4
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCHTĐ
Ban Chấp hành Trung Đảng
NDCM
Nhân dân cách mạng
BTV
Ban Thường vụ
DCND
Dân chủ nhân dân
TCĐND
Tổ chức đảng nhân dân
LĐLĐ
Liên đoàn lao động
LHPN
Liên hiệp phụ nữ
MTL
Mặt trận Lào
HTCT
Hệ thống chính trị
XHCN
Cã hội chủ nghĩa
CHDCND
Cộng hoà dân chủ nhân dân
5
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP
HUYỆN
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN.
1.1.1. Tổ chức, hoạt động.
Khái niệm tổ chức, hoạt động trong hệ thống chính trị, là công tác tổ
chức thường được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa
rộng: tổ chức bao gồm những vấn đề về bộ máy, công tác cán bộ và xây dựng
các thể chế tổ chức. Theo nghĩa hẹp: tổ chức chỉ giới hạn ở vấn đề lien quan
đến tổ chức bộ máy, còn vấn đề cán bộ sẽ do công tác cán bộ đảm nhiệm.
Tổ chức (theo nghĩa hẹp) là một động chủ yếu hướng tới việc nâng cao
tính khoa học và mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành tổ chức, xác định và
thể chế hóa mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, thách nhiệm của tổ
chức, xây dựng cơ cấu và phương thức hoạt động của tổ chức, thiết lập các
mối quan hệ (hợp tác – phối hợp, lãnh đạo – bị lãnh đạo) giữa các bộ phần
trong cùng một tổ chức; tìm kiếm các nguồn nhân lực, bố trí, sắp xếp, sử dụng
con người, sử dụng các nguồn tài chính, phương tiện vật chất, kỹ thuật trong
tổ chức, nhằm hướng tới thực hiện có hiệu quả mục tiêu của tổ chức .
Công tác cán bộ là một hoạt động nhằm chủ yếu hướng tới công việc
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và khuyến khích động viên cán bộ tích
cực hoàn thành các công việc trong tổ chức. Đánh giá cán bộ, tuyển dụng cán
bộ, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ, quản lý cán bộ, đạo tào bồi dưỡng cán bộ,
quy hoạch cán bộ, luân chuyển cán bộ, chinh sách cán bộ, kiểm tra, giám sát
cán bộ, thi đua khen thường, kỷ luật…
Tổ chức, hoạt động trong hệ thống chính trị là công tác tổ chức được
thực hiện trong hệ thống trị nhằm xây dựng hệ thống chính trị và từng tổ chức
6
trong hệ thống chính trị để hướng tới đạt mục tiêu chính trị của hệ thống trong
từng giai đoạn cách mạng của đất nước.
Đặc điểm của tổ chức, hoạt động phải đảm bảo mọi quyền lực đều thuộc
về nhân dân, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân đã trở thành nguyên tắc tổ
chức hoạt động của hệ thống chính trị ở nước công hòa dân chủ nhân dân Lào.
Để thực hiện dân chủ đại diện, nhân dân sử dụng một phương pháp trao
quyền có tính phổ biến trong chế độ dân chủ, đó là sự ủy quyền, để thực hiện
sự ủy quyền quyền lực chính trị của nhân dân được một hệ thống thiết chế
chính trị được tổ chức chính trị - xã hội, sự ủy quyền lực của nhân dân đối với
các tổ chức trong hệ thống chính trị xuất phát từ vị trí, vai trò và sứ mệnh lịch
sử của mối tổ chức trong cơ cấu chính trị.
- Nhân dân ủy quyền do cho Đảng cầm quyền xác định đường lối chính
trị để phát triển đất nước, lãnh đạo nhân dân và toàn xã hội, thực thiện đường
lối chính trị này thông qua các hình thức và phương pháp lãnh đạo thích hợp.
- Nhân dân ủy quyền cho bộ máy nhà nước thực hiện quyền điều hành và
quản lý đất nước thông qua các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Nhân dân ủy quyền cho Mặt trận tổ chức và các tổ chức chính trị - xã
hội, quyền kiểm tra, giám sát xã hội đối với việc tổ chức, hoạt động của Đảng,
Nhà nước trong quá trình thực hiện các quyền được nhân dân ủy nhiệm.
Tổ chức phải thể hiện được cơ cấu tổ chức, thực hiện quyền lực chính trị
trong hệ thống chính trị. Đảng thực hiện lãnh đạo chính trị đối với toàn bộ hệ
thống. Nhà nước và các đoàn thể phải phụ tùng sự lãnh đạo của Đảng. Nhà
nước là tổ chức duy nhất có đầy đủ quyền hạn do nhân dân trao cho để tổ
chức quản lý toàn bộ các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Trong lãnh đạo Đảng
phải dựa vào nhà nước và các đoàn thể, phát huy cao nhất vai trò của nhà
nước và các đoàn thể thực hiện đường lối của Đảng, mặt khác phải làm tốt
chức năng của mình và đóng góp ý kiến xây dựng Đảng.
7
Quyền lực nhà nước phải thống nhất: quyền lập pháp, quyền hành pháp,
quyền tư pháp. Nhà nước thực hiện sự phân cấp, phân quyền hợp lý cho cơ
quan nhà nước và chính quyền địa phương, đảm bảo tính độc lập tương đối,
quyền hạn rõ ràng và trách nhiệm đầy đủ của từng cơ quan nhà nước, chính
quyền địa phương theo quy định của pháp luật.
Tổ chức phải đảm bảo cơ cấu tổ chức thực hiện chức năng kiểm tra, giám
sát trong hệ thống chính trị: Đảng, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Trong đó, Đảng kiểm soát quá trình thực hiện quyền lực nhà nước, Mặt trận
và các đoạn thể thực hiện kiểm tra giám sát quá trình thực hiện của Đảng cầm
quyền và quyền lực nhà nước.
Tổ chức phải bảo đảm cho hệ thống chính trị hoạt động đúng với tư cách
là cơ chế tổ chức dân chủ và thực hành dân chủ. Theo Lê-nin cho rằng: không
có chế độ dân chủ thì không thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội, trung thành
với tư tưởng đó Đảng được khẳng định: “dân chủ là bản chất của chế độ mới,
trong đó nhân dân, trước hết là nhân dân lao động là người là chủ đất nước,
tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”. Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị
- xã hội phải thật sự đại diện được các tầng lớp nhân dân, nắm bắt kịp thời ý
chí, nguyên vọng của nhân dân để phản ảnh với Đảng, nhà nước, thật sự trở
thành diễn đàn dân chủ để nhân dân tham gia đóng góp xây dựng Đảng, xây
dựng củng cố chính quyền.
