Tải bản đầy đủ (.pdf) (61 trang)

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối và quản trị rủi ro hối đoái tại việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.08 MB, 61 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LÊ THỊ THÚY PHƯỢNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2002


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Ý nghóa chọn đề tài
Xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế thế giới ngày càng trở nên mạnh mẽ, sự hội nhập quốc tế
của kinh tế Việt nam thông qua cơ chế kinh tế thò trường mở là nhu cầu khách quan có tính quy luật.
Với vai trò như là chiếc cầu nối giữa kinh tế nội đòa với kinh tế thế giới bên ngoài, việc hình thành và
phát triển thò trường ngoại hối một cách toàn diện và hiện đại theo trình độ quốc tế là rất cần thiết.
Thông qua các nghiệp vụ trên thò trường ngoại hối mà hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư quốc tế, dự
trữ quốc tế ,… trở nên linh hoạt và hiệu quả hơn.
Trong những năm gần đây, thò trường ngoại hối Việt nam đã hình thành và từng bước phát
triển. Trước hết là chính sách quản lý ngoại hối đang dần được hoàn thiện phù hợp với hướng phát
triển kinh tế thò trường mở; những nhân tố thò trường ngày càng trở nên quyết đònh hơn trong việc xác
đònh tỷ giá hối đoái; bước đầu đã đưa một số giao dòch kinh doanh ngoại hối vào cuộc sống như : giao
dòch giao ngay, giao dòch kỳ hạn và giao dòch hoán đổi. Mặc dù với những bước đi đầu tiên, nhưng thò
trường ngoại hối Việt nam đã tạo ra môi trường kinh doanh ngoại hối cho các Ngân hàng thương mại,
đồng thời cung cấp những công cụ hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro ngoại hối đối với các công ty xuất
nhập khẩu và những nhà đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, thò trường ngoại hối Việt nam còn rất non trẻ và
sơ khai xét về trình độ, qui mô hoạt động cũng như kỹ năng thực hiện nghiệp vụ kinh doanh. Để đáp
ứng nhu cầu thực tế hiện nay, tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Kinh
doanh ngoại hối và Quản trò rủi ro hối đoái tại Việt nam ”
2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của luận án


- Mục tiêu nghiên cứu của luận án : để áp dụng tốt các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, các nhà kinh
tế cần phải hiểu thấu đáo từng loại hình nghiệp vụ, luận án tập trung phân tích kỹ năng từng nghiệp
vụ, những tồn tại và khó khăn trong giao dòch kinh doanh ngoại hối, trong quản lý ngoại hối trên cơ sở
đó đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh ngoại hối và phòng ngừa
rủi ro hối đoái hiệu quả, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi giúp những nhà đầu tư quốc tế, những
Ngân hàng Thương mại Việt nam, doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu tăng cường khả năng
cạnh tranh, giúp kinh tế Việt nam hòa nhập kinh tế thế giới đặc biệt là trong lónh vực tài chính.
- Nội dung của luận án : luận án được kết cấu có tính hệ thống và nội dung bao trùm các giao dòch
ngoại hối hiện nay, tuy nhiên về thực tiễn tại Việt nam chỉ ứng dụng một số loại hình giao dòch cơ
bản như giao dòch giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi và bước đầu đưa vào giới thiệu nghiệp vụ tương lai,
quyền chọn,… kết hợp kinh nghiệm từ các nước khác với tình hình thực tiễn tại Việt nam, tác giả đã
mạnh dạn đề xuất một số giải pháp về vó mô cũng như vi mô nhằm từng bước góp phần nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh ngoại hối và phòng ngừa rủi ro hối đoái tại Việt nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
™ Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến hoạt động của thò trường ngoại hối, các
nghiệp vụ trên thò trường ngoại hối thế giới và Việt nam, các công cụ quản trò rủi ro hối đoái.
™ Phạm vi nghiên cứu :

