngời có sức khoẻ bình thờng với mức độ rủi ro bình thờng. Để hoạt động kinh
doanh bảo hiểm không phụ thuộc vào sự may rủi, không còn mang tính chất của một trò cá c ợc và để đối phó với sự lựa chọn bất lợi giảm sự bấp bênh trong kinh doanh thì kinh doanh
bảo hiểm phải dựa trên một nền tảng kỹ thuật khoa học vững chắc gồm: quy luật số lớn,
nguyên tắc sàng lọc rủi ro, nguyên tắc phân tán, phân chia rủi ro.
Thứ nhất: Chủ thể tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm với bên
mua bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm tham gia với t cách là ngời nhận bảo hiểm, còn chủ thể tham
gia ký kết hợp đồng bảo hiểm là các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực chủ thể có nhu cầu
hoặc bắt buộc phải tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm.
Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp bảo hiểm ngoài việc ký kết hợp đồng
bảo hiểm với bên mua bảo hiểm, còn ký kết hợp đồng tái bảo hiểm, hợp đồng đại lý bảo hiểm,
hợp đồng môi giới bảo hiểm. Nếu chỉ dựa dấu hiệu một bên chủ thể ký hợp đồng là doanh
nghiệp bảo hiểm thì có thể dẫn đến nhầm lẫn.
DNBH ký kết hợp đồng bảo hiểm nhằm mục tiêu lợi nhuận trừ tổ chức bảo hiểm tơng
hỗ.
Chủ thể tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm rất đa dạng (pháp nhân, cá nhân), mục
đích tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm có khác nhau (kinh doanh hoặc không kinh doanh).
Những hợp đồng ký kết nhằm mục đích kinh doanh nh: Hợp đồng bảo hiểm vận chuyển
hàng hoá, hợp đồng bảo hiểm phơng tiện kinh doanh nh giàn khoan, tàu thuỷ máy bay
Những hợp đồng bảo hiểm không nhằm mục đích kinh doanh nh: bảo hiểm tai nạn, bảo
hiểm trách nhiệm dân sự, bảo hiểm tài sản công dân
Thứ hai, hợp đồng bảo hiểm bao giờ cũng thể hiện dới hình thức văn bản.
Tại điều 14 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định hợp đồng bảo hiểm phải đợc lập
thành văn bản. Bằng chứng giao kết hợp đồng là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm,
điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định.
Các tài liệu của hợp đồng bảo hiểm có nhiều loại dới các tên gọi khác nhau nh: Giấy yêu
cầu bảo hiểm, quy tắc bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bổ
sung, phụ lục hợp đồng, giấy chứng nhận bảo hiểm...
Giấy yêu cầu bảo hiểm đợc thiết kế dới dạng một hệ thống câu hỏi do doanh nghiệp
bảo hiểm soạn thảo. Nó là tài liệu giúp ngời bảo hiểm thu lợm thông tin để đánh giá rủi ro sơ
bộ, mặt khác thể hiện yêu cầu của bên mua bảo hiểm. Giấy yêu cầu bảo hiểm có thể đợc
thiết dới dạng đặc biệt bao gồm các yếu tố cơ bản của một hợp đồng bảo hiểm trong t ơng
lai. Trờng hợp này, hợp đồng bảo hiểm phải đợc ký ngay sau khi DNBH chấp nhận đề nghị
bảo hiểm của ngời yêu cầu bảo hiểm.
Thứ ba: quan hệ hợp đồng bảo hiểm đợc điều chỉnh bằng Luật chuyên ngành
(BLHàng hải ; Luật kinh doanh bảo hiểm và pháp luật hợp đồng khác.
Hợp đồng bảo hiểm đợc phân thành hợp đồng bảo hiểm hàng hải và hợp đồng bảo
hiểm phi hàng hải. Hợp đồng bảo hiểm hàng hải đợc điều chỉnh trớc hết bằng Bộ luật hàng
hải, nếu BLHH không quy định thì áp dụng luật kinh doanh bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm phi hàng hải đợc điều chỉnh bằng luật kinh doanh bảo hiểm, nếu
luật kinh doanh bảo hiểm không quy định thì áp dụng theo quy định của BLDS và pháp luật
khác có liên quan.
Thứ t, hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng song vụ, hợp đồng có điều kiện.
Hợp đồng bảo hiểm thuộc loại hợp đồng song vụ bởi các bên đều có quyền và
nghĩa vụ tơng ứng nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia. Hợp đồng bảo
13
hiểm là hợp đồng có điều kiện thể hiện ở chỗ: một bên phải trả trớc khoản phí bảo
hiểm, bên kia có nghĩa vụ trả tiền hoặc bồi thờng bảo hiểm cho bên kia chỉ khi có
sự kiện bảo hiểm. Vì vậy quyền và nghĩa vụ của các bên ký kết hợp đồng chỉ đợc
xác định một cách thực tế và đầy đủ khi có sự kiện bảo hiểm xẩy ra.
Thứ năm, Xét về tính đền bù, hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng lỡng tính.Trong hợp
đồng bảo hiểm một bên luôn có nghĩa vụ phải trả tiền, ng ời mua bảo hiểm phải trả phí bảo
hiểm thì mới đợc đảm bảo về quyền lợi bảo hiểm. Dù hợp đồng bảo hiểm đã đợc ký kết nhng
ngời tham gia cha nộp phí thì không phát sinh trách nhiệm bảo hiểm (trừ trờng hợp các bên
có thoả thuận khác trong hợp đồng). Trong một số hợp đồng khác bên tham gia có thể không
phải trả tiền mà vẫn đợc hởng quyền lợi của hợp đồng).
Tính đền bù mang tính lỡng tính vì: Chỉ trong trờng hợp cụ thể mới xác định đợc một
hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng có đền bù hay không (Tính đền bù khi có sự kiện bảo hiểm).
Trong một số loại hợp đồng cá biệt, nó luôn mang tính đền bù nh trong bảo hiểm nhân thọ
hỗn hợp (ngời mua bảo hiểm đợc trả tiền bảo hiểm trong cả khi không gặp rủi ro). Mặt khác
mức độ đền bù không xác định trớc (Giới hạn... )
Thứ sáu, hợp đồng bảo hiểm là loại hợp đồng có điều khoản mẫu (hợp đồng gia nhập).
Điều khoản mẫu của hợp đồng bảo hiểm là những điều khoản do DNBH soạn trớc theo mẫu,
Nếu ngời mua bảo hiểm chấp nhận giao kết hợp đồng thì coi chấp nhận tất cả những điều
khoản mẫu đó.
Hợp đồng bảo hiểm thờng đợc DNBH soạn thảo sẵn một số điều khoản (điều kiện
chung) Việc thoả thuận cụ thể liên quan chủ yếu tới một số chi tiết của các điều khoản thuộc
phần điều kiện riêng của hợp đồng nh: thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo
hiểm...là hợp đồng có điều khoản mẫu nếu có sự không rõ ràng trong các điều khoản thì
DNBH chịu bất lợi khi giải thích điều khoản trong giải quyết tranh chấp liên quan.
Việc DNBH ban hành điều khoản mẫu là một thông lệ đợc pháp luật nhiều nớc công
nhận bởi:
+ Do tính phức tạp của quan hệ hợp đồng bảo hiểm. để đánh giá đầy đủ rủi ro đối
với đối tợng bảo hiểm, bên tham gia bảo hiểm phải kê khai đầy đủ, chi tiết, trung thực các
thông tin về đối tợng bảo hiểm và vấn đề có liên quan. Bên tham gia bảo hiểm khó kê khai
nếu không có sự gợi ý, hớng dẫn của DNBH thông qua giấy yêu cầu bảo hiểm đợc DNBH soạn
thảo sẵn.
+ Tạo ra tính cân bằng cho các bên trong thơng lợng hợp đồng: Trong thơng lợng hợp
đồng bảo hiểm Bên bảo hiểm có u thế hơn bên mua bảo hiểm (kinh nghiệm và tính chuyên
nghiệp) Việc ban hành điều khoản mẫu công khai quyền và nghĩa vụ của các bên giúp khách
hàng hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình để đi đến quyết định tham gia hoặc không
tham gia
+ Giúp DNBH cung cấp dịch vụ có chất lợng, ổn định cho nhiều khách hàng.
DNBH không có điều kiện tiến hành thơng lợng trực tiếp với từng khách hàng trong từng hợp
đồng. DNBH SX ra sản phẩm bảo hiểm với cùng chất lợng để bán cho nhiều khách hàng đảm
bảo tính nhanh chóng, hiệu quả trong kinh doanh tiết kiệm chi phí và thời gian... Đồng thời
công khai sản phẩm bảo hiểm của riêng mình, tăng cờng năng lực cạnh tranh, hạn chế rủi ro
từ đại lý bảo hiểm và tạo điều kiện cho cơ quan chức năng giám sát việc thực hiện pháp luật
kinh doanh bảo hiểm.
