1
ĐỀ TÀI :
“ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HỖ TRỢ TRẺ KHUYẾT TẬT HỌC
HÒA NHẬP Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC”.
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
Chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật (TKT) đang là mối quan tâm của nhiều
Quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Đây là vấn đề thể hiện tính nhân văn
cao cả trong quan hệ giữa con người với con người. Theo điều tra của tổ chức Y tế
thế giới (WHO) có khoảng 10% dân số thế giới là người khuyết tật. Ở Việt Nam theo
điều tra của Trung tâm nghiên cứu tật học- Viện Chiến lược và Chương trình giáo
dục, TKT chiếm 1,2 dân số trong cả nước. Việc chăm sóc giáo dục TKT đang là mối
quan tâm của Đảng, Nhà nước và đã trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Điều
này thể hiện rõ nước ta là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở Châu Á đã
kí phê chuẩn công ước quyền trẻ em (20/2/1990) cam kết trước thế giới thực hiện
quyền trẻ em. Trong điều 23, Công ước đã ghi rõ: “ TKT về tinh thần hay vật chất
cần được hưởng một cuộc sống trọn vẹn và đầy đủ trong những điều kiện đảm bảo
phẩm giá, thúc đẩy khả năng tự lập và tạo điều kiện cho các em tham gia tích cực
vào cộng đồng”.
Phương châm giáo dục TKT hiện nay là cho trẻ sớm hòa nhập cộng đồng,
giúp các em có cuộc sống càng bình thường càng tốt; môi trường giúp các em phát
triển tốt nhất là môi trường giáo dục hòa nhập (GDHN) , một môi trường phù hợp
với hoàn cảnh và điều kiện ở Việt nam. Mặc dù GDHN đã được triển khai thực hiện
trên phạm vi cả nước song hiệu quả chưa cao. Một số trường, một số giáo viên còn
rất lúng túng về phương thức tổ chức và phương pháp dạy học hòa nhập. Bên cạnh
đó, còn không ít trình trạng lãnh đạo nhà trường và giáo viên trực tiếp dạy TKT
( nhất là trường ở vùng nông thôn) còn coi nhẹ, thiếu sự quan tâm giúp đỡ kịp thời
TKT. Có tư tưởng cho rằng: học sinh khuyết tật không thể học được, không cần đòi
hỏi chất lượng học tập, thậm chí không cần đưa các em vào danh sách lớp, không có
hồ sơ theo dõi giúp đỡ và đặc biệt quan trọng hơn, nhiều TKT còn ngoài nhà trường
thiếu sự chăm sóc, giáo dục...
Là một Cán bộ quản lý GD, bản thân tôi luôn trăn trở trước yêu cầu, nhiệm vụ
cấp thiết nhằm tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ các em không may bị khuyết tật sớm
được học hòa nhập; trong đó, tất cả TKT cùng được đến lớp, cùng học với trẻ em
bình thường trong một ngôi trường, không tách biệt giữa học sinh với nhau. Mọi học
sinh đều được tôn trọng và đều có giá trị như nhau; nhưng có điều chỉnh chương
trình, đổi mới phương pháp dạy học và thay đổi quan điểm, cách đánh giá là cốt lõi
giúp GDHN trẻ khuyết tật đạt hiệu quả cao nhất.
Trước thực trạng tại đơn vị đang công tác, tôi chọn đề tài: “ Một số biện pháp
nhằm hỗ trợ trẻ khuyết tật học hòa nhập ở trường tiểu học Thái Phiên huyện
Phú Ninh”. Đây là trách nhiệm, đồng thời cũng là dịp để nghiên cứu hiểu biết sâu
2
hơn về GDHN trẻ khuyết tật ở vùng nông thôn. Qua đó, vận dụng linh hoạt những
biện pháp, giải pháp phù hợp vào thực trạng tại đơn vị góp phần thực hiện tốt công
tác GDHN trẻ khuyết tật tại trường tiểu học Thái Phiên đem lại hiệu quả.
