Table of Contents
MỞ ĐẦU.................................................................................................................2
NỘI DUNG..............................................................................................................3
I.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẪN ĐỘ................................................3
1.
Khái niệm dẫn độ..................................................................................3
2.
Đặc điểm của dẫn độ.............................................................................3
3.
Nguyên tắc dẫn độ.................................................................................4
4.
Trường hợp bị dẫn độ...........................................................................6
5.
Các trường hợp bị từ chối dẫn độ........................................................7
II. HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ DẪN ĐỘ CỦA VIỆT
NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI...................................................8
1.
Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam – Hàn Quốc năm 2003...8
2.
Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và In-đô-nê-xi-a...........11
III. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG HOẠT ĐỘNG
DẪN ĐỘ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY...............................................................16
1.
Thuận lợi..............................................................................................16
2.
Tồn tại và nguyên nhân.......................................................................17
IV. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP
VỀ DẪN ĐỘ...........................................................................................................17
KẾT LUẬN...........................................................................................................18
MỞ ĐẦU
Ngày nay, toàn thế giới đang bước vào quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế. Do đó việc mở rộng quan hệ giữa các nước láng giềng, các nước trong
khu vực cũng như các nước trên thế giới ngày càng phát triển. Toàn cầu hóa cũng
như việc hợp tác sâu rộng giữa các quốc gia đã mang lại cho các quốc gia trên thế
giới cũng như Việt Nam những điều kiện thuận lợi để phát triển mọi mặt đời sống
kinh tế - xã hội và thực tế đã đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên bên mặt
tích cực đó, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cũng mang lại không ít
những nguy cơ, thách thức lớn đối với các quốc gia. Một trong những khó khăn
thách thức đó là việc phát sinh một số tội phạm mới có tính chất xuyên quốc gia,
loại tội phạm này diễn biến ngày càng phức tạp về cả tính chất, quy mô và hậu
quả, đe dọa đến an ninh quốc gia và hòa bình trên thế giới. Việt Nam cũng là một
trong những nước đối mặt với thách thức này, trong thời gian gần đây tình trạng
người nước ngoài và người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài rồi trốn vào Việt
Nam và phạm tội ở Việt Nam rồi trốn ra nước ngoài ngày càng gia tăng. Trước
tình hình này, một trong những vấn đề cấp bách là đòi hỏi các quốc gia phải tăng
cường hợp tác, liên kết với nhau trong tất cả mọi mặt để nâng cao hiệu quả đấu
tranh và phòng chống tội phạm. Trong đó việc hợp tác về dẫn độ là một tất yếu
khách quan và vô cùng cần thiết trong việc đấu tranh và phòng chống tội phạm nói
chung và việc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người
phạm tội ở quốc gia này nhưng đang lẩn trốn ở quốc gia khác nói riêng. Ở nước ta
đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động dẫn độ nhưng phần lớn các công
trình nghiên cứu đó chỉ dừng ở việc nghiên cứu về mặt lý luận hoạt động dẫn độ,
chưa đi phân tích cụ thể các hoạt động tương trợ tư pháp về dẫn độ thực tế của
nước ta với các nước trên thế giới để tìm ra những thuận lợi và khó khăn trong
hoạt động tương trợ tư pháp về dẫn độ. Chính vì vậy, tôi xin nghiên cứu về đề tài:
“Dẫn độ và hoạt động tương trợ tư pháp về dẫn độ của Việt Nam với một số
nước trên thế giới.”. Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, tôi hy vọng sẽ đưa ra
được những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động tương trợ tư pháp về dẫn độ ở
nước ta, qua đó có thể đưa ra những kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
tương trợ tư pháp về dẫn độ.
NỘI DUNG
I.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẪN ĐỘ.
1. Khái niệm dẫn độ.
Dẫn độ là một chế định của luật hình sự quốc tế, vì vậy khái niệm dẫn độ sẽ có
nhiều cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên từ việc tìm hiểu các cách tiếp cận đó thì
khái niệm dẫn độ được hiểu một cách chung nhất là một hoạt động tương trợ tư
pháp giữa các quốc gia, theo đó quốc gia được yêu cầu dẫn độ dựa trên cơ sở pháp
luật quốc tế và pháp luật quốc gia chuyển giao người có hành vi phạm tội hoặc
người đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật đang có mặt trên lãnh
thổ quốc gia được yêu cầu để quốc gia yêu cầu tiến hành truy cứu trách nhiệm
hình sự hoặt thi hành bản án đối với người đó.
2. Đặc điểm của dẫn độ.
Từ khái niệm được đưa ra, ta có thể rút ra một số đặc điểm của dẫn độ như sau:
Về chủ thể của quan hệ dẫn độ: Chủ thể của quan hệ dẫn độ là các quốc gia,
trong đó bao gồm quốc gia yêu cầu dẫn độ và quốc gia được yêu cầu dẫn độ. Quốc
gia yêu cầu dẫn độ là quốc gia có bị cá nhân xâm hại quyền và lợi ích, quốc gia
được yêu cầu dẫn độ là nơi mà cá nhân thực hiện hành vi xâm hại đang hiện diện
ở đó.
Về đối tượng dẫn độ: Là người đã thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ
nước được yêu cầu và người thực hiện hành vi phạm tội đang hiện diện trên nước
được yêu cầu. Và người này chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi
phạm tội đó hoặc đã có bản án kết tội về hành vi phạm tội đó nhưng chưa chấp
hành hình phạt hoặc chấp hành chưa xong hình phạt.