Bên cạnh u điểm trên điều khoản mẫu của HĐBH có nhợc điểm là hạn chế nguyên tắc
tự do thoả thuận trong ký kết và thực hiện hợp đồng, làm giảm khả năng lựa chọn của bên
mua bảo hiểm. Ngoài ra, bí mật kinh doanh khó bảo đảm, sản phẩm bảo hiểm dễ bị bắt
chớc ...
Thứ bảy, Hợp đồng bảo hiểm là loại hợp đồng có chứa đựng tính chất may rủi: Nếu
không tồn tại rủi ro thì không có việc giao kết cũng nh tồn tại hiệu lực của hợp đồng bảo
hiểm.
2. Phân loại hợp đồng bảo hiểm.
- Căn cứ vào đối tợng bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm chia thành ba loại: bảo hiểm tài
sản, bảo hiểm con ngời, bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Đối tợng bảo hiểm là mục tiêu quan tâm của hoạt động bảo hiểm nó là nơi các rủi ro
bảo hiểm có thể xẩy ra kéo theo những tai nạn tổn thất (Những thực thể có thể bị rủi ro
xâm hại ).
- Căn cứ vào tính pháp lý (các quy định của pháp luật) hợp đồng bảo hiểm gồm
hợp đồng bảo hiểm tự nguyện và hợp đồng bảo hiểm bắt buộc.
14
Hợp đồng bảo hiểm tự nguyện, Đợc áp dụng phổ biến ở các nớc trên thế giới. Theo chế
độ bảo hiểm này việc giao kết hay không giao kết hợp đồng các bên có quyền tự do lựa
chọn, các bên có quyền thoả thuận về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm bắt buộc: là hợp đồng đợc thiết lập trên cơ sở pháp luật quy định.
Việc tham gia bảo hiểm và ký kết hợp đồng bảo hiểm là nghĩa vụ mà pháp luật quy định
đối với các pháp nhân, thể nhân có đối tợng bảo hiểm thuộc diện bảo hiểm bắt buộc.
Nghĩa vụ giao kết hợp đồng bảo hiểm bắt buộc còn đợc áp dụng đối với một số doanh
nghiệp bảo hiểm. Trong bảo hiểm bắt buộc pháp luật quy định điều kiện bảo hiểm, mức
phí bảo hiểm và các bên có nghĩa vụ phải chấp hành.
Trong đời sống xã hội, việc bảo hiểm đối với một số đối tợng không chỉ xử lý rủi ro cho
từng cá nhân, tổ chức mà còn liên quan đến lợi ích của cộng đồng, của Nhà n ớc. Thực tế đó
đặt ra một nhu cầu xã hội là bên cạnh chế độ bảo hiểm tự nguyện, Nhà n ớc cần duy trì chế
độ bảo hiểm bắt buộc.
Tại Điều 8 luật kinh doanh bảo hiểm quy định: Bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng đối với
một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội. Bảo hiểm
bắt buộc bao gồm:
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của
ngời vận chuyển hàng không đối với hành khách;
- Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động t vấn pháp luật;
- Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;
- Bảo hiểm cháy, nổ.
Căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ, Chính phủ trình ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định loại bảo hiểm bắt buộc khác.
3. Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm.
3.1 Bên bảo hiểm: là doanh nghiệp bảo hiểm, Để trở thành một bên chủ thể của hợp
đồng bảo hiểm thì bên bảo bảo hiểm phải có những điều kiện sau:
- Phải là doanh nghiệp bảo hiểm đợc thành lập và hoạt động theo Luật kinh doanh bảo
hiểm (đợc Bộ Tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động và giấy phép đó có hiệu lực
pháp lý).
- Hợp đồng bảo hiểm đợc ký kết phù hợp nội dung hoạt động đợc ghi trong giấy phép đợc cấp.
- Ngời đại diện ký kết hợp đồng bảo hiểm phải có đủ năng lực và thẩm quyền theo
quy định của pháp luật.
Phân biệt đại diện giao dịch và đại diện giao kết hợp đồng bảo hiểm.
Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp bảo hiểm ngoài việc ký kết hợp đồng bảo
hiểm với bên mua bảo hiểm, còn ký kết hợp đồng tái bảo hiểm, hợp đồng đại lý bảo hiểm, hợp
đồng môi giới bảo hiểm.
-Hợp đồng tái bảo hiểm: là sự thoả thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm với doanh
nghiệp bảo hiểm khác hoặc với doanh nghiệp chuyên kinh doanh tái bảo hiểm, Theo đó
doanh nghiệp bảo hiểm gốc chuyển nhợng một phần trách nhiệm đã nhận cho một hoặc
nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác tơng ứng với số phí tái bảo hiểm, bên nhận tái bảo hiểm
phải trả tiền bảo hiểm trong phạm vi trách nhiệm tơng ứng với số phí tái bảo hiểm đã nhận
khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Điều 27 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định: Doanh nghiệp chịu trách nhiệm duy nhất
đối với bên mua bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm, kể cả trong trờng hợp tái bảo hiểm những
trách nhiệm đã nhận bảo hiểm. Doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm không có quyền yêu cầu bên
mua bảo hiểm trực tiếp đóng phí bảo hiểm cho mình, Bên mua bảo hiểm không đợc yêu
cầu doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thờng cho mình, trừ trờng
hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.
Điều 9 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định: Trong trờng hợp tái bảo hiểm cho các
doanh nghiệp bảo hiểm nớc ngoài, doanh nghiệp bảo hiểm phải tái bảo hiểm một phần trách
nhiệm đã nhận bảo hiểm cho doanh nghiệp kinh doanh tái bảo hiểm trong nớc theo quy định
của chính phủ. Cụ thể Doanh nghiệp bảo hiểm phải tái bảo hiểm theo tỷ lệ 20% trách nhiệm
của các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết cho công ty tái bảo hiểm quốc gia việt nam. Việc
giảm tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc phù hợp với các điều ớc quốc tế mà Việt nam đã ký kết hoặc
tham gia.
- Hợp đồng đại lý bảo hiểm: là sự thoả thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm với bên đại
lý, theo đó bên đại lý theo sự uỷ quyền và nhân danh doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện một
số công việc mà doanh nghiệp bảo hiểm giao, còn doanh nghiệp bảo hiểm trả một khoản
tiền tơng ứng với công việc giao cho bên đại lý.
15
Trong trờng hợp bên đại lý bảo hiểm vi phạm hợp đồng đại lý bảo hiểm gây
thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngời đợc bảo hiểm thì doanh nghiệp
bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm về hợp đồng bảo hiểm do đại lý bảo hiểm thu
xếp giao kết; đại lý bảo hiểm có trách nhiệm bồi hoàn cho doanh nghiệp bảo hiểm
các khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm.
Hợp đồng môi giới bảo hiểm: Là sự thoả thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm với doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm, theo đó doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thực hiện một số công
việc để nhằm thiết lập quan hệ bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và ngơì tham gia
bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm trả một khoản tiền tơng ứng với công việc mà bên môi giới
thực hiện. Bên môi giới có thể vừa đợc nhận tiền hoa hồng cả từ phía doanh nghiệp bảo hiểm
và ngời tham gia.
Mặc dù doanh nghiệp bảo hiểm có tham gia các loại hợp đồng khác nh ng trong quan hệ
hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm là ngời duy nhất chịu trách nhiệm đối với ngời
đợc bảo hiểm.
3.2. Bên mua bảo hiểm
Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp
bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là ng ời đợc bảo hiểm
hoặc ngời thụ hởng.
Để trở thành một bên chủ thể của hợp đồng bảo hiểm thì tổ chức, cá nhân phải có đủ
năng lực hành vi dân sự và phải thoả mãn các điều kiện đợc quy định trong từng chế độ
bảo hiểm cụ thể. Bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể đợc bảo hiểm.
Quyền lợi có thể đợc bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng,
quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dỡng, cấp dỡng đối với đối tợng đợc bảo hiểm.
3.3.Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng bảo hiểm.
* Quyền và nghĩa vụ của bên bảo hiểm ( doanh nghiệp bảo hiểm).
-Phải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm về điều khoản loại trừ trách nhiệm trớc khi ký
kết hợp đồng; Giải thích cho bên mua các điều khoản của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của
bên mua bảo hiểm. Trong trờng hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì
điều khoản đó sẽ đợc giải thích có lợi cho ngời đợc bảo hiểm hay ngời thụ hởng quyền lợi bảo
hiểm.
- Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhân bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau khi
ký kết hợp đồng bảo hiểm;
- Bồi thờng hoặc trả tiền bảo hiểm cho ngời đợc bảo hiểm hay ngời thụ hởng khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm;
-Giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tìền bảo hiểm hoặc từ chối bồi thờng;
-Phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của ngời thứ ba đòi bồi thờng
bảo hiểm về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
-Có quyền thu phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng
bảo hiểm;
-Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ trung thực thông tin liên quan đến việc
giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm;
-Đợc quyền đơn phơng đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm trong trờng hợp đợc pháp
luật quy định2 nh: Bên mua bảo hiểm cung cấp thông tin sai sự thật nhằm hởng lợi; Không
thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm trong trờng hợp làm tăng
rủi ro hoặc phát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm; Khi thay đổi dẫn đến
tăng các rủi ro thì doanh nghiệp có quyền tăng phí nếu bên mua bảo hiểm không chấp nhận.
Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phơng đình chỉ thực hiện hợp đồng và thông báo
ngay bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm hoặc sau 60 ngày kể từ ngày ra hạn bên mua bảo
hiểm không đóng phí hoặc
Ngời đợc bảo hiểm không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho đối tợng bảo
hiểm sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã yêu cầu.
-Từ chối trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng hoặc từ chối bồi thờng cho ngời đợc bảo
hiểm trong trờng hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trong trờng hợp loại trừ
trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
-Yêu cầu bên mua bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định
của pháp luật;
2
( Khoản 2 điều 19; khoản 2 điều 20; khoản 2 điều 35; khoản 3 điều 50 )
16
-Yêu cầu ngời thứ ba bồi hoàn số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm do ngời thứ ba gây ra đối với tài sản và trách nhiệm dân sự;
* Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm
- Nộp phí bảo hiểm đầy đủ đúng hạn theo phơng thức mà các bên đã thoả thuận trong
hợp đồng; Đây là một nghĩa vụ cơ bản và là điều kiện quyết định hiệu lực của bảo hiểm.
-Kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu
cầu của doanh nghiệp bảo hiểm.
Việc ngời tham gia bảo hiểm thực hiện đúng nghĩa vụ này là cơ sở để DNBH đánh giá
rủi ro, xem xét để chấp nhận hoặc không chấp nhận bảo hiểm và thoả thuận cụ thể một số
điều khoản của hợp đồng. Pl xác định rõ hậu quả pháp lý nếu ng ời tham gia không thực hiện
đúng nghĩa vụ này đó là sự vô hiệu của hợp đồng; doanh nghiệp bảo hiểm đơn phơng
đình chỉ thực hiện hợp đồng; Giảm số tiền bồi thờng, trả tiền bảo hiểm theo tỷ lệ thậm
chí không bồi thờng, không trả tiền bảo hiểm.
-Thông báo những trờng hợp có thể làm tăng rủi ro, hoặc phát sinh thêm trách nhiệm của
doanh nghiệp bảo hiểm; (Acó xe ô tô đi làm nay chuyển sang dùng vận tải taxi). Đây là việc
làm cần thiết đảm bảo lợi ích hợp lý cho cả hai bên. PLKDBH nhiều quốc gia rất coi trọng
nghĩa vụ này và quy định rõ hậu quả pháp lý nếu bên tham gia bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ
này
-Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm trong 2 ngày
đối với trộm cắp và 5 ngày đối với các hợp đồng khác, trừ trờng hợp có lý do chính đáng mà
ngời mua bảo hiểm không thực hiện đợc nghĩa vụ này.
Bên đợc bảo hiểm phải thông báo kịp thời, chính xác, trung thực về nguyên nhân và
mức độ tổn thất sẽ liên quan trực tiếp tới quyền lợi về bồi thờng hoặc trả tiền bảo hiểm.
-áp dụng các biện pháp phòng ngừa và hạn chế tổn thất khi có rủi ro xảy ra theo quy
định của pháp luật;
Khi đánh giá rủi ro để giao kết hợp đồng DNBH có thể thông báo cho bên đ ợc bảo
hiểm những việc làm cần thiết để bảo vệ đối tợng bảo hiểm. Trong một số trờng hợp việc
thực hiện nghĩa vụ này là điều kiện cho việc xác lập hợp đồng mà bên đợc bảo hiểm phải
thực hiện nếu muốn tham gia. Những trờng hợp khác đề xuất của DNBH sẽ liên quan đến
việc điều chỉnh phạm vi bảo hiểm, phí bảo hiểm.
Nếu vi phạm các nghĩa vụ nêu trên tuỳ theo tính chất mức độ vi phạm doanh
nghiệp bảo hiểm có thể đơn phơng đình chỉ hợp đồng bảo hiểm hoặc giảm trừ
số tiền bồi thừơng hoặc số tiền bảo hiểm mà ngời đợc bảo hiểm nhận đợc bị giảm
tơng ứng với mức độ lỗi của ngời đó.
-Có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bồi thờng hoặc tiền bảo
hiểm khi có sự kiện bảo hiểm thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm, có tổn thất
thiệt hại xảy ra.
4. Nội dung của hợp đồng bảo hiểm.
Nội dung của hợp đồng bảo hiểm là tổng thể các điều khoản do các bên thoả thuận
làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ cụ thể giũa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng bảo
hiểm. bao gồm các điều khoản sau:
Điều khoản chủ yếu: là các điều khoản phải có trong hợp đồng, có nó hợp đồng mới
phát sinh hiệu lực. Tuỳ thuộc vào từng loại hợp đồng cụ thể mà ngời ta xác định loại điều
khoản nào đợc coi là điều khoản chủ yếu.
Trong các loại hợp đồng bảo hiểm thông thờng những điều khoản sau đây đợc coi là
những điều khoản chủ yếu:
-Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm
hoặc ngời đợc thụ hởng quyền lợi bảo hiển
-Đối tợng bảo hiểm: có thể là tài sản, TNDS, tính mạng, sức khoẻ, khả năng lao động,
tuổi thọ con ngời... đối tợng bảo hiểm đợc xác định cụ thể trong từng hợp đồng bảo hiểm.
Việc xác định rõ đối tợng bảo hiểm sẽ quyết định đến việc vận dụng các nguyên tắc, biện
pháp ký thuật nghiệp vụ thích hợp trong soạn thảo, thoả thuận và quản lý hợp đồng bảo hiểm.
-Số tiền bảo hiểm ; Giá trị tài sản đợc bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản; (điều
khoản xác định giới hạn trách nhiệm bảo hiểm trong bồi thờng hoặc trả tiền bồi thờng hoặc
trả tiền bảo hiểm).
Bồi thờng chỉ việc bên bảo hiểm thực hiện cam kết đền bù cho ngời đợc bảo hiểm
những thiệt hại vật chất xảy ra trong sự kiện bảo hiểm một phần hoặc toàn bộ. Nó sử dụng
chủ yếu trong bảo hiểm tài sản, BH TNDS; Trả tiền bảo hiểm sử dụng trong bảo hiểm con ngời nó mang ý nghĩa bên bảo hiểm trả một khoản tiền nhất định theo thoả thuận trong hợp
17
đồng bảo hiểm. Chúng tơng đồng ở điểm đều là việc thực hiện cam kết của DNBH khi có
sự kiện bảo hiểm xảy ra. Tuy nhiên chúng có ý nghĩa riêng biệt.
Bồi thờng có mục tiêu là khôi phục tình trạng tài chính của ngời đợc bảo hiểm, tối đa
bằng trạng thái trớc khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Bồi thờng có thể thực hiện bằng tiền hoặc
DNBH trực tiếp thay thế, sửa chữa đối tợng bảo hiểm, bồi thờng không tạo ra cơ hội kiếm lời
cho bên đợc bảo hiểm.
Trả tiền trong bảo hiểm nhân thọ còn cả yếu tố sinh lợi số phí bảo hiểm nộp trớc của
bên mua bảo hiểm và nó đợc chi trả trong nhiều sự kiện bảo hiểm không hề phát sinh thiệt
hại (BH sinh kỳ). Một số sự kiện bảo hiểm con ngời có phát sinh thiệt hại thì khoản tiền trả
bảo hiểm có thể vẫn không mang tính bồi thờng.
Hầu hết hợp đồng bảo hiểm phải xác định rõ giới hạn trách nhiệm của bảo hiểm. Số
tiền tối đa mà ngời bảo hiểm có thể phải trả trong một sự kiện bảo hiểm hoặc trong cả một
thời hạn bảo hiểm.
BH TS: Các thức xác định giới hạn trách nhiệm bảo hiểm phụ thuộc trớc hết vào loại đối
tợng bảo hiểm. Việc thoả thuận về số tiền bảo hiểm phải căn cứ vào nhiều yếu tố mà trớc hết
là giá trị của tài sản bảo hiểm ( giá trị này tính theo giá thị tr ờng hoặc bằng phơng pháp ớc
lợng đối với các loại đối tợng đặc biệt nh công trình xây dựng, vật nuôi, sản lợng thu hoạch
cây trồng, lợi nhuận trong gián đoạn kinh doanh).
