BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC TP. HỒ CHÍ MINH
------------
NGUYỄN THỊ TRÚC LINH
XỬ TRÍ CỦA CHA MẸ KHI TRẺ BỊ SỐT
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƢỠNG
TP. HỒ CHÍ MINH – Năm 2017
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC TP. HỒ CHÍ MINH
------------
NGUYỄN THỊ TRÚC LINH
XỬ TRÍ CỦA CHA MẸ KHI TRẺ BỊ SỐT
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành: Điều dƣỡng
Mã số: 60.72.05.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƢỠNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. BS. Nguyễn Duy Phong
PGS. ĐD. Alison S. Merrill
TP. HỒ CHÍ MINH – Năm 2017 (kẻ lại khung)
Kẻ
2
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................................ 9
Mục tiêu:
........................................................................................................................................ 10
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................................... 11
1.1.
1.2.
1.3.
Sinh lý điều hòa thân nhiệt ................................................................................................. 11
1.1.1.
Định nghĩa thân nhiệt: ......................................................................................... 11
1.1.2.
Các yếu tố ảnh hƣởng đến nhiệt độ cơ thể: ......................................................... 11
1.1.3.
Sự cân bằng giữa sinh nhiệt và thải nhiệt: ........................................................... 11
Sốt ………………………………………………………………………………….
1.2.1.
Định nghĩa ........................................................................................................... 12
1.2.2.
Cơ chế gây sốt: .................................................................................................... 12
1.2.3.
Phân độ thân nhiệt: .............................................. Error! Bookmark not defined.
1.2.4.
Các rối loạn chuyển hóa trong sốt: ...................................................................... 14
1.2.5.
Nguyên nhân gây sốt: .......................................................................................... 14
1.2.6.
Ý nghĩa của sốt .................................................................................................. 15
Điều trị: ................................................................................................................................. 16
1.3.1.
Phƣơng pháp dùng thuốc: ................................................................................... 16
1.3.2.
Phƣơng pháp không dùng thuốc: ........................................................................ 18
1.3.3.
Phƣơng pháp dân gian: ....................................................................................... 19
1.3.4.
Các dấu hiệu đƣa trẻ đến cơ sở y tế ..................................................................... 20
1.4.
Giáo dục sức khỏe: .............................................................................................................. 21
1.5.
Các nghiên cứu trƣớc đây: ................................................................................................. 23
1.6.
1.5.1.
Một số nghiên cứu nƣớc ngoài: ........................................................................... 23
1.5.2.
Một số nghiên cứu trong nƣớc: ........................................................................... 24
Áp dụng thuyết Điều dƣỡng vào nghiên cứu: .................................................................. 26
CHƢƠNG II: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................................... 28
2.1.
Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................................ 28
2.2.
Địa điểm nghiên cứu ........................................................................................................... 28
2.3.
Thời gian nghiên cứu .......................................................................................................... 28
2.4.
Dân số nghiên cứu ............................................................................................................... 28
2.5.
Cỡ mẫu .................................................................................................................................. 28
2.6.
Kỹ thuật chọn mẫu .............................................................................................................. 28
2.7.
Tiêu chí chọn mẫu: .............................................................................................................. 28
3
2.8.
2.9.
2.7.1.
Tiêu chí chọn vào ................................................................................................ 28
2.7.2.
Tiêu chí loại ra ..................................................................................................... 28
2.7.3.
Đặc điểm và bối cảnh nghiên cứu: ...................................................................... 29
Thu thập số liệu: .................................................................................................................. 29
2.8.1.
Công cụ thu thập số liệu: ..................................................................................... 29
2.8.3.
Các bƣớc thu thập số liệu:
2.8.4.
Xử lý và phân tích số liệu: ................................................................................... 31
2.8.5.
Kiểm soát sai lệch: ............................................................................................... 31
23
Định nghĩa biến số và phân loại biến số:.......................................................................... 31
2.9.1.
Biến số độc lập: ................................................................................................... 31
2.9.2.
Biến phụ thuộc: .................................................................................................... 31
2.9.3.
Biến số nền .......................................................................................................... 31
2.9.4.
Biến số kiến thức về sốt ....................................................................................... 32
2.9.5.
Biến số về nhận thức của cha/mẹ: ....................................................................... 33
2.9.6.
Biến số về xử trí sốt của cha/mẹ: ......................................................................... 33
2.9.7.
Nguồn thông tin cha/mẹ nhận đƣợc: ................................................................... 34
CHƢƠNG III: KẾT QUẢ......................................................................................................... 36
3.1.
Đặc điểm nhân khẩu – xã hội học, kiến thức, nhận thức, xử trí của cha/mẹ khi trẻ
bị sốt và nguồn thông tin cha/mẹ nhận đƣợc. ........................................................................... 36
3.2.
Xác định các mối tƣơng quan ………………………………………………………
CHƢƠNG IV: BÀN LUẬN………………………………………………….........................
4.1.
Đặc điểm nhân khẩu - xã hội học…………………………………………………
4.2.
Kiến thức về sốt của cha/mẹ…………………………………………….................
4.3.
Nhận thức những lợi ích và bất lợi về sốt, thuốc, lau mát…………………………
4.4.
Xác định nguồn thông tin cha/mẹ chăm sóc trẻ sốt nhận đƣợc……………………
4.5.
Xử trí sốt của cha/mẹ và các mối tƣơng quan……………………………
4.6.
Nhận xét về đề tài………………………………………………………
4.6.1.
Điểm mạnh……………………………………………
4.6.2.
Điểm yếu………………………………………………………………
4.7.
Ứng dụng của nghiên cứu…………………………………………
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………..
KIẾN NGHỊ…………………………………………………..........................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………………........
4
PHỤ LỤC 1…………………………………………………………………………………
PHỤ LỤC 2……………………………………………………………………………...