Về cơ sở pháp lý của hoạt động dẫn độ: Các điều ước quốc tế mà các quốc gia
đã tham gia với nhau chính là cơ sở pháp lý quan trọng để hoạt động dẫn độ được
tiến hành. Ngoài ra trên cơ sở nguyên tắc “có đi có lại” giữa các quốc gia thì hoặt
động dẫn độ dẫn độ vẫn có thể tiến hành khi không có điều ước quốc tế liên quan
đế hoạt động dẫn độ giữa các quốc gia.
Về mục đích của hoạt động dẫn độ: Hoạt động dẫn độ có mục đích nhằm truy
cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật đối với
người bị yêu cầu dẫn độ. Việc dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự và thi hành
bản án đối với người bị yêu cầu nhằm mục đích hành vi phạm tội phải bị trừng trị,
đảm bảo sự ổn định xã hội, tính tối cao của Luật pháp và công lý phải được thực
thi.
3. Nguyên tắc dẫn độ.
Nguyên tắc của hoạt động dẫn độ là những tư tưởng chính trị - pháp lý có tính
chỉ đạo, xuyên suốt, bao trùm toàn bộ hoạt động của các chủ thể khi tiến hành dẫn
độ. Khi tiến hành dẫn độ, các quốc gia phải nghiêm chỉnh tuân thủ những nguyên
tắc sau đây1:
3.1.
Nguyên tắc có đi có lại.
Nguyên tắc có đi có lại được ghi nhận trong pháp luật của hầu hết các quốc gia
trên thế giới. Trong hoạt động tương trợ tư pháp về dẫn độ tội phạm giữa các quốc
gia, nguyên tắc này thể hiện ở việc khi một quốc gia được yêu cầu dẫn độ cho một
quốc gia khác thì quốc gia được yêu cầu sẽ chỉ tiến hành hoạt động dẫn độ tội
phạm nếu có sự đảm bảo chắc chắn từ phía quốc gia yêu cầu rằng nếu trong
trường hợp tương tự ở tương lai thì quốc gia yêu cầu sẽ chấp nhận yêu cầu dẫn độ
tội phạm nếu có yêu cầu dẫn độ tội phạm. Nguyên tắc này thể hiện sự bình đẳng
và tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc gia, nâng cao được hiệu quả đấu tranh và
phòng chống tội phạm trên cơ sở thiện chí và tôn trọng sự giúp đỡ.
1 Nguyễn Quốc Việt (chủ biên): Giáo trình Luật tương trợ tư pháp, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội,
2016. Tr 144.
3.2.
Nguyên tắc tội phạm kép.
Nguyên tắc tội phạm kép được nhiều nước công nhận và là là nguyên tắc
không thể thiếu trong hoạt động dẫn độ tội phạm. Nguyên tắc tội phạm kép được
hiều là một người chỉ có thể bị dẫn độ khi hành vi phạm tội của người đó đều cấu
thành tội phạm trong pháp luật hình sự của quốc gia yêu cầu dẫn độ và quốc gia
được yêu cầu dẫn độ. Trong thực tế, pháp luật của các nước quy định tội danh đối
với một hành vi phạm tội cụ thể là không giống nhau, những yếu tố cấu thành tội
phạm cũng không hoàn toàn giống nhau. Vì vậy để áp dụng linh hoạt nguyên tắc
này, nhiều quốc gia đã quy định hành vi phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ
không nhất thiết phải cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh, các yếu tố cấu
thành tội phạm không thiết phải giống nhau theo quy định của pháp luật hình sự
của các nước. Việc quy định như vậy đã gỡ được “nút thắt” khi áp dụng nguyên
tắc tội phạm kép.
3.3.
Nguyên tắc không dẫn độ công dân của nước mình.
Nguyên tắc không dẫn độ công dân của nước mình được hiểu là quốc gia được
yêu cầu sẽ không thực hiện yêu cầu dẫn độ của nước yêu cầu nều có căn cứ cho
rằng người bị yêu cầu dẫn độ là công dân của nước mình. Nguyên tắc này thể hiện
việc chủ quyền của quốc gia đối với công dân của nước mình là tuyệt đối, không
có giới hạn về không gian và thể hiện nghĩa vụ của nhà nước đối với công dân của
mình là bảo vệ quyền và lợi ích cho họ. Nguyên tắc này thường được ghi nhận
trong các văn bản pháp luật của các quốc gia, và ở Việt Nam, Hiến pháp nước
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã quy định: “Công dân Việt Nam
không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác” (khoản 2 Điều 17). Tuy nhiên
phải có những biện pháp đảm bảo việc hành vi phạm tội cần phải bị trừng trị.
Chính vì vậy một số điều ước quốc tế đã có những quy định khá mềm dẻo để truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người là công dân của nước được yêu cầu đó là
giải quyết theo nguyên tắc nếu không dẫn độ thì phải truy tố. Hoặc có thể nói đến
khoản 11 Điều 16 Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm có tổ
chức xuyên quốc gia thông qua tại Palermo, Italia năm 2003 quy định: “Quốc gia
được phép dẫn độ và chuyển giao công dân của nước mình theo quy định của nội
luật, với điều kiện là sau khi xét xử công dân đó phải được trở về thi hành án ở
quốc gia đó”.
3.4.
Nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị.
Nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị được hiểu là các quốc gia được
yêu cầu có thể từ chối yêu cầu dẫn độ của quốc gia khác đối với một cá nhân mà
quốc gia được yêu cầu dẫn độ cho rằng người này đã phạm các tội về chính trị.