BHTNDS giới hạn đợc xác định bằng các mức trách nhiệm. DNBH căn cứ vào việc đánh
giá, ớc lợng về mức độ tổn thất, chi phí, hậu quả có thể phát sinh của sự kiện bảo hiểm, năng
lực tài chính của bản thân doanh nghiệp, khả năng trả phí của lợng khách hàng tiềm năng
gắn với từng nghiệp vụ bảo hiểm để đa ra các mức trách nhiệm cho bên mua bảo hiểm lựa
chọn. Giới hạn trách nhiệm thờng đợc phân biệt đối với thiệt hại về ngời và thiệt hại về tài sản
của ngời thứ ba ( nạn nhân). Đối với thiệt hại về ngời mức trách nhiệm đợc tính cho mỗi ngời/ 1
sự cố và có thể kèm theo tổng mức trách nhiệm / 1sự cố. Đối với thiệt hại về tài sản, mức trách
nhiệm thờng đợc tính cho mỗi cũng nh mọi thiệt hại về tài sản của một cũng nh nhiều ngời
thứ ba trong một sự cố.
Trờng hợp bảo hiểm cho những trách nhiệm dân sự nh trách nhiệm sản phẩm, bệnh
tật, ô nhiễm... trách nhiệm bảo hiểm của ngời đợc bảo hiểm cho ngời thứ ba có thể kéo dài
trong nhiều năm. Việc xác định tổng mức trách nhiệm bảo hiểm cho cả thời hạn bảo hiểm
là một biện pháp cần thiết để ổn định trách nhiệm thanh toán của DNBH.
Trong bảo hiểm con ngời giới hạn trả tiền bảo hiểm đợc biểu thị bằng số tiền bảo hiểm
hoặc mức trách nhiệm (tính cho mỗi một sự cố hoặc cho cả thời hạn bảo hiểm) hoặc khoản
tiền trả bảo hiểm định kỳ niên kim nhân thọ. DNBH đa ra nhiều mức giới hạn trả tiền
thích hợp để đáp ứng yêu cầu ngăn ngừa rủi ro đạo đức và bên mua bảo hiểm tuỳ thuộc vào
nhu cầu an toàn, khả năng trả phí của mình để lựa chọn.
-Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm, các điều
khoản loại trừ;
Đây là những điều khoản cơ bản của hợp đồng. Bởi vì, xuất phát từ thực tế có nhiều
loại rủi ro tổn thất chi phí có thể ảnh hởng đến sự an toàn của đối tợng bảo hiểm nhng yêu
cầu về kỹ thuật và pháp lý chỉ cho phép các nhà bảo hiểm đợc nhận bảo hiểm đối với một số
rủi ro nhất định. Rủi ro đợc bảo hiểm đợc xác định dựa trên sự đánh giá về mức độ rủi ro,
nguyên nhân rủi ro và các nhân tố ảnh hởng.
Mức độ rủi ro cao hay thấp đợc định lợng bằng xác suất rủi ro và mức độ nghiêm trọng
của hậu quả. Xác suất rủi ro trong từng tình huống đợc tính toán cụ thể nhờ luật số lớn.. Về
cơ bản có thể phân chia thành 3 loại biến cố chắc chắn, biến cố có thể xảy ra và biến cố
ngẫu nhiên.
Mức độ nghiêm trọng của hậu quả trong từng tình huống cụ thể phụ thuộc nhiều yếu
tố nh: Đặc tính của loại rủi ro, giá trị của đối tơng chịu sự tác động...
Về nguyên nhân có rủi ro có nguồn gốc khách quan từ thiên nhiên, hoặc gắn hoạt
động xã hội loài ngời( khủng hoảng, chiến tranh) Những rủi ro từ hoạt động, hành động cố ý
hoặc vô ý của con ngời(tai nạn giao thông, trộm cắp, cháy..) có trờng hợp rủi ro xảy ra là một
tổ hợp các nguyên nhân khách quan, chủ quan, cố ý và không cố ý.
Quan hệ nhân quả giữa nguyên nhân và hậu quả rủi ro trong từng trờng hợp bị chi
phối bởi nhân tố ảnh hởng khác. Nh nguy cơ vật chất, và nguy cơ tinh thần.
Nguy cơ vật chất ảnh hởng tới rủi ro là vị trí địa điểm của công trình xây dựng đối
với rủi ro động đất, lũ lụt; tình trạng thiết bị phòng cháy, chữa cháy đối với rủi ro cháy..
Nguy cơ tinh thần là những trạng thái tinh thần của con ngời có thể ảnh hởng đến mức
dộ rủi ro thờng liên quan đến thái độ cách c xử của bên đợc bảo hiểm nh sự lơ là trong bảo
18
vệ đối tợng bảo hiểm; tâm lý ỷ lại vào sự bảo đảm của ngời đợc bảo hiểm; hành vi gian lận,
ý đồ trục lợi sẽ làm tăng mức độ rủi ro lên gấp bội.
Rủi ro có thể đợc bảo hiểm thờng xem xét căn cứ vào một số tiêu chí sau:
Một là, Rủi ro đợc bảo hiểm phải là biến cố ngẫu nhiên: rủi ro xảy ra và hậu quả không
phụ thuộc vào mong muốn của bên tham gia. Tính ngẫu nhiên liên quan đến tới sự không
chắc chắn về khả năng xảy ra và thời điểm xảy ra. ( BH nhân thọ trọn đời cho sự kiện chết
của ngời đợc bảo hiểm - cái chết là chắc chắn nhng thời điểm chất không xác định đợc)
Hoặc trờng hợp tự tử không là ngẫu nhiên nhng vẫn có thể đợc bảo hiểm khi hợp đồng bảo
hiểm có hiệu lực trong khoảng thời gian trên 2 năm). điều này xuất phát từ đặc tính của
BHNT không chỉ chuyển giao RR đơn thuần mà còn đáp ứng nhu cầu khác nh tích luỹ tài
chính, đầu t của ngời tham gia bảo hiểm.
Đối với những rủi ro do chính hành động của bên đợc bảo hiểm cần đợc phân biệt dạng
cố ý hay vô ý. Nếu là cố ý thì rủi ro không còn là ngẫu nhiên nên không đựơc bảo hiểm. Nếu
không cố ý, không mong muốn nhng kèm theo yếu tố mắc lỗi nặng và có đủ khả năng nhận
thức đợc tính chất nguy hiểm trong hành động gây nên thì cũng không thể bảo hiểm đợc.
Những biến cố có hậu quả hàng loạt trên phạm vi rộng ( chiến tranh, khủng hoảng
chính trị ..) những rủi ro dễ bị chi phối bởi nguy cơ tinh thần (rủi ro thua lỗ trong kinh doanh
là rủi ro phụ thuộc lớn vào sự cố gắng chủ quan của ngời đợc bảo hiểm) nên rất hiếm khi đợc
bảo hiểm.
Hai là, lợng hoá đợc về mặt tài chính: Nhà bảo hiểm chỉ bảo hiểm cho những trờng
hợp , những hậu quả lợng hoá về mặt tài chính. Việc lợng hoá này đợc thực hiện một cách trực
tiếp hoặc tơng đối thông qua quy định chủ quan của con ngời ( rủi ro ô nhiễm hoặc thiệt
hại về mặt tinh thần của con ngời trong tai nạn).
Ba là, không trái pháp luật và lợi ích công cộng. PL không cho phép một ngời tránh đợc
trách nhiệm hình sự bằng cách mua bảo hiểm hoặc không cho phép bảo hiểm tử vong đối
với ngời mắc bện tâm thần. Bảo hiểm cho một lô hàng lậu, bảo hiểm cho công trình xây
dựng trái pháp luật.
Hai loại điều khoản này xác định rõ những trờng hợp nào bên bảo hiểm phải chịu
trách nhiệm (phạm vi bảo hiểm) không phải chịu trách nhiệm (loại trừ) trớc những hậu quả bất
lợi xảy ra cho đối tợng bảo hiểm. Các trờng hợp đó đợc mô tả dới dạng các loại rủi ro, sự kiện, sự
cố ( Đâm va, mất tích, cớp biển, trộm cắp, lây bẩn, lây hại). Hơn nữa, phạm vi bảo hiểm,
loại trừ bảo hiểm còn có thể cụ thể theo loại nguyên nhân của sự kiện, loại hậu quả của sự
kiện (loại tổn thất, thiệt hại , chi phí phát sinh) và sự giới hạn về không gian, địa bàn lãnh thổ
cần thiết trong một số loại nghiệp vụ bảo hiểm (BH hàng không, BH trách nhiệm sản phẩm)
Loại trừ có thể loại trừ tuyệt đối (không bao giờ nhận BH) hoặc loại trừ tơng đối có thể
đợc bảo hiểm trong những trờng hợp đặc biệt đó là sự linh hoạt cần thiết trong thiết kế sản
phẩm bảo hiểm nhằm đáp ứng các nhu cầu bảo hiểm đa dạng của xã hội. Việc xác định
phạm vi bảo hiểm rộng hay hẹp loại trừ ít hay nhiều còn phụ thuộc vào nhiều vấn đề khác
mà ngời bảo hiểm cần phải xem xét khi thiết kế sản phẩm bảo hiểm nh sự đánh giá về nhu
cầu bảo hiểm, khả năng trả phí bảo hiểm của số khách hàng tiềm năng; yêu cầu quả lý rủi ro
và yếu tố cạnh tranh của sản phẩm bảo hiểm. Hơn nữa, hai loại điều khoản này còn phải đ ợc thiết kế trong sự tơng quan hợp lý với các điều khoản khác của hợp đồng.
