Tải bản đầy đủ (.doc) (51 trang)

TÀI LIỆU THAM KHẢO các mô HÌNH CHỦ yếu, đặc TRƯNG VA XU HƯỚNG vận ĐỘNG của KINH tế THỊ TRƯỜNG CHỦ NGHĨA tư bản HIỆN đại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (260.38 KB, 51 trang )

Chuyên đề 1
CÁC MÔ HÌNH CHỦ YẾU, ĐẶC TRƯNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG
CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TƯ BẢN CHỦ NGHĨA HIỆN ĐẠI
I.

CÁC MÔ HÌNH CHỦ YẾU CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
HIỆN ĐẠI
Việc nghiên cứu các mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại là cần
thiết để có thể hiểu được trong thực tế nền kinh tế thị trường vận hành như thế nào ở
mỗi nước cụ thể. Vì góc độ tiếp cận khác nhau nên người ta mô tả kinh tế thị trường ở
mỗi nước cũng rất khác nhau. Theo chúng tôi, cách tiếp cận phổ biến hiện nay thường
căn cứ vào: mức độ sở hữu tư nhân và Nhà nước, mức độ can thiệp và kiểm soát nền
kinh tế của Chính phủ và quan điểm của Chính phủ về việc giải quyết mối quan hệ
giữa kinh tế và xã hội. Căn cứ vào các tiêu chí này, người ta thường phân chia ra 4 mô
hình kinh tế thị trường chủ yếu: (a) mô hình kinh tế thị trường tự do Hoa Kỳ mà đặc
điểm là đề cao vai trò của thị trường trong việc điều tiết nền kinh tế và phân phối thu
nhập so với vai trò của Chính phủ; (b) mô hình kinh tế thị trường có điều khiển Nhật
Bản với đặc trừng là Nhà nước can thiệp sâu vào đời sống kinh tế và hoạt động của
các chủ thể kinh doanh; (c) mô hình kinh tế thị trường xã hội Đức; và (d) mô hình nhà
nước xã hội dân chủ Thụy Điển có đặc trưng chính phủ luôn tác động vào đời sống
kinh tế, xã hội để đảm bảo sự phát triển hài hòa các mặt kinh tế và xã hội. Dưới đây sẽ
đi sâu vào các mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thuộc từng dạng trên.
1. Mô hình kinh tế thị trường tự do Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một quốc gia công nghiệp phát triển vào bậc nhất thế giới, có thu
nhập bình quân đầu người và tổng lượng sản phẩm – dịch vụ cao hơn nhiều quốc gia
khác. Mô hình Hoa Kỳ có đặc trừng là sự chiếm ưu thế của sở hữu tư nhân, cơ chế thị
trường cạnh tranh và sự năng đọng của kinh doanh, sự can thiệp thấp của Chính phủ
và do đó, chấp nhận sự phân hóa xã hội ở mức cao.
1.1 Đặc trưng về sở hữu
Sự phát triển các doanh nghiệp tư nhân là một trong những đặc trưng cơ bản
của kinh tế thị trường tự do Hoa Kỳ. Tất cả các doanh nghiệp tư nhân được phân chia


thành 2 loại: những thập đoàn lớn (bao gồm các tập đoàn quốc gia và siêu quốc gia),
bên cạnh là hàng trăm nghìn công ty nhỏ. Sự tập trung nhiều ngành công nghiệp trong
tay một số ít doanh nghiệp lớn là mộ trong những đặc điểm của nền kinh tế thị trường
Hoa Kỳ. Xu hướng tập trung các doanh nghiệp quy mô lớn bắt đầu từ thế kỷ XIX.
Vào những năm 1920 các tập đoàn lớn được khuyến khích phát triển. Đặc biệt, Chiến


tranh thế giới thứ hai đã thúc đẩy hình thành các tập đoàn lớn nhằm sản xuất máy bay
và xe tăng cho quân đội đồng minh, nhờ sáp nhập thành các tổng công ty
(Conglomerate merger). Tình hình phát triển các tập đoàn lớn được minh họa ở bảng
sau.
Bảng 2. So sánh tài sản của các tập đoàn lớn Hoa Kỳ với tổng tài sản của toàn
ngành năm 1995
Đơn vị tính: Triệu USD
Cách ngành kinh tế
Tổng tài sản Tài sản của tập %
so
của ngành
đoàn lớn (trên 250 với
triệu USD)
ngành
1. Nông, lâm, ngư, nghiệp
86.299
10.888
12,62
2. Khai mỏ
268.640
212.063
78,92
3. Xây dựng

265.813
43.677
16,43
4. Chế biến
4.941.073
4.214.495
85,30
5. Vận tải và các tiện ích công cộng 1.903.214
1.733.237
91,06
6. Thương mại bán buôn và bán lẻ 1.919.718
1.081.317
56,32
7. Tài chính, bảo hiểm
15.677.267
14.074.066
89,77
8. Dịch vụ
950.737
502.757
52,88
Nguồn: Bộ Thương mại Mỹ, Cục điều tra: Tóm tắt thống kê nền kinh tế Mỹ, Cơ
quan in ấn Chính phủ Mỹ, Washington D.C, 1988, tr. 546
Bên cạnh các tập đoàn lớn, ở Mỹ còn có hàng trăm nghìn doanh nghiệp vừa và
nhỏ. Việc hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng là xu thế đang phát triển hiện
nay. Các doanh nghiệp này có thể do một số người trước đây vốn điều hành tập đoàn
lớn nay tách ra thành lập công ty riêng, hoặc là các công ty gia đình được hình thành
trên cơ sở vốn riêng, nhằm tận dụng những công nghệ hiện đại, thuê lao động có trình
đọ cao, sử dụng kỹ năng quản lý tài chính tiên tiến.
Bên cạnh sở hữu tư nhân, nền kinh tế thị trường Hoa Kỳ còn có bộ phận không

lớn kinh tế nhà nước. Sở hữu nhà nước trong các ngành công nghiệp ở Hoa Kỳ khá
hạn chế, nhưng chính phủ các cấp, từ trung ương đến địa phương đều sở hữu và vận
hành những doanh nghiệp thuộc nhiều ngành nghề khác nhau. Ví dụ như Tennessee
Valley Authority (TVA), một xí nghiệp công rất lớn chuyên sản xuất và phân phối
năng lượng công cộng cho khu vực Đông Nam Hoa Kỳ. TVA được thành lập để xây
dựng những công trình thủy lợi, những nhà máy thủy điện, cung cấp điện năng, cải
thiện dòng chảy của dòng sông Tennessee, kiểm soát lũ lụt trên con sông này và ngăn
chặn nạn xói mòn đất. Các cơ quan khác của Chính phủ cũng sở hữu các hệ thống vận
tải và các nhà máy sản xuất nước, gas và điện. Chính phủ cũng trực tiếp hay gián tiếp
2


sản xuất năng lượng nguyên tử và các hàng hóa khác, thực hiện các dự án nhà ở nhằm
xóa các khu nhà ổ chuột.
1.2 Đặc trưng về sự can thiệp và vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế Hoa
Kỳ
Sự can thiệp của Chính phủ đối với nền kinh tế xuất hiện vì một số lý do sau:
- Khi cạnh tranh trên thị trường xuất hiện những trục trặc, những khiếm khuyết,
ví dụ như độc quyền, độc quyền nhóm hay những cấu trúc không hoàn hảo của thị
trường cạnh tranh, khiến việc phân bổ các nguồn lực không hiệu quả và hiệu quả kinh
tế - xã hội không được đảm bảo.
- Khi trong nền kinh tế thị trường, cơ chế giá cả không đảm bảo cung cấp thông
tin chuẩn xác, hoặc việc phản ứng đối với quá trình sản xuất và bán ra những hàng
hóa độc hại.
- Khi tiến bộ công nghệ tạo nên những ngoại ứng thị trường. Ví dụ quá trình
phát triển ngành chế tạo ôtô đã có những tác động rất sâu rộng đến nền kinh tế Hoa
Kỳ trong thời kỳ đầu của thế kỷ XX, tạo ra hàng nghìn việc làm trong những ngành
có liên quan như thép và cao su. Tuy nhiên, ngành công nghiệp ôtô cũng là thủ phạm
chính dẫn đén tình trạng ô nhiễm không khí và tiếng ồn.
- Trợ cấp thất nghiệp và các quỹ an sinh xã hội để cung cấp một công cụ bảo vệ

những người lâm vào tình trạng khó khăn mà không phải hoàn toàn do lõi của họ. Cần
lưu ý rằng các chương trình phúc lợi xã họi ở Hoa Kỳ được đưa vào thực hiện chậm
hơn nhiều chưa được hoàn thiện như ở nhiều quốc gia khác.
Để nhận diện sâu hơn về sự can thiệp của Chính phủ Hoa Kỳ trong nền kinh tế,
ta điểm qua các lĩnh vực can thiệp chủ yếu sau:
- Tài chính công là một chỉ số đánh giá mức độ tham gia của chính phủ trong
nền kinh tế thị trường, mà thuế là công cụ quan trọng. Thuế nhằm vào hai mục đích:
tạo nguồn thu cho chính phủ và được sử dụng trong việc tái phân phối thu nhập và
của cải trong nền kinh tế. Thuế thu nhập cá nhân là nguồn thu quan trọng nhất của
Ngân sách Liên bang, thuế doanh thu là loại thuế quan trọng nhất với ngân sách từng
bang, còn chính quyền địa phương thì trông chờ chủ yếu vào thuế tài sản.
Cấu trúc nguồn thu và chi của Chính phủ Hoa Kỳ như sau: Có ba nguồn thu
chủ yếu của ngân sách Liên bang là thuế thu nhập cá nhân, bảo hiểm xã hội và đi vay.
Tương ứng với nó, ba hạng mục chi tiêu quan trọng nhất của Ngân sách Liên bang là
trợ cấp trực tiếp cho các cá nhân, chi an ninh quốc gia và trả lãi các khoản nợ quốc
gia. Khoản chi lớn nhất trong tổng chi tiêu chính phủ là trả bảo hiểm xã hội, chiếm
khoảng 40% tổng chi tiêu chính phủ.
3


