Tải bản đầy đủ (.doc) (53 trang)

Bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền UBND phường thượng thanh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (418.62 KB, 53 trang )

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC................................................................................................................ 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT...............................................................................3
PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................1
1.Lý do chọn đề tài:................................................................................................................................ 1
2.Mục tiêu nghiên cứu:........................................................................................................................... 1
3. Phạm vi nghiên cứu........................................................................................................................... 2
4. Vấn đề nghiên cứu:............................................................................................................................. 2
5. Phương pháp nghiên cứu:................................................................................................................... 2
6. Ý nghĩa của đề tài:.............................................................................................................................. 3
7. kết cấu của đề tài:............................................................................................................................... 3

PHẦN NỘI DUNG..................................................................................................4
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu...................................................4
1.1.Chính quyền cấp xã, phường và khái niệm đào tạo để bồi dưỡng nâng cao đội ngũ cán bộ cấp xã,
phường................................................................................................................................................... 4
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của chính quyền cấp xã, phường...............................................................4
1.1.2. Khái niệm đào tạo để bồi dường, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã, phường..................5
1.2.Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã phường và những yếu tố tác động đến bồi
dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã phường..................................................8
1.2.1. Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã phường.................................................8
1.2.2. Những tiêu chí đánh giá trong bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ...............................9
1.2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã phường. 15
1.2.4.Nội dung, quy định và vai trò về bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cáp xã, phường:
............................................................................................................................................................. 16

Chương 2: Thực trạng và giải pháp.....................................................................19
2.1. Khái quát chung về phường Thượng Thanh và UBND phường Thượng Thanh...............................19
2.1.1 Khái quát chung về phường Thượng Thanh..................................................................................19
2.1.2 Khái quát về UBND phường Thượng Thanh................................................................................22


2.1.3. Thực trạng và tình hình bồi dưỡng cán bộ công chức viên chức Ủy ban nhân dân phường Thượng
Thanh:.................................................................................................................................................. 24

Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị cho việc bồi dưỡng, nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ UBND phường Thượng Thanh...................................................30
3.1. Các giải pháp nang cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền của UBND phường Thượng Thanh
............................................................................................................................................................. 30
3.1.1. Tiến hành rà soát, đánh giá tổng thể đội ngũ cán bộ chính quyền UBND phường Thượng Thanh 30
3.1.2. Xây dựng chiến lược, quy hoạch cán bộ cấp xã đảm bảo khoa học, hợp lý..................................32
3.1.3. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của chính quyền trên cơ sở đó có nội dung, chương trình đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính quyền phù hợp.............................................................................33
3.1.4. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc bầu và giám sát hoạt động của đội ngũ cán bộ
chính quyền.......................................................................................................................................... 35
3.1.5. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền............................................................37
3.1.6. Đổi mới chế độ, chính sách đối với cán bộ chính quyền phường..................................................39
3.1.7. Nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ chính quyền UBND phường Thượng Thanh gắn với quá
trình đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền phường Thượng Thanh............................................42
3.1.8. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ chính quyền phường
............................................................................................................................................................. 45
3.1.9. Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ chính quyền phường.....................46


KẾT LUẬN............................................................................................................48
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................50
................................................................................................................................. 50


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1, UBND : Ủy ban nhân dân
2, HDND : Hội đồng nhân dân

3, CNH

: Công nghiệp hóa

4, HĐH

: Hiện đại hóa


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định:
"Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của
Đảng, của đất nước, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng".
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì
vậy huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng".
Cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp trong hệ thống hành chính bốn cấp
của Nhà nước Việt Nam, là nền tảng của hệ thống chính trị. Cấp xã, phường giữ một
vai trò, vị trí hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chính sách,
pháp luật và nhiệm vụ cấp trên giao, là cấp chính quyền trực tiếp chăm lo đến đời
sống của nhân dân, là cầu nối giữa nhà nước với nhân dân.
Cán bộ là một yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và củng cố chính
quyền cấp xã, phường vững mạnh. Đồng thời muốn xây dựng và củng cố chính
quyền cấp xã, phường vững mạnh thì phải xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực
và phẩm chất để thực hiện sự nghiệp đổi mới mà Đảng ta đã khởi xướng.
Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ mới của đất nước, của địa phương thì
đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, phường còn nhiều bất cập. Đội ngũ cán bộ
chính quyền cấp xã của tỉnh hầu hết chưa qua đào tạo cơ bản, chủ yếu là qua các lớp
bồi dưỡng ngắn ngày. Những lúng túng, va vấp, vi phạm trong công việc là điều khó
tránh khỏi. Đây là một vấn đề rất lớn đặt ra về đào tạo để nâng cao trình độ năng lực

cho đội ngũ cán bộ chính quyền UBND phường Thượng Thanh.
Trong bối cảnh trên, cần có một sự nghiên cứu toàn diện về đội ngũ cán bộ
chính quyền cấp xã, phường để có giải pháp nâng cao trình độ năng lực của đội ngũ
cán bộ chính quyền. Từ những phân tích nêu trên em lựa chọn đề tài: " Bồi dưỡng,
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền UBND phường Thượng Thanh" để
làm báo cáo thực tập. Đây là vấn đề cấp bách, phù hợp với yêu cầu cải cách nền
hành chính nhà nước hiện nay, phù hợp với thực tiễn của địa phương.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục đích của luận văn là đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm

1


nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền phường Thượng Thanh trong giai
đoạn hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Quan niệm về chính quyền cấp xã còn nhiều ý kiến khác nhau. Luận văn
nghiên cứu đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã chỉ tập trung vào đội ngũ cán bộ của
HĐND và UBND phường Thượng Thanh.
- Báo cáo nghiên cứu đội ngũ cán bộ chính quyền phường Thượng Thanh
4. Vấn đề nghiên cứu:
+ Phân tích cơ sở lý luận về cán bộ chính quyền cấp xã và chất lượng đội ngũ
cán bộ chính quyền cấp xã, phường. Trong đó hệ thống hóa những quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước ta về đội ngũ
cán bộ chính quyền cấp xã; khái niệm và những tiêu chí đánh giá, những yếu tố ảnh
hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, phường.
+ Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền phường
Thượng Thanh, qua đó nêu ra những vấn đề tồn tại cần khắc phục cũng như phân
tích các nguyên nhân hạn chế đến chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền phường
Thượng Thanh.

+ Đề xuất các phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng, đội ngũ cán bộ
chính quyền phường Thượng Thanh nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới,
xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, của
Đảng và Nhà nước ta về nhà nước, pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN), về cán bộ,
về chính quyền cấp xã và đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã.
- Báo cáo sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mác - Lênin, kết
hợp các phương pháp lịch sử - thực tiễn; phân tích tổng hợp, điều tra xã hội học;
thống kê, so sánh...

2


6. Ý nghĩa của đề tài:
- Báo cáo góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng và
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền phường Thượng Thanh.
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng về chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền
phường Thượng Thanh báo cáo đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền phường Thượng Thanh, đáp ứng nhiệm
vụ cách mạng hiện nay đối với phường Thượng Thanh.
7. kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, báo cáo gồm 3
chương.