5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VIẾT TẮT
TIẾNG ANH
NICE
National Institute for Health
TIẾNG VIỆT
and Care Excellence
HPM
Health Promotion Model
Mô hình nâng cao sức khỏe
CRT
Capillary Refill Time
Thời gian đổ đầy mao mạch
RR
Respiratory Rate
Nhịp thở
PPVL
Phƣơng pháp vật lý
THS
Thuốc hạ sốt
SCC
Sốt càng cao
KTNĐ
Kiểm tra nhiệt độ
LM
Lau mát
HM
Hậu môn
KT
Kiến thức
6
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1.: Sơ đồ cơ chế phát sinh cơn sốt của Rosendoff……………………
Sơ đồ 1.2.: Mô hình nâng cao sức khỏe HPM…………………………………
7
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Hệ thống đèn giao thông xác định nguy cơ mắc bệnh nặng ở trẻ của NICE
2013
Bảng 2.1: Một số câu hỏi bản gốc và đã chỉnh sữa
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu - xã hội học (n =100)
Bảng 3.2. Kiến thức về sốt của cha/mẹ (n=100)
Bảng 3.3. Nhận thức những lợi ích và bất lợi về sốt, thuốc, lau mát (n=100)
Bảng 3.4. Xử trí của cha/mẹ khi trẻ bị sốt bằng phƣơng pháp sử dụng thuốc(n =100)
Bảng 3.5. Xử trí của cha/mẹ khi trẻ bị sốt bằng phƣơng pháp không sử dụng thuốc
(n =100)
Bảng 3.6. Nguồn cung cấp thông tin về kiến thức sử dụng thuốc hạ sốt và kháng
sinh của cha/mẹ (n=100)
Bảng 3.7. Mối tƣơng quan giữa xử trí sốt của cha, mẹ với đặc điểm dân tộc (n =100)
Bảng 3.8. Mối tƣơng quan giữa xử trí trẻ sốt bằng thuốc với số con (n =100)
Bảng 3.9. Mối tƣơng quan giữa xử trí trẻ sốt với tuổi (n =100)
Bảng 3.10. Mối tƣơng quan giữa xử trí trẻ sốt bằng thuốc với nhiệt độ bình thƣờng
(n =100)
Bảng 3.11. Mối tƣơng quan giữa xử trí trẻ sốt bằng thuốc với thuốc hạ sốt làm giảm
nhiệt độ (n =100)
Bảng 3.12. Mối tƣơng quan giữa xử trí trẻ sốt bằng thuốc với thuốc hạ sốt làm giảm
đau (n =100)
Bảng 3.13. Mối tƣơng quan giữa xử trí trẻ sốt bằng thuốc với thuốc hạ sốt làm hại
gan, thận (n =100)
Bảng 3.14. Mối tƣơng quan giữa xử trí trẻ sốt không dùng thuốc với thuốc hạ sốt
làm hại gan, thận (n = 100)
Bảng 3.15. Mối tƣơng quan giữa việc xử trí sốt không dùng thuốc của cha/ mẹ với
kiến thức về nhiệt độ sốt (n = 100)
Bảng 3.16. Mối tƣơng quan giữa việc xử trí sốt bằng thuốc của cha/ mẹ với nhận
thức lau mát làm trẻ quấy khóc (n =100)
8
Bảng 3.17. Mối tƣơng quan giữa việc xử trí sốt không dùng thuốc của cha/ mẹ với
nhận thức THS giúp trẻ dễ ngủ.(n = 100)
Bảng 3.18. Mối tƣơng quan giữa xử trí không dùng thuốc của cha/ mẹ với nhận thức
lau mát làm trẻ quấy khóc (n = 100)
9
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt đƣợc định nghĩa là nhiệt độ trực tràng trên 380C, nhiệt độ miệng trên
37,80C và nhiệt độ nách trên 37,50C. Sốt là một triệu chứng thƣờng gặp trong thời
thơ ấu, thƣờng liên quan đến một bệnh nhƣng nhanh chóng tự giới hạn. Sốt làm cho
trẻ cảm thấy khó chịu, quấy khóc, chán ăn và sốt là một trong những lý do phổ biến
nhất cha mẹ đƣa con em mình đến cơ sở y tế[67]. Cha mẹ lo ngại về cơn sốt 57%,
họ cho rằng sốt cao là một chỉ số về mức độ nghiêm trọng của bệnh. Tuy nhiên, ở
nhiệt độ 400C hoặc thấp hơn là một dấu hiệu phản ứng thích nghi của cơ thể do quá
trình lây nhiễm hơn là mức độ nghiêm trọng của bệnh[42],[55],[65]. Khi có sốt, hệ
đề kháng của cơ thể tăng do tăng hoạt động hệ miễn dịch, thực bào, tổng hợp kháng
thể, ngoài ra sốt làm giảm lƣợng sắt trong huyết thanh, giảm hấp thu sắt từ ruột
khiến vi khuẩn không sinh sản đƣợc [12]. Do vậy, sốt không phải luôn luôn cần
đƣợc điều trị. Sốt nên đƣợc giảm ở những trẻ em nhƣ bị bệnh tim từ trƣớc, hô hấp,
thần kinh và sốt có thể hỗ trợ trong việc chẩn đoán chính xác bệnh[42],[55],[65].
Nghiên cứu của tác giả Phạm Hải Yến năm 2013 trong số các trẻ có sốt khi
nhập viện thì tỷ lệ trẻ sốt cao nhất ở lứa tuổi từ 6 tháng đến 5 tuổi chiếm 80,4%; tỷ
lệ trẻ sốt nhập viện thấp nhất ở lứa tuổi < 6 tháng là 2,5%[11]. Qua những nghiên
cứu đƣợc công bố năm 2012, 2014 và 2015 cho ta thấy kiến thức của cha mẹ có
nhiều sự thay đổi, họ có sự hiểu biết và xử trí sốt tốt hơn các cha mẹ trong quá khứ
nhƣ thƣờng xuyên đo nhiệt độ cho trẻ, sử dụng các biệt pháp hạ sốt không dùng
thuốc nhƣ cho trẻ uống nhiều nƣớc, lau mát bằng nƣớc ấm[41],[47],[56],[60],[78].
Tuy nhiên cha mẹ vẫn thiếu kiến thức về nhiệt độ uống thuốc hạ sốt và lau mát. Tất
cả cha mẹ đều sử dụng thuốc hạ sốt và lau mát khi nhiệt độ dao động từ 37 đến
38,5oC[15], [41] [60]; 38,1% cha mẹ cho rằng sốt khi nhiệt độ 37oC[47]. Nhận thức
của cha mẹ về sốt có thể làm trẻ bị co giật, hôn mê, tổn thƣơng não và thậm chí là tử
vong còn chiếm tỷ lệ khá cao 74% , nên cha mẹ luôn muốn đƣợc điều trị sốt cho trẻ
(90,3%) [47]. Các bà mẹ xử trí sai là mặc thêm quần áo cho con chiếm 41,5% và
32% chƣờm đá, chanh, rƣợu, cạo gió, cắt lễ[7], cha mẹ tin rằng việc kết hợp hai loại
thuốc hạ sốt là có lợi hơn và sử dụng kháng sinh để hạ nhiệt cho trẻ[60]. Việc xử trí
sốt của cha/mẹ bị ảnh hƣởng bởi đặc điểm nhân khẩu-xã hội học nhƣ trình độ học
10
vấn, những cha mẹ hoàn thành bậc cao đẳng, đại học cho rằng sốt không phải lúc
nào cũng nguy hiểm nên họ ít điều trị sốt hơn những cha mẹ khác[47] và bà mẹ có
kiến thức đúng thì xử trí đúng cao hơn so với bà mẹ có kiến thức không đúng[11].