-Thời gian bảo hiểm, thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm.
Thông thờng trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm phát sinh khi bên mua
bảo hiểm nộp phí, nhng cũng có thể phát sinh trách bảo hiểm vào thời điểm do các bên thoả
thuận hoặc do pháp luật quy định.
Thời hạn bảo hiểm đợc xác định bằng điều khoản quy định thời điểm bắt đầu và
thời điểm kết thúc hiệu lực bảo hiểm thông thờng đợc xác định theo mốc thời gian chính
xác theo ngày giờ tháng năm. Một số loại nghiệp vụ BH việc xác định thời điểm cần có sự
kết hợp mốc thời gian và mốc sự kiện từ kho đến kho. Ngoài ra trong một số tr ờng hợp quy
định về mặt thời gian là linh hoạt chẳng hạn bảo hiểm công trình xây dựng thời hạn bảo
hiểm là từ khi khởi công công trình đến khi bàn giao đa vào sử dụng. Trong bảo hiểm con
ngời thời điểm bắt đầu và kết thúc cũng có quy định riêng ( bệnh tật, thai sản, tự tử,
chết ) quy định về thời gian chờ và cả về trách nhiệm trả tiền khi sự kiện chết do rủi ro phát
sinh trong thời hạn bảo hiểm nhng lại xảy ra sau khi kết thúc thời hạn đó.
-Mức phí bảo hiểm, phơng thức nộp phí bảo hiểm;
Về cơ bản phí bảo hiểm đợc hợp thành từ các cấu phần chủ yếu sau:
- Phí thuần: khoản tiền thu tơng ứng với dự tính về trách nhiệm bồi thờng, trả tiền bảo
hiểm. Công thức tính phí thuần trong bảo hiểm thiệt hại P = F x C
F ( tần suất tổn thất) = số lợng tổn thất/ số lợng đơn vị rủi ro
19
C thiệt hại trung bình/ 1tổn thất = Tổng số thiệt hại/ số lợng tổn thất.
Trong bảo hiểm nhân thọ bên cạnh yếu trên, lãi suất kỹ thuật sử dụng khi xây dựng
biểu phí cũng là một yếu tố quan trọng trong định mức phí bảo hiểm.
- Chi phí ký kết hợp đồng và chi phí quản lý khác
- Thuế gián thu ( nếu có)
Thông thờng phí bảo hiểm có thể định bằng số tiền nhất định hoặc bằng tỷ lệ % cố
định đợc thoả thuận khi giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, đối với bảo hiểm tơng hỗ phí bảo
hiểm đợc điều chỉnh theo tình hình khoản chi (chi bồi thờng, chi quản lý...) thực tế phát
sinh trong năm nghiệp vụ của tổ chức bảo hiểm.
Bên cạnh việc quy định mức phí hợp đồng còn quy định về kỳ hạn nộp phí, thời hạn
gia hạn nộp phí, phơng thc nộp phí và các quy định về các trờng hợp đặc biệt nh quy định
tăng mức phí khi đối tợng bảo hiểm có mức độ rủi ro lớn hoặc điều chỉnh mức phí đối với
những đối tợng bảo hiểm có thay đổi trong thời hạn bảo hiểm nh hàng hoá trong kho, tiền
gửi tị tổ chức tín dụng...)
-Phơng thức thanh toán tiền bảo hiểm, bồi thờng bảo hiểm;
Trong nhiều nghiệp vụ bảo hiểm DNBH thờng đa ra các quy định về việc áp dụng
mức miễn thờng. Có thể bằng một số tiền nhất định /1 sự cố hoặc theo tỷ lệ % nhất định
của giá tổn thất. Việc quy định mức miễn thờng chi phối trực tiếp việc tính số tiền trả bảo
hiểm. có trờng hợp miễn thờng có khấu trừ vào số tiền bồi thờng có trờng hợp miễn thờng
không không khấu trừ ( thiệt hại nhỏ hơn hoặc bằng mức miễn thờng thì không không bồi thờng còn lớn hơn mức đó thì bồi thờng không khấu trừ. Mức miễn thờng có thể quy định bắt
buộc hoặc để bên mua tuỳ ý lựa chọn.
Mức miễn thờng đa vào hợp đồng xuất phát từ mục đích khác nhau: có thể để loại bỏ
tổn thất dạng hao hụt tự nhiên, thơng mại khỏi trách nhiệm bảo hiểm hoặc để tránh bỏ ra
các chi phí về giám định, thu thập hồ sơ thủ tục thanh toán không mang lại hiệu quả kinh tế
đối với những tổn thất nhỏ. Đặc biệt sẽ đáp ứng đợc nhu cầu tự gánh chịu một phần tổn
thất để giảm phí bảo hiểm, đồng thời là một biện pháp góp phần ngăn ngừa rủi ro đạo đức,
giảm thiểu nguy cơ tinh thần trong kinh doanh bảo hiểm.
- Bồi thờng, trả tiền theo tỷ lệ: có nhiều loại tỷ lệ chi phối cách tính số tiền bồi th ờng
BH
+ Tỷ lệ số tiền bảo hiểm/ Giá trị bảo hiểm. (BH dới giá trị)
+ Tỷ lệ bôì thờng cụ thể nếu khách hàng chấp nhận thì ký hợp đồng đối với tất cả
các tổn thất xảy ra ngời đợc bảo hiểm chỉ đợc bồi thờng một phần thiệt hại theo tỷ lệ thoả
thuận đó. Lý do bắt nguồn từ chủ ý muốn tác động đến ý thức trách nhiệm của bên đ ợc bảo
hiểm trong việc bảo vệ an toàn đối tợng bảo hiểm và hạn chế tổn thất ngay từ khi ký hợp
đồng. Đó là biện pháp cần thiết với một số nghiệp vụ bảo hiểm nh: BH tín dụng XK, Tín dụng
thơng mại, bảo hiểm tiền gửi, bảo hiểm vật nuôi cây trồng- những loại bảo hiểm có tính
phức tạp trong quản lý rủi ro và dễ bị chi phối bởi nguy cơ tinh thần.
+ tỷ lệ theo phí bảo hiểm: số tiền bồi thờng bảo hiểm hoặc trả tiền bảo hiểm bị
giảm đi bởi tỷ lệ:
số phí bảo hiệm đã nộp
số phí bảo hiểm lẽ ra phải nộp.
Cách xác định này thờng áp dụng khi có sự nhầm lẫn sai sót trong cung cấp thông tin
và thông báo rủi ro thay đổi của bên mua bảo hiểm. Chẳng hạn, sự nhầm lẫn tuổi của ngời
đợc bảo hiểm khi tham gia bao hiểm nhân thọ dẫn đến việc định mức phí trong hợp đồng
thấp hơn mức phí tơng ứng với độ tuổi đúng của ngời đợc bảo hiểm, bởi vậy DNBH phải
giảm số tiền trả bảo hiểm nếu nh không muốn áp dụng biện pháp khác.
-Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và việc giải quyết tranh chấp;
-Ngày tháng năm ký kết hợp đồng ;
Điều khoản thờng lệ :là những điều khoản thể hiện một số quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể trong quan hệ hợp đồng đẫ đợc pháp luật quy định. Chẳng hạn điều khoản thời
hạn trả tiền bảo hiểm hay vấn đề chậm trả tiền bảo hiểm. ..
Điều khoản tuỳ nghi :Là các điều khoản mà các bên tự thoả thuận không trái với các quy
định của pháp luật.
5. Hình thức và cách thức ký kết hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm có thể là hợp đồng kinh tế, có thể là hợp đồng dân sự,
nhng bao giờ cũng phải đợc thể hiện bằng văn bản. Đơn bảo hiểm, giấy chứng nhận
bảo hiểm là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm
cấp khi thiết lập quan hệ hợp đồng.
Đơn bảo hiểm có nội dung tơng tự bản thảo hợp đồng gồm các điều khoản chủ yếu.
Đơn bảo hiểm có ghi tên một hoặc nhiều ngời đợc bảo hiểm, tên ngời sở hữu đơn bảo hiểm.
20
Đơn bảo hiểm có thể đợc chuyển nhợng, chuyển giao theo các điều kiện ghi trong đơn, Khi
đơn bảo hiểm đợc bên bảo hiểm chấp nhận, ngời tham gia bảo hiểm đóng phí thì cam kết
bảo hiểm phát sinh hiệu lực.