Chi tiêu chính phủ thể hiện một sự chuyển giao nguồn lực từ khu vực tư nhân
sang khu vực công cộng trong nền kinh tế, đồng thời nó cũng cho thấy phần đóng góp
của khu vực chính phủ trong GDP. Theo thống kê, tổng chi tiêu chính phủ chiếm 31%
GDP, so với khu vực tư nhân chiếm 69% (năm 1996). Trong đó, Chính phủ Liên bang
chi khoảng 21% GDP, phần còn lại 10% do chính quyền bang và địa phương chi trả.
Khi so sánh với cách quốc gia phát triển khác, thấy rằng khoản chi tiêu của
Chính phủ Hoa Kỳ trong tổng GDP nhro hơn nhiều, ngoại trừ Nhật Bản. Điều này có
thể là do phần thanh toán chuyển nhượng về thu nhập, bao gồm trợ cấp gia đình, y tế
miễn phí, trợ cấp người mẹ mang thai, hưu trí, trợ cấp thất nghiệp, giáo dục miễn phí
và trợ cấp tai nạn… ở các quốc gia này là khá cao so với Mỹ. Nhưng chi tiêu lớn làm

cho mức đánh thuế của các quốc gia này cũng cao hơn nhiều so với Hoa Kỳ, tại Pháp,
Thụy Điển, tỷ lệ này có khi chiếm tới hơn một nửa GDP.
- Các chính sách bình ổn kinh tế. Sự can thiệp của Chính phủ bao gồm cả việc
sử dụng các chính sách tiền tệ và tài khóa. Các chính sách này được thực hiện thông
qua chính sách thuế (T) và thanh toán chuyển nhượng (TR), các khoản chi tiêu chính
phủ (G) cho hàng hóa hóa dịch vụ, kiểm soát cung tiền (MS) cũng như điều hành lãi
suất (i) của Cục Dự trữ Liên bang. Chính sách tài khóa liên quan đến việc ử dụng các
chính sách thuế và chi tiêu chính phủ của chính quyền Liên bang. Mục tiêu của nó là
tăng hay giảm tổng cầu thông qua sự thay đổi trong mức chi tiêu chính phủ và đánh
thuế. Ngân sách Liên bang chính là điểm tựa của chính sách tài khóa. Chính sách tiền
tệ được thực hiện bở Cục Dự trữ Liên bang để kiểm soát cung tiền.
- Những quy định và sự kiểm soát Chính phủ đối với doanh nghiệp. Điều chỉnh
và kiểm soát hoạt độn của các doanh nghiệp là lĩnh vực thứ ba mà Chính phủ Hoa Kỳ
đang cương quyết thực hiện. Điều này là cần thiết vì các lý do gắn liền với những thất
bại đó là cơ chế thị trường không có khả năng trang bị cho các cá nhân và xã hội
những phương tiện thỏa đáng để thỏa mãn những nhu cầu nhất định, ví dụ như nhu
cầu về một bầu không khí trong lành. Do đó, các cơ quan công quyền phải ra tay hành
động để có được bầu không khí trong lành, họ sử dụng các biện pháp kiểm soát mà
chắc chắn sẽ gây ra những tác động không nhỏ tới hoạt động của các doanh nghiệp.
Quá trình phân phối thu nhập và của cải có thể được xem như một thất bại nữa của cơ
chế thị trường. Rõ rằng phần lớn thu nhập xã hội rơi vào tay một số ít người, không
phụ phuộc vào sự đóng góp của người đó cho xã hội mà do sự thừa kế của cải hay
thực hiện một số đặc quyền đặc lợi mà có được.
- Khuyến khích cạnh tranh. Chính phủ Hoa Kỳ luôn khuyến khích cạnh tranh.
Việc đề cao cạnh tranh xuất phát từ ý thức rằng cạnh tranh sẽ góp phần nâng cao phúc
4


lợi xã hội. Khi thị trường và các ngành kinh tế được tổ chức và vận hành trong cạnh
tranh thì nền kinh tế sẽ đạt được những kết quả tốt đẹp. Trước hết, cạnh tranh được

xem là sẽ cung cấp cho người tiêu dùng nhiều lựa chọn hơn với mức giá thấp hơn. Nó
cũng là nhân tố thúc đảy cải tiến, đổi mới. Cuối cùng, cạnh tranh sẽ đảm bảo tính hiệu
quả cho hoạt động của các ngành kinh tế và các doanh nghiệp; khi những doanh
nghiệp hoạt động tốt, có lãi sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, còn những doanh nghiệp
hoạt động yếu kém, không hiệu quả sẽ bị loại bỏ.
- Luật chống độc quyền ra đời là để tăng cường tính cạnh tranh trên thị trường
bằng việc ngăn cấm các hoạt động liên kết giữa một nhóm doanh nghiệp nhằm thao
túng thị trường, ví dụ như các tơrớt và do đso, ảnh hưởng xấu đến phúc lợi toàn xã
hội. Luật chống độc quyền Hoa Kỳ có thể gói gọn trong các sắc luật Sherman và
Clayton. Đạo luật Sherman ngăn cấm việc hình thành các thế lực độc quyền và các
hình thức liên kết khác nhau giữa các doanh nghiệp, gây kìm hãm quá trình phát triển
thương mại giữa các bang hay thương mại quốc tế. Đạo luật Clayton thì ngăn cấm quá
trình sáp nhập với mục đích làm giảm tính cạnh tranh và ngăn chặn sự phân biệt giá
cả nhằm thủ tiêu các đối thủ cạnh tranh. Đạo luật này cũng hạn chế khả nằng một
người có thể đồng thời làm giám đốc trong hai tập đoàn hoạt động, cạnh tranh trong
cùng lĩnh vực.
- Chính phủ cũng ban hành các quy định xã hội đối với doanh nghiệp trên các
phương diện như thuê mướn người tàn tật, an toàn lao động, bảo vệ người tiêu dùng,
bảo vệ môi trường… Lý do cho sự tồn tại của các quy định xã hội đó là cơ chế thị
trường thật sự không hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như sự phân
biệt giới tính và chủng tộc, hay những ngoại ứng tiêu cực tạo ra trong quá trình mức
sống tăng lên. Ví dụ, khi nhu cầu về chất lượng cuộc sống tăng lên, áp lực phải duy trì
bầu không khí trong lành, nước sạch và xử lý an toàn rác thải đặt ra cho Chính phủ
cũng tăng theo. Khi định nghĩa về sự bình đẳng được mở rộng, những quyền lợi chính
đáng mới của con người được chú ý nhiều hơn thì cũng là lúc người ta nâng cao yêu
cầu đối với Chính phủ. Các quy định từ phía Chính phủ là nhằm đáp ứng những yêu
cầu này, ví dụ như yêu cầu bình đẳng về cơ hội nghề nghiệp.
1.3 Đánh giá nền kinh tế Hoa Kỳ
Trong suốt thế kỷ XX và giai đoạn đàu của thế kỷ XXI, với sức mạnh kinh tế
và tiềm năng khoa học công nghệ, Hoa Kỳ đã và đang có vai trò hết sức quan trọng

trên thế giới.
Quy lại thời điểm giữa những năm 80 của thế kỷ XX, nhờ những cải cách trong
lĩnh vực tiền tệ, quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp, tự do hóa nền kinh tế và thị trường
5


lao động linh hoạt, Hoa Kỳ trong suốt thập niên 1990 đã tạo cho mình những lợi thế
cạnh tranh và xuất hiện như một lực lượng kinh tế mới của thế giới. Hoa Kỳ không
chỉ đã giành lại được mà còn mở rộng vai trò dẫn đầu thế giới về thị phần trong các
nhành công nghệ cao như hàng không, dược phẩm, phần mềm và viễn thông. Nhưng
Hoa kỳ cũng phải đối mặt với những thách thức của riêng mình: những “bong bóng”
kinh tế và những “tài sản ảo” tồn tại trong nền kinh tế, sự ra đời Liên minh châu Âu
và đồng tiền chung Euro cũng đang đe dọa vị thế của Hoa Kỳ.
Theo một số nghiên cứu, sức mạnh của nền kinh tế Hoa Kỳ còn có nguyên
nhần do nước Mỹ nằm trong vùng khí hậu ôn đới và nền văn hóa của họ thích hợp
cho quá trình tăng trưởng kinh tế. Chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ chính là tấm gương phản
ánh nền văn h óa Mỹ. Chủ nghĩa cá nhân được du nhập vào Hoa Kỳ ngay từ thời khi
miền Tây bắt đầu được khai phá và dòng người nhập cư đổ về đây để làm ăn sinh
sống. Đa phần những người này đến từ châu Âu, họ chạy trốn khỏi sự áp bức của
chính phủ hoặc vì những điều kiện kinh tế quá khắc nghiệt nơi quê hương. Khi đó
Hoa Kỳ được xem như miền đất hứa, nơi các cá nhân có cơ hội phát triển mạnh mẽ
dựa vào sức lực và khả năng của họ và mỗi thế hệ tiếp nối lại càng có thêm các cơ hội
làm giàu. Miền Tây tạo ra cơ hội cho nhưng người nhập cư đặc biệt trong lĩnh vực
nông nghiệp, và đây chính là mảnh đất khiến chủ nghĩa cá nhân của Mỹ thăng hoa.
Một đặc điểm nữa của chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ là người Mỹ rất đề cao của cải
và chủ nghĩa tiêu dùng. Mô hình Role về quá trình tích lũy của cải đã xuất hiện từ thế
kỷ XIX, khi tầng lớp thượng lưu công nghiệp mới dưới hình thức là các doanh nhân
giàu có ra đời, trong đó, người giàu nhất đôi khi được gọi là nhà “tài phiệt” (robber
barons). Những nhà tư bản đầu tiên, những người tự làm giàu bằng bàn tay và khối óc
của mình là những nhà triệu phú như John D. Rockerfeller và Andrew Carnegie.

Chính sự giàu có đã tạo ra những chuẩn mực tiêu dùng hàng hóa mà người Mỹ đều cố
gắng đạt được. Điều đáng chú ý là trong xã hội Hoa Kỳ, sự giàu có chưa bao giwof bị
khinh miệt hay căm giận mang tính giai cấp như các xã hội khác nhau, những xã hội
mà ý thức về giai cấp rất mạnh mẽ như ở Anh. Tổng iasm đốc kiêm Chủ thịch
Microsoft, nhà tỷ phú giàu nhất Hoa Kỳ, đã truyền cho người dân sự kính trọng và
niềm tin rằng bất cứ ai có đầu óc, có ý tưởng đều có thể thành công trên đất Mỹ.
Bên cạnh đó Hoa Kỳ còn được thiên nhiên ban tặng cho những nguồn tài
nguyên, khoáng sản phong phú và giàu có hơn các nước khác. Không những thế, đất
đai Hoa Kỳ cũng vô vùng trù phú và hầu như sẵn có cho tất cả mọi người, những ai có
nhu cầu sử dụng. Do đó, xã hội Hoa Kỳ không bị phân chia giai cấp giữa số ít những
chủ đất có nhiều đặc quyền đặc lợi đối lập với đa phần quần chúng lao động nghèo
6


khổ như kiểu châu Âu. Đềi này đã tạo nên phẩm chấm tự lập, phát huy sức luuwjc bản
thần và tinh thần trách nhiệm cao của người Mỹ.
Michael Porter, trong cuốn “Lợi thế cạnh tranh của cac quốc gia”, đã giải thích
khả năng cạnh tranh quốc tế của Hoa Kỳ là do hội đủ 4 yếu tố cơ bản sau: đó là ưu thế
tự nhiên về nhân tố sản xuất, những điều kiện thuận lợi về cầu hàng hóa trong nước,
những ngành công nghiệp liên quan bổ trợ và chiến lược cũng như sự cạnh tranh thảo
đáng của các coong ty. Cầu của thế giới, sức tiêu dùng mạnh và phương pháp
marketing phổ cập đại chúng đã tạo ra cầu về hàng hóa tiêu dùng Hoa Kỳ trên thị
trường thế giới. Hoa Kỳ rất giỏi và chuyên nghiệp trong việc cung cấp các dịch vụ
dựa trên sự trao đổi thông tin nhanh nhạy với thế giới. Họ còn có một hệ thống các
trường đại học lớn được ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D).
Morgan Stanley, một nghiệp đoàn ngân hàng đa quốc gia, đã xuất bản ấn phẩm
mang tên Sức mạnh cạnh tranh (The Competitive Edge), dựa trên phương pháp luận
phân tích của Michael Porter. Kết luận mà họ đưa ra là những đặc điểm của một quốc
gia sẽ định hình những cơ hội riêng cho quốc gia đó. Nghiên cứu cho rằng có ba nhân
tố mang tính quyết định trong việc hình thành khả năng cạnh tranh cho quốc gia cũng