Cha mẹ là những ngƣời chăm sóc, chịu trách nhiệm về sức khỏe trẻ. Nếu cha
mẹ thiếu kiến thức cũng nhƣ xử trí sốt ở trẻ thì sẽ có những sai lầm khi chăm sóc,
ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng trẻ. Qua nhiều thập kỷ đã có
nhiều tác giả nghiên cứu về chủ đề này, tuy nhiên kết quả thay đổi theo thời gian,
địa điểm nghiên cứu cũng nhƣ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tại tỉnh Bình
Phƣớc nói chung, Bệnh viện Bình Long nói riêng chƣa có nghiên cứu nào về chủ đề
này. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “ Xử trí của cha mẹ khi trẻ bị sốt và các
yếu tố liên quan”
Câu hỏi nghiên cứu: Mối liên quan giữa việc xử trí trẻ sốt của cha mẹ với đặc điểm
nhân khẩu - xã hội học, nhận thức và kiến thức nhƣ thế nào?
Mục tiêu:
Tổng quát: Xác định cách thức xử trí của cha mẹ khi trẻ bị sốt và các yếu tố liên
quan.
Cụ thể:
1. Xác định đặc điểm nhân khẩu - xã hội học của cha/mẹ trẻ.
2. Xác định tỷ lệ kiến thức, nhận thức và xử trí sốt của cha/mẹ trẻ.
3. Xác định mối tƣơng quan giữa việc xử trí trẻ sốt với các yếu tố: nhân khẩu &
xã hội học, kiến thức, nhận thức của cha/mẹ.
11
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sinh lý điều hòa thân nhiệt:
1.1.1. Định nghĩa thân nhiệt:
Ngƣời là loại động vật hằng nhiệt, sự điều hoà nhiệt độ trung tâm của cơ thể
trong một khoảng hẹp xung quanh 370C khi tiếp xúc với một khoảng biến đổi nhiệt
độ rộng của môi trƣờng[6].
Thân nhiệt chia làm hai vùng, một là vùng nhiệt độ trung tâm nằm trong giới
hạn 36 – 37,40C và có ba cách đo (trực tràng, dƣới lƣỡi và hõm nách)[6], hai là
vùng nhiệt độ ngoại vi nằm trong giới hạn 290C - 350C (da vùng đầu, ngực, bụng,
vùng cánh tay và cẳng chân, vùng bàn tay, bàn chân)[6]
1.1.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến nhiệt độ cơ thể:
Thân nhiệt cơ thể chịu ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố nhƣ tuổi, nhịp ngày đêm,
giới, vận động cơ, nhiệt độ môi trƣờng, cảm xúc, ăn chay, sự suy yếu của hệ thần
kinh[6],[48],[67].
Trẻ em thƣờng có thân nhiệt cao hơn ngƣời lớn do tăng các hoạt động vật lý
lẫn chuyển hóa, sự hoạt động của cơ bắp dẫn đến sự gia tăng sự chuyển hóa[6], thân
nhiệt khác nhau vào các thời điểm trong ngày, giảm tối thiểu vào buổi đêm khi đang
ngủ và tăng nhẹ vào sáng sớm, đạt tối đa vào buổi chiều [6]. Sự xúc động sẽ kích
thích thần kinh giao cảm giải phóng epinephrine and norepinephrine làm tăng
chuyển hóa và tăng sản xuất nhiệt[67]. Khi ăn chay việc cung cấp thức ăn không đủ
dẫn đến giảm sản xuất nhiệt, ngƣời tâm thần, trầm cảm, bất tỉnh, sử dụng ma túy thì
tất cả hoạt động của cơ thể giảm do vậy dẫn đến giảm nhiệt độ[6],[48].
Nhiệt độ cơ thể còn bị ảnh hƣởng bởi giới tính, nam có thân nhiệt cao hơn nữ
do khối lƣợng cơ nhiều hơn, nhƣng khi nữ đến tuổi dậy thì do ảnh hƣởng của lƣợng
hormone nên khi rụng trứng hoặc mang thai trong ba, bốn tháng đầu thì nhiệt độ
tăng[48],[67]. Nhiệt độ con ngƣời còn chịu ảnh hƣởng của nhiệt độ môi trƣờng bên
ngoài nhƣng không nhiều do con ngƣời biết cách thay đổi nhƣ mặc thêm hoặc cởi
bớt quần áo, sƣởi ấm.
1.1.3. Sự cân bằng giữa sinh nhiệt và thải nhiệt:
1.1.3.1. Sự sinh nhiệt:
12
Nhiệt là sản phẩm phụ của chuyển hoá và vận động cơ [1],[5]. Sự sinh nhiệt
chịu ảnh hƣởng của hormone tuyến giáp thyroxin, hệ giao cảm và nhiệt độ[5]. Nhiệt
độ sản xuất ra hàng ngày rất lớn nếu không có sự thải nhiệt thì trong 24 giờ nhiệt độ
cơ thể có thể tăng lên 400C[5].
1.1.3.2. Sự thải nhiệt:
Hầu hết lƣợng nhiệt sinh ra trong cơ thể đƣợc tạo thành từ các cơ quan ở sâu
nhƣ gan, não, tim và cơ (khi có vận cơ)[1], nhiệt đƣợc vận chuyển đến da là nơi có
thể thải nhiệt vào môi trƣờng xung quanh. Quá trình thải nhiệt là một quá trình vật
lý.[1][75]
1.2.
Sốt
1.2.1. Định nghĩa
Ở ngƣời, thân nhiệt luôn luôn hằng định ở 370C mặc dù nhiệt độ môi trƣờng
bên ngoài có nhiều biến động [18]. Trong ngày thân nhiệt thay đổi, thấp nhất lúc
sáng sớm và cao nhất lúc về chiều, biên độ biến đổi thân nhiệt trong ngày trung bình
là 0,60C. Cao hơn biên độ này là sốt[18]
Hoặc sốt khi thân nhiệt cơ thể vƣợt quá giới hạn bình thƣờng, nhiệt độ ở
nách 37,50C[18]
1.2.2. Cơ chế gây sốt:
Sốt có thể do nhiều yếu tố gây ra gồm chất gây sốt ngoại sinh (pyrogens).
Chất gây sốt ngoại sinh gây sốt thông qua một chất trung gian gọi là chất gây
sốt nội sinh, đó là interleukin 1 (IL - 1) và interleukin -6 (IL-6)[5]
13
Kháng
Đại thực bào
nguyên
Vi khuẩn, virus,
chất hoạt hóa nội
sinh
Chất gây sốt nội sinh
Trung tâm điều nhiệt
Acid arachidonic
PGE2
cAMP
Điểm điều nhiệt
Tăng sản nhiệt
Giảm thải nhiệt
Sốt
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ cơ chế phát sinh cơn sốt của Rosendoff [5]
14
1.2.3. Các rối loạn chuyển hóa trong sốt:
1.2.3.1. Các rối loạn chuyển hóa trong sốt[12]
Rối loạn chuyển hóa năng lƣợng: Khi nhiệt độ gia tăng thì chuyển hóa năng
lƣợng, sự tiêu thụ oxy gia tăng (khi nhiệt độ tăng 10C, chuyển hóa tăng 3,3%, tiêu
thụ oxy tăng 13%).