Tuy nhiên, trong các điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia, thực tiễn tương trợ tư
pháp hình sự quốc tế chưa có một khái niệm thống nhất về thế nào là “tội phạm
chính trị”. Vì vậy, khi đề cập đến vấn đề này thì xuất hiện khá nhiều tranh cãi,
thực chất, đây chỉ là vấn đề quan điểm nhìn nhận riêng cũng như quan điềm chính
trị của mỗi quốc gia. Việc quy định nguyên tắc này là để đảm bảo quyền con
người khi một người là tội phạm chính trị được dẫn độ đến một quốc gia thì có thể
bị tra tấn hoặc đối xử vô nhân đạo2.
4.
Trường hợp bị dẫn độ.
Thứ nhất, theo Hiệp định mẫu về dẫn độ của Liên hợp quốc về dẫn độ năm
1990 quy định: Những tội phạm dẫn độ là những tội phạm phải bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo hình phạt tù hoặc tước quyền tự do tối đa từ 1 đến 2 năm hoặc
bị áp dụng hình phạt nặng hơn theo luật hình sự mỗi nước. Khi một yêu cầu dẫn
độ liên quan đến một người bị truy nã nhằm để thi hành hình phạt tù hoặc tước
quyền tự do về hành vi phạm tội đó thì dẫn độ sẽ được chấp nhận nếu thời gian
chấp hành án còn ít nhất từ 04 đến 06 tháng trở lên đối với tội phạm đó. Như vậy,
tùy theo pháp luật của các quốc gia và các điều ước quốc tế, hiệp định tương trợ tư
pháp giữa các quốc gia mà thời gian tối thiểu cụ thể của hình phạt đối với người bị
yêu cầu dẫn độ. Nhưng qua thực tiễn tương trợ tư pháp về hình sự và dẫn độ cho
thấy các quốc gia thường thỏa thuận về mức hình phạt thấp nhất đối với người
thực hiện hành vi phạm tội đó từ 01 năm trở lên hoặc nặng hơn; trường hợp người
2 Nguyễn Quốc Việt (chủ biên): Giáo trình Luật tương trợ tư pháp, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội,
2016. Tr 152.
đó đã bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn chấp hành án còn lại
ít nhất là 06 tháng.
Thứ hai, như ở trên đã nói pháp luật của các quốc gia không thể tương đồng
với nhau hoàn toàn về nhóm tội danh, tên tội danh và các yếu tố cấu thành tội
phạm. Vì vậy người phạm tội vẫn có thể bị dẫn độ khi pháp luật của quốc gia yêu
cầu và quốc gia được yêu cầu dẫn độ không tương đồng với nhau, miễn là hành vi
phạm tội đó đều bị pháp luật hình sự của các quốc gia coi là tội phạm, chứ không
nhất thiết phải thuộc cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh, các yếu tố cấu
thành tội phạm không nhất thiết phải giống nhau theo quy định của pháp luật nước
yêu cầu và nước được yêu cầu dẫn độ.
Thứ ba, hành vi phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ phải thỏa mãn nguyên
tắc tội phạm kép, nghĩa là hành vi phạm tội đó đều bị pháp luật quốc gia yêu cầu
và quốc gia được yêu cầu coi là tội phạm.
5. Các trường hợp bị từ chối dẫn độ.
Trong các hiệp định tương trợ tư pháp về dẫn đỗ cũng như các điều ước quốc tế
có đề cập đến vấn đề dẫn độ thì hầu như đều quy định các trường hợp sẽ từ chối
dẫn độ. Tuy nhiên, các hiệp định quy định về các trường hợp từ chối dẫn độ có sự
khác nhau nhất định. Tuy nhiên qua thực tiễn tương trợ tư pháp về dẫn độ cho thấy
một số trường hợp từ chối dẫn độ như sau:
Thứ nhất, người bị dẫn độ là công dân của quốc gia được yêu cầu. Việc quy
định trường hợp này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc không dẫn độ công dân
của nước mình.
Thứ hai, người bị dẫn độ là cá nhân đã có hành vi phạm tội đã bị quốc gia được
yêu cầu dẫn độ kết án bằng một bản án có hiệu lực đối với hành vi đó hoặc vụ án
đã bị đình chỉ. Quy định này nhằm đảm bảo các phán quyết của Tòa án cần phải
được tôn trọng và phải được mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan thi hành.
Đồng thời một nguyên tắc cơ bản của luật hình sự được thừa nhận chung là không
ai bị kết tội hai lần về cùng một hành vi3
Thứ ba, hành vi phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ đã hết thời hiệu theo quy
định của pháp luật quốc gia được yêu cầu. Về nguyên tắc, một người sẽ không bị
truy cứu trách nhiệm hình sự khi thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
hành vi phạm tội của họ đã hết.
Thứ tư, theo nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị thì đây là một trường
hợp quốc gia được yêu cầu dẫn độ có thể từ chối yêu cầu dẫn độ khi có căn cứ cho
rằng hành vi phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ có liên quan đến tội phạm
chính trị.
Trên đây chỉ là những trường hợp bị từ chối dẫn độ phổ biến. Ngoài ra, tùy
theo từng điều ước quốc tế, từng hiệp định tương trợ tư pháp giữa các quốc gia thì
còn có các trường hợp bị từ chối dẫn độ được quy định cụ thể.
II.
HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ DẪN ĐỘ CỦA VIỆT
NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.
1. Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam – Hàn Quốc năm 2003.