Tổ chức phải bảo đảm thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại đoàn kết
là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị bao gồm Đảng, nhà nước, Mặt trận
Làoxâydưng đất nướcvà các đoàn thể chính trị - xã hội. Đại đoàn kết là nguồn
lực sức mạnh là động lực chủ yếu đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ tổ quốc, sức mạnh của nhân dân sẽ được nâng lên khi được quy tục
thành tổ chức, có sự lãnh đạo thống nhất, sự nỗ lực của mọi người điều hướng
8
vào mục tiêu chung, đó là: giữ vững độc lập, thống nhất tổ quốc, vì dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Tổ chức Đảng nằm trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc là hạt nhân lãnh
đạo. Hạt nhân ấy có vứng mạnh mới có những “sức hút” mạnh, bảo đảm khối
đại đoàn kết toàn dân tộc vứng mạnh.Nhà nước có vai trò to lớn trong việc
thực hiện đại đoàn kết, không phải chỉ bằng thế chế hóa đường lối, chủ trương
của Đảng thành chính sách, pháp luật có ý nghĩa quan trọng hàng đầu mà phải
có trách nhiệm tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật đó một cách có
hiệu quả, thông qua bộ máy cồng quyền trong sạch , công tâm, hết lòng phục
vụ nhân dân.
Mặt trận xâyđưng đấtnước và các đoàn thể chính trị đóng vai trò đại diện
cho lợi ích chung và lợi ích từng giai cấp từng giới quần chúng, đồng thời là
cầu nối giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải
thông qua Mặt trận, các đoàn thể nhân dân và các hình thức đa dạng khác, tức
là đoàn kết thông qua tổ chức, hoạt động và bằng tổ chức.
Hệ thống chính trị ở CHDCND Lào được tổ chức, hoạt động theo nghị
quyết Đại hội IV của Đảng nhân dân cách mạng Lào và nghị quyết hội nghị
Ban tổ chức toàn quốc lần thứ V với nội dung: “củng cố, kiện toàn lại hệ
thống chính trị các cấp”. Vì vậy, bộ máy hành chính nhà nước được sắp xếp
lại từ 18 bộ xuống còn 16 bộ và cơ quan ngang bộ. Cơ quan lập pháp được
đổi tên từ Hội đồng nhân dân tới cao thành quốc hội là cơ quan quyền lực cao
nhất của nhân dân. Chuyển hệ thống chính trị 5 cấp thành 4 cấp. Trong đó,
xóa bỏ cấp xá và lấy cấp cơ sở làm bản (hiện nay gọi là củm bản), trực thuộc
thẳng cấp huyện. Thay cơ chế quản lý lãnh đạo của chủ tịch và ủy ban bằng
cơ chế quản lý – lãnh đạo của tỉnh trưởng, huyện trưởng và trưởng bản. Hiện
nay ở Lào có 16 tỉnh, 1 thủ đô, 1 đặc có 142 huyện, 11,416 bản. Hình thành tổ
chức của hệ thống chính trị cấp tỉnh, huyện và củm bản đều có cấu trúc giống
9
nhau, đồng thời cũng hoạt động theo nguyên tắc kiêm nhiệm (bí thư Đảng bộ
ở cấp nào sẽ kiêm nhiệm chức vụ thủ tưởng chính quyền ở cấp đó).
Cho đến nay, hệ thống chính trị ở nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
(CHDCNDL) đang trong quá trình củng cố và kiện toàn. Thực chất đổi mới tổ
chức, hoạt động hệ thống chính trị ấy không có sự phân chia quyền lực được
tập trung thống nhất và mọi quyền lực đều thuộc về dân. Trong bộ máy chính
quyền có sự phân công, phân nhiệm giữa cơ quan lập pháp, hành pháp và tư
pháp, đồng thời cũng thực hiện theo cơ chế Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý,
nhân dân làm chủ, vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, thống nhất
phồn vinh và tiến bộ xã hội. Vì vậy, đổi mới tổ chức, hoạt động hệ thống
chính trị ở nước CHDCND Lào mang tính thống nhất cao, thực hiện quyền
lực nhân dân, phát huy tính tích cực chính trị của nhân dân mọi tiềm năng ở
với cấp huyện trong việc phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng cấp huyện với
theo con đường xã hội chủ nghĩa.
1.1.2. Hệ thống chính trị.
Trước đây các nhà kinh điển từ Mác, Angghen, đến Lênin trong tác phẩm
của mình dường như chưa dung khái niệm hệ thống chính trị. Các ông thường
để cập tới: hình thức chính trị, thiết chế chính trị, thể chế chính trị và xã hội,
cơ cấu chính trị, cơ cấu chính quyền, kết cấu chính trị của xã hội, vv… Trong
tài liệu sách báo Mác – Xít ở các nước xã hội trong nhiều năm trước đây cũng
không sử dụng khái niệm này mà thường dùng khái niệm hệ thống chuyên
chính vô sản. Đến những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, các nhà luật
học Xô – Viết mới dùng khái niệm hệ thống chính trị. Ở các nước tư bản, từ
những năm 50 của thế kỷ XX, khái niệm hệ thống chính trị đã được nói đến
trong các công trình nghiên cứu của các học giả và trong giới chuyên môn
chính trị học và luật học. Có thể nói, khó tìm thấy một định nghĩa nào hoàn
chỉnh về thống chính trị, tuy nhiên những nội dung biểu đạt về hệ thống chính
10
trị với tư cách là một phạm trù của chính trị học, của các khoa học nói chung
vẫn có thể tìm thấy trong những nghiên cứu về thiết chế và thể chế chính trị.
Theo đó, hệ thống chính trị có chức năng thực hiện hoặc tham gia thực hiện
quyền lực chính trị, bảo đảm sự lãnh đạo, điều hành đất nước của các chủ thể
quyền lực.
Ở nhiều nước trên thế giới trong lý luận về chính trị học, hệ thống chính
trị thường có hai cách tiếp cần: Thứ nhất, đề cập đến hệ thống chính trị, các
nhà chính trị học thường bàn đến hệ thống các đảng chính trị, các quan hệ
chính trị giữa các đảng chính trị trong cuộc đấu tranh giành chính quyền lực
nhà nước, hoặc tham gia vào chính quyền để trở thành đảng chấp chỉnh (đảng
cầm quyền), đảng tham chính hoặc đảng đối lập. Nhà nước được nghiêm cứu
như là đối tượng tác động cảu các đảng chính trị. Thứ hai: xem nhà nước là
biểu hiện tập trung của chính trị. Do vậy, đề cập đến hệ thống chính trị về
thực chất là bàn đến chính thể nhà nước theo các mô hình chính thể quân chủ,
chính thể quân chủ lập hiến, công hòa đại nghị, cộng hòa tổng thống, công
hòa lường tính… theo tiếp cận này, mối quan hệ giữa nhà nước và các đảng
chính trị được xác lập thông qua các hình thức tổ chức chính thể, dựa trên
mức độ và tính chất của phần quyền lực chính trị và cấu trúc chính trị của chế
độ đa đảng phân quyền cứng hay phân quyền mền, chế độ nhiều đảng hay chế
độ hai đảng (lưởng đảng).