II/ CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Trẻ khuyết tật là những trẻ em do những tổn thương về cơ thể hoặc rối loạn
các chức năng nhất định gây nên những khó khăn đặc thù trong các hoạt động vui
chơi, học tập, lao động. TKT có thể tham gia các hoạt động như mọi thành viên khảc
trong cộng đồng. Tuy nhiên, trẻ có được tham gia các hoạt động đó để thể hiện và
phát triển các tiềm năng của bản thân hay không tùy thuộc phần lớn vào sự tạo điều
kiện của nhà trường, cộng đồng và toàn xã hội.
Quan niệm trước đây mang tính tiêu cực, chủ quan, hạ thấp, thậm chí sai lệch,
xuyên tạc như: TKT là sự trừng phạt của thượng đế, là sự bất hạnh của những gia
đình ăn ở thiếu đạo đức- dùng những tên gọi miệt thị, xem thường trẻ khuyết tật –
Quan niệm trẻ khuyết tật chỉ dựa vào những biểu hiện khiếm khuyết về thể chất và
tinh thần đã làm tổn thương đến lòng tự trọng của trẻ.
Quan niệm ngày nay mang tính tích cực và khách quan hơn: Trước hết phải
thừa nhận trẻ khuyết tật là trẻ em, như mọi trẻ em khác - Mỗi đứa trẻ đều có khả
năng nhất định và những hạn chế nhất định trong hoạt động - Mỗi trẻ em có những
khó khăn trong quá trình phát triển. Những khó khăn đó có cái nằm bên trong đứa
trẻ, có cái nằm bên ngoài đứa trẻ (môi trường, cơ hội, hình thức, nội dung và phương
pháp giáo dục... chưa phù hợp).
Đến nay, đã có 3 hình thức giáo dục TKT: giáo dục chuyên biệt, giáo dục hội
nhập, giáo dục hòa nhập. Hình thức giáo dục hòa nhập ra đời muộn hơn, nhưng giải
quyết mâu thuẩn nội tại của các hình thức trước đó và dần thay thế các hình thức
giáo dục cũ bị lạc hậu.
GDHN cho trẻ khuyết tật là loại hình cơ bản mà Bộ GD & ĐT khẳng định
trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2000-2010 của nước ta. Muốn thực
hiện GDHN cần phải làm tốt công tác hỗ trợ TKT. Hỗ trợ TKT là một khởi đầu sớm
cho sự thành công của GDHN. Hỗ trợ TKT là một quá trình bao gồm việc điều tra
thực trạng, phát hiện, phân loại, tư vấn kiến thức, kĩ năng, xây dựng môi trường, xác
định mục tiêu bài dạy, cách đánh giá kết quả giáo dục TKT. Thực hiện tốt hỗ trợ
TKT sẽ tạo điều kiện thuận lợi để TKT học hòa nhập đạt kết quả tốt.
III/ CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Trường tiểu học Thái Phiên xã Tam Đại huyện Phú Ninh nằm trên địa bàn
vùng nông thôn, hiện có 4 cơ sở; gồm 22 lớp với 477 học sinh.
Qua điều tra, thống kê thực trạng TKT trên địa bàn toàn trường hiện có 16 trẻ
khuyết tật, trong đó:
- 02 trẻ khó khăn về nhìn ( kiếm thị)
- 04 trẻ khó khăn về nghe ( kiếm thính )
- 07 trẻ khó khăn về học và hoặc vận động
3
- 03 trẻ khó khăn về nói ( tật ngôn ngữ)
Hầu hết các TKT đang được học hòa nhập ở các lớp; được theo dõi, hỗ trợ
trong thời gian học hòa nhập, các em được học cùng chương trình với các bạn bình
thường khác; về chương trình, phương pháp và cách đánh giá ở đây đã được nhà
trường điều chỉnh, đổi mới cho phù hợp với nhu cầu, năng lực của từng em.