như cho mỗi công ty, đó là: giá trị đồng tiền, sự chênh lệch chi phí lao động tương đối
và năng lực công nghệ. Tỏng thập niên 1990, Hoa Kỳ đã sử dụng đồng tiền của mình
một cách hiệu quả trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường
quốc tế. Hoa Kỳ cũng có lợi thế hơn châu Âu và Nhật Bản về chi phí lao động và
vượt hẳn các nước khác tỏng quá trình thích nghi với các công nghệ mới trong kỷ
nguyên thông tin. Tỏng số các công ty có sức cạnh tranh toàn cầu, đa phần là các công
ty Hoa Kỳ và Hoa Kỳ cũng là nước có đa số công ty thống trị các ngành công nghiệp
mà chúng đang hoạt động.
Tuy nhiên, nền kinh tế Hoa Kỳ cũng có những điểm yếu. Đây là quốc gia nợ
nhiều nhất thế giới, thâm hụt thương mại hàng hóa và cán cân ngoại thương liên tục
tăng từ năm 1986. Vào năm 1997, tài sản nước ngoài tại Hoa Kỳ đã vượt tài sản của
Hoa Kỳ ở nước ngoài. Đa phần nợ nước ngoài của Hoa Kỳ là dưới dạng người nước
ngoài nắm giữ các khoản nợ của kho bạc, ví dụ như trái phiếu kho bạc. Tài khoản
thương mại hàng hóa, bao gồm việc xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Hoa Kỳ với nước
ngoài, đã âm 114 tỷ USD (năm 1997). Tài khoản vãng lai, bao gồm 4 tài khoản cấp
nhỏ hơn là tài khoản thương mại hàng hóa,tài khoản dịch vụ, tài khoản về thu nhập và
chi trả tài sản với nước ngoài, tài khoản chuyển giao đa phương – đã âm hơn 100 tỷ
USD từ năm 1997.

7


Quy luật cạnh tranh và đào thải ở Hoa Kỳ rất nghiệt ngã. Hiện tượng này củng
cố cho quan niệm “thắng làm vua” hay người chiến thắng sẽ có tất cả. Thị trường Hoa
Kỳ ngày càng bị chế ngự bởi một số ít các siêu sao. Chỉ một sự chênh lệch nhỏ trong
năng lực hay kỹ năng, thậm chí đơn giản là nhờ may mắn cũng có thể dẫn đến những
khác biệt vô cùng lớn đối với thành quả của mộ tsoos ít người. Tuy rằng sự cạnh tranh
để giành ngôi vị dẫn đầu trên các thị trường đã đào luyện nên những người giỏi nhất,
nhưng nó cũng gây sự lãng phí lớn: thứ nhất, thu hút và tiêu diệt quá nhiều đối thủ
cạnh tranh và thứ hai, khiến những khoản tiêu dùng và đầu tư trở nên phi sản xuất.

Sự bất bình đẳng thu nhập và tài sản ở Hoa Kỳ rất trầm trọng và có chiều
hướng gia tăng kể từ thập niên 1980. Đối với 20% các gia đình nghèo nhất nước Mỹ,
thu nhập thực tế của họ hầu như không được cải thiện gì đáng kể; chỉ có 5% những
người giàu nhất nước Mỹ là có lợi. Nếu vào năm 1970, 20% dân cư nghèo nhất nhận
được khoảng 5,4% thu nhập thực tế của xã hội so với 40,9% của 20% những người
giàu nhất; thì đến năm 1996 những con số tương ứng là 4,2% và 46,8% - tỷ số phần
thu nhập thực tế giữa hai nhóm dân cư này là 1/11,2.
Trên bình diện thế giới, bất bình đẳng thu nhập của Hoa Kỳ cao hơn so với các
nền kinh tế thị trường xã hội của châu Âu. Hệ số Gini 1 của Hoa Kỳ là 0,405 so với
0,245 của Đan Mạch. Chênh lệch trong thu nhập của 10% người thu nhập cao nhất và
thấp nhất của Hoa Kỳ là 19:1 trong khi ở Đan Mạch chỉ là 5,5:1. Tuy nhiên, sự bất
bình đẳng trong phần phối tài sản ở Hoa Kỳ còn lớn hơn và đạm nét hơn so với phân
phối thu nhập. Của cải được tích lũy lại theo thời gian và được thừa kế. Phần lớn của
cải Hoa Kỳ nằm trong tay 6,5% các gia đình có thu nhập trên 100.000 USD/năm. Bill
Gates có tổng tài sản lên tới 46,4 tỷ USD (năm 2005), là người giàu hơn 50% các gia
đình nghèo nhất Hoa Kỳ gộp lại và nhiều hơn GDP của Nigiêria, một quốc gia với
115 triệu dân. Khi bất bình đẳng thu nhập gia tăng, nhất là trong những năm của thập
niên 1980-1990 thì cùng với nó sự bất bình đẳng về tài sản cũng tăng theo.
Nghèo đói chính là mặt bên kia tấm huân chương của sự giàu có ở Hoa Kỳ.
Mặc dù số người sống trong mức nghèo đói giảm từ 22,3% (nawm1960) xuống còn
13,7% dân số (năm 1996), nhưng con số tuyệt đối những người sống dưới mức nghèo
đói vẫn là khoảng 36,5 triệu người. Trong số đó có 13,8 triệu trẻ em. Đặc biệt, mức độ
nghèo đói của da đen và người nói tiếng Tây Ban Nha ở Hoa Kỳ rất trầm trọng.
Tóm lại, Hoa Kỳ là nước tư bản chủ nghĩa đại diện cho mô hình kinh tế thị
trường tự do cá nhân. Nạn bất bình đẳng thu nhập và tài sản của Hoa Kỳ sâu sắc hơn
so với các nước khác. Vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế Hoa Kỳ cũng khác
1

1. Gini: chỉ số đo sự bất bình đẳng chi tiêu hoặc thu nhập của các nước.
8



nhiều, khu vực tư nhân là nơi chủ yếu ra các quyết định chiến lược cũng như chiến
thuật về phát triển kinh tế của đát nước.
2. Mô hình kinh tế thị trường có điều khiển Nhật Bản
2.1 Về kết cấu sở hữu và tổ chức kinh doanh
Sở hữu tư nhân đã được đè cao và khuyến khích phát triển trong nền kinh tế thị
trường Nhật Bản ngay thời Minh Trị. Trong thời kỳ này, các võ sĩ đạo (Samurai) cũng
có thể trở thành các doanh nhân. Nhưng sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nhật Bản
mang những nét đặc thù: dưới hình thức liên minh các doanh nghiệp mà người ta
thường gọi là Zaibatsu. Mỗi liên minh như vậy bao gồm khoảng 20-30 doanh nghiệp
lớn, tất cả tập trung xung quanh một ngân hàng chung. Những hãng lớn này đại diện
cho các ngành công nghiệp quân trọng của nền kinh tế, do đó, mỗi một nhóm doanh
nghiệp như vậy thường bao gồm các công ty vận tỉa, công ty thép, công ty bảo hiểm
và các công ty đại diện cho các ngành công nghiệp khác. Liên minh Zaibatsu có quy
mô lớn hơn các tập đoàn của Hoa Kỳ và nằm dưới sự kiểm soát, quản lý của một số ít
các quyền gia thế tộc - những gia đình có quyền lực trong xã hội. Ví dụ như Liên
minh Mitsui sử dụng tới 1.800.00 lao động từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên
minh Mitsubishi sử dụng tới trên 1.000.000 lao động. Giữa các Zaibatsu và Chính phủ
có mối quan hệ mật thiết, Chính phủ bằng sức mạnh quân sự và các quyền lực khác,
đã tạo thuận lợi cho sự thâm nhập thị trường mới cho các Zaibatsu.
Thất bại của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai và sự chiếm đóng của
Hoa Kỳ đã gây nên những xáo trộn đối với quá trình cải cách và tái tổ chức nền kinh
tế Nhật Bản. Vào tháng 11 năm 1946, bản Hiến pháp mới, được tích hợp từ những
nguyên tắc dân chủ nghị viện kiểu phương Tây, đã được Hoa Kỳ ban bố và áp dụng
cho Nhật Bản. Việc giải tán các Zaibatsu thành nhiều xí nghiệp kinh doanh đọc lập
cũng là một phần trong chính sách chiếm đóng của Hoa Kỳ. Các đạo luật chống độc
quyền ra đời từ sau các sắc luật Sherman và Clayton cũng được áp dụng đối với Nhật
Bản. Tuy nhiên, sau này Chính phủ Nhật Bản đã ban hành nhiều đạo luật khác khiến
nhiều ngành công nghiệp không còn chịu sự điều chỉnh của các đạo luật chống độc

quyền này nữa. Nhằm cải thiện vị trí là một nhà xuất khẩu lớn của thế giới, Nhật Bản
đã cho phép một số hình thức cartel trong lĩnh vực xuất nhập khẩu được thành lập và
đi vào haojt động. Sự chiếm đóng của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản cũng mang tới đay
các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, những nghành công nghiệp mà người
Nhật đã hấp thụ trọn vẹn. Người Nhậ trở thành những công dân được sự bảo trợ của
Hoa Kỳ: họ được nhận những ưu đãi, những khoản vay lãi suất thấp và những máy