Trang 1


Luận án được nghiên cứu liên quan đến nhiều vấn đề trên một phạm vi rộng lớn có tính phức tạp
và quan hệ mật thiết với nhiều mặt hoạt động của kinh tế vó mô, mặt khác thò trường ngoại hối Việt
nam còn rất sơ khai. Song do giới hạn về mặt thời gian và trong khuôn khổ quy đònh cho một luận án,
để làm rõ mục tiêu nghiên cứu, trọng tâm của luận án giới hạn trong việc phân tích ứng dụng nghiệp
vụ kinh doanh trên thò trường ngoại hối chủ yếu từ phía ngân hàng.
4. Phương pháp nghiên cứu :
Là một đề tài mang tính khoa học và ứng dụng thực tiễn nên trong quá trình nghiên cứu, tác
giả dựa vào quan điểm duy vật biện chứng, đồng thời kết hợp phương pháp hệ thống, phân tích tổng

hợp, phương pháp diễn dòch quy nạp, phương pháp suy diễn để giải quyết những vấn đề nêu ra.
Nguồn số liệu trong luận án về cơ bản được lấy từ Ngân hàng Nhà nước, qua thống kê, tổng
hợp từ thực tế, từ niên giám thống kê, từ số liệu thống kê của World Bank, IMF, từ mạng Reuter, và
một số tạp chí thò trường tài chính tiền tệ, …
5. Bố cục của luận án :
Luận án được kết cấu có tính hệ thống gồm 75 trang, 3 chương cụ thể như sau
Phần mở đầu


Chương 1 :

Tổng quan về thò trường ngoại hối và các giao dòch kinh doanh ngoại

hối



Chương 2 :

Thực trạng thò trường ngoại hối – công cụ quản trò rủi ro hối đoái Việt

nam


Chương 3 : Một số biện pháp và kiến nghò nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thò
trường ngoại hối và quản trò rủi ro hối đoái tại Việt nam

Phần kết luận
Phụ lục
Tài liệu tham khảo

Đề tài nghiên cứu trên phạm vi rộng trong khuôn khổ giới hạn của thời gian, nội dung luận án
không thể tránh khỏi thiếu sót nhất đònh. Kính mong quý Thầy, Cô và các bạn độc giả có quan tâm
đến đề tài này đóng góp chân tình để luận án được hoàn chỉnh hơn.

Trang 2


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VÀ CÁC GIAO DỊCH KINH DOANH NGOẠI HỐI
1.1.

THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

1.1.1 Khái niệm
Thương mại và dòch vụ toàn cầu, sự chu chuyển các luồng vốn hoạt động đầu tư quốc tế đòi hỏi
phải sử dụng các loại ngoại tệ mạnh, tự do chuyển đổi trong thanh toán giữa nhà xuất khẩu và nhà
nhập khẩu, giữa doanh nghiệp cung cấp dòch vụ và doanh nghiệp hướng dòch vụ, sự chuyển vốn trong
nội bộ một quốc gia và trên toàn cầu, … Do vậy, một thò trường mới được hình thành nhằm ứng các
yêu cầu thanh toán, đầu tư, chuyển đổi từ ngoại tệ này sang ngoại tệ khác của các chủ thể nêu trên,
người ta thường gọi là thò trường ngoại hối hay thò trường hối đoái (The Foreign Exchange Market –
FOREX) .
Một cách tổng quát, TTNH được đònh nghóa như là bất cứ ở đâu diễn ra việc mua và bán các
đồng tiền khác nhau.
1.1.2. Đặc điểm, chức năng của TTNH
a) Đặc điểm:
- TTNH không nhất thiết phải tập trung tại vò trí đòa lý hữu hình nhất đònh, mà là bất cứ nơi đâu
diễn ra hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau.
- Đây là thò trường toàn cầu, bởi lẽ thời lượng giao dòch 24giờ/24 giờ (trừ những ngày nghỉ) và
hầu như khắp mọi nơi đều diễn ra việc mua bán, chuyển đổi các đồng tiền khác nhau.
- Trung tâm của TTNH là thò trường liên ngân hàng (Interbank). Doanh số giao dòch trên