3


PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1.Chính quyền cấp xã, phường và khái niệm đào tạo để bồi dưỡng
nâng cao đội ngũ cán bộ cấp xã, phường
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của chính quyền cấp xã, phường
* Khái niệm chung về chính quyền cấp xã, phường:
Trong hệ thống hành chính nước ta, chính quyền xã - phường - thị trấn (gọi
chung là cấp xã) là chính quyền cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp
hoàn chỉnh: Trung ương, tỉnh, huyện, xã.
Tính đến 19 tháng 4 năm 2002, nước ta có 10.579 đơn vị hành chính xã,
phường, thị trấn, trong đó có 8.964 xã, 573 thị trấn, 1.042 phường. Dưới xã,
phường, thị trấn có các cộng đồng dân cư tự quản; dưới xã có thôn, làng, ấp, bản,
buôn. Dưới phường, thị trấn có tổ dân phố, ở một số thành phố, thị xã giữa phường
và tổ dân phố có cụm dân cư, giữa xã và thôn có khu hành chính. Số lượng xã,
phường, thị trấn trong những năm qua không ổn định. Cùng với quá trình chia tách
các tỉnh, huyện, việc thành lập mới các xã, phường, thị trấn diễn ra ở hầu hết các
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Chỉ trong vòng 7 năm từ 1995 đến 2002 đã
tăng 357 đơn vị trong đó có 59 xã, 213 phường và 85 thị trấn. Chính quyền cấp xã
là nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể quản lý hành chính nhà nước trên tất cả
các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội ở cơ sở, đảm
bảo các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống,
nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân. Sự trong sạch vững mạnh, hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả của chính quyền cấp xã đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ
hoạt động quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công phục vụ nhân dân.
Trong quá trình xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước, Đảng và nhân dân ta
luôn dành sự quan tâm đối với chính quyền cấp xã, phường. Cùng với việc hoàn
thiện thể chế, chính sách đãi ngộ và đầu tư cơ sở vật chất, Đảng và Nhà nước luôn
chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ năng
lực của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, phường.
Chính quyền cấp xã, phường là cấp chính quyền gần dân nhất, là cầu nối trực
tiếp giữa hệ thống chính quyền cấp trên với nhân dân, hàng ngày tiếp xúc, nắm bắt

và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Cấp xã, phường có vai trò rất quan

4


trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế- xã hội, tổ chức
cuộc sống của cộng đồng dân cư.
Chính quyền được hiểu là bộ máy điều khiển, quản lý công việc của nhà
nước và hoạt động của nó mang tính chất quyền lực của Nhà nước, bằng phương
thức tác động của Nhà nước. Cấp xã , phường là đơn vị cấp dưới cùng, vì thế Chính
quyền cấp xã, phường chỉ bao gồm HĐND và UBND. Qua đó có thể hiểu, chính
quyền cấp xã là một cấp cuối cùng trong hệ thống chính quyền 4 cấp của Việt Nam,
là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các mục
tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở, thực hiện việc quản lý
hành chính nhà nước trên địa bàn.
Từ những phân tích trên đây, có thể nêu khái quát khái niệm chính quyền cấp
xã, phường như sau: Chính quyền cấp xã, phường bao gồm HĐND và UBND là
cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở Việt Nam, thực hiện quyền lực
nhà nước ở địa phương, có chức năng thay mặt nhân dân địa phương, căn cứ vào
nguyện vọng của nhân dân địa phương, quyết định và tổ chức thực hiện những vấn
đề có liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đời
sống của nhân dân địa phương, theo Hiến pháp, pháp luật và các mệnh lệnh, quyết
định của cấp trên.
1.1.2. Khái niệm đào tạo để bồi dường, nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ cấp xã, phường
Theo Từ điển tiếng Việt do GS. Hoàng Phê chủ biên (Nxb. Từ điển Bách
khoa, Hà Nội, 2010), Đào tạo – đó là làm cho trở thành người có năng lực theo
những tiêu chuẩn nhất định; Còn Bồi dưỡng – đó là làm cho – 1) tăng thêm sức của

cơ thể bằng chất bổ và – 2) tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất.
Theo Đại từ điển do GS. Nguyễn Như Ý chủ biên (Nxb. Văn hóa-Thông tin,
Hà Nội, 1998), Đào tạo – đó là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có
nghề nghiệp; Còn Bồi dưỡng – đó là làm cho – 1) khỏe thêm, mạnh thêm và – 2) tốt
hơn, giỏi hơn.
Phân tích những nét nghĩa chính của hai khái niệm “đào tạo” và “bồi dưỡng”
được các Từ điển giải thích trên đây cho thấy, đây là hai khái niệm, mặc dù có
những nét nghĩa tương đồng nhất định (như đều chỉ quá trình làm tốt hơn, lành

5


mạnh hơn, chuyên nghiệp hơn cho khách thể), song đây là hai khái niệm không
đồng nghĩa nhau bằng những nội hàm nghĩa rất cụ thể – mà trước hết, đó là sự khu
biệt cơ bản về chất của cả một quá trình giáo dục. Nếu như khái niệm “đào tạo”
được hiểu là một quá trình dài, khép kín nhằm trang bị và xây dựng cho khách thể
các tố chất mà trước đó khách thể đó không có; Còn khái niệm “bồi dưỡng” chỉ
được coi là một giai đoạn ngắn, bổ trợ, nhằm bồi bổ thêm, làm tốt thêm và nâng cao
hơn các tố chất vốn đã có sẵn của khách thể.
Hiện nay, theo các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam có sử dụng hai từ
ngữ “đào tạo” và “bồi dưỡng” cũng cho thấy các nội hàm khác nhau khá rõ ràng
trên cả trên bình diện cấu tạo từ và cú pháp - ngữ nghĩa.
Chẳng hạn: Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 5/3/2010 của Chính phủ về đào
tạo, bồi dưỡng công chức đã đưa ra cách hiểu về đào tạo và bồi dưỡng như sau:
“Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ
năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”.
“Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm
việc”.
Theo cách hiểu trên, đào tạo là quá trình truyền đạt một lượng kiến thức nhất
định cho một đối tượng học tập cụ thể mà quá trình truyền đạt này phải là một qui

trình khép kín với những chuẩn mực và hệ phương pháp dạy và học cụ thể, trong
một khoảng thời gian nhất định. Yếu tố xuất phát điểm của năng lực, kiến thức đầu
vào của đối tượng được đào tạo không nhất thiết làm rõ, nhưng năng lực và kiến
thức đầu ra (sau quá trình truyền đạt, dạy và học) phải được qui chuẩn và xác định
rõ các tiêu chuẩn đã đạt được. Sự chuyển biến về chất lượng năng lực và kiến thức
của đối tượng được đào tạo sau khi trải qua một qui trình dạy và học để có thể đảm
nhận và đáp ứng được yêu cầu của một chuyên ngành đã được học.
Bồi dưỡng là quá trình truyền đạt thêm một lượng kiến thức nhất định cho
một đối tượng học tập cụ thể, trong đó không nhất thiết phải làm rõ về quá trình và
hệ phương pháp truyền đạt thêm, cũng không nhất thiết phải thay đổi cơ bản chất
lượng năng lực và kiến thức của người học, mà chỉ cần cung cấp thêm năng lực và
kiến thức cho họ.
Như vậy, đến nay cả về mặt khoa học và pháp lý, đã có sự thống nhất cơ bản
về các khái niệm “đào tạo” và “bồi dưỡng” và tồn tại với 2 khái niệm độc lập. Tuy
nhiên, bên cạnh hai khái niệm đào tạo và bồi dưỡng là những khái niệm độc lập,