Tuy nhiên,trong quá trình tổ chức thực hiện GDHN ở tại trường cũng gặp
không ít khó khăn, vướng mắc; giáo viên còn lúng túng trong tổ chức, thực hiện
chương trình và hiệu quả GDHN chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.
IV/ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
Qua quá trình nghiên cứu lí luận về sự phát triển và khả năng của TKT, trên
cơ sở những văn bản pháp lý về quyền lợi được hưởng giáo dục của mọi TKT, sự chỉ
đạo của Phòng GD & ĐT huyện Phú ninh về GDHN trẻ khuyết tật, cùng với kết quả
nghiên cứu từ thực tiễn về tổ chức thực hiện tại đơn vị. Bản thân tôi xin nêu một số
biện pháp hỗ trợ TKT học hòa nhập tại trường tiểu học Thái Phiên như sau :
1. Biện pháp 1: Tuyên truyền trong PHHS, quán triệt trong CB- GV-NV
về Ý nghĩa, trách nhiệm và tầm quan trọng của việc học hòa nhập trẻ khuyết
tật.
Công tác tuyên truyền trong PHHS và quán triệt trong CB-GV-NV về ý nghĩa,
trách nhiệm và tầm quan trọng của việc GDHN trẻ khuyết tật là điều hết sức quan
trọng. Nhà trường triển khai sâu rộng những cơ sở pháp lý mà Đảng và Nhà nước ta
đã ban hành về quyền và trách nhiệm đối với TKT: Luật bảo vệ và Chăm sóc giáo
dục trẻ em 16/8/1991; Pháp lệnh về người tàn tật 30/7/1998; Điều 59 Hiến pháp
nước CHXHCNVN năm 1992; Điều 11 Luật phổ cập giáo dục tiểu học...Xây dựng
và nâng cao ý thức về quyền được giáo dục của mọi người, về nghĩa vụ, trách nhiệm
của Nhà trường, của giáo viên trong việc đón nhận TKT. Nhà trường là nơi thực hiện
chương trình GDHN trẻ khuyết tật, có vai trò phát hiện và giáo dục trẻ em khuyết
tật, cộng tác với cha mẹ trẻ, kiểm tra đánh giá và xây dựng một kế hoạch giáo dục cá
nhân nhằm hỗ trợ cho học hòa nhập TKT.
2. Biện pháp 2: Điều tra, phát hiện, phân loại và bố trí lớp học cho trẻ
khuyết tật.
Tổ chức điều tra, phát hiện sớm những TKT trên địa bàn, tránh trình trạng bỏ
sót đối tượng. Cán bộ làm công tác điều tra cần được tập huấn và có trách nhiệm thu
thập thông tin cần thiết có liên quan đến TKT ( thu thập từ đối tượng, từ PHHS
khuyết tật, từ những người xung quanh), đồng thời ghi đầy đủ các yêu cầu vào phiếu
điều tra theo mẫu ( xem phụ lục 1).
Trên cơ sở điều tra, thống kê trẻ khuyết tật, nhà trường phối hợp với Trung
tâm y tế địa phương tiến hành phân chia ra các nhóm khuyết tật chính:
- Trẻ khó khăn về nhìn ( kiếm thị)
- Trẻ khó khăn về nghe ( kiếm thính )
- Trẻ khó khăn về học và hoặc vận động
4
- Trẻ khó khăn về nói ( tật ngôn ngữ)
- Trẻ có những khó khăn khác ( gồm cả trẻ đa tật)
Sau khi phân chia các nhóm khuyết tật chính, nhà trường bố trí vào học hòa
nhập ở các lớp theo sự sắp xếp như sau: Các em cùng loại khuyết tật vào học một
lớp, mỗi lớp không quá 2 em, được bố trí ngồi gần học sinh khá, giỏi và bàn học
thuận lợi nhất .