1.1. Nội dung cơ bản của hiệp định.
Ngày 15 tháng 09 năm 2003 tại Seoul – Hàn Quốc, nước ta đã ký hiệp định
song phương chuyên biệt đầu tiên về dẫn độ với Hàn Quốc (hiệp định có hiệu lực
từ ngày 19/04/ 2003. Hiệp định này gồm 20 Điều, với nội dung là quy định những
nội dung cơ bản của hoạt động tương trợ tư pháp giữa nước ta với Hàn Quốc như
các trường hợp dẫn độ, trường hợp từ chối dẫn độ và các thủ tục, tài liệu cần thiết
trong việc dẫn độ tội phạm, cụ thể như sau:
Về nghĩa vụ dẫn độ, Theo quy định của Hiệp định này thì mỗi bên đồng ý dẫn
độ cho bên kia bất kỳ người nào có mặt trên lãnh thổ của mình mà bên đó yêu cầu
để tiến hành truy tố, xét xử hoặc thi hành án vì một tội có thể bị dẫn độ.
3 Nguyễn Quốc Việt (chủ biên): Giáo trình Luật tương trợ tư pháp, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội,
2016. Tr 159.
Về trường hợp bị dẫn độ, Điều 2 của hiệp định đã quy định 2 trường hợp bị dẫn
độ đó là: Dẫn độ người có hành vi phạm tội có và hành vi đó có thể bị xử phạt tù
với thời hạn từ một năm trở lên hoặc nặng hơn theo quy định pháp luật của cả hai
bên tại thời điểm yêu cầu dẫn độ và trường hợp người bị yêu cầu dẫn độ đã có bản
án kết án có hiệu lực của Tòa án mà thời gian phải chấp hành hình phạt tù phải
còn lại ít nhất là 6 tháng
Về các trường hợp từ chối dẫn độ: Hiệp định này đã tuân thủ những nguyên
tắc của hoạt động dẫn độ khi quy định các trường hợp từ chối dẫn độ, cụ thể là
Điều 3 hiệp định này đã quy định các trường hợp phải bắt buộc từ chối dẫn độ, đó
là: khi nước được yêu cầu dẫn độ xác định rằng tội phạm bị yêu cầu dẫn độ là tội
phạm chính trị hoặc bên được yêu cầu có căn cứ cho rằng yêu cầu dẫn độ của
nước yêu cầu là nhằm trừng phạt người bị yêu cầu dẫn độ vì lý do chủng tộc, tôn
giáo, quốc tịch, giới tính, chính kiến, quan điểm chính trị. Tuy nhiên hiệp định
cũng quy định trường hợp ngoại lệ của các trường hợp trên là không được từ chối
khi hành vi phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ tước đoạt tính mạng hoặc xâm
phạm thân thể của người đứng đầu nhà nước hay thành viên gia đình của người
đó, hay trường hợp tội phạm mà các bên có nghĩa vụ thiết lập quyền truy cứu trác
nhiệm hình sự hoặc thỏa thuận theo một điều ước quốc tế đa phương và cả hai bên
đều là thành viên.
Ngoài ra tại Điều 4 Hiệp định này còn quy định các trường hợp có thế tự quyết
định từ chối dẫn độ như trường hợp khi toàn bộ hoặc một phần tội phạm bị yêu
cầu dẫn độ được cho là đã được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ quốc gia được
yêu cầu theo pháp luật quốc gia đó; trường hợp khi người bị yêu cầu dẫn độ đã
được xử vô tội hoặc bị kết án tại một quốc gia thứ 3 về cùng một tội đó, nếu bị kết
án, thì hình phạt đã được thi hành đầy đủ hoặc không còn hiệu lực thi hành nữa;
trong các trường hợp ngoại lệ, xét mức độ nghiêm trọng của tội phạm và lợi ích
của bên yêu cầu, bên được yêu cầu thấy rằng việc dẫn độ sẽ không phù hợp với
các nguyên tắc nhân đạo do hoàn cảnh cá nhân của người bị yêu cầu dẫn độ; khi
một tội mà yêu cầu dẫn độ đưa ra là một tội theo luật quân sự và không phải là tội
quy định trong luật hình sự thông thường. Và theo nguyên tắc không dẫn độ công
dân của nước mình thì tại Điều 6 của hiệp định này còn quy định các bên không
có nghĩa vụ phải dẫn độ công dân của nước mình.
Về thủ tục và tài liệu cần thiết: Yêu cầu dẫn độ phải được thực hiện bằng văn
bản và gửi thông quan đường ngoại giao, văn bản này phải kèm theo các tài liệu
được quy định trong hiệp định và phải có chữ ký hoặc xác nhận của thẩm phán
hoặc cơ quan chức năng có thẩm quyền của bên yêu cầu.
1.2.
Đánh giá hiệp định và thực tiễn thực hiện.
Thông qua việc ký kế hiệp định này đã cho thấy sự quan tậm và thiện chí hợp
tác giữa Việt Nam và Hàn quốc trong hoạt động đấu tranh và phòng chống tội
phạm. Về cơ bản Hiệp định đã quy định rõ các nội dung về hoạt động hợp tác dẫn
độ như nghĩa vụ dẫn độ của mỗi nước, các trường hợp bị dẫn độ, các trường hợp
bị từ chối dẫn độ, thủ tục và tài liệu cần thiết và những quy định quan trọng khác.
Những quy định trong hiệp định về cơ bản đã phù hợp với những quy định của
pháp luật quốc tế về dẫn độ tội phạm, phù hợp với pháp luật và thể chế kinhh tế,
chính trị của 2 quốc gia.