Rối loạn chuyển hóa glucid: Khi sốt có tăng chuyển hóa glucid, giảm dự trữ
glycogen, tăng đƣờng huyết, tăng lactic acid.
Rối loạn chuyển hóa lipid: Khi sốt kéo dài, dự trữ glycogen giảm, tăng sử
dụng lipid, tăng thể ketone trong máu.
Rối loạn chuyển hóa protid: Gia tăng thoái hóa protein từ cơ, giảm tổng hợp
protein, cân bằng nitơ âm. Chuyển hóa protid có thể tăng đến 30%.
Tăng nhu cầu các vitamin, nhất là các vitamin thuộc nhóm B và C.
Đang trong giai đoạn phát sốt thì có sự tăng các nội tiết tố nhƣ : Aldosterone
và ADH làm giảm sự bài tiết nƣớc tiểu. Khi sốt lui có sự tăng bài tiết nƣớc tiểu, vã
mồ hôi để tăng sự thải nhiệt.
1.2.4.2. Các rối loạn chức phận trong sốt [12]:
Rối loạn thần kinh: Khi sốt có thể có những rối loạn ở hệ thần kinh với các
biểu hiện nhƣ nhức đầu, chóng mặt, nhức mỏi toàn thân, mê sảng, ở trẻ con có thể
có co giật. Các biểu hiện tùy thuộc vào tác nhân gây sốt và tính phản ứng cơ thể.
Rối loạn tuần hoàn: Nhịp tim tăng, thƣờng thân nhiệt tăng 10C thì tim tăng
10 nhịp. Khi bắt đầu sốt huyết áp tăng do co mạch ngoại vi, khi sốt giảm huyết áp
giảm do giãn mạch.
Rối loạn hô hấp: Khi sốt có sự tăng thông khí do nhu cầu oxy tăng.
Rối loạn tiêu hóa: Thông thƣờng có các biểu hiện nhƣ đắng miệng, chán ăn,
khô niêm mạc môi miệng, giảm tiết dịch và nhu động của ống tiêu hóa gây ăn chậm
tiêu, táo bón.
Ngoài ra ở hệ nội tiết ngƣời ta thấy có sự tăng tiết ACTH, Cortisol. Đối với
chức năng gan, có sự tăng chuyển hóa đến 30-40%.
1.2.4. Nguyên nhân gây sốt:
15
Vi trùng: Các vi trùng gây bệnh phần lớn đều gây sốt, có thể là do kháng
nguyên hay độc tố hoặc là các sản phẩm của vi khuẩn ly giải, cũng có thể là một số
chất gây sốt tiết ra từ các tổ chức bị tổn thƣơng, hoại tử[12]
Ký sinh trùng: Thƣờng ít khi gây sốt nhƣ nhiễm giun đƣờng ruột, amip ruột,
nấm. Bệnh ký sinh trùng gây sốt đặc hiệu là bệnh sốt rét với sốt từng cơn, hàng
ngày hoặc cách nhật[12]
Virus: Bệnh do virus ít khi gây sốt kéo dài, trên lâm sàng thƣờng gặp là các
virus đƣờng hô trên nhƣ hợp bào hô hấp, cúm. Các virus khác gây bệnh đặc hiệu
hơn có sốt cao cấp tính nhƣ: Sốt xuất huyết Dengue, Sởi, Sởi Đức, Quai bị, Thủy
đậu, viêm gan A, B, C ...,[12].
Nguyên nhân không do nhiễm khuẩn: Bệnh huyết thanh, bệnh tự miễn, bệnh
ung thƣ, bệnh do rối loạn chuyến hóa[12].
1.2.6. Ý nghĩa của sốt
1.2.6.1: Lợi ích:
Sốt là một hiện tƣợng có lợi cho cơ thể. Hiện tƣợng sốt đã có từ hàng triệu
năm[12]. Khi có sốt, hệ đề kháng của cơ thể tăng do tăng hoạt động của hệ miễn
dịch, tăng thực bào, tăng tổng hợp kháng thể [12].
Sốt làm giảm lƣợng sắt trong huyết thanh do có sự tăng thu sắt bởi hệ thống
tế bào đơn nhân thực bào, giảm hấp thu sắt từ ruột khiến vi khuẩn không sinh sản
đƣợc [12].
1.2.6.2. Bất lợi của sốt:
Bên cạnh những lợi ích mà sốt mang lại thì sốt cũng gây ra một số vấn đề:
mất nƣớc, chán ăn, đau đầu, co giật [12] và ở trẻ nhỏ cha/mẹ sợ ảnh hƣởng của sốt
nhất là co giật[40],[44],[68]. Ở trẻ dƣới 5 tuổi, co giật xảy ra khi tiền sử gia đình,
bản thân bị co giật và thƣờng lành tính[52]. Sốt trên 410 C có nguy cơ co giật và
tổn thƣơng não[28].
1.2.7. Vị trí lấy nhiệt độ:
Để xác định mức độ sốt cần đo nhiệt độ chính xác bằng nhiệt kế. Nhiệt kế có
nhiều loại, chủ yếu là loại nhiệt kế thủy ngân, lấy nhiệt độ có thể ở nách, miệng và
hậu môn[18]. Đối với những bé dƣới 3 tháng tuổi thì cặp nhiệt độ ở hậu môn là
16
phƣơng pháp đƣợc sử dụng và cho kết quả chính xác nhất, tuy nhiên gây cảm giác
khó chịu[10]. Đối với cặp nhiệt độ ở nách thƣờng đơn giản, an toàn, thuận tiện nhất
vì ít phải đƣa vào bên trong cơ thể và không gây kích thích cho trẻ nên đây là cách
mà các bà mẹ thƣờng dùng. Tuy nhiên, so với đo ở hậu môn thì đo ở nách kém
chính xác hơn, vì nhiệt độ cơ thể chịu ảnh hƣởng nhiều vào yếu tố môi trƣờng bên
ngoài[10],[18],[33]. Đo nhiệt độ ở miệng chỉ nên dùng cho bé trên 5 tuổi[33].
Ngoài ra còn có thể lấy nhiệt độ qua nhiệt kế băng dán ở trán trẻ hoặc nhiệt độ cảm
ứng nhiệt qua điện tử ở tai trẻ, cách lấy nhiệt độ này nhanh ít gây khó chịu cho trẻ
song cần có dụng cụ đo, mà dụng cụ thì chƣa phổ biến hiện nay[18]. Đo nhiệt độ ở
tai không đƣợc chỉ định cho bé dƣới 3 tháng tuổi do thời điểm này, ống tai của bé
còn hẹp[10].