6


trong thực tiễn vẫn còn một quan niệm mới là đào tạo bồi dưỡng là một thuật ngữ
chung không tách rời.
Đào tạo bồi dưỡng
Có thể nói, đào tạo và bồi dưỡng tuy là hai khái niệm khác nhau – như đã
giải thích trên đây, nhưng lại có cùng một mục đích chung làm cho người lao động
có trình độ chuyên môn, khả năng xử lý công việc và năng lực công tác được tốt
hơn. Trên thực tế có một số hoạt động đào tạo, hoặc bồi dưỡng rất khó phân chia
thành đào tạo hoặc bồi dưỡng, bởi lẽ giữa chúng có sự đan xen và kế thừa lẫn nhau.
Trong hoạt động thực tiễn, trừ một số cơ sở đào tạo thuộc hệ thống giáo dục
quốc dân, có cấp bằng học theo cấp học, bậc học, còn lại nhiều cơ sở giáo dục đào
tạo vẫn coi việc đào tạo và bồi dưỡng là một quá trình và cấp chứng chỉ hoặc bằng

cấp bao gồm cả hai quá trình đào tạo và bồi dưỡng. Trên thế giới, cơ quan hành
chính của các nước như Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore... không đặt ra nhiệm
vụ tổ chức đào tạo các trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học cho công
chức. Điều này được giải nghĩa: khi được tuyển dụng và bổ nhiệm vào một vị trí
nhất định, người công chức đã phải đáp ứng các tiêu chuẩn của vị trí đó, trong đó có
tiêu chuẩn về trình độ đào tạo. Khi cần nguồn nhân lực có trình độ cao hơn, họ sẽ tổ
chức tuyển dụng những đối tượng đã được đào tạo trình độ họ cần mà không tổ
chức hoặc cử công chức đi đào tạo.
Như vậy, việc phân định độc lập giữa đào tạo và bồi dưỡng hiện nay cũng chỉ
mang tính chất tương đối, trong nhiều trường hợp không hoàn toàn xác định chính
xác khi nào diễn ra quá trình đào tạo, khi nào thực hiện bồi dưỡng. Chẳng hạn, một
công chức được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo sẽ được học chương trình đào tạo bồi
dưỡng. Nếu như coi lãnh đạo là một nghề nghiệp thì trước đó, người lãnh đạo này
chưa được đào tạo, chưa được học một cách bài bản để “tiếp nhận có hệ thống
những tri thức, kỹ năng” theo quy định của bậc và chức vụ quy định. Khi được tham
gia khóa đào tạo và bồi dưỡng chương trình lãnh đạo quản lý, người lãnh đạo đó
vừa được đào tạo, vừa được bồi dưỡng, trong đào tạo có bồi dưỡng và trong bồi
dưỡng có đào tạo. Do vậy, trong trường hợp này, đào tạo bồi dưỡng tồn tại là một
khái niệm độc lập.
Tóm lại, đào tạo bồi dưỡng chính là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ
thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp bậc đào tạo, đồng thời
vừa trang bị, cập nhật, rèn luện để nâng cao kiến thức, kỹ năng cần thiết cho một

7


đối tượng học tập. Thông qua quá trình đào tạo bồi dưỡng, đối tượng được học tập
có thể đạt được một trình độ kiến thức, chuyên môn, nghề nghiệp nhất định và đồng
thời làm cho họ sử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn có để phát huy hết
năng lực làm việc của họ.

Với cách hiểu như vậy, trong đề tài này sẽ sử dụng khái niệm chung là đào
tạo bồi dưỡng và được sử dụng trong tất các loại hình đào tạo và bồi dưỡng cụ thể.
1.2.Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã phường và
những yếu tố tác động đến bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
chính quyền cấp xã phường
1.2.1. Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã phường
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Nxb Đà Nẵng xuất bản năm
2000 định nghĩa: "Chất lượng: Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người,
một sự vật, sự việc".
Khi đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã,phường một vấn
đề đặt ra là hiểu cho đúng thế nào là chất lượng của đội ngũ cán bộ. Chất lượng của
đội ngũ cán bộ được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
Chất lượng của đội ngũ cán bộ được thể hiện thông qua hoạt động của bộ
máy chính quyền cấp xã phường, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
chính quyền cấp xã phường.
Chất lượng của đội ngũ cán bộ được đánh giá dưới góc độ phẩm chất đạo
đức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng như hiệu
quả công tác của họ.
Chất lượng của đội ngũ cán bộ là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của từng cán
bộ. Đối với đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã phường, muốn xác định chất lượng
cao hay thấp ngoài việc đánh giá phẩm chất đạo đức phải có hàng loạt chỉ tiêu đánh
giá trình độ năng lực và sự tín nhiệm của nhân dân địa phương. Chẳng hạn, các lớp
đào tạo huấn luyện đã qua; bằng cấp (kể cả ngoại ngữ, tin học) về chuyên môn, kỹ
thuật, quản lý nhà nước, pháp luật v.v...; độ tuổi; thâm niên công tác v.v...
Chất lượng của đội ngũ cán bộ còn được đánh giá dưới góc độ khả năng
thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người cán bộ, công chức đối với công
vụ được giao.
Công vụ là một hoạt động gắn liền với công chức, là một loại lao động đặc
thù để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước; thi hành pháp luật - đưa pháp luật vào


8


đời sống; quản lý và sử dụng có hiệu quả công sản và ngân sách Nhà nước phục vụ
nhiệm vụ chính trị.
Từ những góc độ khác nhau nêu trên, có thể đưa ra khái niệm chất lượng đội
ngũ cán bộ chính quyền cấp xã như sau: Chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp
xã là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực và khả năng
thích ứng, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao của họ.
Để đánh giá đúng thực trạng và xác định các giải pháp nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã phường cần phải xác định rõ những
tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, cũng như hiểu rõ những yếu tố tác động
đến chất lượng của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã phường.
1.2.2. Những tiêu chí đánh giá trong bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ
Chất lượng của đội ngũ cán bộ được xác định trên cơ sở tiêu chí về phẩm
chất đạo đức, trình độ năng lực phù hợp với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của
đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã nói
riêng, về khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Về phẩm chất đạo đức: Người cán bộ muốn xác lập được uy tín của mình
trước nhân dân, trước hết đó phải là người cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt. Xây
dựng các tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ, công chức và hình thành ở họ các
phẩm chất đạo đức tương ứng với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của đội ngũ
cán bộ là việc làm cần thiết và cấp bách, nhất là trong sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước hiện nay. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang có sự chuyển biến nhanh
chóng và xã hội xuất hiện nhiều vấn đề hết sức phức tạp, trong đó phải kể đến trình
độ dân trí ngày một nâng cao, và sự đòi hỏi của xã hội đối với đội ngũ cán bộ cũng
ngày một cao hơn. Thêm vào đó công tác quản lý xã hội cũng đòi hỏi người cán bộ
phải tạo lập cho mình một uy tín nhất định đối với nhân dân.
Việc nâng cao phẩm chất, đạo đức ở người cán bộ, công chức đã được Chủ

tịch Hồ Chí Minh quan tâm từ rất sớm. Nhất là sau khi cách mạng thành công,
ngoài việc lãnh đạo, quản lý đất nước, trước những khó khăn phải chống thù trong,
giặc ngoài, Bác vẫn chăm lo việc giáo dục đạo đức cho người cán bộ, công chức
trong các cơ quan chính quyền nhà nước non trẻ. Người đã xác định: "Cán bộ là cái
dây chuyền của bộ máy" và Người nhấn mạnh: "Cán bộ là những người đem chính
sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính

9


sách hay cũng không thể thực hiện được". Người cán bộ tốt ở đây phải là người có
đủ cả năng lực trình độ lẫn đạo đức cách mạng. Bác yêu cầu: "Một người cán bộ tốt
phải có đạo đức cách mạng". Và muốn có đạo đức cách mạng, mỗi người cán bộ theo Bác, phải có được các phẩm chất trí, tín, nhân, dũng, liêm. Khi điều kiện và
tình hình cách mạng thay đổi, trong khi nói chuyện với anh, chị em công chức ở
Thủ đô, Bác đã nhắc nhở: "Chúng ta phải cố gắng thực hiện cần, kiệm, liêm, chính".
Theo Bác:
Trước hết là cần, tức là tăng năng suất trong công tác, bất kỳ là công tác gì.
Kiệm tức là không lãng phí thì giờ, của cải của mình và của nhân dân.
Liêm tức là không tham ô và luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của
nhân dân.
Chính tức là việc phải thì dù nhỏ cũng làm, việc trái thì dù nhỏ cũng tránh.
Bác nói: "Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành.
Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chímh thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu
mọt của dân". Ngay từ những ngày đầu xây dựng chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã chỉ rõ: "Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng,
làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ, chức kia. Chớ vì sợ mất
địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình".
Về trình độ năng lực: Năng lực là một khái niệm rộng, tùy thuộc vào môi
trường và trách nhiệm, vị thế của mỗi người, mỗi cán bộ trong những điều kiện cụ
thể.