Giấy chứng nhận bảo hiểm là một loại chứng chỉ pháp lý do doanh nghiệp bảo hiểm
cấp cho ngời đợc bảo hiểm, xác nhận hợp đồng bảo hiểm đã đợc giao kết, đơn bảo hiểm đã
đợc doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận. Thông thờng giấy chứng nhận bảo hiểm đợc cấp để
sử dụng trong trờng hợp có nhiều ngời tham gia bảo hiểm hoặc ngời sở hữu giấy chứng nhận
bảo hiểm tham gia nhiều chế độ bảo hiểm khác có liên quan hoặc hợp đồng bảo hiểm đ ợc
ký kết theo chế độ bảo hiểm bắt buộc.
* Về cách thức ký kết hợp đồng bảo hiểm :
Tuỳ thuộc vào từng loại hình bảo hiểm mà các bên sẽ thoả thuận hoặc pháp luật quy
định cách thức ký kết hợp đồng bảo hiểm. Hiện nay hợp đồng bảo hiểm đợc ký kết bằng các
cách thức nh: Các bên trực tiếp gặp nhau để thoả thuận về các điều khoản của hợp đồng
bảo hiểm và cùng ký vào văn bản hợp đồng. Hoặc ngời tham gia bảo hiểm gửi văn bản đề
nghị giao kết hợp đồng và hồ sơ có liên quan đến việc ký hợp đồng, trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận đợc yều cầu doanh nghiệp bảo hiểm phải trả lời là chấp nhận hay không
chấp nhận đề nghị đó. Nếu quá thời hạn trên mà doanh nghiệp bảo hiểm không có văn bản
từ chối bảo hiểm thì coi nh đề nghị bảo hiểm đợc chấp nhận. Hoặc hợp đồng bảo hiểm đợc coi là ký kết và phát sinh hiệu lực khi ngời đợc bảo hiểm thực hiện một hành vi giao kết
một hợp đồng khác có liên quan. Ví dụ hành khách mua vé máy bay, tàu hoả, ôtô trong giá vé
có tính phí bảo hiểm.
6. Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm..
Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực kể từ thời điểm ký kết nếu các bên không có
thoả thuận khác khi nó thoả mãn những điều kiện mà pháp luật quy định về hiệu
lực của một giao dịch hợp đồng nói chung nh :T cách chủ thể, nội dung của hợp
đồng; sự tự do ý trí của các bên. ..
Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khi hợp đồng
bảo hiểm đã đợc giao kết hoặc khi bằng chứng doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận bảo
hiểm và bên mua đã nộp phí. Ngoài ra, đối với một số trờng hợp còn phải sau một thời gian
chờ do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định.
Hợp đồng bảo hiểm đợc coi là vô hiệu khi xảy ra một trong các trờng hợp sau:
-Vào thời điểm giao kết hợp đồng, bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể đợc
bảo hiểm;
-Tại thời điểm giao kết hợp đồng, đối tợng bảo hiểm không còn tồn tại;
-Tại thời điểm giao kết bảo hiểm bên mua bảo hiểm đã biết sự kiện bảo hiểm đã xảy
ra;
-Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng
bảo hiểm;
-Doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh bảo hiểm không có giấy phép, bị thu hồi giấy
phép hoặc kinh doanh không đúng nội dung ghi trong giấy phép;
-Hợp đồng bảo hiểm thiếu một trong những điều khoản chủ yếu của hợp đồng đợc pháp
luật quy định;
-Hợp đồng bảo hiểm đợc giao kết trái với quy định của pháp luật và trật tự công cộng;
Việc xử lý hợp đồng vô hiệu đợc thực hiện theo các quy định có liên quan của bộ luật
dân sự.
Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt hiệu lực trong các trờng hợp sau:
- Nếu sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có
thể đợc bảo hiểm (đối tợng bảo hiểm không còn tồn tại trên thực tế do gặp rủi ro loại trừ
hoặc không thể bị rủi ro.) Trờng hợp này doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn phí bảo hiểm
cho bên mua tơng ứng với thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm đã
đóng phí, sau khi trừ các chi phí cần thiết và hợp lý có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm.
-Bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo
thời hạn thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trờng hợp các bên có thoả thuận khác; Trong
trờng hợp này bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng đủ phí đến thời điểm chấm dứt hợp đồng
bảo hiểm, quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm con ngời.
- Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm trong thời gian gia hạn đóng phí
bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Trờng hợp này doanh nghiệp bảo hiểm
vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra
trong thời gian gia hạn đóng phí; bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng phí bảo hiểm cho đến
21
hết thời gian gia hạn theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. quy định này không áp dụng
đối với hợp đồng bảo hiểm con ngời;
- Các trờng hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm khác theo thoả thuận của các bên hoặc
theo quy định trong Bộ luật dân sự, hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm
trong trờng hợp này đợc thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác
của pháp luật có liên quan;
Một số vấn đề đặt ra: Sự kiện bảo hiểm đã xảy ra DNBH đã hoàn thành toàn bộ cam
kết bồi thờng hoặc trả tiền bảo hiểm.
Trờng hợp chuyển giao hợp đồng bên mua bảo hiểm không chấp nhận việc chuyển
giao.
Trong bảo hiểm nhân thọ bên mua bảo hiểm chấm dứt hợp đồng vào bất kỳ thời điểm
nào mà không cần phải viện lý do.
Nhìn chung nếu việc chấm dứt hợp đồng không phải do dụng ý xấu của bên đợc bảo
hiểm phần phí bảo hiểm tơng ứng với thời gian còn lại sẽ đợc hoàn lại sau khi trừ chi phí hợp lý
có liên quan. Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đó chính là giá trị giải ớc ( gắn với mục
đích tiết kiệm, tích luỹ tài chính của bên mua bảo hiểm.
Việc thông báo chấm dứt hợp đồng bảo hiểm đợc thực hiện bằng văn bản nhằm bảo vệ
lợi ích cho các bên và hạn chế tác động bất lợi của việc chấm dứt giữa chừng của HĐBH.
7. Các quy định khác có liên quan đến ký kết và thực hiện hợp đồng bảo
hiểm.
Thứ nhất, việc chuyển nhợng và chuyển giao hợp đồng bảo hiểm:
Các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm có thể thoả thuận chuyển nhợng hoặc chuyển
giao hợp đồng theo các điều khoản của hợp đồng hoặc các quy định của pháp luật.
Chuyển nhợng hợp đồng bảo hiểm ( là việc thay đổi bên tham gia bảo hiểm) bên mua
chuyển nhợng hợp đồng bảo hiểm cho ngời khác theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Việc chuyển nhợng hợp đồng chỉ có hiệu lực khi bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản
về việc chuyển nhợng cho doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản
chấp nhận việc đó. Trừ trờng hợp việc chuyển nhợng đợc thực hiện theo tập quán quốc tế.
Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm có nghĩa là (chuyển giao hợp đồng bảo hiểm đã ký
kết giữa các doanh nghiệp bảo hiểm với nhau) thay đổi chủ thể nhận bảo hiểm (doanh
nghiệp nhận bảo hiểm) Pháp luật quy định:
Việc chuyển giao toàn bộ hợp đồng bảo hiểm của một hoặc một số nghiệp vụ bảo
hiểm giữa các doanh nghiệp bảo hiểm đợc thực hiện trong những trờng hợp nh: Doanh
nghiệp bảo hiểm có nguy cơ mất khả năng thanh toán; Doanh nghiệp bảo hiểm chia tách, hợp
nhất, sáp nhập, giải thể; Theo sự thoả thuận giữa các doanh nghiệp bảo hiểm ;
Trờng hợp mà doanh nghiệp bảo hiểm có nguy cơ mất khả năng thanh toán, giải thể mà
không thoả thuận đợc việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác
thì bộ tài chính chỉ định doanh nghiệp bảo hiểm nhận chuyển giao;
Việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm đợc thực hiện theo các điều kiện sau:
- Doanh nghiệp bảo hiểm nhận chuyển giao đang kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm đợc
chuyển giao;
- Các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng bảo hiểm đợc chuyển giao không thay đổi
cho đến khi hết thời hạn hợp đồng bảo hiểm;
- Việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm phải kèm theo việc chuyển giao các quỹ và dự
phòng nghiệp vụ liên quan đến toàn bộ hợp đồng bảo hiểm đợc chuyển giao;
Về thủ tục chuyển giao: doanh nghiệp bảo hiểm chuyển giao hợp đồng phải có đơn
đề nghị chuyển giao hợp đồng bảo hiểm gửi Bộ tài chính nêu rõ lý do, kế hoạch chuyển
giao kèm theo hợp đồng chuyển giao. Việc chuyển giao chỉ đợc tiến hành sau khi đã đợc Bộ
tài chính chấp thuận bằng văn bản; Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày Bộ tài chính chấp
nhận việc chuyển giao, doanh nghiệp chuyển giao hợp đồng phải công bố về việc chuyển
giao và thông báo cho bên mua bảo hiểm bằng văn bản;
Thứ hai, thời hạn yêu cầu trả tiền và thời hạn trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thờng
-Thời hạn yêu cầu trả tiền hoặc bồi thờng theo hợp đồng bảo hiểm là 1 năm, kể từ ngày
xảy ra sự kiện bảo hiểm. Thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan
khác không tính vào thời hạn trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thờng;
-Trờng hợp bên mua bảo hiểm không biết thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm mà chứng
minh đợc thì thời hạn yêu cầu tính từ ngày bên mua bảo hiểm biết đợc việc xảy ra sự kiện
bảo hiểm;
22
-Trong trờng hợp ngời thứ ba yêu cầu bên mua bảo hiểm bồi thờng về những thiệt hại
thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm thì thời hạn đợc tính
từ ngày ngời thứ ba yêu cầu;
Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi
thờng theo thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng baỏ hiểm; trong trờng hợp không có thoả
thuận về thời hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thờng trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đợc đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc
bồi thờng .