1.3.
Điều trị:
Việc điều trị sốt còn nhiều bàn cãi. Sốt có thể giữ vai trò chống nhiễm khuẩn
mặc dù sốt có thể làm trẻ khó chịu. Sốt cao không phải luôn luôn là yếu tố quyết
định xem trẻ có cần đƣợc chữa trị hay không. Thay vào đó là xem hành vi và vẻ
ngoài của trẻ. Sốt thƣờng đi kèm các triệu chứng khác, những triệu chứng này cần
đƣợc xem xét[24].
1.3.1. Phƣơng pháp dùng thuốc:
Không dùng thuốc hạ sốt thƣờng quy ở trẻ sốt vẫn sinh hoạt bình thƣờng vì
sốt là phản ứng bảo vệ có lợi làm kiềm hãm sự phát triển của siêu vi và vi
khuẩn[28].
Bất kỳ loại thuốc điều trị nào, kể cả thuốc hạ sốt thông thƣờng cho trẻ em
cũng phải có chỉ định từ bác sĩ điều trị mới thật sự an toàn cho trẻ[31]. Trong những
trƣờng hợp chƣa kịp đƣa trẻ đến khám bác sĩ, cha/mẹ có thể đến nhà thuốc mua
thuốc hạ sốt cho trẻ uống qua lời tƣ vấn của dƣợc sĩ phụ trách nhà thuốc, hoặc tối
thiểu cha/mẹ cần đọc thật kỹ hƣớng dẫn trƣớc khi sử dụng thuốc cho trẻ[31]. Sử
dụng thuốc hạ sốt khi thân nhiệt ≥ 390C do sốt cao trẻ dễ có biến chứng[28]. Hiện
nay có nhiều loại thuốc hạ sốt cho trẻ: Acetaminophen là thuốc hạ nhiệt đƣợc chọn
vì hiệu quả và an toàn cho trẻ, liều dùng 10-15 mg/kg uống hay tọa dƣợc mỗi 4-6
giờ hoặc tối đa 60mg/kg/24 giờ [18],[28]. Acetaminophen có tác dụng giảm đau,
17
giảm sốt nhƣng không có tác dụng kháng viêm, không sử dụng nhiều hơn khuyến
cáo, sử dụng quá liều có thể gây hại cho gan[45]. Ibuprofen là thuốc kháng viêm
không Steroid có tác dụng hạ sốt, giảm đau và kháng viêm đƣợc sử dụng ở ngƣời
lớn, trẻ em ít nhất trên 6 tháng tuổi, không dùng cho trẻ dƣới 2 tuổi mà không hỏi ý
kiến Bác sĩ và không sử dụng trong các trƣờng hợp loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa,
sốt xuất huyết, liều dùng 5-10 mg/kg/lần uống mỗi 6- 8 giờ [28],[24]. Các thuốc
này giúp trẻ dễ chịu hơn và giảm thân nhiệt trẻ khoảng 1 – 1,5º C, liều lƣợng của
Acetaminophen hay Ibuprofen nên đƣợc tính theo cân nặng của trẻ, không nên theo
tuổi[24], nên lấy lại nhiệt độ trƣớc khi uống liều tiếp theo[18], không khuyến cáo
thƣờng quy kết hợp hoặc dùng xen kẽ Acetaminophen và Ibuprofen vì hầu hết đáp
ứng với một loại thuốc[24],[28] kết hợp đồng thời hoặc xen kẽ so với chỉ dùng đơn
lẻ một loại thuốc đang còn trong giai đoạn đánh giá lại về hiệu quả và tính an
toàn[24],[28]. Trong trƣờng hợp sốt cao không đáp ứng với Acetaminophen đơn
thuần có thể phối hợp thêm Ibuprofen sau 1 đến 2 giờ nếu không có chống chỉ định
Ibuprofen[28]. Aspirin hiện nay ít đƣợc sử dụng do biến chứng xuất huyết tiêu hóa,
liên hệ đến hội chứng Reye’s[28], dùng lƣợng lớn thuốc giảm đau không kê toa nhƣ
aspirin, acetaminophen và ibuprofen có thể gây tổn hại không chỉ cho gan mà còn
làm hại cho thận[17], vì chúng có thể làm giảm lƣợng máu cung cấp cho thận bằng
cách làm hẹp mạch máu, gây cản trở dòng chảy của nƣớc tiểu, trực tiếp gây thƣơng
tích cho thận hoặc gây phản ứng dị ứng làm tổn thƣơng đến thận[17]. Thuốc hạ sốt
có thể sử dụng sớm hơn khi thân nhiệt trên 380C trong các trƣờng hợp bệnh lý tim
mạch, viêm phổi để giảm nhu cầu oxy do tăng nhịp tim khi sốt, giảm nguy cơ suy
tim hoặc trẻ có tiền sử co giật do sốt[28]. Các thuốc hạ sốt không có hiệu quả trong
việc ngăn ngừa sự tái phát của co giật do sốt cao, mặc dù thuốc hạ sốt có thể cải
thiện sự dễ chịu cho trẻ[25].
Nếu trẻ sốt li bì, trẻ nôn ói nhiều, trẻ không thể uống đƣợc, nhất là những trẻ
đang ngủ say mà cha/mẹ không muốn đánh thức trẻ, cha mẹ sẽ cho trẻ dùng viên
đạn nhét hậu môn để hạ sốt[31]. Thuốc nhét hậu môn hoặc dùng qua đƣờng uống có
tác dụng hạ sốt tƣơng đƣơng nhau[70]. Dùng thuốc nhét hậu môn nên ngắn hạn, sau
18
đó chuyển sang dạng uống vì nhét hậu môn có thể gây ngứa, kích thích trực
tràng[31]
Sử dụng kháng sinh trong trƣờng hợp có bằng chứng nhiễm khuẩn hoặc lâm
sàng có dấu hiệu gợi ý hội chứng nhiễm trùng [20],[23],[27],[28]. Sử dụng kháng
sinh theo toa bác sĩ có thể giúp trẻ mau lành bệnh hơn và giúp phòng ngừa vi khuẩn
trở nên kháng thuốc[20],[23] nhiều bậc cha mẹ khi thấy con số t , ho, chảy mũi li ền
hỏi ba ̣n bè ho ặc tự ra hiê ̣u thuố c mua kháng sin h cho con uố ng mà không biết việc
làm này vô cùng nguy hiểm, không dùng kháng sinh theo toa thuốc cũ hay toa của
trẻ khác[20],[23],[27]. Do vậy, để chữa bệnh cho trẻ an toàn, tránh các tác dụng
phụ, giảm chi phí điều trị… cha mẹ nên đƣa trẻ đến khám tại các cơ sở y tế, bác sĩ
chuyên khoa để đƣợc tƣ vấn về chăm sóc, theo dõi phát hiện dấu hiệu bệnh nặng,
tình trạng nhiễm khuẩn và sử dụng thuốc hợp lý[27].