3.Biện pháp 3 :Xây dựng môi trường phù hợp, tổ chức các hoạt động ở
lớp hòa nhập có TKT.
Xây dựng môi trường GDHN trong điều kiện hiện nay ở nhà trường là một
trong những yếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng đảm bảo sự thành công của GDHN
cho TKT. Nếu không có tương tác môi trường, không thích nghi môi trường thì dẫn
đến kìm hãm sự phát triển. Tạo môi trường phù hợp đem lại thuận lợi tốt đối với trẻ,
kể cả trẻ khuyết tật và trẻ bình thường. Môi trường đó vừa là điều kiện, vừa là cơ hội
tốt nhất để trẻ khuyết tật cùng chơi, cùng tham gia hoạt động và được gần gũi bên
các bạn để phát triển các kĩ năng, đặc biệt là phát triển ngôn ngữ và giao tiếp. Giáo
viên cần tổ chức tốt môi trường giáo dục cho TKT bao gồm: môi trường vật chất và
môi trường tinh thần.
Tổ chức các hoạt động GD ở lớp hòa nhập có TKT. Những khó khăn của TKT
như hạn chế về vốn sống, ngôn ngữ và khả năng giao tiếp, hợp tác với các trẻ khác
trong các trò chơi...có ảnh hưởng đến quá trình vui chơi trong lớp hòa nhập. Do vậy,
khi tổ chức hoạt động GD ở lớp hòa nhập, GV cần thực hiện các biện pháp hỗ trợ để
trẻ vượt qua những khó khăn và giúp trẻ phát triển như: Điều chỉnh mục tiêu, nội
dung, phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động phù hợp với khả năng và nhu
cầu của TKT.
4. Biện pháp 4: Nghiên cứu đối tượng, xác định mục tiêu của bài dạy .
Cần nghiên cứu trên cả hai đối tượng trẻ bình thường và trẻ khuyết tật, nghiên
cứu mức độ phát triển hiện có của cả hai loại trẻ để tìm ra những điểm mạnh và
những điểm hạn chế của mỗi trẻ, từ đó xây dựng mục tiêu, nội dung phù hợp, lựa
chọn phương tiện hữu ích cho bài dạy.
Xác định mục tiêu của bài dạy. Cần xây dựng mục tiêu chung cho cả trẻ bình
thường và mục tiêu riêng cho trẻ khuyết tật chậm phát triển, từ đó xác định phương
pháp nào có thể sử dụng trong dạy học. Để có sự lựa chọn phù hợp GVcũng cần xác
định mức độ hiện có của các phương tiện trong điều kiện của nhà trường.
5. Biện pháp 5: Lập kế hoạch giáo dục các nhân
Đây là bước hết sức quan trọng của người GV cần tuân theo các yêu cầu của
bản kế hoạch nói chung. Tuy nhiên với những đặc thù riêng của TKT cần lưu ý một
số yêu cầu sau:
- Hệ thống kiến thức KN cần được xây dựng từ mức độ đơn giản đến mức độ
khó, cao hơn.
5
- Các nhiệm vụ được chia nhỏ thành các bước và thực hiện từng bước, từng
phần nhỏ thì càng tốt. Việc xây dựng được dựa trên cơ sở một hệ thống các bước,
tùy từng trẻ với những khả năng và nhu cầu khác nhau mà xác định số bước nhiều
hay ít tương ứng với mức độ của từng bước, song phải đi theo từng bước để đạt được
mục tiêu đề ra.
- Thiết kế các hoạt động được diễn ra trong nhiều môi trường khác nhau nhằm
tăng số lượng kiến thức cũng như tăng mức độ thành thạo các kĩ năng cho TKT.
- Xây dựng kế hoạch chuyển tiếp về thời gian như: giữa hai học kì, các
tháng... hay chuyển tiếp về kiến thức,KN mang tính củng cố và lĩnh hội tri thức mới
thể hiện trong những hoạt động phong phú, hứng thú trẻ tham gia.