Interbank chiếm tới 85% tổng doanh số GDNH toàn cầu.
- Các nhóm thành viên tham gia thò trường duy trì quan hệ với nhau liên tục thông qua điện
thoại, mạng vi tính, telex và fax.
- Do thò trường có tính toàn cầu và hoạt động hiệu quả, cho nên các tỷ giá được yết trên các thò
trường khác nhau nhưng hầu như là thống nhất với nhau (có độ chênh lệch không đáng kể).
- Đồng tiền được sử dụng nhiều nhất trong giao dòch là USD, chiếm 41,5% trong tổng số các
đồng tiền tham gia (điều này cũng có nghóa là có tới 83% các giao dòch trên FOREX là có mặt
của USD).
- Đây là thò trường rất nhạy cảm với các sự kiện chính trò, kinh tế, xã hội, tâm lý… nhất là với
các chính sách tiền tệ của các nước phát triển.
- Những TTNH quan trọng nhất ngày nay bao gồm : London, New York, Tokyo, Singapore và
Frankfurt.
b) Chức năng của TTNH
- Chức năng cơ bản của TTNH là kết quả phát triển tự nhiên của một trong các chức năng cơ
bản của NHTM, nhằm dòch vụ cho các khách hàng thực hiện các giao dòch thương mại quốc tế.
- Giúp luân chuyển các khoản đầu tư quốc tế, tín dụng quốc tế, các giao dòch tài chính quốc tế
khác cũng như các giao lưu giữa các quốc gia.
- Thông qua hoạt động của TTNH, mà giá trò đối ngoại của tiền tệ được xác đònh một cách khách
quan theo quy luật cung cầu của thò trường.
- TTNH cung cấp các công cụ bảo hiểm rủi ro tỷ giá cho các khoản thu xuất khẩu, các khoản
thanh toán nhập khẩu, các khoản đầu tư bằng ngoại tệ và các khoản đi vay bằng ngoại tệ thông qua
các hợp đồng như kỳ hạn, hoán đổi ,quyền chọn, và tương lai.
- TTNH là nơi để NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo chiều hướng có lợi cho
nền kinh tế.

Trang 3


1.1.3. Phân loại thò trường ngoại hối :
* Căn cứ vào tính chất giao dòch TTNH và cách tổ chức của thò trường, người ta chia TTNH thành :

1. Thò trường ngoại tệ tiền mặt – Note Maket
2. TTNH giao ngay – Spot Market
3. TTNH kỳ hạn – The Forward Exchange Market
4. Thò trường tiền tệ tương lai – The Currency Future Market
5. Thò trường hoán đổi tiền tệ - The Currency Swaps Market
6. Thò trường quyền chọn tiền tệ – The Currency Options Market
1.2. CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI :
1.2.1. TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ PHƯƠNG PHÁP YẾT GIÁ :
• Tỷ giá hối đoái : Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng của mình. Thương
mại, đầu tư và các quan hệ tài chính quốc tế,… đòi hỏi các quốc gia phải thanh toán với nhau, dẫn đến
việc trao đổi các đồng tiền khác nhau, đồng tiền này đổi lấy đồng tiền kia, hai đồng tiền được trao đổi
với nhau theo một tỷ lệ nhất đònh, tỷ lệ này gọi là tỷ giá hay giá cả của đồng tiền này được biểu thò
thông qua đồng tiền khác. Vậy tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thò thông qua một đồng
tiền khác.
Ví dụ : 1 USD = 1,8125 DEM
Tỷ giá còn được đònh nghóa theo cách nhìn từ thực tế như sau : Tỷ giá là số đơn vò nội tệ trên một đơn
vò ngoại tệ.
Ví du ï: Tỷ giá của USD(1 ĐVNgT) tại Việt Nam được đònh nghóa là số đơn vò VND (ĐVNT) trên
1 USD.
• Phương pháp yết giá :
Đồng tiền yết giá là đồng tiền mà giá trò của nó được biểu hiện thông qua một đồng tiền khác đối ứng
với nó, thông thường là cố đònh và bằng 1 đơn vò. Và đồng tiền đònh giá là đồng tiền được dùng để
biểu hiện giá trò của đồng tiền yết giá. Số đơn vò tiền tệ của đồng tiền đònh giá thay đổi và phụ thuộc
vào quan hệ cung cầu trên thò trường ngoại hối.
Ví dụ : 1USD (đồng tiền yết giá) = 0,7004 bảng Anh (đồng tiền đònh giá)
TGHĐ được biểu hiện bằng hai cách, tùy tập quán giao dòch hối đoái của mỗi nước :
a) Phương pháp yết tỷ giá trực tiếp (Direct Quotation hay Price Quotation)
Giá của hàng hóa (gồm cả hàng hóa đặc biệt là ngoại tệ ) được bộc lộ trực tiếp bằng tiền. Xét theo
giác độ quốc gia :
- Ngoại tệ với vai trò là hàng hóa, là đồng tiền yết giá, có số đơn vò cố đònh(thường bằng 1, hoặc