Thứ ba, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm.
Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm là tranh chấp kinh tế hoặc dân sự phát sinh do hành vi
vi phạm hợp đồng của một hoăc cả 2 bên tham gia ký kết. Khi có tranh chấp xảy ra tr ớc hết các
bên phải giải quyết thông qua thơng lợng trực tiếp hoặc hoà giải với sự tham gia của bên thứ
ba. Trong trờng hợp các bên không thể hoà giải đợc thì tranh chấp sẽ đợc giải quyết tại trọng
tài hoặc tại toà án có thẩm quyền do các bên lựa chọn. Thủ tục giải quyết theo thủ tục tố tụng
trọng tài hay toà án có thẩm quyền mà các bên đã lựa chọn. Thời hiệu khởi kiện là 3 năm kể
từ thời điểm xảy ra tranh chấp.
Chơng IV: Chế độ bảo hiểm con ngời
I. Khái niệm chung về bảo hiểm con ngời.
Trong các chế độ kinh doanh bảo hiểm, bảo hiểm con ngời là một khái niệm dùng để
chỉ loại hình bảo hiểm mà đối tợng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ và tai nạn con
ngời.
Bảo hiểm con ngời đợc phân biệt với các loại hình bảo hiểm thơng mại khác ở những đặc
điểm sau:
Thứ nhất, Đối tợng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ và tai nạn con ngời, nên
không thể xác định đợc giá trị của đối tợng bảo hiểm. Vì đặc điểm này mà trong bảo
hiểm con ngời pháp luật quy định:
Một là: Số tiền bảo hiểm hoặc phơng thức xác định số tiền bảo hiểm đợc các bên
thoả thuận trớc trong hợp đồng.
-Hai là, trong chế độ bảo hiểm con ngời, nếu một ngời mà tham gia nhiều loại hợp
đồng bảo hiểm con ngời, trong trờng hợp này mặc dù có cùng đối tợng bảo hiểm, với cùng điều
kiện bảo hiểm và sự kiện bảo hiểm thì các hợp đồng bảo hiểm đó vẫn độc lập với nhau, ngời đợc bảo hiểm đợc hởng tất cả quyền lợi bảo hiểm ở các hợp đồng khi có sự kiện bảo hiểm
xảy ra.
Ba là, trong chế độ bảo hiểm con ngời không áp dụng nguyên tắc chuyển quyền yêu
cầu đòi bồi hoàn có nghĩa là Trong trờng hợp ngời đợc bảo hiểm chết, bị thơng tật hoặc
đau ốm do hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp của ngời thứ ba gây ra, doanh nghiệp bảo hiểm
vẫn phải có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm mà không có quyền yêu cầu ngời thứ ba bồi hoàn
khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã trả cho ngời thụ hởng. Ngời thứ ba phải chịu trách
nhiệm bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm theo quy định của pháp luật. 3
Thứ hai, Xuất phát từ lợi ích thiết thân của ngời tham gia bảo hiểm mà chế độ bảo
hiểm con ngời đợc thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện.
Thứ ba,Trong chế độ bảo hiểm con ngời quyền lợi có thể đợc bảo hiểm là quyền và
nghĩa vụ nuôi dỡng cấp dỡng. Bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho bản thân
mình; Vợ, chồng, bố, mẹ, con của họ; anh, chị, em ruột, ngời có quan hệ nuôi dỡng, cấp dỡng; và ngời khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể đợc bảo hiểm.
Thứ t, bảo hiểm con ngời là một chế độ bảo hiểm đợc Nhà nớc khuyến khích, bảo vệ
và giành cho ngời đợc bảo hiểm nhiều u đãi. Điều này đợc thể hiện ở những điểm sau :
- Pháp luật hiện hành có quy định 4 : Đối với sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm
sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con ngời, doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ quy tắc, điều
khoản, biểu phí bảo hiểm đợc Bộ Tài chính phê duyệt .
- Để các doanh nghiệp bảo hiểm hạ thấp mức phí bảo hiểm, tạo điều kiện thuận lợi cho
nhiều ngời tham gia bảo hiểm con ngời pháp luật thuế quy định : Dịch vụ bảo hiểm con ngời không phải chịu thuế giá trị gia tăng Tiền bồi thờng bảo hiểm là một khoản thu nhập
không phải chịu thuế thu nhập đối với ngời có thu nhập cao 5. Luật Kinh doanh bảo hiểm quy
định: Trong bảo hiểm con ngời, nếu bên mua bảo hiểm không đóng phí hoặc đóng không
3
Điều 37 Luật kinh doanh bảo hiểm
Điều 18 khoản 2 Nghị định số 42/2001/NĐ-CP ngày 01/08/2001 quy định chi thi hành một số điều
của luật kinh doanh bảo hiểm .
5
Xem Mục 4.2.4phần I Thông t số 05/2002/TT-BTC hớng dẫn thi hành NĐ78/2001/NĐ-CP
4
23
đủ phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm không đợc khởi kiện đòi bên mua bảo hiểm
đóng phí bảo hiểm6.
-Việc giao kết hợp đồng bảo hiểm con ngời cho trờng hợp chết của ngời không phải là
ngời mua bảo hiểm thì phải đợc ngời đó đồng ý bằng văn bản, trong đó ghi rõ số tiền bảo
hiểm và ngời thụ hởng bảo hiểm. Mọi trờng hợp thay đổi ngời thụ hởng phải có sự đồng ý
bằng văn bản của bên mua bảo hiểm.
Pháp luật bảo hiểm con ngời còn quy định không đợc ký hợp đồng bảo hiểm con ngời
cho trờng hợp chết của những ngời sau đây : Ngời dới 18 tuổi trừ trờng hợp là cha mẹ hoặc
ngơi giám hộ hợp pháp của ngời đó đồng ý bằng văn bản ; Ngời đang mắc bệnh tâm thần;
II. Các chế độ bảo hiểm con ngời
Chế độ bảo hiểm con ngời đợc phân làm 2 loại là: Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm
con ngời phi nhân thọ.
1 Bảo hiểm nhân thọ.
Bo him nhõn th trờn th gii ó ra i t rt lõu v ó tr thnh loi hỡnh bo
him truyn thng, ph bin nhiu nc v c mi ngi t nguyn tham gia. Chng hn
nh Nht Bn v M, gn100% dõn s t nguyn tham gia bo him nhõn th. Vit Nam,
bo him nhõn th mi thc s c trin khai trong vũng 8 nm tr li õy (nm 1996) v nú
vn cũn nhiu mi m vi i a s ngi dõn Vit Nam.
Bo him nhõn th cú ting núi chung cao nht ú l: Vỡ sinh mnh con ngi. Nú bo
m cho bn trờn c hai khớa cnh l sinh mng v tin bc, hay núi cỏch khỏc khi bn kho
mnh, m au hay hon nn... khi bn giu v c khi bn nghốo.Núi chung, bo him nhõn th
l mt hỡnh thc tit kim cú k hoch, cú mc ớch.Nú giỳp bn cõn bng tõm lý, s lo lng v
ti chớnh trc mi bin ng bt thng ca cuc sng.
Vi vic tit kim mt s tin hng thỏng t vi chc, vi trm ngn bn s nhn c
s tin ln sau 5 nm, 10, 15, 20 nm hoc ti thi hn nht nh nhm ỏp ng nhu cu: cho
con bn hc lờn i hc (bo him An Sinh Giỏo Dc), hoc tớch cúp lm n, sinh c lp
nghip (bo him An Gia Thnh Vng, An Khang Thnh Vng), hoc b sung thờm thu nhp
an hng tui gi (bo him An Hng Hu Trớ)...vv. V trờn tt c l bn ó c bo him.