1.3.2. Phƣơng pháp không dùng thuốc:
Uống nhiều nƣớc, nằm chỗ thoáng, mặc quần áo mỏng, tiếp tục ăn uống bình
thƣờng và nghỉ ngơi[28],[24].
Lau mát khi trẻ sốt 39 0C- 400C[28] hoặc khi sốt cao kèm co giật hoặc sau
khi uống thuốc hạ sốt 30 phút trẻ vẫn còn sốt cao[26]. Mục đích của lau mát là làm
giảm nhiệt độ cơ thể, giảm kích thích và làm êm dịu thần kinh[22], lau bằng nƣớc
ấm thấp hơn thân nhiệt bệnh nhân 20C[22],[26],[28] không lau bằng cồn[26] [28].
Lau ở những vùng da có mạch máu nông, lớn nhƣ nách, bẹn. Bốn khăn đắp 2 bên
nách, 2 bên bẹn, 1 khăn lau khắp ngƣời nhƣ tay, chân, lƣng, không đắp khăn lên
trán và ngực[22]. Lau trong 15 – 30 phút hoặc khi nhiệt độ trẻ ≤ 38,50C thì ngƣng vì
lau hơn 30 phút sẽ làm cho trẻ không thoải mái, quấy khóc, kích thích, rùng
mình[22],[28],[51]. Trong 15 -30 phút đầu việc lau mát kết hợp với thuốc hạ sốt thì
có tác dụng hạ nhiệt tốt hơn so với chỉ dùng thuốc[51],[72] nhƣng sau 30 -120 phút
thì nhóm chỉ dùng thuốc kiểm soát nhiệt độ tốt hơn nhóm lau mát kết hợp với dùng
thuốc[51],[72]. Lấy nhiệt độ trẻ ngay sau ngƣng lau mát, sau đó 30 phút, và mỗi 2
giờ kế, lặp lại lau mát mỗi 2 giờ nếu cần[22].
Lau mát bằng nƣớc ấm cho trẻ đƣợc coi là một phƣơng pháp hạ sốt làm tăng
thải nhiệt của cơ thể. Nhƣng lau mát không tác động lên điểm điều nhiệt, tác dụng
19
không kéo dài[5], gây khó chịu cho trẻ, tăng kích thích, làm trẻ quấy khóc, gây tốn
thời gian cho nhân viên y tế, ngƣời chăm sóc. Lau mát cho trẻ bằng nƣớc ấm hiện
nay ở Bệnh viện Nhi Đồng 1 thì bác sĩ chỉ định lau mát cho những trẻ sốt cao kèm
đang co giật hoặc sau khi uống thuốc hạ nhiệt 30 phút trẻ vẫn còn sốt ≥ 400C [26]
Miếng dán hạ sốt không phải thuốc, không có tác dụng chữa trị bệnh. Đa số
các miếng dán hoạt động theo cách dùng chênh lệch nhiệt độ để giúp vùng đƣợc dán
giảm đƣợc nhiệt độ. Cơ chế hạ nhiệt của miếng dán hạ nhiệt đƣợc quảng cáo là thụ
nhiệt và phân tán ra ngoài nhƣng thực tế chƣa có nghiên cứu khoa học nào chứng
minh tác dụng của phƣơng pháp này[9],[30] vì thế hầu hết các miếng dán chỉ đem
đến cảm giác mát lạnh, thành phần chủ yếu là hydrogel. Cách thức này đƣợc xác
định là không mang lại hiệu quả tối ƣu vì chỉ có thể giảm nhiệt độ ở những vùng
đƣợc dán. Ngoài ra, sản phẩm chỉ dán ngoài da nên không có tác dụng trị bệnh từ
bên trong[30]. Miếng dán có nguy cơ dị ứng da, ảnh hƣởng hệ hô hấp với các trẻ sốt
do viêm phổi, do miếng dán khiến hệ hô hấp của trẻ càng tổn thƣơng do phải hoạt
động nhiều hơn[30]. Việc dùng miếng dán hạ sốt có thể khiến bệnh nặng và nguy
hiểm đến tính mạng vì cảm giác hạ nhiệt của thân thể trẻ nhỏ dễ khiến phụ huynh
lầm tƣởng con đang khỏi bệnh[9],[30].
1.3.2. Phƣơng pháp dân gian:
Việt Nam là một nƣớc có truyền thống lâu đời trong việc dùng cây cỏ để
phòng và trị bệnh, nhờ những kinh nghiệm thực tiễn của cƣ dân bản địa và sự tiếp
thu tinh hoa phòng và chữa bệnh của nền y học cổ truyền phƣơng Đông. Nhƣng
quan trọng nhất chính là sự đa dạng về tộc ngƣời cùng với sự khác biệt về điều kiện
thổ nhƣỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa trong từng cộng đồng dân tộc đã
dẫn tới sự đa dạng những kinh nghiệm gia truyền trong việc chữa bệnh và cách sử
dụng cây cỏ xung quanh mình làm thuốc chữa bệnh. Theo sách “Cây thuốc Việt
Nam và những bài thuốc thƣờng dùng” tập 1 của tác giả Nguyễn Viết Thân và sách
“Từ điển cây thuốc Việt Nam” của tác giả Võ Văn Chi, nhà xuất bản Y học Hà Nội
2012 thì
20
Quả chanh đƣợc dùng làm thuốc giải nhiệt, giúp ăn ngon miệng, lợi tiêu
hóa, long đờm, trị ho, nôn ra mật. Đơn thuốc từ chanh: Trị sốt rét dai dẳng, cảm
cúm, hen phế quản, ho gà, rắn cắn[85]
Húng chanh: Lá và ngọn non thƣờng đƣợc dùng trị cảm cúm, ho hen, ho ra
máu, sốt cao, sốt không ra mồ hôi, chữa viêm họng, khàn tiếng. Liều dùng 10-15g,
dạng thuốc sắc hoặc giã lấy nƣớc uống. Ở Malaixia dùng lá giã xoa lên ngƣời khi bị
sốt [85][86]
Diếp cá: Bài thuốc chữa viêm phế quản mãn, sốt nhẹ về chiều, ho hen, khó
ngủ: 12g diếp cá, 20g Thiên môn, 15g Kim ngân hoa, 20g Sa sâm, Mạch môn 20g
(2). Chữa sởi-trẻ em sốt không rõ nguyên nhân: 15g diếp cá, 25g Cỏ nọc sởi, 15g
Kim ngân hoa, Kinh giới 15g, sắc uống mỗi ngày một thang [86]
Rau ngót: Công dụng chữa sót nhau, tƣa lƣỡi trẻ em, ban sởi, viêm phổi, bí
tiểu tiện, lợi tiểu, thông huyết[86]
Các cha/mẹ sử dụng các phƣơng pháp dân gian từ quả chanh tƣơi cắt lát
mỏng chà sống lƣng, lòng bàn tay, chân hoặc rau nhọ nồi, diếp cá, húng chanh giã
lấy nƣớc uống và bã đắp lên trán. Các phƣơng pháp này chƣa có nghiên cứu nào nói
về tính an toàn và hiệu quả của nó, nhƣ vậy việc sử dụng các phƣơng pháp dân gian
là không dựa vào y học chứng cứ.