Năng lực là những phẩm chất tâm lý mà nhờ chúng con người tiếp thu tương
đối dễ dàng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và tiến hành một hoạt động nào đấy
một cách có kết quả.
Năng lực là tổng hợp các đặc điểm phẩm chất tâm lý phù hợp với những yêu
cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định bảo đảm cho hoạt động đó đạt được kết
quả. Năng lực hình thành một phần dựa trên cơ sở tư chất tự nhiên của cá nhân, và
một phần lớn dựa trên quá trình đào tạo, giáo dục và hoạt động thực tiễn, cũng như
tự rèn luyện của cá nhân.
Năng lực ở con người có nhiều cấp độ khác nhau, ở cấp độ cao thì đó là tài
năng - thiên tài. Cần phân biệt sự kém hiểu biết với sự thiếu năng lực. Trong những
điều kiện bên ngoài như nhau, ở những con người khác nhau có thể tiếp thu những
kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo với nhịp độ khác nhau. Có người tiếp thu nhanh

10


chóng; có người phải tốn nhiều thì giờ và sức lực; ở người này có thể ở mức điêu
luyện, ở người khác chỉ ở mức trung bình. Khi xem xét bản chất của năng lực, cần
chú ý ba dấu hiệu cơ bản:
Một là, năng lực là sự khác biệt nhau về phẩm chất tâm lý cá nhân làm cho
người này khác người kia.
Hai là, năng lực là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả của việc thực
hiện một hoạt động nào đó chứ không phải bất cứ những sự khác biệt chung chung
nào.
Ba là, năng lực không phải được đo bằng những kiến thức, kỹ năng và kỹ
xảo đã được hình thành ở một người nào đó. Năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các
kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn.
Có thể hiểu, năng lực l lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn
có để thực hiện một hoạt động nào đó. Năng lực là những phẩm chất tâm lý, sinh lý
tạo cho con người có khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng

cao. Mỗi con người có khả năng trong một hoạt động nhất định nào đấy có ích cho
xã hội. Nghiên cứu năng lực con người là nghiên cứu sức lực dự trữ của con người
trong lao động hay là tiềm năng của con người đối với lao động.
Năng lực thể hiện ở chỗ, con người làm việc tốn ít sức lực, ít thời gian, của
cải, mà kết quả lại tốt. Việc phát hiện ra năng lực của con người thường căn cứ vào
những dấu hiệu sau: Sự hứng thú đối với công việc nào đó; sự dễ dàng tiếp thu kỹ
năng nghề nghiệp; hiệu suất lao động trong lĩnh vực đó.
Năng lực có năng lực chung và năng lực chuyên môn, giữa chúng có mối
quan hệ ảnh hưởng, tương hỗ lẫn nhau. Năng lực chung cho phép con người có thể
thực hiện có kết quả những hoạt động khác nhau như hoạt động học tập, lao động...
Năng lực chuyên môn cho phép người ta làm tốt một loại công việc nào đó như âm
nhạc, hội họa, văn học, toán học...
Năng lực con người thường gắn liền với sở thích của người ấy. Con người có
sở thích, hứng thú về một hoạt động nào đấy thường nói lên năng lực của người đó
về mặt hoạt động đó. Năng lực không chỉ thể hiện trong những hoạt động lao động
trí óc thuần túy mà thể hiện cả trong hoạt động thể lực. Năng lực phát triển trong
quá trình hoạt động. Người lười biếng, trốn tránh hoạt động lao động trí óc cũng
như lao động chân tay thì năng lực không thể phát triển được.
Đối với cán bộ chính quyền cấp xã phường, năng lực thường bao gồm những

11


tố chất cơ bản về đạo đức cách mạng, về tinh thần phục vụ nhân dân, về trình độ
kiến thức pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội... Sự am hiểu và nắm vững đường lối,
chính sách của Đảng, Nhà nước, thành thạo nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật xử lý
thông tin... để giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước một cách khôn
khéo, minh bạch, dứt khoát, hợp lòng dân và không trái pháp luật. Người cán bộ
quản lý phải được đào tạo sâu về nghề mình phụ trách, phải am hiểu công việc
chuyên môn do mình phụ trách, phải có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn. Đồng

thời, người cán bộ phải có sự ham mê, yêu nghề, chịu khó học hỏi, tích lũy kinh
nghiệm. Người cán bộ phải có khả năng thu thập thông tin, chọn lọc thông tin, khả
năng quyết định đúng đắn, kịp thời. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức, trình độ hiểu
biết và năng lực tổ chức thực hiện cho cán bộ chính quyền cấp xã là vấn đề quan
trọng và bức xúc trong mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền
cấp xã phường.
Về khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao: Đội ngũ cán bộ chính quyền
cấp xã phường của ta hiện nay đông nhưng không mạnh. Do những hạn chế về
trình độ văn hóa, trình độ nghiệp vụ quản lý nhà nước, quản lý kinh tế... đã dẫn tới
hạn chế trong năng lực quản lý điều hành công việc, lúng túng trong việc lập kế
hoạch, trong việc xử lý tình huống khi kế hoạch đưa ra không phù hợp thực tiễn.
Xây dựng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã phường vừa phù hợp với công cuộc
đổi mới của đất nước, vừa thuận theo ý Đảng, lòng dân, trẻ hóa đội ngũ cán bộ
chính quyền cấp xã phường là nhu cầu, là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây
dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới, làm cho đội ngũ cán bộ tràn đầy sức sống. Đội
ngũ cán bộ không được trẻ hóa thì thiếu sức sống, bảo thủ. Nơi nào mà các cán bộ
cấp trên biết lựa chọn và dìu dắt, có nhiều cán bộ mới ở đó công việc tiến triển tốt.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: "... cán bộ mới, vì công tác chưa lâu, kinh
nghiệm còn ít, có nhiều khuyết điểm. Nhưng họ lại có những ưu điểm hơn cán bộ
cũ; họ nhanh nhẹn hơn, thường giầu sáng kiến hơn". Đội ngũ cán bộ không được tri
thức hóa và chuyên môn hóa thì không thể hoàn thành nhiệm vụ. Cán bộ có tư cách,
tác phong tốt, phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, dám nói thật, dám bảo vệ cái
đúng, đấu tranh chống những tiêu cực, quan liêu, tham nhũng trong đội ngũ cán bộ.
Có mối quan hệ tốt với các đồng nghiệp và quần chúng nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy,
huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng"; Người yêu cầu: "... Đảng phải nuôi