KHGD cá nhân TKT trước khi được thực hiện, cần phải được thông qua tổ
chuyên môn, BGH nhà trường và đặc biệt là cha mẹ TKT. Bằng cách này sẽ gắn kết
được các thành viên có trách nhiệm chung, góp phần làm cho KHCN dễ dàng thực
hiện và tính khả thi cao.
Quy trình xây dựng KHGD cá nhân:
- Tìm hiểu nhu cầu và năng lực của trẻ: Quá trình phát triển của trẻ, KN giao
tiếp của trẻ
- Xác định mục tiêu giáo dục trẻ: xác định bước phát triển tiếp theo của trẻ,
xác định kiến thức và KN cần hình thành cho trẻ.
- Xác định thời gian, nội dung và tổ chức các hoạt động: phân bổ thời gian cho
từng hoạt động, chia nhỏ nhiệm vụ học tập, xác định mức độ tham gia của trẻ trong
các hoạt động
- Đánh giá việc thực hiện kế hoạch: đánh giá thường xuyên và điều chỉnh kịp
thời, KN thực hiện những công việc kế hoạch đề ra.
6. Biện pháp 6: Đánh giá kết quả giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập
Trong giáo dục TKT việc đánh giá kết quả giáo dục là rất cần thiết bởi vì việc
đánh giá kết quả giáo dục TKT có một ý nghĩa rất lớn giúp cho trẻ phát triển. Qua
đánh giá thấy được mặt tích cực, mặt mạnh mà trẻ đạt được trong quá trình giáo dục,
đồng thời cũng phản ánh những hạn chế mà trẻ còn gặp phải. Đề xuất các biện pháp
giúp trẻ phát triển
Đánh giá kết quả giáo dục TKT theo kết quả nhiều mặt, không nên chỉ đánh
giá theo một khía cạnh, phương diện nào. Mỗi đứa trẻ đề có mặt mạnh, mặt yếu,
không ai hoàn thiện “ mười phân vẹn mười”. Với TKT điều này thể hiện rất rõ. Tuy
trẻ có những mặt yếu hơn nhưng trẻ cũng có những mặt mạnh so với trẻ khác cùng
lứa tuổi. Do đó trong quá trình đánh giá trẻ cần tìm ra những thành tích, ưu điểm,
những điều mà trẻ có thể đạt được và phải vượt qua nhiều khó khăn. GV cần động
viên, huy động những khả năng còn lại của trẻ để phát huy mặt tích cực, hạn chế
những yếu điểm của trẻ. Trong quá trình giáo dục TKT cần đối chiếu, xem xét khả
năng của trẻ ra sao, sống trong điều kiện gia đình, môi trường cộng đồng xung quanh
trẻ như thế nào để xây dựng mục tiêu và kế hoạch giáo dục trẻ. Dựa vào mục tiêu và
6
kế hoạch giáo dục đề ra để đánh giá trẻ. Sau mỗi giai đoạn phải kiểm tra, đánh giá
mặt được, mặt chưa được. Sau đó lập mục tiêu mới và kế hoạch mới cho giai đoạn
tiếp theo.
7. Biện pháp 7: Tăng cường trách nhiệm của CBQL và giáo viên nhằm hỗ
trợ GDHN trẻ khuyết tật
* Đối với CBQL
Ban giám hiệu nhà trường cần tăng cường hơn nữa công tác chỉ đạo, giám sát
công tác GDHN trẻ khuyết tật, đưa công tác này vào sinh hoạt chuyên môn của nhà
trường, có những qui định về đánh giá giáo viên đối với việc thực hiện GDHN trẻ
KT. Sự tham gia xây dựng, cam kết thực hiện và đánh giá việc thực hiện kế hoạch
của tổ chuyên môn, giáo viên khối lớp. Chuyên môn nhà trường mang ý nghĩa thực
tiễn, tạo ra được sự vận hành đồng bộ không chỉ cho công tác GDHN trẻ KT mà cho
mọi trẻ trong nhà trường.