100, 1000,…)
- Nội tệ với vai trò là tiền tệ, đóng vai trò là đồng tiền đònh giá, có số đơn vò thay đổi phụ thuộc
vào quan hệ cung cầu trên thò trường ngoại hối.
-

Ký hiệu :
E(X/Y)= a ⇔ 1Y = aX
Minhhọa: (VND/USD)=15000⇔1USD=15000VND
E(Y/X)= b ⇔ 1X = bY
Với
E : tỷ giá giữa 2 đồng tiền X và Y

b) Phương pháp yết tỷ giá gián tiếp (Indirect Quotation hay Volume Quotation)
Xét trong giác độ quốc gia, trong phương pháp này :
- Nội tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, có số đơn vò cố đònh và thường là bằng 1.

Trang 4


Ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền đònh giá, có số đơn vò cố đònh và thường thay đổi phụ thuộc
vào quan hệ cung cầu trên thò trường ngoại hối.
Nhưng thực tế, việc yết tỷ giá giữa các loại ngoại tệ trên TTNH thường sử dụng đồng USD làm
đồng tiền yết giá, các ngoại tệ khác đóng vai trò đồng tiền đònh giá. Tuy nhiên, đối với một số ngoại
tệ mạnh như :bảng Anh(GBP), đôla Úc (AUD), đồng bảng Ireland(IEP), đôla New Zealand(NZD),
đồng Euro(EUR) thì đồng USD đóng vai trò là đồng tiền đònh giá.
-

Trong thời gian qua, việc niêm yết tỷ giá áp dụng ở nước ta là phương pháp yết giá trực tiếp,
nghóa là các ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, đồng Việt nam đóng vai trò là đồng tiền đònh
giá, vì vậy ở đây ta quy ước với nhau nếu nói tỉ giá hối đoái tăng tức ngoại tệ lên giá và đồng bản tệ

giảm giá.
Từ cách yết giá trực tiếp chúng ta luôn có thể chuyển sang cách yết giá gián tiếp (và ngược lại)
đơn giản bằng cách làm nghòch đảo.
Thông thường các ngân hàng không tính tiền hoa hồng trên các thương vụ giao dòch tiền tệ
nhưng lại thu lợi giữa giá mua và giá bán. Việc yết giá thường luôn đi từng cặp. Giá đầu tiên là giá
mua, hay giá cược (bid); giá thứ hai là giá bán, hay giá chào (ask). Trên thực tế, giữa các ngân hàng
hay giữa các đại lý, việc yết giá thường được chào không đầy đủ: họ chỉ chào 2 chữ số sau cùng ở
phần thập phân.
Mức chênh lệch tỷ giá : (Spread)
Chênh lệch giữa tỷ giá mua vào (giá đặt) và giá bán ra (giá chào) gọi là spread. Để có được thu
nhập từ hoạt động mua bán ngoại hối, ngân hàng yết tỷ giá sao cho tỷ giá mua vào là thấp hơn tỷ giá
bán ra.