12



dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu, phải trọng nhân
tài, trọng cán bộ, trọng mỗi người có ích cho công việc của chúng ta".
Con người ta không phải là thánh hiền, ai có thể nói mình không có sai lầm,
nhưng cần tránh định kiến sẵn. Dùng một cán bộ lão thành, cũng có thể có những ý
kiến nhưng nhìn chung về cơ bản vẫn tương đối dễ dàng thông qua; nhưng đề bạt
một cán bộ trung niên hay thanh niên thì thường hay có những cái nhìn khắt khe
hơn, việc thông qua khó khăn hơn và nhất là thường cho rằng cán bộ trẻ chưa có
đóng góp nhiều cho đất nước.
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến vấn
đề cán bộ cũ và cán bộ mới. Đảng càng phát triển thì cần đến cán bộ mới càng
nhiều. Theo quy luật tự nhiên, khi cán bộ cũ già đi, "nếu không có cán bộ mới thế
vào, thì ai gánh vác công việc của Đảng".
Tài năng của một con người không phải là bất biến suốt đời, mà là một quá
trình vận động như mũi tên bay. Khoa học nghiên cứu và thấy rằng đường cong tuổi
tác của những người làm công tác quản lý nói chung thì ở độ tuổi 50 là tuổi đỉnh
cao. Khi nói về phẩm chất, năng lực của người cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh
thường nói: Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, người có tài mà
không có đức thì vô dụng. Nhưng chữ "đức" ở đây phải được hiểu cho đúng. Không
thể coi những người gọi dạ, bảo vâng, đúng cũng gật, sai cũng gật không có chính
kiến gì... là những người có chữ "đức". Trong khi đó lại coi những người có chính
kiến rõ ràng, dám đấu tranh phê bình, dám chống lại những sai trái như quan liêu,
tham nhũng lại bị coi là kiêu căng tự mãn, là thiếu "đức". Nói về tiêu chuẩn cán bộ,
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng cả đức và tài, trong đó đức là gốc. Người chỉ
rõ yêu cầu đối với cán bộ là: "Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn; chính trị là
đức, chuyên môn là tài. Có tài mà không có đức là hỏng... Đức phải có trước tài" .
Để nhấn mạnh tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ cách mạng, Bác viết: "Cũng
như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc,
không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức; không có đạo đức thì
dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân".
Yêu cầu đặt ra hiện nay là xây dựng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã

phường đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền
thực sự của dân, do dân, vì dân. Họ phải có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường

13


lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tận tụy phục vụ nhân dân, gắn
bó mật thiết với nhân dân, xây dựng được lòng tin trong nhân dân, cần kiệm, liêm
chính, chí công, vô tư, có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực không cơ hội, không
tham nhũng quan liêu và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có sự hiểu biết về
lý luận chính trị, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
nước. Có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc, đáp
ứng được yêu cầu và nhiệm vụ mà tổ chức và nhân dân giao phó. Đặc biệt là đối với
các cán bộ giữ cương vị chủ chốt trong chính quyền cấp xã phường.
Cán bộ muốn làm được việc, thì phải được dân tin, dân phục, dân yêu và
Người cũng chỉ rõ: "Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình
làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng.
Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc giây
leo trời".
Trong tác phẩm Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết, Khi
xác định nhiệm vụ xây dựng chính quyền hùng mạnh của giai cấp vô sản, Lênin đã
chỉ rõ: "Trong lịch sử, không có một phong trào nhân dân sâu sắc và mạnh mẽ nào
diễn ra mà lại không có một thứ bọt bẩn - những phần tử phiêu lưu và bịp bợm,
những bọn khoe khoang và những kẻ hay lớn tiếng ba hoa - chui luồn vào hàng ngũ
những nhà cách tân thiếu kinh nghiệm...". Lênin cũng xác định: "Ngày nay, nhiệm
vụ quản lý đã trở thành nhiệm vụ chủ yếu và trọng tâm" và mục đích là "làm thế
nào cho thực sự toàn thể nhân dân đều học tập được công tác quản lý và bắt đầu
đảm nhận công tác quản lý" .
Để đào tạo được đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã phường vừa hồng vừa

chuyên, phải xây dựng được những tiêu chuẩn khi lựa chọn cán bộ (kể cả cán bộ
thông qua bầu cử và cán bộ thông qua xét tuyển) để sắp xếp, định biên cán bộ cấp
xã theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP. Cán bộ cấp xã phường phải được giáo dục,
đào tạo, bồi dưỡng bằng nhiều hình thức khác nhau như: Tự học, tự đào tạo, đưa đi
đào tạo tập trung, tại chức... cán bộ phải gần gũi với nhân dân, phải am hiểu được
tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Tiêu chuẩn cơ bản để lựa chọn cán bộ chính
quyền cấp xã phường:
Một là: Cán bộ chính quyền cấp xã phường cần phải có trình độ học vấn,
phải có kiến thức quản lý nhà nước, phải qua đào tạo hoặc bồi dưỡng kiến thức
quản lý nhà nước.

14


Hai là: Cán bộ chính quyền cấp xã phường phải trong sạch, không tham
nhũng, không ăn hối lộ, chiếm đoạt của công. Đây là yếu tố phẩm chất đạo đức của
người cán bộ. Cán bộ muốn xây dựng uy tín của mình thì đòi hỏi phải mất rất nhiều
thời gian, có khi là cả một quá trình công tác lâu dài mới tạo lập được uy tín. Nhưng
tự làm mất uy tín thì không cần nhiều thời gian, và khi đã làm mất uy tín rồi thì cơ
hội xây dựng lại uy tín rất khó.
Ba là: Cán bộ chính quyền cấp xã phường trong quá trình hoạt động phải tôn
trọng nhân dân, thông cảm với nhân dân, phải biết dựa vào nhân dân, phục vụ nhân
dân, gần gũi với nhân dân. Mọi hoạt động của cán bộ chính quyền cấp xã phường có
ảnh hưởng và tác động rất lớn đến đời sống của nhân dân địa phương.
1.2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ chính quyền cấp xã phường
Trong bản giải trình của Bộ Chính trị tiếp thu ý kiến Trung ương về Đề án đổi
mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở đã chỉ rõ nguyên nhân của
những yếu kém, bất cập của hệ thống chính trị ở cơ sở là do: "...chưa nhận thức đúng
vai trò, vị trí của cơ sở, quan liêu, để một thời gian quá dài không có chính sách đồng

bộ đối với cán bộ, thiếu chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ cho cơ sở, không
kịp thời bàn và đưa ra những chính sách để củng cố và tăng cường cơ sở".
Phần đông cán bộ cấp xã có trình độ học vấn thấp. Một số cán bộ là người
dân tộc, vùng sâu, vùng xa còn ở tình trạng mù chữ. Một số không nhỏ cán bộ chính
quyền cấp xã phường không được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về
quản lý nhà nước, về pháp luật, về hành chính và kỹ năng quản lý hành chính những kiến thức và kỹ năng phục vụ cho nghiệp vụ chính mà họ đang đảm nhận.
Đối với số cán bộ chủ chốt cấp xã, phường sau mỗi lần bầu cử tuy có được bồi
dưỡng, đào tạo nhưng các kiến thức họ thu nhận được không đầy đủ, hệ thống, vì
chủ yếu là chỉ qua các lớp bồi dưỡng ngắn ngày, và cũng chưa được quan tâm đúng
mức. Trong một vài năm trở lại đây, trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ cấp xã
phường đã được nâng lên, nhưng những kiến thức cơ bản trong lĩnh vực nhà nước
và quản lý nhà nước, quản lý kinh tế thì rất yếu và thiếu. Hơn thế nữa, đội ngũ cán
bộ chính quyền cấp xã lại thường biến động qua mỗi cuộc bầu cử. Đây cũng chính
là lý do tạo cho người cán bộ chính quyền cấp xã phường không an tâm trong công
tác, không có ý chí học tập nâng cao trình độ. Điều này có hạn chế rất lớn đến chất
lượng công tác của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã phường. Đây là một trong