Về thực tiễn thực hiện hiệp định. Năm 2006 Bộ công an Việt Nam đã khởi tố
và phát lệnh truy nã quốc tế đối với Nguyễn Hữu Chánh về tội danh khủng bố theo
quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam. Ngay sau đó, được biết Nguyễn Hữu
Chánh đã bỏ trốn sang Hàn Quốc. Vì vậy Bộ Công an Việt Nam đã gửi yêu cầu
dẫn độ tới Hàn Quốc, yêu cầu dẫn độ Nguyễn Hữu Chánh về Việt nam. Mặc dù
đã có hiệp định tương trợ tư pháp về dẫn độ nhưng Hàn Quốc đã từ chối dẫn độ
Nguyễn Hữu Chánh về Việt Nam với lý do “Nguyễn Hữu Chánh phạm tội về
chính trị và Việt Nam chưa tham gia Công ước của Liên hợp quốc về chống khủng
bố bằng bom”.
Như ở trên đã nói, vấn đề này thể hiện quan điểm nhìn nhận riêng của mỗi
nước, và đây cũng chính là những bất cập khi chưa có một khái niệm cũng như
một cách hiểu chung về “tội phạm chính trị”. Vì vậy, vấn đề hợp tác về dẫn độ
giữa Việt Nam và hàn quốc đã không đạt được.
Một vụ án nữa liên quan đến hiệp định tương trợ tư pháp về dẫn độ giữa Việt
Nam và Hàn Quốc như vụ Nam Kuk Hyeon – quốc tịch người Hàn Quốc đang bị
cảnh sát nước này truy nã về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đối tượng này đang
chốn ở Việt Nam. Ngày 7 tháng 04 năm 2010 Công an thành phố Hà Nội đã bắt
giữ Nam Kuk Hyeon4. Và trên cơ sở yêu cầu dẫn độ của phía Hàn Quốc, Việt Nam
đã chấp nhận yêu cầu dẫn độ đối với đối tượng này. Qua vụ việc này, thể hiện
thiện chí của Việt Nam trong việc thực hiện hiệp định đã ký kết cũng như hợp tác
trong việc đấu tranh và phòng chống tội phạm với Hàn Quốc.
2. Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và In-đô-nê-xi-a.
2.1. Nội dung cơ bản của hiệp định.
Ngày 27 tháng 06 năm 2013 Việt Nam đã ký với In-đô-nê-xi-a Hiệp định dẫn
độ bao gồm 23 Điều và hiệp định này có hiệu lực kể từ ngày 26 tháng 04 năm
2015, hiệp định này cũng quy định những nội dung cơ bản về hoạt động tương trợ
tư pháp về dẫn độ như nghĩa vụ dẫn độ; các trường hợp bị dẫn độ, các trường hợp
bị từ chối dẫn độ; thủ tục và tài liệu cần thiết và một số vấn đề có liên quan. Cụ
thể như sau:
Về nghĩa vụ dẫn độ: Theo quy định của hiệp định nàu thì mỗi bên sẽ đồng ý
dẫn độ cho bên kia bất cứ người nào có mặt trên lãnh thổ của bên được yêu cầu
trên cơ sở bên yêu cầu đề nghị dẫn độ người bị yêu cầu để truy tố, xét xử hoặc
hành án về một tội phạm được thực hiện trước hoặc sau thời điểm hiệp định này
có hiệu lực. Như vậy, hiệp định này đã đặt ra trường hợp kể cả khi tội phạm được
thực hiện trước khi hiệp định này có hiệu lực thì vẫn có thể bị dẫn độ.
Về các trường hợp bị dẫn độ: Điều 2 Hiệp định này đã quy định những trường
hợp bị dẫn độ như người thực hiện hành vi phạm tội bị yêu cầu dẫn độ theo quy
định của pháp luật 2 bên thì có thể bị phạt tù từ một năm trở lên hoặc nghiêm khắc
4 />
hơn theo pháp luật của 2 bên; hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hoặc
lập kế hoạch , giúp sức hoặc xúi giục, hướng dẫn hoặc tổ chức việc thực hiện hoặc
là người cùng thực hiện hành vi có thể bị phạt tù từ 1 năm trở lên.
Để làm rõ hơn các trường hợp sẽ bị dẫn độ Hiệp định này còn quy định là
không yêu cầu pháp luật của cả hai bên quy định hành vi của người bị yêu cầu dẫn
độ thuộc cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh và cùng các yếu tố cấu thành
tội phạm. Đây chính là việc cụ thể hóa và mềm dẻo trong nguyên tắc tội phạm kép
trong hoạt độnh dẫn độ.
Nếu trong trường hợp một yêu cầu dẫn độ liên quan đến nhiều tội và một trong
số đó không có hình phạt tù từ một năm trở lên theo pháp luật của hai bên thì việc
dẫn độ có thể được chấp thuận với tất cả các tội nếu đáp ứng được các yêu cầu
khác theo quy định của hiệp định và ít nhất một trong số tội đó là tội phạm thuộc
trường hợp bị dẫn độ. (khoản 4 Điều 2).
Khoản 5 Điều 2 Hiệp định này còn quy định nếu pháp luật của bên được yêu
cầu dẫn độ không áp dụng cùng loại thuế hoặc thuế hải quan không quy định về
thuế, thuế hải quan hoặc quy chế ngoại hối tương tự như pháp luật của bên yêu
cầu thì cũng không được từ chối dẫn độ. Như vậy, hiệp định này đã quy định
những vấn đề có thể xảy ra trong tương lai có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện
hoạt động dẫn độ giữa hai nước.