9


móc kỹ thuật có khả năng phục hồi sức sản xuất vốn có nhiều ngành công nghiệp,
nhát là công nghiệp dệt may.
Tuy nhiên, chính sách phát triển kinh tế của Nhật Bản không thể phụ thộ cmaxi
vào Khao Kỳ. Những nhu cầu trong nước cần được ưu tiên trước, nhất là công nghiệp
đóng tàu – ngành hầu như đã bị phá hủy hoàn toàn trong chiến tranh, vì Nhật Bản cần
có các con tàu. Được sự trợ giúp của Chính phủ, ngành công nghiệp đóng tàu đã phát
triển nhanh chóng và năm 1956 Nhật Bản trở thành quốc gia sản xuất tàu thủy lớn
nhất thế giới.
Nhật Bản cũng tập trung cho các chính sách xuất khẩu nhằm phát triển công
nghiệp. Thủ công mỹ nghệ, dệt may và các ngành công nghiệp quy mô nhỏ khác là
những ngành công nghiệp mà Nhật Bản có lợi thế nhwof chi phsi nhân công thấp.
Nguồn lực con người là nhân tố rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế Nhật Bản thời
kỳ hậu chiến.
Các tổ chức công nghiệp giữ vai trò lớn trong nền kinh tế thị trường Nhật Bản.
Tổ chức công nghiệp của Nhật Bản là sản phẩm của nền văn hóa và quá trình phát
triển kinh tế độc đáo của Nhật Bản. Các nhóm, các tập đoàn công nghiệp Nhật Bản
không giống với bất cứ quốc gia nào khác. Mặc dù về dân số, Nhật Bản chỉ bằng 1/2
Hoa Kỳ, về diện tích đất đai thì chỉ bằng 1/25, nhưng Nhật Bản là nước đứng thứ hai
thế giới chỉ sau Hoa Kỳ về số lượng các tập đoàn lớn. Mặc dù rất hạn chế về tài
nguyên, nhưng Nhật Bản lại là một trong ba nước đứng đầu thế giới về kim ngạch

xuất nhập khẩu và thương mại. Nền kinh tế Nhật Bản dựa trên sự tập trung công
nghiệp qua hai hình thái tổ chức: Keiretsu và Sogo Shosha.
Hình thái Keiretsu bắt đầu xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, khi các doanh nghiệp
theo chế độ gia đình trị phát triển trong nền kinh tế Nhật Bản. Không giống như Hoa
Kỳ đã đè ra các đạo luật chống độc quyền, ở Nhật Bản được sự ủng hộ và giúp sức
của Chính phủ, các công ty theo mô hình gia đình trị lại sản xuất ra tới 90% GNP của
đát nước. Các công ty này vẫn tồn tại đến ngày nay và được chia thành hai loại chính:
Keiretsu ngang và Keiretsu dọc. Nhật Bản có 6 Keiretsu ngang, nghĩa là một gia đình
tập đoàn mà tầm hoạt động của nó vươn tới nhiều ngành công nghiệp khác nhau và
tập trung lại thông qua một ngân hàng. Các tập đoàn này đều thuộc số 500 tập đoàn
lớn nhất thế giới theo sắp xếp của Tạp chí Fortune.
Ngoài ra, có khoảng 39 Keirutsu dọc. Mỗi trong số họ bao gồm một tập đoàn
công nghiệp và các coongty trực thuộc. Đa pahfn các công ty loại này hoạt động trong
các ngành công nghiệp sản xuất ôtô và thiết bị điện tử. Ví dụ, Toyota có những mối
quan hệ ràng buộc tài chính với tất cả những nhà cung cấp của họ. Cùng một lúc họ
10


sở hữu 41% công ty chuyên sản xuất bành xe, 33% các nhà sản xuất vật liệu bao bọc
và 21% các công ty chuyên sản xuất khung xe cho họ. Các thành viên trong một
Keiretsu dọc, cũng giống như trong các Keiretsu ngang, sở hữ cổ phần lẫn nhau, trao
đổi thông tin và hợp tác với nhau trong những thương vụ làm ăn.
Hình thái Sogo Shosha (hay các công ty thương mại) là loại hình tổ chức doanh
nghiệp quan trọng khác của nền kinh tế Nhật Bản. Có nhiều công ty thương mại Nhật
Bản thuộc số những công ty hàng đầu thế giới. Hầu hết quan hệ thương mại với nước
ngoài của Nhật Bản đều được thực hiên thông qua các công ty này, mỗi công ty đều
có dại diện ở các nước trên thế giới. Một công ty thương mại có thể là một thành viên
trong Keiretsu (ví dụ như trường hợp của Sumitomo). Các công ty thương mại hoạt
động trên nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau và cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau
cho các hãng thành viên. Họ mua nguyên vật liệu thô, phân phối sản phẩm và tìa trợ

cho mộ tsoos hoạt động của các hãng thành viên. Họ tham gia vào cả các hoạt động
nhập khẩu cũng như xuất khẩu và có thể giúp tập đoàn của họ trong xử lý, hạn chế rủi
ro ngoại hối. Hơn thế nữa, họ cũng tham gia vào các nghiệp vụ kinh tế ở nước ngoài
cho các hãng của Nhật Bản cũng như cho những người mua và bán của các quốc gia
khác. Chịu trách nhiệm thực hiện đa phần các hoạt động xuất nhập khẩu của Nhật
Bản, các Sogo Shosha hoạt động như một cơ chế xét duyệt để loại ra những mặt hàng
nhập khẩu có khả năng gây tổn hại đến các thành viên của Keiretsu. Ví dụ, nếu hơi
soda có thể được nhập khẩu rẻ hơn so với sản xuất trong nước, một công ty thương
mại có thẻ hạn chế việc nhập khẩu mặt hàng này để bảo vệ các công ty Nhật Bản.
Sự liên minh công nghiệp trên quy mô lớn giữ vai trò thống trị trong quan hệ
thương mại giữa Nhật Bản với nước ngoài. Cùng với sự phát triển của các ngành công
nghiệp lớn theo kiểu phương Tây, rất nhiều ngành công nghiệp quy mô nhỏ đang phát
triển nở rộ để đáp ứng nhu cầu rất đặc thù của những người tiêu dùng Nhật Bản.
Ngành công nghiệp sản xuất thức ăn và công nghệ bán lẻ của Nhật Bản là những ví dụ
điển hình. Năng suất của cách ngành này thường thấp nhưng họ lại được Nhà nước
bỏa hộ trước sự cạnh tranh của nước ngoài. Cũng có những công ty gia đình sử dụng
từ 2-100 lao động, họ thường sản xuất những bộ phận hoặc hcir cung cấp dịch vụ cho
các khách hàng lớn, thường xuyên của mình và tất nhiên điều đó khiến họ phụ thuộc
nhiều vào sự thành bại của các khách hàng lớn.
Để hiểu rõ hơn hệ thống tổ chức kinh doanh ở Nhật Bản, cần nghiên cứu cả hệ
thống ngân hàng và quan hệ của chúng với doanh nghiệp. Hệ thống ngân hàng Nhật
Bản bị chi p hối bởi các ngân hàng thương mại lớn – các đạo gia trong ngành ngân
hàng, và họ thường là thành viên của một Keiretsu. Trong nửa cuối thế kỷ XIX,
11


những ngân hàng này đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện các chính sách phát
triển của Chính phủ Nhật Bản. Họ thực hiện cho vay đối với các thành viên của
Keiretsu và mua cổ phiếu phổ thông của các công ty này. Họ hoạt động trên phạm vi
toàn cầu. Ngoài ra, có một số ngân hàng tư nhân khác với quy mô nhỏ hơn rất nhiều

và thường chỉ tập trung vào hoạt động tài trợ cho cac doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bên
cạnh đó, còn có vai trò của một số định chế tài chính thuộc sở hữu nhà nước trong
việc hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức tài chính tư nhân. Tỏng đó phải kể đến Ngân
hàng Phát triển Nhật Bản, thực hiện cho vay dài hạn với l ãi suất thấp đối với các
ngành công nghiệp cơ bản trong nước; Ngân hàng Tiết kiệm Bưu chính là phương tiện
chính để huy động tiest kiệm trong phạm vi nước Nhật; Ngân hàng Xuất nhập khẩu
cung cấp các khoản vay dài hạn với lãi suất mang tính trợ cấp cho các nhà xuất khẩu
sản pẩm Nhật Bản.
Hệ thống ngân hàng Nhật Bản đã lâm vào khủng hoảng đầu những năm 1990.
Cac ngân hàng đều có tỷ lệ nợ xấu lớn, thực hiện cho vay đối với bạn bè, người quen,
những người đầu tư vào thị trường bất động sản và các tài sản khác ở Hoa Kỳ và các
quốc gia khác. Do đó, giá trị bất động sản bị thổi phồng nhanh chóng, tạo ra hiện
tượng mà người ta vẫn gọi là nền kinh tế “bong bóng” và cuối cùng chiếc bong bóng
đã vỡ tan. Không giống với các ngân hàng Hoa Kỳ, các ngân hàng Nhật Bản không
được kiểm soát chặt chẽ và những khoản vay hầu như không được đảm bảo. Khi nền
kinh tế “bong bóng” sụp đổ, thị trường cổ phiếu cũng đổ theo. Những nhà đầu cơ sử
dụng tiền vay từ các ngân hàng cũng đầu cơ rất nhiều vào thị trường cổ phiếu. Các
ngân hàng không thực hiện chế độ bảo hiểm, dự phòng tài chính cho các khản nợ xấu
trên bản cân đối kế toán của họ. Có 5 ngân hàng thất bại nặng nề nhất trên thị trường
tài chính thế giới chính là các ngần hàng Nhật Bản.
2.2 Vai trò của Chính phủ Nhật Bản
Chính phủ đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế của Nhật Bản. Sự phát triển sau chiến tranh của các ngành
công nghiệp Nhật Bản được kích thích vào tạo sức bật từ những khỏan viện trợ của
Chính phủ cũng như việc cho vay với lãi suất thấp. Điều đó một phần có được nhờ sự
sử dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ để kích thích quá trình tăng trưởng kinh tế.
Những động lực đặc biệt về thuế được sử dụng để khuyến khích người ta nâng cao tiết
kiệm, đầu tư, hình thành vốn tích lũy, cũng như du nhập vào nền kinh tê các sản phẩm
và côn gngheej mới. Điều có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của nền kinh tế
Nhật Bản là tạo lập được mối quan hệ thường xuyên, gần gũi giữa Chính phủ và

doanh nghiệp.
12


Khác hẳn với Hoa Kỳ và Đức, vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế Nhật
Bản cũng rất đặc biệt trên các khía cạnh như Chính phủ chỉ chiếm phần nhỏ trong tiêu
dùng xã hội, nhưng lại lại chiếm phần lớn trong đàu tư và giữ quyền kiểm soát chặt
chẽ khu vực tư nhân thông qua các trung gian của Chính phủ. Chi tiêu Chính phủ
trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội cũng ít hơn nhiều. Ví dụ, đa phần người lao động
trong các doanh nghiệp đều tham gia vào chương trình bảo hiểm của chính doanh
nghiệp đó, những chương trình đảm bảo chi trả các khoản lương hưu, trợ cấp cho
người công nhân căn cứ vào thu nhập của anh ta.
Nhưng điều tạo nên sự khác biệt lớn nhất giữa Nhật Bản với Hoa Kỳ và Đức là
vai trò của các cơ quan hành chính và các bộ, ngành trong nền kinh tế. Để hiểu rõ hơn
vai trò của Chính phủ trong việc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường Nhật
Bản, cần đi sâu nghiên cứu chức năng của một số cơ quan, tổ chức của Chính phủ.
Bộ Tài chính Nhật Bản là cơ quan kiểm soát thi trường tài chính. Bộ Tài chính
quản lý tất cả các nguồn thu ngân sách Chính phủ và họ cũng chính là người giữ
quyền quyết định đối với việc sử dụng chúng. Bộ Tài chính thực hiện chính sách tài
khóa. Nó cũng chịu trách nhiệm điều chỉnh, thay đổi tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân và
doanh nghiệp, khởi xướng những điều khoản, những chính sách trong luật thuế nhằm
kích thích sự phát triển của các sản phẩm và công nghệ mới. Thủ tướng và các các cơ
quan lập pháp không có quyền kiểm soát thực sự đối với Bộ tài chinhs, họ chỉ nhận sự
tư vấn, đóng góp từ những công chức của chính họ. Bộ Tài chính còn kiêm luôn chức
năng kiểm soát vận hành hệ thống ngần hàng Nhật Bản.
Bộ Thương mại và Công nghiệp quốc tế (MITI), cùng với Bộ Tài chính là hai
bộ quan trọng nhất trong Chính phủ Nhật Bản. MITI là cơ quan Chính phủ quan trọng
và giàu quyền lực nhất của Nhật Bản, ít nhất là trong con mắt của doanh nghiệp Nhật
Bản. Ra đời từ những năm 1940 nhằm mục tiêu hiện đại hóa công nghiệp Nhật Bản
và đẩy mạnh xuất khẩu, chức năng của MITI là xác định một lộ trình hành động cơ