Từ những ý kiến khác nhau về hệ thống chính trị có thể phân thành 4
nhóm quan điểm chính sau đây về hệ thống chính trị:
- Nhóm qua điểm thứ nhất: nêu tổng quát chung nhất về hệ thống chính
trị. Hệ thống chính trị nói chung “xem hệ thống chính trị bao gồm những tổ
chức chính trị - xã hội mang bản chất của giai cấp cầm quyền hoặc là phục vụ
cho quyền lực chính trị của giai cấp đó. Với cách hiểu như vậy ‘hệ thống
chính trị’ chỉ là cách gọi khác của phạm trù ‘hệ thống chuyên chính’ của giai
11
cấp cầm quyền” (12 tr 13). Theo đó những quan điểm về chính trị, pháp
quyền đối lập, và tương ứng với nó là những tổ chức – xã hội đổi lập, kể cả
hợp pháp và không hợp pháp đều không nằm trong hệ thống chính trị. Như
vậy “hệ thông chính trị được hiểu là phạm trù dùng để chỉ một chỉnh thể bao
gồm nhà nước, các Đảng hợp pháp, các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp,
nhưng ưu thế cơ bản và vai trò chỉ đạo thuộc về các thiết kế của giai cấp cầm
quyền để tác động vào các quá trình kinh tế - xã hội, nhằm củng cố, duy trì và
phát triển chế độ xã hội đương thời” (2 tr 47).
- Nhóm quan điểm thứ hai cụ thể hóa nội dung của hệ thống chính trị của
Việt Nam, chỉ rõ những bộ phần, yếu tố cấu thành hệ thống chính trị, “mô
hình tổng thể hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam bao gồm: Đảng Cộng
sản Việt Nam, nhà nước cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận tổ
quốc, tổng liên đoàn lao động, hội nông dân, đoàn thanh niên Đảng cộng sản
Hồ Chí Minh, hội liên hiệp phụ nữ và hội cực chiến bình” trong đó Đảng cộng
sản Việt Nam vừa là tổ chức thanh niên, vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trần tổ
quốc Việt Nam.
- Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng “hệ thống chính trị là một cơ cấu bao
gồm nhà nước, các Đảng phái, các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội tôn
tài và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành, được chế định theo tư
tưởng các giai cấp cầm quyền nhằm tác động vào các quá trình kinh tế - xã
hội, với mục đích duy trì và phát triển chế độ xã hội đó” (53 tr 193). Hệ thống
chính trị bao gồm Đảng, nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị
- xã hội, trong đó Đảng giữ vai trò lãnh đạo, nhà nước đóng vai trò quản lý,
Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội có vai trò quan trọng trong
việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân (48 tr 38).
12
- Nhóm quan điểm thứ tư tiếp cận một cách chung nhất hệ thống chính trị
ở Việt Nam trên cơ sở phân biệt ba khái niệm, “hệ thống chính trị vô sản”, “hệ
thống chính trị xã hội chủ nghĩa” và “hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Theo đó, hệ thống chính trị xã hội chủ
nghĩa là một chỉnh thể bao gồm nhà nước chuyên chính vô sản, Đảng cộng
sản cùng các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp và mỗi quan hệ qua lại giữa
các yếu tố đó nhằm bảo đảm quyền lực của nhân dân (7 tr 48).
Hệ thống chính trị của nước CHDCND Lào được hình thành và phát
triển trong tiến hành cách mạng kể từ ngày có Đảng lãnh đạo (22/3/1955) đó
là HTCT đối lập khi Đảng chưa giành được chính quyền. Từ năm 1975 đến
nay, HTCT ở CHDCND Lào là HTCT do Đảng cầm quyền, lãnh đạo ra đời,
tồn tại và phát triển của nó được quy định một cách khách quan bởi những
điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội phù hợp với quy luật vận động của xã hội ở
nước Lào. Hệ thống chính trị ở Lào hoạt động theo cơ chế bảo đảm tất cả
quyền lực thuộc về nhân dân thông qua công tác quản lý của nhà nước và hoạt
động của các đoàn thể chính trị - xã hội dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng
vì mục đích xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc tổ chức chính trị
CHDCND Lào.
Quá trình đổi mới đất nước đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế,
chính trị, xã hội ở Lào, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong hơn 20 đổi
mới đã cơ bản tạo lập được một hạ tầng kinh tế mới trên cơ sở vận hành của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tương đồng với hạ tầng
kinh tế mới ấy là một thượng tầng kiến trúc chính trị mới từng bước được xây
dựng vừa kế thừa các thành tựu và kinh nghiệm lịch sử phát triển trong mấy
chục năm qua, vừa phát triển đổi mới phù hợp với các mục tiêu, nhiệm vụ
phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Hệ thống chính trị với tư cách là bộ
13
phận chủ yếu nhất của thượng tầng kiến trúc chính trị của chế độ cần được
nhận diện trên những cơ sở mới.
- Là một hệ thống các thể chế chính trị, chính trị xã hội có nhiệm vụ thực
hiện các ủy quyền của nhân dân để tổ chức thực hiện quyền lực của nhân dân,
đồng thời là hệ thống tổ chức cơ bản để nhân dân thực hiện quyền lực của
mình, đảm bảo cho mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng thật sự là chủ thể sáng tạo,
chủ động và tích cực trong việc thực hiện và phát huy dân chủ, đúng như tu
tưởng Hồ Chí Minh nói “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” (66 tr 698).
- Là một hệ thống tổ chức và hoạt động trên những nền tảng cơ bản kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong ý
nghĩa là động lực của sự phát triển đất nước và trên nền tảng tư tưởng của chủ
nghĩa Mác – lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Là một hệ thống tổ chức bao gồm các thành viên Đảng được đổi mới
mạnh mẽ từ tổ chức, nhiệm vụ, chức năng đến phương thức hoạt động, từ mối
quan hệ giữa thành viên trong hệ thống đến mối quan hệ của hệ thống với xã
hội nhân sự đang hìnhthành và phát triển ở Lào. Hệ thống này bao gồm: Đảng
nhân dân cách mạng Lào, nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Mặt trận
và tổ chức chính trị…
Trong hệ thống chính trị, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mối tổ
chức đều phải được phân định cụ thể, để đảm bảo tính thống nhất của quyền
lực chính trị và sự phân công , phối hợp giữa các tổ chức trong quá trình thực
hiện các ủy quyền của nhân dân.
- Trong vai trò cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội, Đảng nhân dân
cách mạng Lào không bao biện, làm thay nhà nước, vị trí cầm quyền và vai
trò lãnh đạo của Đảng được thể hiện qua các nhiệm vụ:
+ Xây dựng và hoạch định đường lối phát triển của đất nước.