Ví dụ : S(DEM/AUD) = (16410 – 16415)
Có thể tính Spead theo 2 cách :
+ Tính theo điểm tỷ giá (số tuyệt đối)
Spread = tỷ giá bán ra – trừ tỷ giá mua vào
+ Tính theo tỷ lệ % (số tương đối)
Spread =

tỷgiábán − tỷgiámua
x100%
tỷgiámua

Mức chênh lệch phần trăm này thông thường càng nhỏ nếu như đồng tiền được giao dòch mua
bán rộng rãi, với số lượng lớn (0,1-0,5%). Một điểm chúng ta cần ghi nhớ là giá niêm yết trên các
báo tài chính thường chỉ dành cho các giao dòch liên ngân hàng (1 lần giao dòch thường vượt quá 1
triệu USD – mức giao dòch chuẩn hiện nay là 3 triệu USD cho 1 lần giao dòch trên thò trường này).
1.2.2. HÀNG HÓA CỦA TTNH

Hàng hoá được mua – bán và trao đổi trên TT NH chính là ngoại hối. Và nếu căn cứ theo thông tư
số 01/1998/TT-NHNN7 của NHNN về việc hướng dẫn thi hành Nghò đònh số 63/1998/NĐ-CP, ngày
17/08/1998 do Chính phủ ban hành, có thể hiểu ngoại hối bao gồm :
- Các đồng tiền hợp pháp của nước ngoài hiện đang được lưu hành dưới các hình thức tiền giấy,
tiền kim loại;
- Các công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài như: séc, thẻ thanh toán, hối phiếu, chứng chỉ tiền
gửi ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi bưu điện, và các công cụ thanh toán khác;
- Các loại giấy tờ có giá bằng tiền nước ngoài như : trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ
phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;

Trang 5


- Các đồng tiền chung khác dùng trong thanh toán quốc tế và khu vực;
- Đồng tiền đang lưu hành của nước Cộng hòa xã hội chủ nghóa Việt Nam (đồng Việt Nam) trong
trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng làm công cụ thanh
toán quốc tế;
- Vàng tiêu chuẩn quốc tế.
So với các hàng hoá khác, ngoại hối cần phải được mua, bán đúng nơi quy đònh theo đúng các phương
thức giao dòch và tuân thủ theo các quy đònh về quản lý ngoại hối của NHNN theo từng kỳ cụ thể.
1.2.3. NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI
a) Căn cứ vào hình thái tổ chức tham gia TTNH, ta có:
i) Nhóm khách hàng mua bán lẻ (Retail Clients) bao gồm các công ty nội đòa, các công ty đa quốc
gia, những nhà đầu tư quốc tế và tất cả những ai có nhu cầu mua – bán ngoại hối nhằm phục vụ
cho mục đích hoạt động cho chính mình.
ii) Các NHTM (Commercial Banks) họ tiến hành giao dòch ngoại hối nhằm cung cấp dòch vụ cho
khách hàng ( chủ yếu là mua hộ và bán hộ cho nhóm khách hàng mua bán lẻ) và NHTM kinh
doanh cho chính mình, nghóa là mua bán ngoại hối nhằm kiếm lãi khi tỷ giá thay đổi.
iii) Những nhà môi giới ngoại hối (Foreign Exchange Brokers)
iv) Các NHTW (Central Banks) can thiệp ngoại hối và lãi suất thường xuyên bằng cách mua vào hay

bán ra nội tệ trên TTNH nhằm ảnh hưởng lên tỷ giá theo hướng mà NHTW cho là có lợi.
Sơ đồ 1.1 : Biểu diễn mối quan hệ giữa các thành viên tham gia TTNH như sau :

NHTW
Đặt lệnh

Công ty

Đặt lệnh

NHTM

Đấu giá mở

Đặt lệnh
Đặt lệnh

NHTM

Công ty

hai chiều
Đặt lệnh
Giá tay trong

Đặt lệnh
Giá tay trong

Môi giới
b) Căn cứ vào chức năng hoạt động trên thò trường ngoại hối, ta có :