bản nhằm cải tiến, nâng cao lợi thế so sánh trong tương lai của nền kinh tế Nhật Bản
và để huy động tất cả khu vực, các nguồn lực vào quá trình phát triển cung của đất
nước. Chẳng hạn, xây dựng ngành công nghiệp thép là ưu tiên số một của Nhật Bản
trong thời kỳ phát triển hậu chiến. Để thực hiện sự ưu tiên này, MITI đã khuyến khích
các ngân hàng Nhật Bản cung cấp vốn để mua các công nghệ và thiết bị sản xuất thép
từ phương Tây mà chủ yếu là từ Hoa KỲ. Những khuyến khích về thuế, các khoản
vay với lãi suất thấp và các động lực tài chính khác đã được MITI trao cho ngành
công nghiệp thép. MITI đang tiếp tục quá trình tái cơ cấu các ngành công nghiệp bằng
việc tập trung các nguồn lực các ngành công nghiệp bằng việc tập trung các nguồn lực
13


vào các khu vực mà họ cho rằng Nhật Bản cần phải tăng cường khả năng cạnh tranh
trong kỷ nguyên mới.
MITI còn giữ khá nhiều chức năng quan trọng xây dựng phương hướng phát
triển cho các ngành công nghiệp Nhật Bản; đưa ra một bức tranh toàn cảnh để cung
cấp cái nhìn toàn diện về nền kinh tế Nhật Bản, đề xuất những ngành công nghiệp mà
nước Nhật cần phải phát triển mạnh hơn nữa để giữ được vai trò của mình trên trường
quốc tế; MITI cũng phát triển các chính sách công nghiệp của nước Nhật, xây dựng
cũng như hướng dẫn việc thực hiện các chính sách công nghiệp của Nhật, xây dựng
cũng như hướng dẫn việc thực hiện các chính sách công nghiệp đó; MITI kiêm luôn
cả chức năng tư vấn đối với các cơ quan Chính phủ khác và chịu trách nhiệm hướng
các dòng vốn trong nền kinh tế tập trung vào các ngành công nghiệp mũi nhọ, được,
khuyến khích; có quyền cấp bằng phát minh sáng chế, bản quyền sở hữu trí tuệ cho
các doanh nghiệp; không một nhà máy, siêu thị hay cửa hàng bách hóa nào ở NHật
Bản có thể thành lập mà không xin phếp và được sự cấp phép từ phía MITI; thậm chí,
MITI có quyền phủ quyết các điều luật chống độc quyền và thành lập hình thức độc
quyền cartel, hoặc là để hỗ trợ các ngành công nghiệp đang lâm nguy hawojc để phát
triển các ngành công nghiệp mũi nhọn; có quyền quyết định đối với giá điện và năng
lượng trong nền kinh tế Nhật Bản.

Cơ quan Khoa học và Kỹ thuật công nghiệp (AIST) la cơ quan bán độc lập
được thành lập dưới sự cho phép của MITI và có trách nhiệm chính là xúc tiến công
nghệ và phát triển các công nghệ mới. Cơ quan này chịu trách nhiệm theo sát tình
hình phát triên khao học – kỹ thuật trên thế giới và tìm ra đâu là những công nghệ
quan trọng, cần thiết cho sự phát triển công nghiệp của NHật Bản. Một trong những
điểm mạnh của nền công nghiệp Nhật Bản là nó luôn thu thập khá đầy đủ thông tin về
trình độ phát triển khoa học – kỹ thuật trên thế giới và do đó, AIST luôn tham mưu
cho nền công nghiệp Nhật Bản để khuyến khích việc áp dụng những công nghệ mới
phục vụ lợi ích quốc gia. Cơ quan này cũng thực hiện tài trợ đối với những nghiên
cứu về công nghệ mới, chịu trách nhiệm một phần trong việc phát triển các bằng phát
minh sáng chế.
Các thể chế tài chính thuộc Chính phủ. Chính phủ Nhật Bản tham gia vào các
hoạt động thiết yếu trên thị trường tài chính thông qua việc sở hữu một số thể chế
chuyên về tín dụng. Họ cung cấp các khoản vay dài hạn phục vụ cho việc phát triển
công nghiệp, tài trợ xuất khẩu và nông nghiệp, đó là một phần trong những chính sách
Chính phủ đề ra để kích thích quá trình tăng trưởng kinh tế ở một đất nước khan hiếm
tài nguyên. Ngân quỹ cho vay của những thể chế này được cấu thành từ những nguồn
14


vốn đối ứng như từ ngân sách Chính phủ hay tiết kiệm dân cư dưới hình thức tiết
kiệm (niên kim) và bảo hiểm xã hội… Những khản tiết kiệm này cùng với các khản
thặng dư từ một số tài khoản ngân sách chuyên dụng khác được gửi vào một cục quản
lý quỹ nhất định, cơ quan này sau đó sẽ thực hiện cho vay đối với các xí nghiệp công
và các thể chế tài chính công khác. Một số khoản vay nhất định cũng có thể được
dành cho khu vực tư nhân khi họ đáp ứng đầy đủ một số điều kiện nhất định, nhất là
hoạt động trong các ngành công nghiệp xuất khẩu. Tuy niên, theo thông lệ thì tài trợ
cho khu vực tư nhân dược thực hiện thông qua sự hợp tác với các tổ chức cho vay tư
nhân khác.
Bộ Bưu chính viễn thông (MPT) là cơ quan giữ chức năng tiết kiệm chính yếu

và quan trọng của Nhật Bản, với tổng số tiết kiệm lên tới 1 tỷ USD. Tất cả các bà nội
trợ trong gia đình Nhật Bản ddefu tiết kiệm thông qua các dịch vụ bưu điwjn, nộp
khoản tiết kiệm của họ qua dịch vụ chuyển thư va gửi tại các bưu điện nơi họ sinh
sống. Những khản tiền này sau đó được tài trợ cho các cơ quan Chính phủ như Ngân
hàng Phát triển Nhật Bản.
Ngân hàng Nhật Bản thực hiện chính sách tiền tệ thông qua ba công cụ chính
để kiểm soát tổng lượng tín dụng và tiền tệ cung cấp trên thị trường – chính sach lãi
suất ngân hàng, nghiệp vụ thị trường mở và tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Chính sách lãi suất
ngan hàng liên quan đến việc hạ hay nâng tỷ lệ chiết khấu và lãi suất cho vay trên thị
trường. Việc thay đổi các tỷ lệ lãi suất này là công cụ quan trọng nhất trong việc thực
hiện chính sách tiền tệ ở Nhật Bản vì các ngân hàng cấp thành phố của Nhật phải dựa
vào các hoản vay từ Ngân hàng Trung ương, còn các ngành công nghiệp, đến lượt
mình lại trông cậy nhiều vào các khản vay ngân hàng. Bên cạnh đó, Ngân hàng Trung
ương Nhật Bản có thể dịnh mức lãi suất trần cho việc vay tiền của các ngân hàng, nếu
lãi suất thực hiện cao hơn mức đó thì Ngân hàng Trung ương có thể ấn định các mức
phạt hoặc từ chối, không cho vay.
Nghiệp vụ thị trường mở bị hạn chế sử dụng do thị trường vốn của Nhật Bản
chưa thực sự phát triển tốt và do đó không phải là một công cụ quá quan trọng trong
việc thực thi chính sách tiền tệ ở Nhật. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Nhật Bản thấp hơn
nhiều so với các quốc gia phát triển khác, việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc do Ngân
hàng Trung ương Nhật Bản tiến hành là một công cụ bổ sung để kiểm soát tiền tệ
trong nước.
2.3 Đánh giá tổng quát về nền kinh tế thị trường Nhật Bản
a, Những thành công

15


Nền kinh tế Nhật Bản và các thị trường tài chính của họ - nguồn lực cho “sự
thần kỳ” Nhật Bản, được xem là niềm ngương mộ của cả thế giới. Các quốc gia tranh

nhau những khoản đầu tư của người Nhật. Nhưng đáng tiếc, đa phần những khỏan
đầu tư này đã rót vào Hoa Kỳ để mua trái phiếu, bất động sản và các công ty, xây
dựng các nhà máy chế biến, ví dụ như, trong các lĩnh vực điện dân dụng và sản xuất
ôtô. Các công ty Nhật Bản được coi như những mô hình kinh doanh hiệu quả và tiên
tiến, những ý tưởng của người Nhật về thu hút sự tham gia của lao động vào quá trình
sản xuất, kiểm soát chất lượng, thiết kế quy trình sản xuất… được áp dụng tại mọi nơi
trên thế giới.
Nền kinh tế Nhật Bản là nền kinh tế đạt được nhiều thành tự tăng trưởng nhất
trong số các quốc gia công nghiệp phát triển lớn của thế giới trong thế kỷ XX. Thời
kỳ phát triển thành công nhất của Nhật Bản là thời kỳ 1950-1987, khi tốc độ tăng
trưởng trung bình hàng năm đạt 7,1% và tốc độ tăng trưởng trung bình của GDP thực
tế là 6,0% nhưng tốc độ tăng trưởng của Nhật Bản vẫn là 4,0% so với 2,9% ở Hoa
Kỳ, 2,4% ở Pháp và 2,2% ở Đức.
Có thể kể những thành tự trên một số lĩnh vực cụ thể. Xuất khẩu laflinxh vực
thành công điển hình của Nhật Bản. Sản phẩm của Nhật Bản được bán ra trên toàn thế
giớ, từ máy nghe Sony Walkman đến ôtô Nissan hay Toyota. Chỉ có Canđa có kim
ngạch xuất khẩu sang Mỹ nhiều hơn Nhật Bản. Nếu trở lại trước năm 1900, nước
Nhật hoàn toàn khong có xuất khẩu. Họ bắt đầu thể kỷ XX với vị trí thứ 23 xét trên
tổng kim ngạch xuất khẩu so với vị trí thứ 12 của Trung Quốc. Tổng kim ngạch xuất
khẩu của NHật Bản tại thời điểm đó chưa bằng 2% của Vương Quốc Anh, quốc gia
dẫn đầu thế giới về xuất khẩu. Nhưng đến cuối thế kỷ XX, năm 1997 nước Nhật đã
xếp thứ 3 thế giới xét trên phương diện xuát khẩu, với tổn gkim ngạch lớn hơn so với
Vương quốc Anh là khoảng 150 tỷ USD. Cũng năm 1997 tài khoản thương mại hàng
hóa của Nhật Bản đạt thặng dư 73 tỷ USD so với khoản thâm hụt 114 tỷ USD trong
tài khoản thương mại nói chung, khoảng ½ trong số đó là quan hệ thương mại với
Hoa Kỳ.
Nhật Bản là quốc gia cho vay hàng đầu thế giới. hẹo tài trợ cho việc cầm giữ
các tài sản nước ngoài thông qua những khoản thặng dư liên tục trên tài khoản xuất
nhập khẩu hàng hóa, trong vòng 25 năm con số này đã lên tới 2,2 tỷ tỷ USD. Một
phần đáng kể trong số này được đầu tư vào các tài sản của Hoa Kỳ, từ trái phiếu kho