14
+ Quyết định những vấn đề trọng đại, các quyết sách lớn liên quan đến
vận mệnh quốc gia (chủ yếu trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, đối ngoại).
+ Chọn và đề cử các Đảng viên ưu tú nhất của Đảng để quốc hội bầu cử
vào các cơ quan lãnh đạo trong bộ máy nhà nước ở trung ương, tỉnh và cấp
huyện.
+ Kiêm tra giám sát các hoạt động của các cơ quan, của cán bộ, Đảng
viên trong việc thực hiện nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà nước.
- Nhà nước trong hệ thống chính trị thực hiện việc điều hành, quản lý đất
nước thông qua 3 chức năng cơ bản: chức năng hợp pháp, chức năng hành
pháp và chức năng tư pháp, trong đó.
+ Quốc hội trong tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực
hiện lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước và
quyền giám sát tổi cao.
+ Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất thực hiện quyền
hành pháp, đảm bảo tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối, chính sách của
Đảng, hiến pháp, pháp luật của nhà nước.
+ Các cơ quan tư pháp mà trọng tâm là hệ thống toàn án thực hiện quyền
tư pháp, đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm minh và công bằng, pháp
chế được tăng cường.
- Mặt trận xâydựngđầt nước và tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống
chính trị, chính trị có chức năng thay mặt cho các tầng lớp nhân dân để thực
hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân đối với Đảng và nhà nước. Đồng thời
thực hiện giám sát xã hội và phản biện xã hội đối với toàn bộ đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước.
Tổng hợp các quan điểm và cách tiếp cận nêu trên, cho thấy rằng khi nói
đến hệ thống chính trị ở Lào hiện nay, cần chỉ ra các nội dung:
15
- Là một hệ thống thống nhất các thiết chế bao gồm Đảng nhân dân cách
mạng Lào, nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào của dân, do dân, vì dân,
Mặt trận xâydựngđất nước và các tổ chức chính trị - xã hội.
- Là hình thức tổ chức của chính trị xác lập cơ chế thực hiện quyền lực
chính trị “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.
- Là hình thức tổ chức dân chủ để thực hiện quyền lực chính trị của nhân
dân nhằm thực hiện mục tiêu: nhân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
1.1.3. Hệ thống t trị cấp huyện.
Theo nghị quyết Đại hội IV của Đảng nhân dân cách mạng Lào được tổ
chức và hoạt động theo hiến pháp và pháp luật hiện hành, hệ thống bộ máy
hành chính nhà nước được phân thành lại từ 18 bộ xuống còn 16 bộ và cơ
quan ngang bộ. Cơ quan lập pháp được đổi tên từ Hồi đồng nhân dân tối cao
thành quốc hội là cơ quan quyền lục cao nhất của nhân dân. Hội động nhân
dân các cấp ở địa phương và ủy ban nhân dân các cấp cũng không còn nữa.
Chuyển hệ thống chính trị từ 5 cấp thành 4 cấp, trong đó xóa bỏ cấp xã và lấy
cấp cơ sở là bản (hiện gọi là củm bản), trực thuộc thẳng cấp huyện. hệ thống
chính trị bao gồm các thành tố cơ bản: Đảng, nhà nước, Mặt trận yêu nước và
các tổ chức chính trị - xã hội. các thành tố này không biệt lập với nhau mà có
mối quan hệ tác động lẫn nhau trong một cơ chế thống nhất Đảng lãnh đạo,
nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Đồng thời, theo cấu trúc chiều dọc hệ
thống chính trị mối cấp là một bộ phần, một mặt khâu có vị trí, vai trò và các
chức năng, nhiệm vụ cụ thể của mình. Do đó, tổ chức và hoạt động của hệ
thống chính trị cấp huyện phải tuân thủ tính thống nhất, tính chỉnh thể của hệ
thống chính trị đất nước và hệ thống chính trị ở địa phương cấp tỉnh, cấp
huyện;bảnvà củm bản.
16
Ngoài những đặc điểm và tính chất của hệ thống chính trị nước cộng hòa
dân chủ nhân dân Lào nói chung, hệ thống chính trị ở cấp huyện có những đặc
thù về tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động cảu các tổ
chức trong hệ thống chính trị ở trên phạm vi hành chính, lãnh thổ nhất định là
huyện, củm bản thuộc tỉnh với sự chi phối của nhiều yếu tố như điều kiện địa
lý và kinh tế - xã hội, truyền thống và văn hóa, phong tục tập quán khác nhau.
Hệ thống chính trị cấp huyện bao gồm các thành tố với chức năng nhiệm
vụ nhất định và quan hệ giữa các thành tố đó với nhau và với xã hội nói chung
đề cùng thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh trên địa bản cấp huyện. Các tổ chức thành viên hợp thành hệ thống
chính trị cấp huyện đến đó cấp ủy lãnh đạo đều tuân thủ pháp luật của nhà
nước cùng hướng tới nhân dân và phục vụ nhân dân, quan hệ với nhân dân là
quan hệ gốc, nền tảng quy định mọi quan hệ trong tổ chức, hoạt động của hệ
thống chính trị.
Trong hệ thống chính trị các tổ chức và mối quan hệ đó, cấp ủy giữ vị trị
hạt nhân, có vai trò lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị ở huyện,
chính quyền là nòng cốt có chức năng tổ chức, quản lý nhà nước mọi hành
đọng trên địa bàn theo pháp luật. Mặt trận tổ quốc yêu nước và các đoàn thể
nhân dân tập hợp, vận động các tầng lợp nhân dân, thực hiện dân chủ tham
gia quản lý nhà nước, cấp ủy huyện, củm bản thuộc tỉnh lãnh đạo nhưng
không có nghĩa là làm tất cả mà quan trọng hơn là cấp ủy phát huy được vai
trò chủ động, sáng tạo của chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân
thực hiện tốt các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trên địa bàn cấp huyện. Muốn vậy,
chính quyền, Mặt trận tổ quốc yêu nước và các đoàn thể nhân dân phải được
tổ chức. hoạt động như một chủ thể quyền lực có vị trí xứng đáng trong hệ
thống chính trị. Mối tổ chức trong hệ thống đó mạnh hay yếu đều có ảnh
hưởng đến hoạt động của các bộ phần khác và các toàn bộ hệ thống.
17
Mục tiêu của hệ thống chính trị cấp huyện là thông qua tổ chức, nội dung
và phương thức hoạt động của từng tổ chức và của cả hệ thống nói chung thực
hành dân chủ, đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Chính vì vậy, cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các
đoàn thể nhân dân ở huyện với vị trí, chức năng nhiệm vụ khác nhau nhưng
đều có quan hệ phối hợp hoạt động để cùng thực hiện nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội, văn hóa, nâng cao đời sống vật chất và tình thần cho nhân
dân, giữ vững ổn định chính trị để góp phần củng cố hệ thống chính trị cấp
tỉnh và của đất nước.