Vỡ nhng ý ngha tớch cc ca nú, bo him nhõn th ó hp dn v thu hỳt nhiu tng
lp nhõn dõn tham gia.
Cõu hi 2: Bo him nhõn th cú thc s cn thit cho cỏ nhõn v xó hụ
khụng?
Khi tham gia bo him, Ngi c bo him s luụn cm thy an tõm khi ó mua bo
him vỡ ng sau mỡnh ó cú s bo m h tr ca Bo him Nhõn Th. Trng hp nu
khụng may b ri ro, tai nn thỡ h ó c Bo him Nhõn Th chi tr tin bi thng bự
pcho nhng tn tht ú gúp phn nhanh chúng n nh cuc sng v cụng vic. Cũn ngi
c bo him khụng gp ri ro, thỡ s hon thnh k hoch ti chớnh ca mỡnh v ó tit kim
c s tin mong mun. Ngoi ra, Ngi c bo him cũn c hng cỏc li ớch khỏc t
hot ng phũng nga v hn ch tn tht do Bo Vit Nhõn Th thc hin
i vớ xó hi, Bo Vit tớch cc gúp phn xõy dng nn tng vng chc v n nh cuc
sng ton xó hi. Khi tham gia bo him cựng Bo Vit, bn ó gúp phn nõng c s vt cht
ca h tng xó hi, to lp ý thc phũng nga ri ro. V cao hn ht, cỏc bn ang gúp phn
cựng Bo Vit xõy p mt cuc sng ngy cng tt p hn, n nh v hnh phỳc cho t
nc v chớnh bn thõn mỡnh.
Bảo hiểm nhân thọ là bảo hiểm cho tuổi thọ con ngời. Bảo hiểm nhân thọ là loại
nghiệp vụ bảo hiểm mà sự kiện bảo hiểm có liên quan đến việc sống hoặc chết của ngời đợc bảo hiểm. Mặc dù đối tợng của bảo hiểm nhân thọ là con ngời, nhng so với các loại hình
bảo hiểm con ngời khác, nó có một số điểm đặc thù sau :
Thứ nhất, sự kiện bảo hiểm liên quan đến việc sống hoặc chết của ngời đợc bảo hiểm
do bất kỳ nguyên nhân gì trừ trờng hợp quy định tại khoản 1, điều 39 luật KDBH. Đặc
điểm này khác với bảo hiểm phi nhân thọ ở chỗ khi có sự kiện bảo hiểm bao giờ cũng là
những rủi ro khách quan và đem lại hậu quả xấu cho ngời đợc bảo hiểm. Còn trong bảo hiểm
nhân thọ không hẳn là nh vậy.
Thứ hai, Bảo hiểm nhân thọ là một hình thức kết hợp giữa bảo hiểm với tiết kiệm.
Tính chất bảo hiểm thể hiện ở chỗ, trong thời gian bảo hiểm nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra
đối với ngời đợc bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng. Tính chất tiết kiệm trong bảo hiểm nhân thọ thể hiện ở chỗ, Ngời mua bảo hiểm thực
hiện việc đóng phí đều đặn theo định kỳ và ngơì thụ hởng bảo hiểm sẽ nhận đợc toàn
6
Điều 36 Luật Kinh doanh bảo hiểm
24
bộ số tiền bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm trả vào thời điểm kết thúc hợp đồng trong
trờng hợp không có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Vì thế, bảo hiểm nhân thọ sẽ giúp bên tham gia
bảo hiểm có chơng trình tiết kiệm thờng xuyên và có tính kỷ luật. Còn nếu ngời mua bảo
hiểm đã đóng phí bảo hiểm trên 2 năm và không có sự kiện bảo hiểm xảy ra mà hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ chấm dứt thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải trả cho bên mua bảo
hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng. Ngoài ra, bảo hiểm nhân thọ còn đợc coi là một hình
thức đầu t, điều này thể hiện ở chỗ: Hàng năm nếu doanh nghiệp bảo hiểm đầu t có lãi thì
bên mua bảo hiểm đợc chia một phần tiền lãi từ kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo
hiểm nhân thọ. Chính vì vậy, Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là loại hợp đồng song vụ và có
tính đền bù.
Cõu hi 4: Lói chia thờm ca hp ng bo him nhõn th nh th no?
Khi tớnh phớ bo him nhõn th, Cụng ty bo him ó ỏp dng mt t l lói sut nht
nh cho mi sn phm. Lói sut ny c gi l lói sut k thut (lói sut cam kt ca Cụng ty
bo him vi khỏch hng) v lói chia thờm.
Lói cam kt ca Cụng ty bo him vi khỏch hng. Lói ny trong cỏc hp ng ca Bo
Vit u ó c B Ti Chớnh phờ chun, v s thay i khỏc nhau i vi cỏc sn phm khỏc
nhau, ch yu, nguyờn nhõn thay i lói k thut ca sn phm khỏc nhau l thi hn bo
him khỏc nhau, theo nguyờn tc: sn phm no thi hn cng di, thỡ lói sut k thut tớnh
phớ cng nh vỡ trong thi hn cng di, Cụng ty bo him cng phi i phú vi nhng bin
ng u t trờn th trng ln hn so vi nhng hp ng cú thi gian ngn.
Lói chia thờm, m bo quyn li cho khỏch hng, Bo Vit quy nh, trong trng
hp m hot ng u t ca Bo Vit thc hin cao hn so vi d kin khi tớnh phớ, thỡ Bo
Vit s chia thờm phn lói cho khỏch hng thụng qua quy nh gi l chia lói trong hp ng.
Nu Cụng ty u t khụng t lói sut nh ó cam kt, Cụng ty phi bự l m bo cỏc
quyn li ca khỏch hng theo quy nh trong hp ng. Tuy nhiờn, khi kt qu u t ca
Cụng ty t cao hn mc ó cam kt, Cụng ty bo him s chia thờm cho khỏch hng mt
phn s lói cao hn ú. S chia thờm ny c gi l lói chia.
Do lói chia hng nm ph thuc vo kt qu u t thc t ca Cụng ty bo him trong
tng nm, vỡ vy khụng th xỏc nh trc s lói chia cho cỏc hp ng khi cha cú s liu v
kt qu kinh doanh ca Cụng ty trong nm.
Cỏc hp ng thuc cỏc loi hỡnh bo him khỏc nhau cú mc lói sut k thut khỏc
nhau. Thờm vo ú, do d phũng phớ ca cỏc hp ng ph thuc vo rt nhiu yu t khỏc
nhau, do vy lói chia ca cỏc hp ng cng s rt khỏc nhau, khụng th ch cn c vo s phớ
úng v mc lói sut so sỏnh.
Thứ ba, Xuất phát từ tính chất và mục đích của bảo hiểm nhân thọ là bảo hiểm kết
hợp với tiết kiệm dài hạn để thực hiện một mục đích trong tơng lai, cho nên hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ thờng có thời hạn dài (Từ 5 năm trở lên).
Thứ t, Do thời hạn bảo hiểm dài, mức phí bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm nhân
thọ thu đợc thờng rất lớn và doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng
cả trong trờng hợp có sự kiện bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm và cả khi hết hạn hợp đồng.
Vì thế, để bảo đảm an toàn cho doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và để sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu t từ quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm, Pháp luật có quy
định: Doanh nghiệp bảo hiểm không đợc phép đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và
bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trờng hợp doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh nghiệp
vụ bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con ngời bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ. Đồng thời
pháp luật còn có những quy định khác biệt về mức vốn điều lệ, về việc trích lập quỹ dự
phòng nghiệp vụ từ phí bảo hiểm và hoạt động đầu t vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp bảo
hiểm nhân thọ so với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.
Thứ năm, Trong chế độ bảo hiểm nhân thọ thì độ tuổi của ngời đợc bảo hiểm là một
yếu tố quan trọng để đánh giá mức độ rủi ro bảo hiểm và là một trong những cơ sở chủ
yếu để tính mức phí bảo hiểm. Do vậy, một trong những nghĩa vụ quan trọng của bên mua
bảo hiểm là phải thông báo chính xác tuổi của ngời đợc bảo hiểm. Pháp luật quy định
Nếu bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của ngời đợc bảo hiểm, nhng tuổi đúng của ngời
đợc bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi đợc bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền
huỷ hợp đồng bảo hiểm và hoàn trả phí bảo hiểm đã đóng sau khi đã trừ các chi phí hợp lý
có liên quan cho bên mua bảo hiểm. Nếu hợp đồng bảo hiểm đã có hiệu lực từ 2 năm trở lên
thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo
hiểm; Nếu thông báo sai tuổi của ngời đợc bảo hiểm nhằm làm giảm số phí bảo hiểm đã
đóng thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền : Yêu cầu bên mua bảo hiểm đóng phí bảo
hiểm bổ sung tơng ứng với số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng; hoặc là giảm số
25