i) Những nhà tạo giá sơ cấp (Primary Price Makers ) còn gọi là những nhà kinh doanh chuyên
nghiệp hay những nhà tạo thò trường trên còn được gọi là nhà bán buôn; tỷ giá giao dòch trên thò
trường sơ cấp còn được gọi là tỷ giá bán buôn. Nhà tạo giá trên thò trường sơ cấp bao gồm: Các
ngân hàng chính , các nhà kinh doanh đầu tư lớn, một số công ty lớn .
ii) Những nhà tạo giá thứ cấp (Secondary Price Makers) còn gọi là những nhà bán lẻ, tỷ giá giao
dòch trên thò trường thứ cấp còn được gọi là tỷ giá bán lẻ và thò trường ngoại hối thứ cấp còn được
gọi là TTNH bán lẻ. Một NHTM có thể đồng thời là nhà tạo giá trên thò trường sơ cấp và là tạo
giá trên thò trường thứ cấp.
iii) Những nhà chấp nhận giá (Price Takers ) nhóm thành viên thứ ba tham gia TTNH là nhà chấp
nhận giá – họ chấp nhận giá của những thành viên tạo giá trên thò trường thứ cấp.

Trang 6


iv) Những nhà cung cấp dòch vụ tư vấn (Advisory Services) : những nhà tạo thò trường có thể giao
dòch với nhau bằng 2 phương pháp: hoặc là họ tiến hành giao dòch trực tiếp với nhau qua điện
thoại, telex, qua hệ thống nối mạng điện tử; hoặc là họ giao dòch thông qua nhà môi giới ngoại
hối .
v)
Những nhà đầu cơ (Speculators) .
1.3. CÁC GIAO DỊCH KINH DOANH NGOẠI HỐI VÀ ỨNG DỤNG CỦA NÓ
1.3.1. GIAO DỊCH NGOẠI HỐI GIAO NGAY (SPOT TRANSACTION)
Giao dòch ngoại hối giao ngay là giao dòch trong đó việc thực hiện mua – bán một số lượng
tiền tệ giữa hai bên theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dòch và kết thúc thanh toán trong vòng 2
ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày cam kết mua bán.
a) Tỷ giá giao ngay
Tỷ giá giao ngay là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm nay, nhưng việc thực hiện thanh toán
xảy ra vào ngày làm việc thứ hai sau ngày ký kết hợp đồng. Tỷ giá giao ngay hoàn toàn do quan hệ
cung cầu quyết đònh, nghóa là ngay cả sự can thiệp của NHTW (trong cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi có
quản lý) để giữ vững tỷ giá của đồng tiền trong nước so với đồng ngoại tệ cũng phải được thực hiện

bằng cách tác động trực tiếp đến cung cầu về ngoại tệ có liên quan.
Tỷ giá giao dòch giữa các ngân hàng được hình thành trên TTTTLNH gọi là tỷ giá bán buôn.
Tỷ giá của ngân hàng áp dụng cho các khách hàng của mình gọi là tỷ giá bán lẻ.
Chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán (Spread) của tỷ giá bán lẻ phụ thuộc vào số lượng
trong các giao dòch, nên rộng hơn Spread của tỷ giá bán buôn, nghóa là ngân hàng mua của khách
hàng rẻ hơn và bán ra đắt hơn so với giao dòch trên TTTTLNH.
b) TTNH giao ngay là thò trường phi tổ chức (không giao dòch trên sở giao dòch) bao gồm các NHTM
lớn và những môi giới ngoại hối, họ liên hệ với nhau qua điện thoại, telex, vi tính và hệ thống SWIFT
(Society for Worldwide Interbank Finance Telecommunications). Các ngân hàng và môi giới có mối
liên hệ khắng khích, hoạt động của họ ở một số trung tâm tài chính lớn hầu như là 24 giờ/ngày. Thật
vậy, tại các trung tâm giao dòch chính như New York, London, Tokyo và Toronto, … Các ngân hàng
lớn luôn duy trì 24 giờ hoạt động liên lạc nhằm nắm được mọi diễn biến của TTNH toàn cầu trong
suốt thời gian mà các trung tâm khác hoạt động bình thường.
Do tốc độ thông tin ngày nay rất nhanh, cho nên mọi sự kiện quan trọng diễn ra trên thế giới
có ảnh hưởng trực tiếp và ngay lập tức đến TTNH toàn cầu cho dù các nhà kinh doanh ở rất xa nhau.
Điều này đã làm cho hoạt động của TTNH trở nên hiệu quả, giống như toàn bộ các nhà kinh doanh
hoạt động dưới một mái nhà chung. Tính hiệu quả của thò trường giao ngay được thể hiện ở chổ :
- Chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán là rất hẹp, thường là < 0,1% (trong khi đó Spread
trong giao dòch ngoại tệ tiền mặt là 5% đến 6%)
- Do tốc độ truyền tin nhanh chóng, cho nên những thay đổi của thò trường đã ảnh hưởng tức
thời lên tỷ giá, hay khác TGHĐ trên thò trường luôn biến động để phản ánh những điều kiện
thay đổi của thò trường.
- Đây là thò trường có tính thanh khoản rất cao. Tại bất cứ thời điểm nào mọi nhu cầu hầu như
đều được đáp ứng đầy đủ