15


những nguyên nhân làm cho đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã chưa đáp ứng được
với yêu cầu của công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước.
Trong thực tế, việc đào tạo, bồi dưỡng còn nhiều mặt hạn chế. Tình trạng
người cần đi học thì không đi học, không được cử đi học và không có chỗ để học;
người không cần đi học lại được cử đi học, người không cần đi học thì lại bị buộc
phải đi học gây ra sự lãng phí không nhỏ. Đã có khá nhiều cán bộ cấp xã học xong
không bố trí được công tác, phải nghỉ việc. Ngoài lãng phí tiền của, cái lãng phí lớn
nhất là mất công đào tạo mà không làm tăng được số cán bộ có trình độ học vấn đáp
ứng nhu cầu xã hội đang đặt ra. Việc quản lý đào tạo cũng chưa được chặt chẽ. Đôi
khi việc đào tạo không phải vì nâng cao trình độ mà là để tìm cách nhận bằng, nhận

giấy chứng nhận hợp thức hóa tiêu chuẩn cán bộ. Trong khi đó, nội dung chương
trình nhìn chung vẫn nặng về lý luận chính trị và trùng lặp, chưa đi sâu vào khoa
học hành chính, kỹ năng nghiệp vụ quản lý nhà nước, quản lý kinh tế.
Bên cạnh đó, thái độ của các cán bộ được cử đi học cũng cần phải được nhìn
nhận cho đúng. Cũng chính vì quan niệm công tác ở cấp xã phụ thuộc vào cơ chế
Đảng cử, dân bầu không có tính ổn định lâu dài. Hầu hết các cán bộ cấp xã đều từ
chối đi đào tạo, bồi dưỡng vào các thời điểm diễn ra cuộc bầu cử, hoặc diễn ra Đại
hội Đảng bộ và đi đào tạo tập trung dài hạn.
Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã phường là một yêu cầu
vừa cơ bản, vừa cấp bách. Nếu không đào tạo thì không thể có đội ngũ cán bộ công
chức cấp xã phường đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới, CNH, HĐH
đất nước; không thể trẻ hóa được đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã phường.
Do quan niệm chưa đúng vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ cấp xã phường,
cho rằng nếu đưa đi đào tạo khi về công tác không trúng cử thì lãng phí nên công
tác đào tạo cán bộ cấp xã phường chưa được quan tâm đúng mức. Thông thường cứ
chờ sau khi bầu cử xong, cán bộ cấp xã phường trúng cử mới được đưa đi đào tạo,
bồi dưỡng. Từ năm 1998 khi có Nghị định số 09/1998/NĐ-CP quy định bốn chức
danh chuyên môn, các địa phương đã quan tâm đào tạo các chức danh này, nhưng
cũng chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ.
1.2.4.Nội dung, quy định và vai trò về bồi dưỡng, nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ cáp xã, phường:
Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05-3-2010 của Chính phủ về đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhấn mạnh: "Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc

16


làm nhằm trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt
công việc được giao". Theo tinh thần đó, cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo hướng:

- Tiếp tục hoàn thiện công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giai đoạn 2010-2020, xem đây là căn cứ
để có kế hoạch, đầu tư ngân sách nhà nước cho công tác đào tạo, bồi dưỡng, cập
nhật kiến thức mới cho cán bộ lãnh đạo, quản lý. Rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ,
công chức và công tác đào tạo, bồi dưỡng trong thời gian qua, qua đó, xác định nhu
cầu đào tạo, xây dựng kế hoạch đào tạo cụ thể theo từng năm và cả nhiệm kỳ đối với
mỗi bộ, ngành, địa phương cũng như trên phạm vi cả nước. Trên cơ sở quy hoạch cán
bộ và nhu cầu thực tiễn của cơ quan, đơn vị, địa phương, cấp ủy xây dựng kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cụ thể, phù hợp với từng chức danh, ngạch, bậc; quan tâm
đào tạo cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số; chú trọng đào tạo
chuyên sâu sau đại học để có đội ngũ trí thức giỏi trên từng ngành, lĩnh vực, nhất là
những ngành, lĩnh vực có yêu cầu cao trong hội nhập quốc tế.
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải gắn với việc bố trí, sử dụng; tránh tình
trạng đào tạo không đúng chuyên ngành, chuyên môn nghiệp vụ. Xác định rõ trách
nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện quy hoạch đào tạo,
bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Tăng cường quản lý việc cử cán bộ đi học, tránh lãng
phí trong đào tạo, bồi dưỡng. Cần áp dụng phương pháp cạnh tranh lành mạnh trong
đánh giá, bố trí, sắp xếp, đãi ngộ, nâng ngạch, bổ nhiệm cán bộ, công chức, nhất là
cán bộ lãnh đạo, quản lý, tạo động lực thúc đẩy sự phấn đấu nâng cao năng lực của
công chức, khắc phục được tình trạng trì trệ trong công việc. Qua đó, tạo ra nhu cầu
thực sự về đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức.
- Xây dựng cơ chế, chính sách để tuyển chọn đội ngũ giảng dạy, báo cáo viên
chất lượng cao; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho việc dạy và học. Xây
dựng đội ngũ giảng viên có kiến thức sâu, rộng, có nhiều kinh nghiệm trong thực tế;
cung cấp cho người học những thông tin, kiến thức thiết thực; chú trọng mời giảng
viên thỉnh giảng là lãnh đạo các cơ quan, đơn vị công tác trong ngành, trong địa
phương có kinh nghiệm thực tiễn để truyền đạt kiến thức, hướng dẫn kỹ năng theo
từng vị trí việc làm.
- Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức những kiến
thức về lý luận chính trị, về lãnh đạo, quản lý, về khoa học xã hội, nhân văn và


17


những kiến thức chuyên môn phù hợp với công việc được giao. Đây là điều kiện
quan trọng, mang tính quyết định đến khả năng phân tích, luận giải những vấn đề
thực tiễn từ những chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, trên cơ sở đó vận
dụng sáng tạo vào thực tiễn của đơn vị, của lĩnh vực mà cá nhân đang được phân
công phụ trách. Thông qua đào tạo, bồi dưỡng giúp cán bộ có khả năng phân tích,
xử lý các tình huống, hình thành phương pháp nhận thức khoa học và giải quyết các
vấn đề nhanh, nhạy và đạt hiệu quả cao nhất.
- Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn nghiệp
vụ công chức, viên chức và tập trung theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu; mỗi
chức danh, mỗi vị trí việc làm được bồi dưỡng những kiến thức và kỹ năng phù
hợp, thiết thực với công việc đang đảm nhận, các chương trình cụ thể như: kỹ năng
dành cho công chức, viên chức lãnh đạo quản lý; nghiệp vụ cho công chức, viên
chức làm công tác nhân sự, cải cách hành chính, văn thư lưu trữ, thực hành văn bản;
ứng dụng công nghệ thông tin; xử lý tình huống... Tiếp tục đổi mới và áp dụng các
phương pháp truyền đạt kiến thức theo từng đối tượng đào tạo, bồi dưỡng như:
thuyết trình, làm việc theo nhóm, nghiên cứu tình huống, thảo luận, đóng vai... Hình
thức đào tạo, bồi dưỡng kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, chia tổ nhóm thảo
luận, làm bài tập tình huống; minh họa quy trình, thao tác thực thi nhiệm vụ bằng
hình ảnh trình chiếu, hướng dẫn nghiệp vụ theo hình thức “cầm tay, chỉ việc”.
Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức không
chỉ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của một nền
hành chính trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp mà còn có tác động tích cực đến
nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh. Bên cạnh
việc đào tạo, bồi dưỡng qua trường lớp, việc đào tạo cán bộ, công chức qua hoạt
động thực tiễn cũng cần được quan tâm thực hiện liên tục trong quá trình sử dụng
cán bộ.