bạc đến các nhà máy sản xuất ôtô. Nhật Bản có tổng lượng vốn mà Hoa Kỳ đầu tư
vào Nhật Bản. Thu nhập từ việc cầm giữ các tài sản của người Nhật ở Hoa Kỳ sẽ quay
về Nhật Bản trong khi đó thu nhập từ việc cầm giữ tài sản người Mỹ ở Nhật sẽ quay
16


về Hoa Kỳ. Từ cuối thập niên 1970, Chính phủ Hoa Kỳ đã tài trợ phần lớn các khản
chi tiêu của mình từ các khoản vay nước ngoài và đã khiến Hoa Kỳ càng trở thành
con nợ lớn của thế giới. Trong khi đó, Nhật Bản, người cầm giữ rất nhiều tài sản nợ
của Chính phủ Hoa Kỳ đã trở thành quốc gia cho vay hàng đầu thế giới.
Công nghiệp Nhật Bản phát triển mạnh bởi bốn nhân tố sau: (1) rất coi trọng
chất lượng sản phẩm. Trên thực tế các sản phẩm Nhật Bản được bán tại Hoa Kỳ bất
chấp tỷ giá giữa đồng đôla Mỹ và yên Nhật có biến động thuận lợi hay bất lợi cho
người Mỹ bởi vì với người Mỹ, hàng hóa Nhật Bản, nhất là ôtô, đồng nghĩa với chất
lượng; (2) coi trọng công tác nghiên cứu. Thu thập từ hoạt động xuất khẩu được sử
dụng để tái đầu tư vào cách hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D); (3) Nhật Bản
có một lực lượng lao động kỹ thuật cao cũng như khối lượng lớn máy móc, thiết bị
tính trung bình trên một công nhân. Năm 1992, Nhật Bản đứng đầu thế giới xét trên
chỉ tiêu giá trị thiết bị, máy móc tính bình quân trên một công nhân và đứng thứ 3 thế
giới xét trên chỉ tiêu tổng số năm được đào tạo tính trên một công nhân bình thường
so với các quốc gia công nghiệp phát triển khác; (4) Nhật Bản có một lượng cầu trong
nước rất lớn đối với các sản phẩm do chính họ sản xuất ra; thị trường trong nước là
nhân tố chính yếu dẫn đến thành công trong quá trình phát triển công nghiệp Nhật
Bản.
b, Những điểm yếu
Hiện nay Nhật Bản đang phải đương đầu với hàng loạt những vấn đè nghiêm
trọng khi bước vào thế kỷ XXI. Người ta nghi ngờ rằng liệu Nhật Bản có thể giải
quyết những vấn đề nan giản này trước khi họ kéo cả một phần thế giới cùng chìm với
họ. Sự bị quan đang bao trùm nên kinh tế Nhật Bản, đó chính là lý do tại sao cỗ máy
quản lý và chính trị của Nhật Bản bỗng dừng hoạt động. Người ta cũng cho rằng Nhật

Bản đã mắc phải một chứng bệnh – căn bệnh Nhật Bản, nghĩa là sự suy đồi trong đạo
đức làm việc của người Nhật, một sự đồng điều tuân thủ đến cứng nhắc, mất đi sự
sáng tạo và niềm tin cũng như tinh thần của công chúng igarm sút rõ rệt. Những vụ xì
căng đan trong các lĩnh vực chính trị, hành chính và kinh doanh dấy lên trong thập
niên 1990 đã cho thấy rằng Nhật Bản đang dần mất đi chất keo hàn gắn xã hội của họ,
chất keo có thể đưa họ tiếp tục quãng đường phát triển trong những thế kỷ tới.
Một xã hội già nua. Nước Nhật là một trong những nước có dân số già nhất thế
giới; hơn nữa, trong suốt quãng 1/4 đầu tiên của thế kỷ XXI, tốc độ già đi của dân số
nước Nhật thậm chí còn tiếp tục tăng lên. Triển vọng sống trung bình của người dân
Nhật Bản thuộc loại cao nhất trong số các quốc gia phát triển lớn và người ta cho rằng
nó vẫn tiếp tục tăng lên trong thời gian tới. Hơn thế nữa, tỷ lệ sinh ra của nước Nhật
17


lại đang giảm xuống và cùng với nó là hiện tượng dân số trong độ tuổi lao động cũng
giảm dần. Nhưng không giống với Đức hay Hoa Kỳ, Nhật Bản phải đương đầu với
hai vấn đề lớn: thứ nhất, nước Nhật chống lại việc nhập cư và giữ sự đồng nhất về
chủng tộc; thứ hai, người Nhật rất không muốn phụ nữ phải lao động vất vả, họ không
muốn bóc lột sức sản xuất của phụ nữ và do đó càng làm gánh nặng thuế khóa đối với
dân Nhật tăng lên.
Nền kinh tế Nhật Bản cũng đang ở trong sự bộn bề các vấn đê tài chính. Những
ngân hàng lớn của NHật Bản thua lỗ rất nhiều. Nhiều ngân hàng đã phá sản hoặc phải
để Chính phủ mua lại. Tổng lượng nợ của Chính phủ và chi trả lãi suất đã lớn hơn
GDP của nước Nhật. Các thể chế tài chính Nhật Bản tiến hành đầu tư dựa trên quan
hệ cá nhân, những nhà đàu từ tại các công ty chứng khoán được ủng hộ và tạo cho các
khoản vay đảm bảo để tiến hành đầu tư. Những khoản vay này lại dội đến các doanh
nghiệp nhỏ và các cá nhân để đầu cơ vào thị trường chứng khoán và bất động sản.
Các quan chức Bộ Tài chính tiết lộ thông tin cho các ngân hàng trước khi có cuộc
thanh tra diễn ra để đổi lại những ưu đãi và những cuộc tiêu xài hoang phí mà các
ngan hàng sẵn sàng chi trả cho họ. các ngân hàng Nhật Bản còn quan hệ với những kẻ

đầu cơ bất chính. Và cuối cùng, các ngân hàng Nhật Bản cho vay rất nhiều đối với
Hàn Quốc, Inđônêxia và Thái Lan, 3 trong số những nước mà cuộc khủng hoảng tài
chính Đông Á đã diễn ra ở mức trầm trọng nhất. Tóm lại, trong thập kỷ 1980, Nhật
Bản được người ta xem là một đế chế mới, một lực lượng hùng mạnh có thể sẽ thống
trị thế kỷ XXI. Nền kinh tế Nhật Bản nhận được sự ngưỡng mộ và người ta luôn nhìn
vào Nhật Bản để rút ra những bài học về các vấn đề như tăng trưởng kinh tế hay giáo
dục. Một xã hội nghiêm khắc, trật tự của Nhật Bản cũng rất được tôn sùng so với xã
hội Mỹ - một xã hội chỉ đề cao chủ nghĩa cá nhân. Vậy thì, tại sao một quốc gia đã
từng là tấm gương sáng về hiệu quả lại có thể tự đẩy mình vào tình thế nghiêm trọng
chỉ trong vòng một thập kỷ ngắn ngủi. Có hai vấn đề lớn có quan hệ biện chứng lẫn
nhau trong xã hội Nhật Bản: thứ nhất, sự sụp đổ của hệ thống tài chính; và thứ hai, sự
bất lực và nạn tham nhũng đang hoành hành trong Chính phủ Nhật Bản.
3. Mô hình kinh tế thị trường xã hội Cộng hòa liên bang Đức.
Mô hình này có đặc trưng: phối hợp sức mạnh của cơ chế thị trường tự do với
sự can thiệp của Nhà nước để đạt được các mục tiêu xã hội đề ra; giả định mở rộng
các nguyên tắc cạnh tranh, gắn với tạo lập một hạ tầng xã hội mạnh nhằm làm giảm
nhẹ các khiếm khuyết của thị trường; hình thành một cơ cấu thể chế phức tạp, nhiều
lớp của hệ thống an sinh xã hội.

18


Nước Đức chưa bao giờ có thứ mà người ta gọi là nền kinh tế thị trường tự do,
Nhà nước luôn đảm bảo sự tồn tại của cả hai bộ phận: kinh tế tự do (tư nhân) và kinh
tế mệnh lện (Nhà nước). Chủ nghĩa tư bản Đức khác so với chủ nghĩa tư bản tự do cá
nhân, tự do thị trường Hoa Kỳ trên một số khía cạnh chủ yếu sau: ở Hoa Kỳ, tự do
kinh doanh và thị trường tạo ra của cải, còn ở Đức người ta kết hợp cả sự kiểm soát
của Nhà nước và sự tự chủ của khu vực tư nhân để tạo ra của cải. Hiện tượng bất bình
đẳng về thu nhập hay tài sản ở Hoa Kỳ sâu sắc và mạnh mẽ hơn nhiều so với ở Đức.
Nhưng nền kinh tế thị trường xã hội của Đức cũng không giống như nền kinh tế

thị trường nhà nước Nhật Bản. Điểm khác biệt thứ nhất, nổi bật là ở Nhật Bản người
ta không thấy những chương trình an sinh xã hội, còn ở Đức, các chương trình an sinh
xã hội gắn liền với cuộc đời mỗi người từ khi sinh ra cho đến khi qua đời. Tất nhiên,
giữa Đức và Nhật Bản có rất nhiều điểm khác biệt về văn hóa và điều này lý giải tại
sao có những điểm khác việt về hệ thống kinh tế - xã hội giữa hai nước này. Tại Nhật
Bản, gia đình hay các tập đoàn phải chịu trách nhiệm về phúc lợi của mỗi cá nhân
thuộc gia đình hay tập đoàn đó. Nét khác biệt thứ hai là khu vực kinh tế quy mô vừa
và nhỏ ở Nhật Bản rất kém phát triển trong khi lại rất phát triển trong nền kinh tế
Đức, người Đức gọi khu vực kinh tế vừa và nhỏ là Mittelstand. Và một lần nữa, sự
khác biệt này được giải thích bằng sự khác biệt giữa văn hóa và lịch sử của hai đất
nước. Điểm khác biệt thứ ba giữa Nhật Bản và Đức thuộc về hệ thống tài chính. Hệ
thống tài chính Nhật Bản được người ta nhắc đến nhiều bởi sự sụp đổ của nền kinh tế
“bong bóng” cuối thập niên 1980 và kéo theo cuộc khủng hoảng trong hệ thống ngân
hàng trong suốt thập niên 1990, rõ ràng đó là một hệ thống tài chính không ổn định và
không được kiểm soát chặt chẽ. Ngược lại, nước Đức có một hệ thống tài chính ổn
định nhất trên thế giới. Cuối cùng, xã hội Nhật Bản là một xã hội có chiều hướng cô
lập và không mở cửa với thế giới bên ngoài.
3.1. Kết cấu sở hữu và tổ chức kinh doanh
- Hệ thống doanh nghiệp: Mittelstand, hay đẳng cấp trung lưu, là một phần
quan trọng trong nền kinh tế Đức. như là một định chế đặc thù, nó có nguồn gốc từ
thời trung cổ, khi các phường hội thủ công rất thịnh hành trong nền kinh tế của nhiều
lãnh địa, lãnh chúa riêng như ở Đức. Họ đặt ra những luật chặt chẽ quy định chất
lượng cho các đồ chế tác thủ công và người thợ nào thông qua học tập và rèn luyện có
thể đạt đến những tiêu chẩn đó sẽ được phong làm các bậc thầy, những nghệ nhân thủ
công. Đến ngày nay, danh hiệu nghệ nhân thủ công vẫn còn rất phổ biến và quan
trọng tại Đức, ai có nó sẽ tạo ra điểm khac biệt so với nguowfi khác. Khi so sánh nền
kinh tế Đức với Hoa Kỳ và Nhật Bản, đẳng cấp trung lưu đóng một vai trò rất độc đáo
19