Hệ thống chính trị ở nước Lào nới chung và hệ thống chính trị cấp huyện
nói riêng đang từng bước và đổi mới để đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước
dân chủ nhân dân Lào, phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội
chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới trong bối cảnh toàn
cầu, từng bước xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thực hành dân chủ
bằng cách nâng cao dân trí, bảo đảm quyền, chăm lo phát triển dân sinh, thực
hiện công bằng xã hội, bình đẳng toàn dân tộc, đoàn kết chặt chẽ với các bộ
tộc Lào cùng phát triển trong cơ cấu đa dân tộc ở Lào là yêu cầu và nội dung
quan trọng của hệ thống chính trị ở Lào nới chung và hệ thống chính trị cấp
huyện nói riêng mà chúng ta cần xây dựng trong thời kỳ đổi mới. Đó là một
hệ thống chính trị dân chủ do sự quản lý của nhà nước, do dân và vì dân.
1.2. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CẢU HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP HUYỆN
CỦA TỈNH XIÊNG KHOẢNG.
1.2.1. Vị trí, vai trò của cấp huyện ở nước Lào.
Huyện là một đơn vị hành chính lãnh thổ trong hệ thống chính trị ở nước
Lào. Trong lịch sử, cấp huyện đã xuất hiện từ lâu, cấp huyện được xác định là
đơn vị hành chính trong thời kỳ “Mường Lào” lịch sử trước khi tập trung có 5
huyện như: huyện Nan Châu (Mường Nỏng sẻ), “Mường Xua” Xiêng Thong,
18
“Mường Pa Căn” Mương Phuôn ngày nay, “Mường Xỉ Khốt Ta Bong”. Các
huyện vừa nêu lên được xây dựng trong thế kỳ I và thế kỳ VIII (1-8).
Đến giữa thế kỳ 14 Chậu pha ngùm là ông đầu tiên đưuọc tập trung các
huyện thống nhất, được đặt tên (lấy tên) “VaNa” A Na Chặc Lan Xang, gồm
có 7 huyện như: Mường Khủa (tỉnh Phông Xả Ly), Mường Sai (Xiêng Khan),
Mường Luang Pha Bang (tỉnh Luang Pha Bang), Mường Hói ệt (Thái Lan),
Mường Chăm Pa Sắc (tỉnh Chăm Pa Sắc), Mường Tha Khek (tỉnh Khăm
Muộn) và Mường Viêng Ke (Thái Lan). Ngoài ra còn có Mường Suổi 4
huyện: 12 Phàn Lư, 12 Chú Thai, Mường Nàn và Mường Phuôn ngày nay
(tỉnh Xiêng Khoảng).
Sau cách mạng nước Lào giành được độc lập, thống nhất đất nước, nhà
nước Lào dân chủ cộng hòa được thành lập năm 1975 việc tổ chức hệ thống
các cấp hành chính gồm có ba kỳ: Bắc, Trung, Nam, mối bộ chia thành tỉnh,
chia thành huyện, mối huyện chia thành bản.
Như vậy, trong 40 năm kể từ ngày thành lập cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào đến nay, huyện được xác định là một cấp hành chính trong hệ thống, hành
chính 4 cấp ở nước Lào, huyện là cấp hành chính trực tiếp thuộc tỉnh và cấp
trên trực tiếp cấp cơ sở.
Cấp huyện đóng vai trò rất quan trọng trong việc đưa nông nghiệp lên
sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Huyện là tổ chức lại sản xuất, tổ chức lại phân
công, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, sản xuất với lưu thông, kinh tế
toàn dân với kinh tế tập thể, công nhân với nông dân, nhà nước với nhân dân.
Huyện là cứ điểm để tiến hành 3 cuộc cách mạng xây dựng chế độ mới, nền
kinh tế mới, nền văn hóa mới và con người mới ở nông thôn, là nơi thực hiện
quyền làm chủ tập thể của nhân dân ở địa phương, là cấp đảm bảo đời sống
vật chất và văn hóa của nhân dân. Tất cả mọi quan hệ giữa nhà nước với nhân
dân trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, phân phối đều thực hiện thông qua
19
cấp huyện. Do đó, xây dựng cấp huyện thành một cấp kế hoạch nông nghiệp,
thủ công nghiệp và công nghiệp nhỏ, một cấp quản lý sản xuất và lưu thông là
đòi hỏi cấp bách hiện nay (37 tr 3-8).
Khi xem xét vị trí của hệ thông chính trị cấp huyện, trước hết cần phải
xem xét vai trò của từng nhân tố cấu thành của nó: Đảng bộ cấp huyện giữ vai
trò thực hiện gương mẫu về mặt chính trị, là đội tiên phong chính trị, là người
thực hiện lãnh đạo nhân dân trong huyện, nông thôn tiến hành cách mạng
thành công, nó thể hiện qua việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách
của bí thư tỉnh ủy, sắp xếp cán bộ vào bộ máy tổ chức thực hiện ở cấp huyện,
huyện thông qua các tổ chức của hệ thống chính trị cấp tỉnh, huyện Đảng
kiểm tra sức chiến đấu và lãnh đạo của Đảng, thực hiện dân chủ hóa trong
sinh hoạt Đảng.
Chính quyền cấp huyện là chủ cột của hệ thống chính trị là cơ quan đại
diện thực thi quyền lực của nhân dân ở cấp cơ sở (củm bản), thực hiện các tổ
chức bảo vệ, trấn áp và xây dựng, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, điều hành
các mỗi quan hệ lợi ích của công dân. Chính quyền cấp huyện là cơ quan tổ
chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng bộ ở cấp trên là
cơ quant hi hành pháp luật và dựa vào pháp luật để quản lý, điều hành xá hội,
quản lý kinh tế, bảo vệ trật tự an toàn của xá hội.
Sau thời kỳ chưa đổi mới, vấn đề cấp huyện lắng xuống bởi các vấn đề
khác bức xúc hơn. Bước vào thời kỳ đổi mới, vị trí cấp huyện không còn được
chủ trọng đúng mức dẫn tới tình hình là: đối với cấp huyện điều cần quan tâm
nhất là vị trí cấp này không được khẳng định dứt khoát. Trước đây cấp huyện
được đề lên rất cao, đến nay có lúc có ý kiến lại muốn giải thể cấp huyện hoặc
thu hẹp lại trong một số chức năng.