Trường hợp nếu người bị yêu cầu dẫn độ đã bị kết án bằng một bản án có hiệu
lực pháp luật thì yêu cầu dẫn độ chỉ có thể được chấp thuận khi bản án đó có hình
phạt tù đối với người bị yêu cầu dẫn độ và hình phạt tù đó phải còn thời hạn và
không được ít hơn 06 tháng. (Khoản 6 Điều 2).
Về các trường hợp từ chối dẫn độ: Điều 3 của hiệp định đã quy định cụ thể
những trường hợp từ chối dẫn độ như:
Thứ nhấ, Tội phạm bị yêu cầu dẫn độ là tội phạm chính trị. Quy định này thể
hiện nhất quán một trong những nguyên tắc trong hoạt động dẫn độ nói chung là “
không dẫn độ tội phạm chính trị”. Và như ở trên đã nói chưa có một cách hiểu
thống nhất về tội phạm chính trị, do đó khoản 2 Điều 3 Hiệp định này đã liệt kê
những trường hợp sẽ không phải là tội phạm chính trị như: Tội xâm phạm tính
mạng hoặc thân thể người đứng đầu Nhà nước hoặc người đứng đầu Chính phủ
hoặc các thành viên trong gia đình người đó; Một tội phạm trong Công ước quốc
tế mà các bên là quốc gia thành viên có nghĩa vụ dẫn độ hoặc truy tố người bị yêu
cầu hoặc chuyển ngay vụ án đó cho các cơ quan có thẩm quyền của mình để truy
tố; Tội phạm liên quan đến khủng bố theo pháp luật của bên được yêu cầu, tại thời
điểm được yêu cầu sẽ không được coi là tội phạm có tính chính trị; Chuẩn bị
phạm tội hoặc phạm tội chưa đại hoặc là đồng phạm trong các trường hợp phạm
tội nêu trên. Và theo hiệp định này các tội xâm phạm nghiêm trọng thân thể con
người, tính mạng hoặc tài sản mặc dù mang động cơ chính trị nhưng cũng không
được coi là tội phạm chính trị.
Thứ hai, bên được yêu cầu có cơ sở chắc chắn để tin tưởng rằng yêu cầu dẫn
độ được đưa ra để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chừng phạt người bị dẫn độ
vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, dân tộc, quan điểm chính trị hoặc vì bất kể
một trong các lý do nêu trên người đó bị đối xử không công bằng trong quá trình
tố tụng.
Thứ ba, tội phạm bị yêu cầu dẫn độ là tội phạm quân sự và không phải là tội
phạm theo pháp luật hình sự thông thường.
Thứ tư, theo pháp luật của bên yêu cầu, người bị yêu cầu dẫn độ không thể bị
truy tố vì đã hết thời hiệu hoặc không thể thi hành án vì người đó đã được ân xá.
Thứ năm, một bản án cuối cùng đã được tuyên đối với người bị yêu cầu dẫn độ
về tội phạm bị yêu cầu dẫn độ.
Thứ sáu, theo pháp luật của bên yêu cầu, người bị yêu cầu dẫn độ sẽ bị kết án
tử hình, trong khi pháp luật của nước được yêu cầu quy định tội phạm đó không bị
kết án tử hình trừ khi bên yêu cầu cam kết nếu người đó bị kết án tử hình thì hình
phạt đó sẽ không được thi hành.
Những trường hợp bị từ chối dẫn độ, hay nói cách khác bên được yêu cầu sẽ
được quyền từ chối dẫn độ nếu bên được yêu cầu có quyền tài phán đối với một
tội phạm bị yêu cầu dẫn độ theo pháp luật quốc gia.(khoản 4 Điều 3)
Trong các trường hợp ngoại lệ, xét mức độ nghiêm trọng của tội phạm và lợi
ích của bên yêu cầu, bên được yêu cầu thấy rằng việc dẫn độ sẽ không phù hợp
với các nguyên tắc nhân đạo do hoàn cảnh cá nhân của người bị yêu cầu dẫn độ.
(Khoản 5 Điều 3).
Theo quy định tại Điều 4 hiệp định này thì 2 bên sẽ không dẫn độ công dân của
nước mình, quy định này thể hiện nguyên tắc “ không dẫn độ công dân của nước
mình” trong hoạt động dẫn độ nói chung. Và để giải quyết vấn đề không dẫn độ
trong trường hợp này thì đặt ra quy định không dẫn độ thì phải truy tố.
Về thủ tục và tài liệu cần thiết: Hiệp định đã quy định rất quy định rất rõ cơ
quan có thẩm quyền gửi và nhận yêu cầu dẫn độ đó là cơ quan trung ương của các
bên và theo phương thức ngoại giao. Văn bản yêu cầu dẫn độ phải được gửi kèm
theo các tài liệu như các tài liệu mô tả về người bị yêu cầu dẫn độ một cách chi
tiết; văn bản tóm tắt tình tiết của vụ án, mô tả về tội phạm bị yêu cầu dẫn độ bao
gồm thời gian, địa điểm và hình phạt được quy định đối với tội đó; văn bản trích
dẫn các quy định pháp luật xác định tội phạm và hình phạt và các quy định pháp
luật liên quan đến thời hạn truy tố hoặc thi hành án tùy vào hoàn cảnh liên quan
đến tội phạm đó. (khoản 2 Điều 6).