đối với sự phát triển của nước Đức. Nó làm được hai việc cho nền kinh tế Đức: thứ
nhất, thu hút khoảng 2/3 tổn số việc làm của nước Đức mà một nửa trong số đó là
việc làm trong lĩnh vực kinh doanh buôn bán, và trên 40% trong tổng lượng đầu tư
của nền kinh tế; thứ hai, duy trì một hệ thống giáo dục hướng nghiệp xuất sắc của
nước Đức, một hệ thống giáo dục được đánh giá là đứng hàng đầu thế giới.
Ngoài ra, ở Đức còn các phòng thường mại và hiệp hội thương mại – Deutsche
Industrie und Handelstag. Tất cả các doanh nghiệp Đức đều phải là thành viên bất kể
quy mô. Trách nhiệm chính của các phòng thương mại Đức liên quan tới các chương
trình đào tạo hướng nghiệp. Như một cơ quan pháp luật, họ đề ra các quy định như
thời gian mở cửa các cửa hàng, cấp giấy phép đăng ký kinh doanh và giấy phép lao
động, giải quyết các tranh chấp giữa các doanh nghiệp và quan hệ qua lại với chính
phủ các cấp. Do đó, chức năng của họ chính là hạt nhân cho sự vận hàng của hệ thống
kinh tế Đức.
Doanh nghiệp nhà nước ở Đức có quy mô và vai trò lớn, trong một số trường
hợp, Chính phủ tham gia trực tiếp hoặc thông qua hình thức cổ phần. Có thể coi
doanh nghiệp nhà nước là đặc truewng riêng của nền kinh tế thị trường xã hôi cũng
như của châu Âu. Quản lý doanh nghiệp nhà nước được phi tập trung hóa tới cấp
doanh nghiệp. Bộ Tài chính Liên bang được thành lập vừa như một công cụ quản lý
doanh nghiệp nhà nước vừa thực hiện các nhiệm vụ tư nhân hóa. Ở nước Đức, quá
trình phi quốc hữu hóa các doanh nghiệp nhà nước được thực hiện thông qua hai con
đường: 1, Bán lại doanh nghiệp cho cá nhân và 2, Phi quốc hữu hóa bằng cách bán
cho người có thu nhập thấp một tỷ lệ ưu đãi. Các doanh nghiệp thuộc sở hữu công
đoàn được tổ chức theo hình thức hỗn hợp, hoạt động vì mục tiêu phúc lợi chứ không
nằm tối đa hóa lợi nhận.
- Hệ thống ngân hàng: Sức mạnh tài chính của các ngân hàng Đức còn mạnh
hơn các ngân hàng Hoa Kỳ. Họ cung cấp nguồn tài chính chủ yếu cho nền công
nghiệp Đức và đồng thời là cổ đông lớn nhất trong nền kinh tế. Họ cũng cung cấp đa
phần các dịch vụ môi giới chứng khoán cho các khách hàng ở Đức. Không có một sự
phân tách nào cách ly ép buộc theo pháp luật nào giữa một ngân hàng đầu tư và một
ngân hàng thương mại giống như ở Hoa Kỳ hay Nhật Bản. Các ngân hàng Đức có ghế

trong hội đồng giám đốc của các công ty mà họ nắm giữ cổ phiếu hoặc những công ty
vay tiền cho họ, đây là một điều không được pháp luật Hoa Kỳ cho phép. Người ta
ước tình rằng các ngân hàng lớn của Đức đều là những ngân hàng tư nhân, trực tiếp
hay gián tiếp đang nắm giữ tới 1/4 quyền biểu quyết trong 25% các tập đoàn lớn nhất
của Đức và chiếm tới 28% trong các hội đồng tư vấn của họ. Sau đó phải kể đến các
20


ngân hàng thương mại ở trung ương và địa phương cũng thuộc sở hữu tư nhân, là
nguồn tài chính hầu như duy nhất của các doanh nghiệp quy mô nhỏ của Đức. Các
ngân hàng Đức kiểm soát ít nhất một nửa nền kinh tế Đức, do đó sự quan tâm được
đặt nhiều vào các mục tiêu dài hạn và sự ổn định tiền tệ.
Đặc điểm văn hóa của người Đức là rất tôn trọng kỷ luật và trật tự, điều này
được thế hiện rất rõ trong hệ thống ngân hàng của họ. Sức mạnh của các ngân hàng
Đức là sản phẩm của thế kỷ XIX, khi Deutsche Bank và Commezbank được thành lập
bởi Nhà nước Phổ đề tài trợ cho sự phát triển của ngành công nghiệp hóa chất. Sau
ngày nước Đức thống nhất, Deutsche Ban trở thành ngân hàng quan trọng nhất đối
với cả Chính phủ và doanh nghiệp. Họ có những đại diện ở cả doanh nghiệp cũng như
Chính phủ đang làm việc trong ban giám đốc của ngân hàng. Trật tự được duy trì
thông qua những kênh nối từ ngân hàng với doanh nghiệp lớn, kiểm soát quyền bỏ
phiếu và hoạt động của các công ty.
- Đặc điểm về việc ra quyết định về các chính sách kinh doanh. Mục đích của
việc này là tạo cho người công nhân có tiếng nói trong các quyết sách chung. Khái
niệm hợp tác cùng xác định ra đời từ quá trình phát triển của chủ nghĩa nghiệp đoàn
thương mại thế kỷ XIX. Nó gắn liền với ý tưởng về một xã hội theo trật tự xã hội chủ
nghĩa, điều này thấm nhuần vào suy nghĩ của các nghiệp đoàn thương mại Đức thời
đó.
Quá trình hợp tác cùng xác định diễn ra theo hai kết cấu - Ủy ban kiểm soát và
Hội đồng lao động. Ủy ban kiểm soát phải có 1/3 số đại diện công nhân trong cách
doanh nghiệp sử dụng từ 500-2.000 công nhân và với những doanh nghiệp có trên

2.000 công nhân, tỷ lệ này là 1/2 hoặc hơn nữa. Đối với các công ty công, đại diện
của công nhân và nhà nhà quản lý trong Ủy ban này phải ngang nhau, đối với công
tyw nhân số đại diện công nhân phải bằng đại diện của nhà quản lý và có một đại diện
khác xem là trung lập. Người đại diện trung lập này được cả hai bên bầu ra, có trách
nhiệm điều phối, tháo gỡ cho cả hai bên. Ủy ban kiểm soát ra quyết định đầu tư và
các quyết sách dài hạn khác cho công ty. Là thành viên trong Ủy ban kiểm soát, công
nhân có tiếng nói nhất định đối với các vấn đề nhân sự, nhưng các vấn đề hoạt động
của công ty lại thuộc chức năng của những người quản lý.
Hoạt động ở cấp độ nhà máy, Hội đồng lao động có mặt ở hầu hết các doanh
nghiệp Đức và tham gia vào mọi vấn đề về đảm bảo điều kiện lao động. Bất cứ một
quyết định thải hồi công nhân nào cũng phải được trình lên Hội đồng này trước khi ra
quyết định chính thức, và Hội đồng có thể can thiệp bằng cách cđưa vấn đề này lên
tòa án lao động để chống lại việc thải hồi. Hội đồng này cũng giải quyết những quan
21


tâm của người công nhân, như khi nhà máy đóng cửa hay áp dụng quy trình sản xuất
mới. Tuy nhiên họ không tham gia vào các quyết định đầu tư của chủ hay can thiệp
vào những giao dịch chuển giao vốn lớn trong doanh nghiệp; chức năng căn bản nhất
của họ vẫn là tạo cho người lao động những điều kiện làm việc tốt nhất. Trên một vài
khía cạnh, Hội đồng lao động còn quan trọng hơn Ủy ban giám sát vì họ gắn với công
nhân hơn, nên quan tâm đến những lợi ích sát sườn của công nhâ.
3.2 Gải quyết vấn đề xã hội ở Đức
- Giáo dục hướng nghiệp: hệ thống giáo dục là một trong những điểm mạnh
nhất của người Đức, nó giúp tạo ra một lực lượng lao động kỹ năng cao, có khả năng
tiếp nhận và sử dụng những công nghệ hiện đại nhất. Điều này tương phản với Hoa
Kỳ, nước costyr lệ bỏ học ở cấp trung học coa hơn Đức tới 8 lần và trong các cuộc thi
quốc tế, sinh viên Hoa Kỳ thường đứng gần cuối trong bản xếp hạng về các môn toán
và khoa học tự nhiên. Nó cũng có nghĩa rằng công nhân Hoa Kỳ khó có khả năng
cạnh tranh trong các công việc đòi hỏi kỹ thuật cao. Lực lượng lao động Đức hàng

năm còn có các chương trình đào tạo nghề nghiệp trong khoảng 400 nghề khác nhau.
Quá trình đào tạo thường được tiến hành với một ông chủ và được chọn trước, kéo dài
khoảng 2-3 năm. Ngoài ra còn có các khóa học ngắn hạn hoặc từ đầu dành cho các
công nhân có nhu cầu.
Mỗi năm khoảng một nửa số thanh thiesu niên Đức từ độ tuổi 15-19 được
hưởng các khóa đào tạo hướng nghiệp với hơn 400 nghề chuyên môn, khác nhau như
làm đồ thủ công, nghề mộc, sửa xe, điện tử, bán hàng, văn phòng, ngân hàng, y dược
và thư ký… Chương trình đào tạo hướng nghiệp được sự quản lý của cơ quan điều
hành các bang, các liên đoàn thuwowngmaji và các doanh nghiệp kinh doanh kết hợp
với hệ thống trường học của Đức. Những người học việc thưởng đuộc phân về các
công ty và sau đó làm việc cho công ty đó khoảng 2-3 ngày một tuần. Thời gian còn
lại trong tuần được đào tạo ở các trường dạy nghề của các bang. Chi phí hàng năm
cho các chương trình đào tạo dạy nghề đối với các ngành công nghiệp là khoảng 35 tỷ
DM (22 tỷ USD); kết quả cuối cùng là lực lượng lao động được đào tạo tốt và nạn
thất nghiệp đối với thanh niên là rất thấp. Cũng nhờ thế, Đức là nước có thị phần lớn
nhất thế giới trong lĩnh vực trao đổi buôn bán các mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật cao.
- An sinh xã hội và các thước đo phúc lợi khác: Năm 1911, khi Sắc luật về bro
hiểm tổng hợp đã thống nhất tất cả các chương trình bảo hiểm ở Đức lại với nhau thì
tất cả công nhân Đức đã được bảo hiểm khi không may bị bệnh tật hay tàn phế, mất
khả năng lao động. Bảo hiểm thất nghiệp, khởi nguồn ở Anh năm 1911, đã được áp
dụng ở Đức năm 1927. Các khoản phúc lợi và hỗ trợ tài chính cho những người tham
22


gia chiến tranh và các vấn đề liên quan tới chiến tranh là một bộ phận quan trọng
trong hệ thống phúc lợi xã hội của Đức. Trong đó, có các biện pháp khác nhau để thiết
lập và duy trì các trại chuyển giao và tiếp nhận người tị nạn. Cuối cùng, có thể kể đến
các khoản trợ cấp sinh con như cách gọi thông thường của người Đức (Kindergeld),
các khoản trợ cấp loại này không thuộc hệ thống bảo hiểm xã hội và được tài trợ bởi
nguồn vốn ngoài thu ngân sách.