Trang 7


1.3.2. GIAO DỊCH NGOẠI HỐI KỲ HẠN (FORWARD TRANSACTIONS)
Giao dòch ngoại hối kỳ hạn là giao dòch trong đó hai bên cam kết sẽ mua bán với nhau một số

lượng ngoại tệ theo tỷ giá đã được xác đònh và việc thanh toán được thực hiện vào một ngày xác đònh
trong tương lai. Căn cứ vào trước ngày giá trò giao ngay, ta có thể đònh nghóa “những giao dòch ngoại
hối có giá trò xa hơn ngày giá trò giao ngay gọi là giao dòch ngoại hối kỳ hạn”.
a) Tỷ giá kỳ hạn : là tỷ giá được thỏa thuận ngay từ ngày hôm nay để làm cơ sở cho việc trao đổi tiền
tệ tại một ngày xác đònh xa hơn ngày giá trò giao ngay.
Nếu gọi

S: là tỷ giá giao ngay
F : là tỷ giá kỳ hạn
P : là điểm kỳ hạn, ta có:

F = S +P (a)

hay

P = F –S (b)

Như vậy, tỷ giá kỳ hạn bao gồm hai thành phần : tỷ giá giao ngay và điểm kỳ hạn.
Do vậy, điểm kỳ hạn là chênh lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay. Từ đó ta có thể nói
rằng hợp đồng kỳ hạn được xem như một công cụ để mua hoặc để bán 1 số lượng ngoại tệ nhất đònh,
với 1 tỷ giá nhất đònh, tại một thời điểm xác đònh trong tương lai.
b) Phương pháp xác đònh tỷ giá kỳ hạn:
Ta ký hiệu :
PV = giá trò hiện tại (Present Value)
FV = giá trò kỳ hạn (Forward Value)
PVT = giá trò hiện tại của đồng tiền đònh giá (Present Value of Terms Currency)
PVC = giá trò hiện tại của đồng tiền yết giá (Present Value of Commodity Currency)
PVT = giá trò hiện tại của đồng tiền đònh giá (Present Value of Terms Currency)
FVC = giá trò kỳ hạn của đồng tiền yết giá (Forward Value of Commodity Curency)
R = mức lãi suất ; RT = mức lãi suất của đồng tiền đònh giá

RC = mức lãi suất của đồng tiền yết giá
t
= thời hạn tính theo ngày
dpy = cơ sở tính lãi suất (days per year) – số ngày trong một năm.
dpyT = cơ sở lãi suất của đồng tiền đònh giá
dpyC = cơ sở tính lãi suất của đồng tiền yết giá
Giả sử tỷ lệ trao đổi giao ngay giữa đồng tiền đònh giá và đồng tiền yết giá là PVC = PVT
Ta đònh nghóa: Tỷ giá giao ngay là tỷ số giữa giá trò hiện tại của đồng tiền đònh giá chia cho giá trò
hiện tại của đồng tiền yết giá. Và, tỷ giá kỳ hạn là tỷ số giữa giá trò kỳ hạn đònh giá chia cho giá trò kỳ
hạn của đồng tiền yết giá.
Theo đó ta có công thức :
S=