1.3.4. Các dấu hiệu đƣa trẻ đến cơ sở y tế
Trong đa số trƣờng hợp, sốt có thể đƣợc theo dõi và điều trị tại nhà. Tuy nhiên, điều
quan trọng là cha mẹ cần biết khi nào nên đƣa trẻ đi khám [24].
Trẻ có các dấu hiệu bất thƣờng nhƣ: Không chơi, li bì, khó đánh thức, co giật,
thở nhanh, thở khó, thở bất thƣờng, tiêu chảy, phân có nhày máu, trẻ sốt kèm phát
ban da hoặc có bệnh nền: tim mạch, ung thƣ, lupus, hồng cầu liềm,..[8],[24].
Trẻ < 3 tháng tuổi: sốt ≥ 38ºC, ngay cả khi bề ngoài của trẻ vẫn có vẻ tốt[24].
Trẻ > 3 tháng tuổi: sốt ≥ 38ºC hơn 3 ngày hay khi vẻ ngoài của trẻ không tốt
(bứt rứt, không chịu bú, …)[24].
Trẻ 3 – 36 tháng: sốt ≥ 39ºC[24]
Trẻ lớn: sốt ≥ 40ºC[24]
21
1.4.
Giáo dục sức khỏe:
Sốt là phản ứng có lợi cho sức khỏe, ngày nay với sự phát triển của y học thì
chăm sóc trẻ sốt có sự thay đổi bằng cách áp dụng trên chứng cứ. Theo NICE
(National Institute for Health and Care Excellence) xuất bản năm 2013 thì chăm sóc
trẻ sốt không chỉ đơn thuần dừng lại ở đánh giá nhiệt độ của trẻ mà cần đánh giá
toàn diện về màu sắc da, vận động, hô hấp, tuần hoàn, thiếu nƣớc và những vấn đề
khác. Đây là bảng phân loại nguy cơ mắc bệnh nặng dựa trên màu sắc đèn giao
thông của NICE 2013, bản dịch Tiếng Việt có sự tham khảo từ bản dịch của tác giả
Trần Thụy Khánh Linh[16],[65].
Bảng 1.1 : Hệ thống đèn giao thông xác định nguy cơ mắc bệnh nặng ở trẻ của
NICE 2013
Màu
Đỏ - Nguy cơ cao
Vàng – Nguy cơ vừa
Xanh – Nguy cơ thấp
Nhạt/đốm/tái/màu xanh
Da xanh xao (do Màu sắc da, môi,
cha/mẹ ngƣời chăm
sắc
lƣỡi binh thƣờng
sóc tƣờng thuật lại)
Đáp
ứng
vận
động
Không có phản ứng với Không đáp ứng bình Phản
các tín hiệu xã hội
Có nhân viên y tế bên
cạnh.
Không thức hoặc không
thƣờng với các tín
hiệu xã hội, hoặc
hiệu xã hội
Tỉnh chỉ khi kích Giao tiếp/cƣời
Vẫn
thích kéo dài, hoặc
Hoạt
Yếu, khóc the thé
hoặc
động
giảm,
hấp
Thở nhanh:
Cánh
Dấu lõm ngực trung bình
o RR
đến nghiêm trọng
phập
phồng, hoặc
Thở nhanh
>
50
nhịp/phút, trẻ từ
6 – 12 tháng
o RR
táo/đánh
to
bình
thƣờng/không khóc
mũi
RR> 60 nhịp/phút
tỉnh
thức nhanh chóng
Khóc
Không cƣời
Thở rên
bình
thƣờng với các tín
tỉnh khi kích thích
Hô
ứng
>
40
22
nhịp/phút, trẻ >
12 tháng, hoặc
Oxy bão hòa < 95%
(không hổ trợ oxy),
hoặc
Ran nổ
Thiếu
Da kém đàn hồi
nƣớc
Da niêm khô, hoặc
Bú kém hoặc
CRT ≥ 3 giây, hoặc
Màu da và mắt bình
thƣờng
Da niêm ẩm
Giảm số lƣợng nƣớc
tiểu.
Khác
Phát ban rõ
Sốt ≥ 5 ngày
Không có dấu hiệu
Cổ cứng
Phù chi hoặc khớp
nào
Động kinh
Không cử động tứ chi
“vàng” và “đỏ”
trong
cột
Dấu hiệu thần kinh khu Nổi u mới > 2cm
trú
Cơn động kinh khu trú
Nôn mật xanh
CRT= capillary refill time-thời gian đổ đầy mao mạch
RR=respiratory rate-nhịp thở
Trẻ có một trong dấu hiệu cột “đỏ” thì nguy cơ mắc bệnh nặng rất cao. Trẻ
có nguy cơ vừa nếu xuất hiện sốt và bất kỳ dấu hiệu nào trong cột “vàng”. Trẻ thuộc
nguy cơ thấp khi dấu hiệu nằm trong cột “xanh”.
Theo nghiên cứu “Sốt ở trẻ và xử trí sốt dựa trên chứng cứu khoa học” của
tác giả Trần Thụy Khánh Linh và cộng sự công bố năm 2011 chăm sóc trẻ sốt là
không gây nguy hại cho trẻ và có ba phƣơng pháp đƣợc khuyến cáo là mặc thoáng
(không cởi hết quần áo, không mặc nhiều lớp, không đội nón đối với trẻ sơ sinh),
cung cấp đủ dịch và tạo sự thoải mái cho trẻ (giảm bứt rứt, làm dịu, không đánh
thức trẻ dậy ban đêm để uống thuốc hạ sốt)[16]
23
1.5.