Các khoản chi tiêu dành cho mục đích an sinh xã hội nằm trong Ngân sách xã
hội (Sozial buget) và được quản lý bởi Chính phủ Liên bang nhưng tách hẳn khỏi
Ngân sách Liên bang. hệ thống an sinh xã hội được tài trợ từ các khoản thuế lương
đối với cả chủ và các khoản thu chung từ Ngân sách Liên bang. Vào năm 1997, tổng
chi trả cho an sinh xã hội của Đức là khoảng 758 tỷ DM (348 tỷ USD), tương đương
khoảng 24% GNP nước Đức.
3.3 Đánh giá chung về nền kinh tế Đức
- Thành tự kinh tế của Đức là tốt, nhất là trong thời kỳ ngay sau khi Chiến tranh
thế giới thứ hai kết thúc và kéo dài tới năm 1960. Những thành tựu này được hỗ trợ
một phần nhờ kế hoạch viện trợ Marshall của mỹ và từ khoản chi tiêu của NATO.
Chính sách kinh tế thời hậu chiến của Đức xoay quanh sự kết hợp giữa tự do cá nhân
và phúc lợi xã hội đặt trong khuôn khổ của một nền kinh tế thị trường cạnh tranh. Các
chương trình phúc lợi xã hội của Đức trở thafnhmoojt trong những hệ thống toàn
diện, hiệu quả nhất châu Âu. Những khuyến khích về thuế được thiết kế để kích thích
đầu tư vào các doanh nghiệp Đức. Các chính sách tài khóa và tiền tệ của Đức sau
chiến trnah được thực hiện theo hướng nhằm nâng cao sản xuất. Nền kinh tế thị
trường xã hội được thiết lập ở Đức từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai vẫn tồn tại cho
đến ngày nay.
- Nền kinh tế Đức có những điểm mạnh riêng và sẽ trở thành nền kinh tế bá chủ
trong Liên minh châu Âu. Chính sách tiền tệ dựa vào lý thuyết mà chính Deutsche
Bank đã theo đuổi trong suốt 40 năm qua là tạp trung vào mục tiêu ổn định giá cả.
Nước Đức rất mạnh trong các ngành chế tạo động cơ ôtô, hóa chất, dệt may và công
nghiệp cơ khí. Ngoài ra, Đức còn lợi thế so sánh với các quốc gia khác về sản xuất
các sản phẩm quang học và các hàng hóa gia dụng, bao gồm một số các sản phẩm
gốm sứ và trang thiết bị gia dụng… Các ngân hàng của Đức nằm trong số những ngân
hàng có tính cạnh tranh nhất thế giới. Liên minh châu Âu và những tác động dài hạn
của EU tới Đức là tích cực vì Đức nằm ở trung tâm châu Âu. Bất chấp hai cuộc Chiến
tranh thế giới với những thảm họa đã tàn phá nền kinh tế cũng như con người Đức,
nước Đức đã phát triển mạnh trong thế kỷ XX.
23



- Điểm yếu của nền kinh tế Đức là nạn thất nghiệp. Các cuộc bầu cử quốc gia
thường đặt vấn đề thất nghiệp ra trước công chúng. Quá trình tái thống nhất nước Đức
đã làm tăng tỷ lệ thất nghiệp khi các xí nghiệp Đông Đức bị đóng cửa. Thậm chí đã
nhiều năm kể từ ngày tái thống nhất đất nước, tỷ lệ thất nghiệp vẫn rất cao, nhất là ở
Đông Đức và đối với phụ nữ. Cấu trúc thất nghiệp đã thay đổi, thất nghiệp dài hạn
tăng dần khi những công nhân lớn tuổi là đối tượng thất nghiệp chủ yếu. Ngoài ra,
cũng phải kể đến hiện tượng “thất nghiệp ngầm” bao gồm những người phải về hưu
sớm.
Dân số già và cơ cấu tuổi là vấn đề lớn của nước Đức. Cùng với sự gia tăng về
tuổi tác dân số, lực lượng lao động của Đức sẽ sụt giảm, tỷ lệ chết cao hơn tỷ lệ sinh.
Kết quả cuối cùng, ở Đức cũng như ở nhiều quốc gia có dân số già khác, là sự dịch
chuyển của các nguồn lực từ thế hệ này sang thế hệ khác, ngày càng ít công nhân Đức
phải cố gắng làm việc và thực hiện các nghĩa vụ xã hội nặng nề hơn để có thể nuôi
sống những người được hưởng trợ cấp đang ngày một đông thêm. Ngoài ra, nước Đức
còn có những vấn đề riêng, khi quá trình thống nhất đất nước diễn ra đã buộc phải
chấp nhận hàng triệu người Đông Đức đang được hưởng trợ cấp – những người vốn
không thực hiện nghĩa vụ với hệ thống an sinh xã hội Tây Đức.
- Đức là một siêu cường kinh tế có vai trò quan trọng ở châu Âu trong phần lớn
thế kỷ XX, và sẽ tiếp tục vai trò đó cho dù chỉ là một thành viên của Liên minh châu
Âu (EU). Nước Đức có vai trò quyết định đối với các chính sách tiền tệ của Liên
minh châu Âu. Đông Đức và Tây Đức ngày nay đã hợp nhất thành một quốc gia với
số dân khoảng 80 triệu người và là quốc gia đứng thứ hai thế giới về kim ngạch ngoại
thương. Sức mạnh của nền kinh tế Đức nằm trong những chương trình đào tạo hướng
nghiệp dạy nghề chất lượng cao và hệ thống giáo dục hoàn thiện, đây sẽ là nhân tố
quyết định khiến nước Đức có thể dễ dàng tiếp tục phát triển các ngành công nghệ kỹ
thuật cao và nâng cao mức sống. Điểm yếu rõ nhất trong nền kinh tế Đức là hệ thống
luật lệ, quy tắc chưa hiệu quả và hoàn thiện, nhất là trong khu vực dịch vụ, khi chúng
hạn chế cạnh tranh và sự gia nhập thị trường; bên cạnh đó là dân số đang già đi nhanh

chóng và gánh nặng từ những chi phí phúc lợi xã hội đang ngày một tăng lên.
4. Mô hình kinh tế thị trường nhà nước phúc lợi Thụy Điển.
Mô hình Thụy Điển trong suốt một thời kỳ dài vừa đảm bảo tăng trưởng thông
qua hoạt động hiệu quả của thị trường, vừa thực hiện được công bằng nhờ tiến hành
phân phối lại thu nhập một cách phổ biến, sự đảm bảo xã hội rất cao và phát triển
mạnh các hiệp hội – tổ chức xã hội tự do, đó là nét đặc thù của nhà nước phúc lợi.
Trải qua sự thách thức hơn hai thập kỷ trước thập kỷ 1970, nền kinh tế Thụy Điển đã
24


nhận được nhiều sự thán phục, được xem như “con đường trung gian” của cải cách và
thay đổi thể chế.
Vai trò nhà nước tác động tới phân phối được đánh giá cao. Tuy khu vực tư
nhân chi phối lĩnh vực sản xuất, nhưng trong lĩnh vực phân phối sản phẩm thì nhà
nước lại có vai trò chi phối thông qua chi tiêu chính phủ. Vào những năm 1980, tổng
chi tiêu của Chính phủ chiếm 40,8% GNP (so với Hoa Kỳ 22,9%). Trong đó, cơ cấu
chi tiêu của Chính phủ chủ yếu cho nhà ở, tiện nghi công cộng, bảo hiểm xã hội, phúc
lợi – chiếm 54,2% tổng chi tiêu chính phủ vào năm 1988 (nhiều hơn 20% so với
những khoản mục tương ứng trong chi tiêu của Chính phủ Hoa Kỳ); chi tiêu cho giáo
dục cũng chiếm tỷ lệ lớn hơn, còn chi tiêu quốc phòng thì có tỷ lệ giảm đi; trái lại, chi
tiêu y tế chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn 1,1% (so với Hoa Kỳ 12,5%).
Các chương trình chính phủ được tài trợ chủ yếu từ các khoản thuế, năm 1988
tổng doanh thu thuế chiếm 42,9% GNP (so với Hoa Kỳ 19,7% và Anh 36,4%). Cơ cấu
các nguồn thu cũng khác nhau đáng kể: cũng năm 1988, thuế từ thu nhạp, lợi nhuận
và vốn chiếm 17,8% doanh thu của Chính phủ trung ương (so với Hoa Kỳ 51,5%),
đóng góp từ bảo hiểm xã hội chiếm tỷ lệ cao tương tự ở cả hai nước, tuy nhiên, Thụy
Điển dựa chủ yếu vào các khoản thuế đánh vào hàng hóa và dịch vụ - số thu này
chiếm 29% doanh thu của Chính phủ trung ương (so với Hao Kỳ 3,6%). Tác động của
nhà nước phúc lợi tới tái phân phối thu nhập được thể hiện thông qua phân phối thu
nhập thực tế giữa các nhóm dân cư: vào giữa những năm 1980, 20% số hộ có thu

nhập thấp nhất ở Thụy Điển nhận được 8% tổng thu nhập của tất cả các hộ gia đình,
trong khi 20% số hộ có thu nhập cao nhất nhận được 26,9% tổng số thu nhập (so sánh
với Hoa Kỳ, tương ứng là 4,7% và 41,9%).
Tuy Thụy Điển vẫn là nền kinh tế thị trường dựa trên sở hữu tư nhân, nhưng do
Nhà nước thực hiện vai trò như là cơ quan tái phân phối thu nhập, nên có những thay
đổi quan trọng và bản chất của nó cũng trở nên phức tạp, Thụy Điển đề cao quan điểm
về môi trường, dựa vào nhập khẩu nguyên liệu, có nguồn lực lao động được giáo dục
cao, do đó, đã hình thành một cơ cấu sản xuất và chính sách kinh tế phù hợp với các
nguồn lực trên. Cốt lõi của mô hình Thụy Điển là khung cảnh của một nền dân chủ xã
hội, trong đó có sự bổ sung và hợp tác lẫn nhau thay cho cạnh tranh xã hội, các mục
tiêu và quan điểm của dân chúng đạt được sự thống nhất thông qua việc tham dự vào
những tổ chức đoàn thể như công đoàn, hiệp hội và các tổ chức khác. Thông tin thi
trường được phân bố sao cho có thể mang lại lợi ích xã hội cho tất cả mọi người, ví
dụ, thị trường lao động phát triển và hoạt động hiệu quả, với việc áp dụng các hình
thức hợp đồng lao động tập thể toàn ngành. Người lao động cso thể thamg gia vào
25


×