18


Chương 2: Thực trạng và giải pháp
2.1. Khái quát chung về phường Thượng Thanh và UBND phường
Thượng Thanh.
2.1.1 Khái quát chung về phường Thượng Thanh
Phường Thượng Thanh có diện tích đất tự nhiên là 484,4426 ha, dân số hiện
nay trên 26 nghìn nhân khẩu phân bố ở 28 tổ dân phố, trình độ dân trí không đồng
đều, nhân dân chủ yếu làm nông nghiệp và là một trong các phường có truyền thống
văn hóa – lịch sử - cách mạng lâu đời.
Thượng Thanh vốn thuộc huyện Gia Lâm trong vùng đất Long Biên. Thời
nhà Lý thuộc phủ Thiên Đức, thời nhà Trần thuộc lộ Bắc Giang, thời nhà Nguyễn
nằm trong trấn Kinh Bắc. Khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, huyện Gia Lâm thuộc
tỉnh Bắc Ninh. Các thôn Gia Quất, Thượng Cát, Thanh Am của phường thời đó đều
là xã. Xã Gia Quất gồm hai thôn Gia Quất Thượng và Gia Quất Hạ; xã Thượng Cát
có các xóm: xóm Dinh, xóm Ba, xóm Chùa, xóm Đồng. Hai xã Gia Quất và Thượng
Cát thuộc tổng Gia Thụy. Theo cuốn "Dư địa chí Việt Nam", năm 1831 huyện Gia
Lâm có 10 tổng gồm 79 thôn sở. Tổng Gia Thụy hồi đó gồm thôn Bắc Cầu, Bắc
Biên, Yên Tân, Gia Thượng, Thượng Cát và Gia Quất. Còn xã Thanh Am thời xa
xưa gọi là Hoa Am, tên nôm là làng Đuống, đến năm 1841 đổi là Thanh Am thuộc
tổng Đặng Xá, huyện Gia Lâm. Năm 1946, để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, cấp trên đã quyết định thành lập khu Ngọc
Thụy gồm các thôn Bắc Cầu, Bắc Biên, Yên Tân, Gia Thượng, Gia Quất Thượng,
Gia Quất Hạ, Thượng Cát, Thanh Am, phố Thượng Cát, phố Gia Lâm, làng Ái Mộ;
trực thuộc tỉnh Bắc Ninh và trực tiếp nhận lệnh trừ mặt trận Hà Nội.
Tháng 3 năm 1949, theo chủ trương thành lập Mặt trận Đường 5, đặc khu
Ngọc Thụy và huyện Gia Lâm nhập về tỉnh Hưng Yên. Cuối năm 1949, đặc khu
Ngọc Thụy nhập với huyện Gia Lâm và trở về trực thuộc tỉnh Bắc Ninh. Ngày

10/10/1954, giải phóng Thủ đô, chính quyền ta thành lập quận VIII thuộc thành phố
Hà Nội, bao gồm khu phố Gia Lâm và các xã Hồng Tiến, Việt Hưng, Long Biên và
Ngọc Thụy.
Đến năm 1955, khu Ngọc Thụy chia tách làm 2: xã Ngọc Thụy và xã Thượng
Thanh. Xã Thượng Thanh bấy giờ gồm các thôn: Gia Quất Thượng, Thượng Cát,
Thanh Am và 2 xóm Đức Hòa (Đức Giang) và Hòa Bình (xóm Đê). Theo nghị
quyết của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, kỳ họp thứ 2, ngày 20/4/1961
và Nghị định của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 31/5/1961, quy định địa dư hành
chính huyện Gia Lâm là một huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội (bao gồm quận
VIII, huyện Gia Lâm và một số xã của huyện Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành, tỉnh
Bắc Ninh; 01 xã của huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Lúc này, Thượng Thanh có
6 cụm dân cư là thôn Gia Quất, Thượng Cát, Thanh Am, Đức Hòa và hai xóm: xóm
Lò và xóm Thủy Văn. Tổng diện tích mặt bằng của xã là gần 8km2; tháng 10/1982,
Chính phủ quyết định thành lập thị trấn Đức Giang từ cầu Chui đến cầu Đuống và
gồm toàn bộ các cơ quan xí nghiệp nằm giữa địa bàn xã như: Khu tập thể Thượng
Thanh, Nhà máy Hóa chất, Kim khí, Xăng dầu; tháng 11/2003, Phường Thượng
Thanh được thành lập theo Nghị định số 132-NĐ/CP của Chính phủ.

19


Trên địa bàn phường hiện nay còn khá nhiều di tích như: đình – chùa Gia
Quất, đình – chùa Thanh Am, đình – chùa Thượng Cát, đền phủ Liễu Hạnh – Thủy
Văn. Trong đó, đình Thanh Am đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích lịch
sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1990, đình Gia Quất được UBND Thành phố Hà Nội
xếp hạng di tích lịch sử - nghệ thuật, chùa Gia Quất được xếp hạng di tích lịch sử
cách mạng kháng chiến năm 2010.
Với điều kiện tự nhiên và xã hội, Thượng Thanh có nhiều thuận lợi để phát
triển kinh tế - xã hội theo hướng thương mại - dịch vụ - tiểu thủ công nghiệp, tuy
nhiên cũng gặp không ít khó khăn do thực trạng kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng kỹ

thuật chưa thật sự phát triển nhanh, đồng bộ và tương xứng với tốc độ đô thị hoá,
tiềm năng, lợi thế của địa phương đồng thời sự phức tạp trong việc quản lý địa giới
hành chính, các vấn đề về an ninh xã hội, hạn chế chủ quan về nhận thức và hiểu
biết các kiến thức pháp luật của một bộ phận cán bộ và nhân dân địa phương là
những khó khăn, thách thức không nhỏ đối với sự phát triển chung, đặc biệt trong
công tác tổ chức và hoạt động của UBND phường.
Khi mới thành lập, với kinh tế và hạ tầng cơ sở kém phát triển, an ninh chính
trị - trật tự an toàn xã hội rất phức tạp. Tuy nhiên, với ý chí và quyết tâm cao, Đảng
bộ, chính quyền và nhân dân phường Thượng Thanh đã cùng nhau quyết tâm thực
hiện những nhiệm vụ mới, nhanh chóng ổn định để xây dựng nền tảng vững chắc
phát triển kinh tế - xã hội. Từ những nỗ lực to lớn của cả hệ thống chính trị và nhân
dân trên địa bàn phường đã thu được nhiều kết quả và thành tựu đáng tự hào.
Những nét đổi thay của Thượng Thanh hơn 10 năm qua mà chúng ta đều dễ
dàng nhận thấy đó là bộ mặt đô thị ngày càng văn minh, hiện đại, đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân ngày càng ổn định và phát triển. Hạ tầng kỹ thuật và xã
hội từng bước được đầu tư đồng bộ, hiện đại, không chỉ chú trọng những công trình
mang tầm vóc của một đô thị lớn mà còn hoàn thiện cả những công trình phúc lợi,
đảm bảo đời sống dân sinh và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, như: Các trục
đường vào các khu dân cư, đường ngõ của các tổ dân phố đều được bê tông hoá. Hệ
thống điện chiếu sáng, cấp thoát nước đều đã được cải tạo nâng cấp. Trụ sở phường
và các tổ dân phố, trường học, trạm xá đều đã được đầu tư xây dựng với trang thiết
bị ngày càng đồng bộ.
Trong quá trình xây dựng và phát triển, nhờ phát huy được mạnh mẽ sức
mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, tiềm năng lợi thế của địa phương, tranh
thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo giúp đỡ của Quận, nên suốt 10 năm qua tốc độ đô thị hoá
và phát triển kinh tế của phường luôn được duy trì với nhịp độ rất cao, phát triển
theo hướng thương mại - dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp; phường đã động viên và
phát huy nguồn lực của các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế hộ gia đình.
Trong 10 năm qua đã trên 1000 người được vay vốn từ ngân hàng chính sách xã hội
với số tiền gần 15 tỷ đồng, trên địa bàn có hơn 800 hộ gia đình hoạt động kinh

doanh dịch vụ - thương mại, cùng với 3 chợ tạo cho phường thành nơi giao thương
sôi động tấp lập. Từ mức thu ngân sách 5 tỷ 247 triệu năm 2003 đến 2014 là 18 tỷ
806 triệu (tăng hơn 3 lần) với mức tăng bình quân hàng năm là trên 10%, văn hoá
xã hội được đẩy mạnh, an ninh - quốc phòng được đảm bảo, hệ thống chính trị ngày
càng được củng cố, đảng bộ luôn giữ vững danh hiệu trong sạch vững mạnh.