Hiện nay, để xác định vị trí, vai trò của cấp huyện cần đặt nó trong cơ
cấu tổng thể của hệ thống chính trị ở Lào. Có thể hình dung cấu trúc hệ thống
20
chính trị cả nước: gồm cấp chiến lược (trung ương), cấp huyện và trong củm
bản, cấu trúc này nhằm tạo cho hệ thống chính trị là một thể thống nhất, đảm
bảo sự vận hành thống nhất từ sự chỉ đạo, lãnh đạo ở tầm chiến lược vĩ mô
đến những hoạt động thực tiến ở cấp vĩ mô, cơ sở, trong cơ cấu đó, cấp huyện
là cầu nối giữa cấp tỉnh và cấp cơ sở (củm bản), mà thiếu nó sẽ khó khăn
trong cả chỉ đạo lẫn trong tổ chức thực hiện thực tiến ở nước Lào, huyện là
địa bàn trọng yếu để đưa nông nghiệp lên sản xuất, từ sản xuất nhỏ lên sản
xuất lớn.
Tạo điều kiện và thúc đẩy chính quyền địa phương phát huy tính chủ
động, khai thác mọi tiềm năng tại chỗ để phát triển kinh tế xã hội ở địa
phương và đóng góp ngày càng nhiều cho sự phát triển chung của cả nước.
Trên tinh thần đó cần tăng trách nhiệm và thẩm quyền của chính quyền địa
phương trong việc quyết định những vấn đề của địa phương, đặc biệt là quy
hoạch phát triển và kế hoạch đầu tư cho khu vực công cộng về thu chi ngân
sách, về tổ chức và phân sự hành chính địa phương và sự lý các vụ việc hình
thành.
Trong hệ thống hành chính ở cấp cơ sở cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
hiện nay. Theo điều 4: ủy và nhiệm vụ chung của đơn vị hành chính cấp cơ
sở gồm có 3 cấp như sau:
+ Tổ chức và họatđộng thực hiện hiến pháp, pháp luật, nghị quyết của
cấp trên, việc phát triển kinh tế xã hội và kế hoạch ngân sách nhà nước, nằm
trong sự quản lý.
+ Đề ra phương hướng chiến lược, phương hướng phát triển kinh tế, định
lệ kế hoạch ngân sách của nhà nước, tập trung vào quốc phòng, an ninh trên
cơ sở chiến lược bảo vệ tổ quốc.
+ Sự quản lý về mặt chính trị, xã hội, văn hóa, môi trường và quốc phòng
an ninh…
21
Trong hệ thống chính trị cấp tỉnh và huyện đều ở vị trí cầ nối từ trung
ương đến cơ sở. Tuy nhiên tỉnh gần phía trung ương hơn, lại có quy mô địa
bàn (về diện tích đất đai, dân số, tiền lực… ) đủ lớn để tỉnh có thể được xem
xét cấp “vimô – địa phương” (theo nghĩa tương đối). Trong khi đó, huyện lại
gần phía cơ sở hơn và quy mô địa bàn không đủ lớn nên huyện có thể xem là
cấp địa phương – vi mô hay thấp. Vì vậy, vị trí, vai trò của cấp huyện và cấp
tỉnh khác nhau, không thể đồng nhất, theo nghị quyết đại hội IV của Đảng
nhân dân cách mạng Lào và nghị quyết Hội nghị ban tổ chức toàn quốc lần
thứ V với nội dung “hình thức tổ chức của hệ thống chính trị cấp tỉnh, huyện
và bản đều có cấu trúc giống nhau, đồng thời cùng hoạt động theo nguyên tắc
giao nhiệm bí thư Đảng bộ ở cấp nào sẽ kiêm nhiệm chức vụ thủ tưởng chính
quyền cho cấp đó”.
Từ sự phân tích trên, có thể khẳng định: trong cơ cấu trọng thể của hệ
thống chính trị ở nước Lào, huyện là một cấp quản lý nhà nước trong hệ thống
quản lý hành chính 4 cấp hiện hành. Huyện và tỉnh là cầu nối giữa trung ương
với cơ sở và huyện là cầu nối giữa tỉnh với củm bản là cấp quản lý trực tiếp.
1.2.2. Vai trò, đặc điểm của hệ thống chính trị cấp huyện ở Lào hiện
nay.
Hệ thống chính trị ở Lào là một cơ cấu bao gồm các thành tố cơ bản,
Đảng, nhà nước, Mặt trân xâydựngđấtnước và các tổ chức chính trị - xã hội,
được tổ chức theo 4 cấp gắn với hệ thống hành chính. Mối thành tố này lại
được tổ chức như một hệ thống, hệ thống chính trị cấp huyện là một cấp trong
cấu trúc tổng thể của hệ thống chính trị ở nước Lào, là một cơ cấu có đầy đủ
các thành tố cơ bản của hệ thống chính trị trên địa bàn một huyện, củm bản
thuộc huyện, một đơn vị hành chính – lãnh thổ trong hệ thống tổ chức hành
chính 4 cấp của nhà nước Lào,là một mắt khâu làm cầu nối giữa trung ương
và tỉnh đến củm bản, là cấp trên trực tiếp gắn với cấp cơ sở (củm bản). Do đó
22
hệ thống chính trị cấp huyện có vài trò quan trọng trong việc chuyển tải
những quyết định từ cấp chiến lược đến cỏ sở(củm bản), chỉ đạo và tổ chức
các họatđộng của hệ thống chính trị ở cấp cơ sơ (củm bản) trên địa bàn của
mình, biến đường lối, chủ trương của cấp chiến lược thành hoạt động thực
tiến ở cơ sở…
Là một bộ phần cấu thành của hệ thống chính trị của cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào, do vậy hệ thống chính trị cấp huyện cũng mang những đặc
điểm chung của toàn bộ hệ thống đó là:
- Được tổ chức chặt chẽ, có sự phân định chức năng, nhiệmvụ, thẩm
quyền của mỗi tổ chức và cơ chế hoạt động của từng tổ chức cũng như của hệ
thống.
- Các tổ chức cấu thành hệ thống chính trị có cùng chung mục tiêu cao cả
nhất là bảo đảm quyền lực chính trị thuộc về nhân dân.
- Đảng cộng sản là lực lượng duy nhất thực hiện chức năng lãnh đạo đối
với toàn bộ hệ thống.
Ngoài những đặc điểm chung nêu trên, hệ thống chính trị cấp huyện còn
có những đặc điểm riêng xét trên hai khía cạnh: địa vị pháp lý và thực tế, đó
là những đặc điểm sau:
- So với trung ương và cấp tỉnh, cấp huyện gần với cộng đồng dân cư
hơn, do vậy tổ chức hoạt động của cấp huyện mang đậm dấu ấn của phong tục
tập quán và truyền thống văn hóa vùng, miềm.