Công tác XHH trong giáo dục, đặc biệt là GDHN trẻ KT có ý nghĩa rất quan
trọng đối với cuộc sống sau nầy của trẻ. Vì vậy , nhà trường cần là nhân tố chủ yếu
trong huy động các lực lượng xã hội tham gia vào việc phát hiện và GDHN trẻ KT,
trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của gia đình trẻ.
* Đối với GV
Lập kế hoạch dạy học và thực hiện kế hoạch là công việc hàng ngày của giáo
viên. Kế hoạch GDHN trẻ KT cần được GV coi trọng như KH dạy học. Trước hết,
GV cần có KN, thói quen và nhiêm túc thực hiện công tác nầy, mặc dù để đạt được
KH thực sự như mong muốn nó đòi hỏi một sự nỗ lực lớn, có tâm huyết cao của GV.
Vì vậy, bên cạnh ý thức trách nhiệm nghề nhiệp, GV cần được bồi dưỡng thường
xuyên để nâng cao năng lực sư phạm nói chung, năng lực GDHN trẻ KT nói riêng.
GV cần tuân thủ chặt chẽ quy trình lập kế hoạch GD cá nhân
V/ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Qua áp dụng một số biện pháp hỗ trợ trẻ khuyết tật học hòa nhập tại trường
tiểu học Thái Phiên huyện Phú Ninh kết quả đạt được như sau:
Đã điều tra và huy động 16/16 trẻ khuyết tật tham gia học lớp hòa nhập.
Duy trì đến cuối năm học đạt tỉ lệ 100%
Hầu hết các em được hội nhập dễ dàng, giao tiếp nhanh, phát triển tính độc
lập, tư duy tốt và đặc biệt quan trọng hơn các em đã xóa bỏ được mặc cảm, có nhiều
bạn bè và được bạn bè giúp đỡ.
Chất lượng học tập và hạnh kiểm có những chuyển biến tích cực ( xem phụ
lục 2)
- Về Chất lượng học tập:
+ Giỏi : 1 tỉ lệ : 6,5 %
+ Khá : 4 tỉ lệ : 25 %
+ TB : 9 tỉ lệ : 56 %
+ Yếu : 2 tỉ lệ : 12,5 %
- Về Hạnh kiểm:
+ Hoàn thành tốt
: 5 tỉ lệ : 31,5%
7
+ Hoàn thành
: 9 tỉ lệ : 56 %
+ Chưa hoàn thành
: 2 tỉ lệ : 12,5 %
VI/ KẾT LUẬN:
GDHN trẻ KT là một loại hình cơ bản trong chiến luợc phát triển giáo dục của
nước ta. Đây là loại hình GD tiến bộ nhất được biết đến trong lĩnh vực giáo dục
TKT. Triển khai thực hiện tốt việc phát hiện, chăm sóc và GDHN trẻ KT là việc làm
hết sức ý nghĩa, thể hiện tính nhân văn cao cả vừa là trách nhiệm của những người
làm công tác giáo dục và là mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước và toàn xã
hội, nhằm sớm tạo điều kiện cho các trẻ em không may bị KT sớm hòa nhập cùng
cộng đồng.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của GDHN trẻ KT. Qua một năm thực hiện một
số biện pháp hỗ trợ trẻ KT học hòa nhập. Trường tiểu học Thái Phiên đã tổ chức
GDHN trẻ KT bước đầu đem lại những kết quả nhất định: Hầu hết các em KT được
đến trường, được học hòa nhập, nhiều em KT biết vượt qua những khó khăn, trở
ngại vươn lên học khá, giỏi, sớm hòa nhập vào cộng đồng.