Đối với trường hợp yêu cầu dẫn độ để truy tố thì phải gửi kèm theo lệnh bắt
của tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác để dẫn độ; văn bản đề nghị truy tố
hoặc bản cáo trạng đối với người bị yêu cầu dẫn độ về tội danh được nêu trong
yêu cầu dẫn độ và các chứng cứ xác nhận việc chuẩn bị truy tố người bị yêu cầu
dẫn độ về tội phạm đó để truy tố (khoản 3 Điều 6)
Đối với yêu cầu dẫn độ để thi hành bản án được tuyên đối với người bị yêu cầu
dẫn độ phải gửi kèm theo bản sao có chứng thực bản án cuối cùng và văn bản
thông báo thời gian đã chấp hành hình phạt và thời gian còn phải chấp hành.
(Khoản 4 Điều 6).
2.2.
Đánh giá hiệp định và thực tiễn thực hiện hiệp định.
Việc hai nước ký hiệp định tương trợ tư pháp về dẫn độ đã cho thấy mong
muốn hợp tác cùng đấu tranh và phòng chống tội phạm của cả hai nước. Hiệp định
này đã quy định rất cụ thể những nội dung cơ bản của hoạt động dẫn độ, kể đến là
quy định những trường hợp có thể phát sinh trong các trường hợp bị dẫn độ như
trường hợp pháp luật của bên được yêu cầu không áp dụng cùng loại thuế,… thì
không được từ chối yêu cầu dẫn độ với lý do này; tiếp theo là việc quy định những
trường hợp phạm tội không mang tính chính trị trong hiệp định sẽ góp phần tránh
được những mâu thuẫn có thể xảy ra trong tương lai vì nếu không quy định những
trường hợp như vậy thì rất dễ xảy ra trường hợp hoạt động dẫn độ không thể thực
hiện được vì quan điểm của mỗi nước về tội phạm chính trị là khác nhau.
Về tài liệu và thủ tục cần thiết trong yêu cầu dẫn độ cũng được hiệp định này
quy định rất cụ thể, việc quy định cụ thể như vậy sẽ giúp giải quyết nhanh chóng
khi có yêu cầu dẫn độ và tránh được những sai xót có thể xảy ra.
Về thực tiễn thực hiện hiệp định. Liên quan đến hoạt động dẫn độ thì gần đây
có vụ án 8 công dân người In-đô-nê-xi-a đã tấn công tàu Orkim Hamony
(Malaysia) khi đang ở trên lãnh hải của Malaysia, chúng bắn bị thương một thủy
thủ và gây thương tích cho 11 người khác hòng cướp 6000 tấn dầu, 8 công dân
người In-đô-nê-xi-a trên đường bỏ trốn đã vào lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt
Nam và ngày 19 tháng 06 năm 2015, nhóm này bị lực lượng cảnh sát biển và biên
phòng phối hợp bắt giữ.5
Đáng nói trong vụ án được kể đến trên là cả phía Malaysia và Indonexia đều có
yêu cầu Việt Nam dẫn độ 8 công dân của Indonexia. Bộ công an đã có công văn
gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xem xét yêu cầu dẫn độ. Sau khi xem xét
5 />
các tài liệu trong hồ sơ, căn cứ kết quả phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Hà
Nội đã ra quyết định chấp nhận yêu cầu của Malaysia, dẫn độ 8 tên cướp biển
quốc tịc người Indonexia sang Malaysia để xét xử.
Bộ Công an đã có công văn gửi ngành Tòa án xem xét yêu cầu dẫn độ. Sau khi
xem xét các tài liệu trong hồ sơ, căn cứ kết quả phiên họp…, Tòa án nhân dân TP
Hà Nội đã ra quyết định chấp nhận yêu cầu của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ma-lai-xi-a
dẫn độ tám tên cướp biển mang quốc tịch In-đô-nê-xi-a sang Ma-lai-xi-a để xét
xử. Việc đưa ra quyết định này dựa trên cơ sở luật tương trợ tư pháp và Bộ luật tố
tụng hình sự. Qua vụ việc này cho thấy, không chỉ dựa vào hiệp định tương trợ tư
pháp về dẫn độ giữa hai nước mà còn phải dựa vào pháp luật quốc gia và điều này
khẳng định việc dẫn độ là quyền chứ không phải là nghĩa vụ của quốc gia. Nói
như vậy không phải là phủ nhận giá trị quan trọng của hiệp định dẫn độ giữa Việt
Nam và In đô nê xi a, Hiệp định này vẫn sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng trong
những vụ việc liên quan đến hoạt động dẫn độ giữa hai nước.
III.
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG HOẠT ĐỘNG
DẪN ĐỘ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY.
Từ hoạt động hợp tác dẫn độ giữa Việt Nam và 2 nước nói trên, ta có thể rút ra
một số thuận lợi và khó khăn cơ bản trong hoạt động dẫn độ của Việt nam như
sau:
1. Thuận lợi.
Hoạt động dẫn độ luôn được sự quan tam sát sao của Đảng và Nhà nước ta thể
hiện trong việc xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động dẫn độ ngày càng được
hoàn thiện và nâng cao, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và tình hình tội
phạm trong nước và trên thế giới;
Nước ta đã tích cực tham gia ký kết nhiều hiệp định chuyên biệt tương trợ tư
pháp về dẫn độ như hiệp định với Đại hàn dân quốc, Ấn độ, hunggary, Ấn độ và
một số nước khác. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hợp tác dẫn độ giữa
Việt Nam với các nước trở nên thuận lợi hơn.