- Thẩm quyền pháp lý xét trong toàn bộ hệ thống là cấp kết nối cấp tỉnh,
cấp cơ sở (củm bản). cấp huyện là cấp giúp cấp tỉnh chỉ đạo, kiểm tra, đôn
đốc cơ sở thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước
đến với dân, là cấp có bộ máy đơn giản hơn so với tỉnh, đổi ngũ cán bộ, công
chức có nhiệm vụ chủ yếu là thực thi nhiệm vụ và hướng dẫn, kiểm tra củm
bản.
23
- Cấp huyện là cấp trên trực tiếp của cơ sở cùng với củm bản đối mặt với
những yêu cầu bức xúc của dân chúng, những mẫu thuẫn nảy sinh trong đời
sống dân cư.
Hệ thống chính trị cấp huyện có các chức năng, nhiệm vụ cụ thể là triển
khai thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và các
chủ trương, quyết định của cấp tỉnh trên địa bàn hành chính – lãnh thổ nhất
định là huyện, củm bản thuộc tỉnh, chỉ đạo hướng dẫn hệ thống chính trị cấp
cơ sở thực hiện chủ trương, chính sách, nghị quyết, kế hoạch của cấp trên,
phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo ổn định chính trị - xã hội và không ngừng
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần người dân trên địa bàn.
Ngoài những đặc điểm của hệ thống chính trị trên phạm vi cả nước Lào
nói chung và những đặc điểm riêng của hệ thống chính trị cấp huyện đã nêu
trên, giữa huyện và củm bản thuộc tỉnh, tuy cùng một cấp hành chính – lãnh
thổ, nhưng lại có những đặc điểm khác nhau đó là:
Đối với huyện: là địa bàn ở nông thôn với diện tích khá lớn nhưng mặtđộ
dân cư không tập trung đông đúc như ở thành phố. Huyện là nơi có cộng đồng
dân cư gắn bó chặt chẽ trên cơ sở những phong tục tập quán riêng, hoạt động
kinh tế - xã hội chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với nguồn tư liệu sản xuất là
đất đai do chính quyền địa phương thống nhất quản lý trên cơ sở về quy mô
dân số, diện tích, điều kiện tư nhiên, chính trị xã hội nhất định và yêu cầu
quản lý hành chính nhà nước mà huyện được chia thành củm bản.
Trong mỗi quan hệ giữa huyện với củm bản, với tỉnh: huyện là cầu nối
kết hợp cấp tỉnh với cấp cơ sở (củm bản), trong mỗi quan hệ giữa chính quyền
trưởng và chính quyền địa phương của nhà nước đơn nhất như ở nước Lào thì
tỉnh là đơn vị hành chính – lãnh thổ cơ bản nơi bắt đầu của chế độ tự chủ địa
phương, củm bản là cầu nối giữa nhà nước với nhân dân, là nơi nhân dân trực
tiếp quyền tự quản của mình, còn huyện là cấp trung gian và khó xác định
24
được phạm vi và mức độ của quyền tự chủ, tự quản. Những vấn đề tự chủ
chung cho một tỉnh đã được phân cấp cho cấp tỉnh giải quyết, mọi quyết định
về chủ trương, chính sách liên quan đến quyền và lợi ích của nhân dân đều
thuộc thẩm quyền cấp tỉnh và khi cấp tỉnh đã quyết định thì có hiệu lực thi
hành trên phạm vi toàn tỉnh. Ngược lại, những quyết định mang tính tự quản
trên địa bàn cơ sở, những vấn đề cụ thể ở cơ sở, gắn liền với từng người dân,
từng gia đình, từng cộng đồng dân cư đã có thể được quyết định ở cấp cơ sở
(củm bản).
Củm bản là nơi cộng đồng dân cư sinh sống, gắn bó với quan hệ láng
giềng dòng tộc từ nhiều đời này, củm bản không chỉ là cấp hành chính mà còn
là cấp tự quản – chính quyền, củm bản là nơi trực tiếp tổ chức chỉ đạo thực
hiện pháp luật và các chủ trương chính sách của cấp trên. Trong đó tập trung
chủ yếu vào trực tiếp giải quyết các yếu cầu hợp pháp của tổ chức và công
nhân trên các lĩnh vực, hộ tịch, hộ khẩu, lao động, tài nguyên đất đai, tổ chức
việc cung ứng các dịch vụ công trên địa bàn,… bảo đảm an ninh chính trị và
trật tự an toàn xã hội trên địa bàn cùng với thực hiện các nhiệm vụ đó, củm
bản còn là cấp quyết định các công việc mang tính tự quản của cộng đồng dân
cư liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhân dân trong củm bản. nhưng củm bản
là trung tâm huyện ly. Quan hệ giữa huyện với củm bản, củm bản quan hệ với
huyện, với tỉnh.
Trong thực tế quản lý ở nước Lào, do quá trình phát triển của kinh tế - xã
hội và sự phân công chức năng nhiệm vụ của các chính quyền địa phương
trong điều kiện mới, huyện đã không còn giữ nguyên vai trò của một đơn vị
hành chính trong thời kỳ bao cấp trước đây. Huyện không còn là một cấp quy
hoạch quản lý toàn diện sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Huyện không còn là
đơn vị có cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp, một đơn vị tổ chức và phân
công lao động như trước đây. Chức năng nhiệm vụ chủ yếu của huyện là tổ
25
chức thực hiện các quyết định của cấp trên chỉ đạo và hướng dẫn củm bản.
Mặt khác, nhiều lĩnh vực như tư pháp, an ninh, quốc phòng… được tổ chức
theo ngành dọc. Vì vậy, các chức năng thẩm quyền của chính quyền trên thực
tế đã thay đổi và bị thu hẹp tổ chức lại rất nhiều.
Mặc dù cùng một cấp hành chính nhưng huyện có tính độc lập hơn so với
củm bản, huyện có thẩm quyền và hiệu lực trong các quyết định liên quan đến
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn (trên cơ
sở chủ trương chung của tỉnh), huyện mạng đậm nét là củm bản.
Bên cạnh những đặc điểm đã nêu trên thì giữa huyện với củm bản thuộc
tỉnh cũng có những khác biệt về đối tượng tác động và chức năng, nhiệm vụ
của hệ thống chính trị, đồng thời các yếu tố về mặt điểm tự nhiên , điều kiện
kinh tế - xã hội, đặc thù vùng, miền, phân bố dân cư, trình độ dân trí, diện
tích, dân số, dân tộc, tôn giáo, phong tục tập quán… cũng có tác động đến tổ
chức và hoạt động của hệ thống chính trị cấp huyện ở địa bàn củm bản.
Cũng như toàn bộ hệ thống, hệ thống chính trị ở huyện, củm bản có đầy
đủ chức năng chung của toàn bộ hệ thống đó là: chức năng tổ chức thực hiện
quyền lực của nhân dân, chức năng xây dựng và tăng cường khối đại đoàn kết
dân tộc, chức năng tổ chức dân chủ và đảm bảo dân chủ, chức năng giữ vững
ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh trấn áp các lực lượng thù
địch. Để thực hiện có hiệu quả các chức năng của hệ thống chính trị, căn cứ
vào đặc điểm từng địa bàn của các huyện có những nhiệm vụ và cách thức
thực hiện nhiệm vụ khác nhau.