Có được những kết quả trên là nhờ sự ý thức, trách nhiệm của tập thể CB-GVNV. Sự quan tâm , hỗ trợ của các cấp Ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể tại địa
phương, của Ngành Giáo dục & Đào tạo; đặc biệt là sự phối kết hợp chặt chẽ của
Hội KH, Cha mẹ học sinh đã sớm phát hiện, chăm sóc và GDHN trẻ KT kịp thời, có
hiệu quả.
Trong quá trình tổ chức thực hiện GDHN trẻ KT tại trường xin được rút ra
những bài học kinh nghiệm sau:
- Nâng cao nhận thức trong CB-GV-NV, PHHS và cộng đồng về tầm quan
trọng của việc GDHN trẻ KT để có sự đồng thuận, sự phối kết hợp, hỗ trợ trong
GDHN trẻ KT.
- Điều tra, phát hiện trẻ KT để có sự can thiệp sớm hỗ trợ GDHN trẻ KT
- Cần bố trí lớp học hòa nhập phù hợp, tạo môi trường thuận lợi để các em có
điều kiện phát triển và hình thành các kĩ năng.
- Cần lập kế hoạch giáo dục cá nhân đảm bảo chương trình GD đáp ứng nhu
cầu và khả năng phát triển của trẻ KT
- Tranh thủ sự lãnh chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, sự hỗ trợ của các tổ chức và
cá nhân nhằm tăng cường về CSVC, thiết bị dạy học cho TKT.
VII/ ĐỀ NGHỊ
- Cung cấp các thiết bị dạy học hòa nhập TKT.
- Nhà nước cần dành một nguồn kinh phí hỗ trợ cho công tác dạy và học hòa
nhập
- Ngành giáo dục cần chỉ đạo sâu sát, có tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm
việc tổ chức học hòa nhập trẻ KT
- Gia đình, cộng đồng và xã hội cần quan tâm để trẻ khuyết tật có đủ điều kiện
tham gia GDHN, sớm hòa nhập cùng cộng đồng.
8
Trên đây, là một số biện pháp nhằm hỗ trợ GDHN trẻ KT tại trường tiểu học
Thái Phiên. Qua một năm tổ chức thực hiện những thành quả cùng với bài học thực
tế đã giúp nhà trường vững tin hơn trong GDHN trẻ KT một cách có hiệu quả và
cũng là cơ sở vững chắc để nhà trường làm tốt công tác tham mưu, đề nghị với các
cấp trong việc tổ chức thực hiện GDHN trẻ KT . Đề tài này xin được là một đóng
góp nhỏ trong công tác GDHN trẻ KT ở vùng nông thôn, sẽ không tránh khỏi những
hạn chế, thiếu sót rất mong sự góp ý của các đồng nghiệp./.
Người thực hiện
Phan Đình Quyến
9
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/Tài liệu bồi dưỡng giáo viên về GDHN trẻ KT- NXB Giáo dục
2/ Pháp lệnh về người tàn tật 30/7/1998
3/ Luật bảo vệ và Chăm sóc trẻ em 16/8/1991
----------********------------
10
MỤC LỤC
* Tên đề tài
trang 1
I. Đặc vấn đề
trang 1, 2
II. Cơ sở lý luận
trang 2
III. Cơ sở thực tiễn
trang 2,3
IV. Nội dung nghiên cứu
trang 3 - 6
V. Kết quả nghiên cứu
trang 6-7
VI. Kết luận – bài học kinh nghiệm
trang 7
VII. Đề nghị
VIII.Tài liệu tham khảo
IX . Phụ lục
X. Mục lục
-----------*********------------
11
PHÒNG GD&ĐT HUYỆN PHÚ NINH
TRƯỜNG TIỂU HỌC THÁI PHIÊN
PHIẾU ĐIỀU TRA TRẺ KHUYẾT TẬT
TT
Họ và tên
Năm
sinh
Loại
khuyết
tật
Họ và
tên Cha
(mẹ)
Nghề
nghiệp
Địa chỉ Ghi chú
gia đình
NGƯỜI ĐIỀU TRA
( Ký,ghi rõ họ tên)
12