20


Kết quả trên đã tạo ra bước ngoặt có ý nghĩa vô cùng to lớn, tạo nguồn lực
cho phát triển kinh tế - xã hội, Quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng và giải quyết vấn
đề an ninh xã hội. Mỗi năm phường liên hệ và giới thiệu việc làm cho 500 đến 650
người, mức sống của nhân dân trong phường được nâng lên rõ rệt. Số hộ giàu đạt
trên 20%, số hộ nghèo chỉ còn 0,56%. Trường học, trạm y tế, nhà văn hoá phường ,
trụ sở của các tổ dân phố được nâng cao và xây mới. Hơn 10 năm qua đã có trên 50
công trình văn hoá xã hội và dân sinh xây dựng do phường làm chủ đầu tư với kinh
phí là 60 tỷ đồng. Đặc biệt Quận, Thành phố đã đầu tư với hàng trăm tỷ đồng cho
các dự án trọng điểm tạo nên bộ mặt khang trang hiện đại như hạ tầng cơ sở khu Tái
định cư xóm Lò, Trường Mầm non Thượng Thanh, Ánh Sao, Tiểu học Thượng
Thanh, Thanh Am, Trường THCS Thượng Thanh, Nhà văn hóa phường. Đến năm
2015, toàn bộ trường công lập trên địa bàn phường từ mầm non đến THCS đã được
công nhận đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1.
Đi đôi với phát triển kinh tế, hạ tầng kỹ thuật, phường cũng luôn chăm lo
phát triển các sự nghiệp văn hóa, xã hội thông qua từng lĩnh vực cụ thể. Sự nghiệp
giáo dục và đào tạo luôn được phường quan tâm chăm lo nên đã có những bước
phát triển tốt, chất lượng giáo dục được nâng cao, số giáo viên giỏi, học sinh giỏi
đều tăng,liên tục nhiều năm phường được công nhận là phường khuyến học, trung
tâm học tập cộng đồng của phường hoạt động thường xuyên, phong phú, hiệu quả.
Làm tốt công tác chăm sóc người có công với cách mạng và các gia đình chính sách
bằng các hoạt động sửa chữa, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết, tặng sổ tiết

kiệm, các chính sách ưu đãi người có công với cách mạng đều được thực hiện đầy
đủ, đúng quy định. Đối với công tác giảm nghèo, an sinh xã hội, phường đã tạo điều
kiện để các hộ vay vốn với lãi xuất thấp để phát triển kinh tế, giảm nghèo, vận động
ủng hộ xây dựng các loại quỹ để tặng sổ tiết kiệm, xóa nhà dột nát, nhà tạm, trợ
giúp kịp thời những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Tới nay, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn
0,56%, phường không còn hộ nghèo là đối tượng chính sách. Việc thực hiện chỉ tiêu
giảm nghèo, chỉ tiêu cai nghiện bắt buộc hàng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu được
giao. Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" luôn được quan
tâm, và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả. Hàng năm số gia đình đạt văn hoá
trên 88% và tỷ lệ tổ dân phố đạt danh hiệu tổ dân phố văn hoá cấp quận đạt trên
70%. Công tác y tế, dân số, chăm sóc sức khỏe trẻ em cũng được phường quan tâm
thường xuyên. Trạm y tế phường liên tục đạt chuẩn Quốc gia, thực hiện tốt các hoạt
động chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em và phòng chống dịch bệnh, thường
xuyên tổ chức các đợt uống Vitamin A, tiêm chủng quốc gia. Giảm tỷ lệ trẻ suy dinh
dưỡng từ 15% xuống còn 6.6%. Hoạt động chữ thập đỏ đã được chú trọng, Hàng
năm tổ chức khám và cấp phát thuốc miễn phí cho hàng ngàn lượt người, tổ chức tốt
các đợt hiến máu nhân đạo và luôn đạt vượt chỉ tiêu kế hoạch được giao.
Bên cạnh việc tập trung phát triển kinh tế xã hội, vấn đề đảm bảo an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, công tác quân sự địa phương luôn được đặt lên hàng
đầu. Với tinh thần tập trung, sự nỗ lực của từng chiến sỹ công an, dân quân tự vệ,
ban bảo vệ dân phố, lực lượng xung kích đã khắc phục những khó khăn, thiếu thốn
về cơ sở vật chất, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ an toàn
tuyệt đối khi diễn ra những sự kiện quan trọng của địa phương cũng như của đất

21


nước, các ngày lễ tết, đảm bảo trật tự đô thị, phòng chống lụt bão... được các cấp từ
thành phố tới quận biểu dương, khen thưởng. Trong 10 năm qua, lực lượng CA
phường giữ vững danh hiệu Tiên tiến xuất sắc, năm 2007, 2008, 2009 đạt đơn vị

quyết thắng đứng đầu khối quận, được tặng Bằng khen của Thành phố, 2 năm liên
tục 2008 – 2009 được nhận cờ thi đua xuất sắc của Thành phố về phong trào toàn
dân tham gia bảo vệ ANTQ.
Những thành quả đã đạt được hơn 10 năm qua không thể tách rời vai trò lãnh
đạo, chỉ đạo sâu sát của Đảng ủy phường, sự phối hợp chặt chẽ của các đoàn thể
chính trị xã hội. Đại hội Đảng bộ phường lần thứ XXIV, XXV và lần thứ XXVI đã
phát huy trí tuệ, tập trung xây dựng đường lối phát triển của phường trong từng giai
đoạn, phù hợp với thực tiễn. Đảng bộ phường hơn 10 năm qua đã có những bước
phát triển vững chắc, đến nay, toàn đảng bộ đã có 972 đảng viên với 37 chi bộ trực
thuộc. Đảng ủy phường qua từng nhiệm kỳ đã phát huy trí tuệ tập thể, tinh thần
trách nhiệm, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo để thực hiện vai trò định hướng, xây dựng
các mục tiêu phát triển của phường trong từng giai đoạn. Đặc biệt, trong giai đoạn
hiện nay, phường tiếp tục tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa
phương, chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ chính trị về " tiếp tục đẩy mạnh việc học tập,
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", cụ thể hóa 06 chương trình công tác
toàn khóa của quận ủy gắn với Nghị quyết TW4 (khóa XI) đã tạo những chuyển
biến quan trọng về nhận thức, ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, được
nhân dân đồng tình, đánh giá cao. Trong 10 năm qua Đảng bộ phường luôn đạt danh
hiệu Trong sạch vững mạnh.
Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội của phường phát triển
không ngừng về tổ chức hội, thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm trong công tác tuyên
truyền, vận động cũng như chăm lo đời sống, vật chất, tinh thần cho cán bộ, hội
viên với nhiều phong trào cụ thể, thiết thực đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ với
Đảng, chính quyền để thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra, hàng năm đều được cấp trên
đánh giá là đơn vị hoàn thành xuất sắc, tổ chức hội vững mạnh.
Nhìn lại chặng đường 10 năm qua, mặc dù còn một số việc chưa đáp ứng
được sự kỳ vọng của nhân dân nhưng những kết quả và thành tựu mà phường
Thượng Thanh đạt được là to lớn và có sức thuyết phục, được ghi nhận bằng những
phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước đã trao tặng cho đảng bộ và nhân dân
Phường Thượng Thanh:

- Năm 2002: Được tặng huân chương lao động hang ba của Chủ tịch nước.
- Các năm 2004, 2007, 2008, 2009, 2011: Được tặng bằng khen của Chủ tịch
UBND Thành phố về hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác năm.
- Năm 2010: Được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
- Năm 2012: Được UBND Quận Long Biên khen thưởng đơn vị xuất sắc
trong phong trào thi đua.
2.1.2 Khái quát về UBND phường Thượng Thanh
Để khái quát về UBND phường Thượng Thanh, ta có hai sơ đồ

22


×