Vai trò của chính trị đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước Lào thực
hiện tập trung nhất ở chỗ phải bảo đảm vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng,
tăng cường chức năng quản lý của nhà nước theo đường lối chính trị của
Đảng đối với kinh tế. Điều đó càng rõ khi chúng ta đang từng bước chuyển
26
sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo
của nhà nước.
Bên cạnh những mặt mạnh, nền kinh tế ở cấp huyện có những mặt trái,
chẳng hạn, nó làm tăng tính tự phát của nền kinh tế, làm tăng sựphânhóa giầu
nghèo, những yếu tố tự phát yếu tố hoạt động tiêu cực đi theo nó có cơ trỗidậy
và bành trướng…
Để hạn chế tác động tiêu cực của các mặt trái nêu trên, việc bảo đảm vai
trò lãnh đạo chính trị của Đảng, tăng cường chức năng quản lý vi mô của nhà
nước, phát huy quyền lực của các tổ chức chính trị - xã hội của nhân có vị trí
cực kỳ quan trọng.
1.2.3. Đổi mới tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị ở cấp huyện hiện
nay.
Đổi mới tổ chức, hoạt động hệ thống chính trị là một bộ phần không thể
tách rời của sự nghiệp đổi mới tổ chức hoạt động ở nước Lào hiện nay.
Yêu cầu mới đặt ra đối với việc xây dựng và phát triển kinh tế là sự đòi
hỏi phải có một hệ thống chính trị thật sự tương tích và được tổ chức, hoạt
động phù hợp với tính chất và trình độ của nền kinh tế, tuân thủ các quy tắc
vận hành của cơ chế kinh tế, đồng thời phải có khả năng hoạch định đường
lối, tạo khuôn khổ chính trị rộng lớn cho các quan hệ kinh tế phát triển.
Xuất phát từ sự thống nhất biện chứng giữa kinh tế và chính trị từ quy
luật về sự phù hợp giữa chính trị với kinh tế nên tất yếu dẫn tới logic là sự vận
động của kinh tế, việc đổi mới kinh tế không tách rời sự thay đổi trong chính
trị và phải đổi mới chính trị, do mỗi quan hệ hữu cơ giữa kinh tế và chính trị
nên đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một quá trình thống nhất, phải
được tiến hành đồng bộ, không biện lập, tách rời phải kết hợp chặt chẽ các
giải pháp đổi mới kinh tế với các giải pháp đổi mới chính trị.
27
Khi tổng kết 24 năm đổi mới, Đảng nhân dân cách mạng Lào khẳng một
trong những bài học: việc phát triển kinh tế thị trường phải mở rộng quan hệ
quốc tế là cần thiết, nhằm tăng cường kinh tế phát triển năng động và có hiệu
quả, nhưng kinh tế thị trường cũng làm trầm trọng thêm những tệ nạn xã hội
và các yếu tố tiêu cực, đặt biệt là chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, lối sống thực
dụng tất cả vì tiền. Để khắc phục tình trạng đó. Trước hết phải kết hợp chặt
chẽ đội ngũ cán bộ tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội phải có phẩm chất và trình độ ngay tầm với nhiệm vụ và yêu cầu đổi
mới. Phải kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị,
lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị.
Chính trị phải được xây dựng trên cơ sở kinh tế không được thoát ly những
đặc trưng và những nhiệm vụ kinh tế của xã hội, khi cơ sở kinh tế biến đổi
chính trị phải tự mình biến đổi, phải thay đổi cơ cấu tổ chức và cơ chế vận
hành theo hướng phản ảnh đúng cơ sở kinh tế, phải điều chỉnh các thể chế sao
cho phù hợp nhằm tạo được môi trường tốt nhất cho kinh tế phát triển theo
đúng quy luật khách quan.
Ở cấp huyện cũng vậy, sự phát triển mạnh mẽ, năng động của kinh tế thị
trường đòi hỏi hệ thống chính trị phải thường xuyên đổi mới, hoàn thiện và
phải xem đổi mới là quá trình thường xuyên, liên tục đối với tổ chức hoạt
động hệ thống chính trị, để đảm bảo hệ thống chính trị không những luôn luôn
phù hợp với các bước phát triển của kinh tế mà phải luôn ở thế chủ động
trong các quan hệ kinh tế, thất sự có năng lực hướng dẫn được kinh tế theo
đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ở công hòa dân chủ nhân dân Lào đang thực hiện để xác định nhiệm vụ
xây dựng nhà nước pháp quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự
lãnh đạo của Đảng là một trong nhiệm vụ có tính chiến lược trong quá trình
28
thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bảo đảm nguyên tắc cả quyền
lực nhà nước đều thuộc về nhân dân.
Về phương diện lý luận, nhà nước pháp quyền của nước Lào là sự kết
hợp những giá trị phổ biến của một nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu cầu
xây dựng theo con đường chủ nghĩa xã hội và phát triển đất nước theo
phương châm dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Với ý nghĩa trên, nhà nước pháp quyền là nhà nước có bộ máy được tổ
chức và vận hành trên cơ sỏ các nguyên tắc tổ chức quyền lực một cách dân
chủ được phân định với xã hội dân sự và quan hệ chặt chẽ với xã hội dân sự là
nhà nước mà ở đó, quyền con người quyền công dân được tôn trọng, được đề
cao và bảo đảm trong mọi hoạt động quyền lực, đặc biệt là pháp quyền là nhà
nước biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ và có một chế độ từ pháp luật
thực sự dân chủ.
Quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước Lào trong thời gian qua
được tổ chức và hoạt động trong một chế độ chính trị dưới sự lãnh đạo của
Đảng duy nhất cầm quyền, Đảng nhân dân cách mạng Lào.
Xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào được xây dựng trên nền tảng tư
tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin , tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng Kay
Sone Phôm ViHạn nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu của công
cuộc xây dựng công hòa dân chủ nhân Lào.
Xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào được tổ chức và hoạt động khuân
khổ một hệ thống chính trị thống nhất bao gồm nhiều tổ chức có vai trò, vị trí
khác nhau và quan hệ chính trị nhiều chiều.
Để làm được điều đó, cần thiết phải cụ thể hóa về vấn đề thực hiện quyền
lực chính trị của nhân dân, đảm bảo cho nhân dân, không bị mất quyền khi
thực hiện sụ ủy quyền cho các tổ chức trong hệ thống chính trị. Phải phân
định chức năng lãnh đạo chính trị lãnh đạo của Đảng và quản lý, điều hành