Các nghiên cứu trƣớc đây:
1.5.1. Một số nghiên cứu nƣớc ngoài:
Theo tác giả Bertille và cộng sự (2013)[41]: 61% cha mẹ xác định ngƣỡng
sốt là 380C, 66% cha mẹ sử dụng thuốc hạ sốt khi nhiệt độ thấp hơn 38.50C, 99%
cha mẹ sử dụng phƣơng pháp không dùng thuốc (uống nhiều nƣớc, mặc quần áo
thoáng, giảm nhiệt độ phòng). Theo tác giả Balafama A, Alex-Hart và cộng sự
(2011)[76]: Triệu chứng kèm với sốt là chán ăn 71,5%; 76,2% sờ trán để đo nhiệt
độ cho trẻ; xử trí phổ biến nhất là cho trẻ uống thuốc hạ sốt paracetamol 70,9%; lau
mát 50,3%, mặc quần áo thoáng mát là 14,6%, biến chứng của sốt cha mẹ cho là co
giật 67,7% Vấn đề tồn tại: cha mẹ xác định nhiệt độ cho con bằng các sờ trán còn
khá cao, cha mẹ ít quan tâm đến phƣơng pháp không dùng thuốc hơn dùng thuốc, ở
nghiên cứu này không thấy tác giả đề cập đến việc uống nƣớc của trẻ.
Theo tác giả Abubaker và cộng sự (2014)[37]: 38,4% cha mẹ xác định chính
xác ngƣỡng nhiệt độ sốt, các bà mẹ xác định ngƣỡng nhiệt độ sốt cao hơn ngƣời cha
(40,6%; 33%); 68,8% các bà mẹ biết ngƣỡng nhiệt độ sử dụng thuốc hạ sốt hơn
ngƣời cha 47,2%; những ngƣời cha ƣa thích sử dụng thuốc hạ sốt hơn những ngƣời
mẹ (22,8%; 12,7%), trong khi đó những ngƣời mẹ thƣờng sử dụng biện pháp lau
mát hơn ngƣời cha. Có mối liên quan về đặc điểm giới tính (cha, mẹ) với kiến thức
cũng nhƣ xử trí sốt ở trẻ. Kiến thức về sốt và xử trí sốt của ngƣời cha không tốt
bằng ngƣời mẹ, khi giáo dục sức khỏe cũng cần quan tâm ngƣời cha nhiều, không
chỉ nghiêng về ngƣời mẹ.
Theo tác giả Enarson MC và cộng sự (2012)[47]: Có 42.7% cha mẹ có trình
độ đại học, 25.8% trình độ cao đẳng, trung học là 23.8% và tiểu học là 7.7%; 74%
cha mẹ cảm thấy rằng sốt là nguy hiểm và 90.3% luôn muốn đƣợc điều trị sốt. Hầu
hết cha mẹ kiểm tra nhiệt độ cho trẻ 4 giờ một lần, 31% là 2 đến < 4 giờ một lần và
6.4% không kiểm tra nhiệt độ cho trẻ. Những cha mẹ có trình độ học vấn cao (đại
học, cao đẳng) thì họ không thích điều trị sốt so với nhóm cha mẹ có trình độ học
vấn thấp hơn (trung học, tiểu học); 55.7% cha mẹ đánh thức trẻ dạy vào ban đêm để
uống thuốc hạ sốt. Nhóm cha mẹ trẻ tuổi thì hay gọi điện cho bác sĩ và điều dƣỡng
hơn những nhóm cha mẹ lớn tuổi. Nhóm Chủng tộc có sự khác biệt về việc gọi điện
24
cho nhân viên y tế khi trẻ sốt, ví dụ ngƣời da trắng và ngƣời da đen thì ít gọi điện
cho nhân viên y tế hơn những ngƣời có màu da khác (Đông Á, Nam Á, Tây Ban
Nha)[56]. Từ kết quả cho ta thấy có mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu xã hội
học nhƣ tuổi , trình độ học vấn, chủng tộ với xử trí sốt của cha mẹ trẻ. Những cha
mẹ lớn tuổi, cha mẹ có con đã lớn ít có khả năng tìm kiếm sự chăm sóc y tế cho trẻ.
Ngoài ra những bậc phụ huynh hoàn thành bậc cao đẳng, đại học cho rằng sốt
không phải lúc nào cũng nguy hiểm nên họ ít điều trị sốt hơn những phụ huynh
khác.
Theo tác giả Laura J và cộng sự (2015)[56]: hầu hết cha mẹ xác định nhiệt độ
bình thƣờng từ 36 đến 38oC, ngƣỡng sốt là từ 37 đến 39.5oC; 4.7% cha mẹ cho rằng
sốt là tốt và nó không nguy hiểm; 61.9% cha mẹ cho biết những lợi ích của sốt nhƣ
sốt là một dấu hiệu cho thấy hệ thống miễn dịch đang làm việc. Tuy nhiên nỗi sợ
hãi về sốt không luôn luôn dựa trên bằng chứng đó: sốt gây tổn thƣơng não khi sốt
40 , 41oC; đa số cha mẹ sử dụng nhiệt kế trực tràng để xác định sốt cho trẻ (61.9%);
đa số cha mẹ sử dụng phƣơng pháp không dùng thuốc để hạ sốt (đảm bảo trẻ uống
đủ nƣớc) và tạo sự thoải mái cho trẻ; các cha mẹ không thích sử dụng thuốc hạ sốt
cho trẻ, chỉ dùng thuốc khi cần thiết, họ tin rằng việc sử dụng thuốc có thể dẫn đến
một cái gì đó tồi tệ hơn[56]. Qua nghiên cứu này ta thấy có mối liên quan giữa kiến
thức và xử trí sốt, cha mẹ có kiến thức đúng về sốt thì có hành vi xử trí đúng.
1.5.2. Một số nghiên cứu trong nƣớc:
Theo tác giả Phạm Hải Yến (2013) [11] trong số các trẻ có sốt khi nhập viện
thì tỷ lệ trẻ sốt gặp cao nhất ở lứa tuổi 6 tháng đến 3 tuổi, chiếm 60,9%; tỷ lệ trẻ sốt
nhập viện thấp nhất ở lứa tuổi < 6 tháng; 90,2% bả mẹ cặp nhiệt độ thƣờng xuyên;
94,1% cho trẻ dùng thuốc hạ sốt; 41,9% bà mẹ lau mát bằng nƣớc ấm cho trẻ; 5,9%
bà mẹ lau mát bằng nƣớc lạnh ; 2,9% các bà mẹ xoa cồn; 17,6% bà mẹ không biết
phải làm gì khi con bị sốt; 52,9% bà mẹ không biết tính liều lƣợng thuốc. Vấn đề
tồn tại trong nghiên cứu này: 94,1% bả mẹ cho trẻ dùng thuốc hạ sốt tác giả cho là
hành vi đúng nhƣng chƣa thấy tác giả đƣa ra là bà mẹ sử dụng thuốc có theo đúng
nhiệt độ sốt theo khuyến các của NICE [65] khi nhiệt độ đo ở nách ≥ 39oC hay
không? 90,2% bà mẹ cặp nhiệt độ thƣờng xuyên tác giả cho là hành vi đúng nhƣng