Trong việc xây dựng pháp luật về tương trợ tư pháp của nước ta thì luôn có
những bổ sung kịp thời để nhằm hoàn thiện và lấp đầy những lỗ hổng trong các
quy đinh về dẫn độ, cụ thể là nước ta đã có luật tương trợ tư pháp năm 2007 là
một cơ sở pháp lý đặc biệt quan trọng và cùng với đó là Bộ luật tố tụng hình sự
2003 hiện hành và bộ luật tố tụng hình sự 2015 sắp có hiệp lực thi hành đã bổ
sung thêm một số quy định về dẫn độ.
2. Tồn tại và nguyên nhân.
Thứ nhất, số lượng hiệp định tương trợ tư pháp về dẫn độ của nước ta với các
nước còn ít nên còn khó khăn khi có yêu cầu dẫn độ.
Thứ hai, nước ta chưa có những văn bản quy phạm pháp luật quy định riêng
cho hoạt động dẫn độ mà những quy định này chỉ nằm trong một phần ít những
quy định trong luật tương trợ tư pháp và bộ luật tố tụng hình sự. Điều đó có ảnh
hưởng đến họa động dẫn độ vì những quy định này chưa đủ cụ thể và những
trường hợp dự liệu có thể còn thiếu.
Thứ ba, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và những nước
trên thế giới còn chưa quy định “sát” nhau về cùng một vấn đề nên khi thực hiện
hoạt động tương trợ về dẫn độ còn gặp nhiều khó khăn.
Thứ tư, Đội ngũ có chức năng thực hiện những công việc liên quan đến hoạt
động dẫn độ còn hạn chế về số lượng và chất lượng làm việc do thiếu kiến thức về
ngoại ngữ và pháp luật quốc tế.
IV.
KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP
VỀ DẪN ĐỘ.
Qua những tồn tại và hạn chế nêu trên, tôi xin kiến nghị một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động tương trợ tư pháp về dẫn độ như sau:
Thứ nhất, tăng cường đàm phán, ký kết hiệp định tương trợ tư pháp về dẫn độ
với nhiều nước hơn nữa, nhất là các nước có tình hình tội phạm phức tạp và số
lượng lớn. Như chúng ta đã biết tình hình tội phạm ngày càng phức tạp và nguy
hiểm và có xu hướng lẩn chốn sang nước ngoài, trong đó có Việt Nam vì vậy để
giải quyết nhanh chóng tình trạng này thì việc ký kết các hiệp định là vô cùng cần
thiết.
Thứ hai, tăng cường xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về dẫn độ đặc
biệt là các văn bản hướng dẫn thi hành sao cho việc áp dụng pháp luật về dẫn độ
trở nên dễn dàng, nhanh chóng, kịp thời, không để xảy ra tình trạng lúng túng, sai
xót khi áp dụng pháp luật.
Thứ ba, tăng cường phối hợp công tác giữa các cơ quan có thẩm quyền của các
nước liên quan đến hoạt động dẫn độ. Việc này có ý nghĩa quan trọng vì chúng ta
sẽ có cơ hội tiếp xúc và học tập các kinh nghiệm quốc tế.
Thứ tư, tăng cường công tác đào tạo cán bộ để nâng cao trình độ ngoại ngữ
cũng như kiến thức pháp luật quốc tế để khi thực hiện việc giải quyết dẫn độ
không còn những lúng túng và việc giải quyết sẽ được tiến hành một cách nhanh
chóng, chính xác.
KẾT LUẬN
Từ việc tìm hiểu những nội dung cơ bản về dẫn độ cũng như đi tìm hiểu cụ thể
một số hiệp định mà Việt Nam đã ký với các nước ta thấy rằng hoạt động tương
trợ tư pháp về dẫn độ là hoạt động vô cùng quan trọng trong tình hình tội phạm
hiện nay và cả tương lai. Đây là một chế định không thể thiếu trong pháp luật
quốc tế và pháp luật quốc gia, và hợp tác về dẫn độ là một xu thế tất yếu của thế
giới. Vì vậy Việt Nam cùng với các nước cần tiếp tục đẩy mạnh trao đổi, hợp tác
hơn nữa về vấn đề này để tội phạm sẽ bị trừng trị kịp thời, nhanh chóng và đúng
pháp luật.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bài viết: “Tòa án Hà Nội cho phép dẫn độ nhóm hải tặc về Malaysia xét
xử”- />2. Bài viết: “Thực tiễn hợp tác song phương về dẫn độ tội phạm giữa Việt
Nam và một số quốc gia” - />3. Bài viết: “Vấn đề dẫn độ tội phạm của Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế”Ths. Lê Tiến – Ths. Phạm Thị Hồng Nghĩa – Học viện An ninh nhân dân.
/>4. Luận án tiến sĩ luật học đề tài: “dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật Việt
Nam”, Ngô Hữu Phước.
/>NCS/nhphuoc/ttlanhp.pdf
5. Bài viết: “Dẫn độ tội phạm trong hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam
với một số quốc gia trên thế giới”- Ths. Ngô Thanh Xuyên, viện khoa học
pháp lý, Bộ tư pháp. />6. Nguyễn Quốc Việt (chủ biên): Giáo trình Luật tương trợ tư pháp, Nxb.
Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2016
7. Hiệp định về dẫn độ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa
In-đô-nê-xi-a, ký tại Hà Nội ngày 27 tháng 6 năm 2013, có hiệu lực kể từ
ngày 26 tháng 4 năm 2015.
8. Hiệp định về dẫn độ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đại hàn
Dân quốc có hiệu lực từ ngày 19 tháng 4 năm 2005.