PVT
(1)
PVC )

F=

FVT
(2) trong đó: FV= PV ( 1 + R.t/dpy)
FVC )

Trang 8


t
)
dpy t
F=S.

t
(1+ R C x
)
dpy c
(1 + R T x

Nên

:

(3)

(3) là công thức tổng quát xác đònh tỷ giá kỳ hạn.
b1) Tính tỷ giá kỳ hạn mua vào FB (Forward Bid Rate)

Từ (3) ta có : FB = SB + SB *
B

B

( RTB − Rco ) x

B

(1 + Rco x

t
dpy

(3.1)


t
)
dpy

(3.1) là công thức tính tỷ giá Bid giao ngay, trong đó :
FB: là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua kỳ hạn đồng tiền yết giá.
RTB: lãi suất Bid của đồng tiền đònh giá.
Rco : lãi suất offer của đồng tiền yết giá
SB : tỷ giá Bid giao ngay
B

B

*Các bước tiến hành : Ngân hàng mua đồng tiền yết giá kỳ hạn làm phát sinh trạng thái ngoại hối
trường đối với đồng tiền yết giá và đoản đối với đồng tiền đònh giá. Nhà quản trò ngân hàng phải làm
triệt tiêu các trạng thái ngoại hối này để phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng cách mua ngay ngày ký hợp
đồng kỳ hạn và bàn giao ngay đồng tiền yết và nhận ngay đồng tiền đònh giá theo tỷ giá của thò
trường. Việc sử dụng thò trường ngoại hối giao ngay này làm triệt tiêu được các trạng thái ngoại hối
ròng, song lại làm phát sinh trạng thái luồng tiền ròng đối với đồng tiền đònh giá. Điều này nghóa là
ngân hàng phải đối mặt với rủi ro lãi suất. Để tránh được rủi ro lãi suất, ngân hàng phải làm cho trạng
thái các luồng tiền cân bằng thông qua các giao dòch trên thò trường tiền tệ là:
i)
ii)
iii)
iv)
v)
vi)
vii)


Đi vay đồng tiền yết giá.
Bán đồng tiền yết giá – giao ngay
Cho vay đồng tiền đònh giá
Ký mua đồng tiền yết giá – kỳ hạn
Sau đó nhận giá và lãi đồng tiền đònh giá
Thanh toán hợp đồng kỳ hạn
Trả gốc và lãi đồng tiền yết giá

b2) Tính tỷ giá kỳ hạn bán ra F0 (Forward Offer Rate)

Cũng từ (3) ta có: F0 = S0 + S 0

(R TO - R CB )x

t
dpy

t
(1 + R CB x
)
dpy

(3.2)

Trong đó :
F0 : là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng báo kỳ hạn đồng tiền yết gía.
S0 : tỷ giá Offer giao ngay

Trang 9



RTO : lãi suất Offer của đồng tiền yết giá
RCB : lãi suất Bid của đồng tiền đònh giá
*Các bước tiến hành giao dòch trên thò trường tiền tệ để tính giá bán kỳ hạn nhằm phòng ngừa rủi ro
ngoại hối, rủi ro lãi suất; ngân hàng cũng thực hiện như tính giá kỳ hạn mua vào (gồm 7 bước), nhưng
lúc này:
i) Đi vay đồng tiền đònh giá
ii) Bán đồng tiền dònh giá – giao ngay
iii) Cho vay đồng tiền yết giá.
iv) Ký bán kỳ hạn đồng tiền yết giá
v) Thu lãi gốc đồng tiền yết giá
vi) Thanh toán hợp đồng kỳ hạn đồng tiền đònh giá
vii) Trả gốc và lãi đồng tiền đònh giá
c) Điểm kỳ hạn (FORWARD POINTS)
Từ công thức P = F – S ⇒

i)

t
dpy
P=S
t
(1 + R C x
)
dpy
( R T − R C )x

Điểm kỳ hạn gia tăng : trường hợp P > 0 ( khi Rt > Rc) lúc này tỷ giá kỳ hạn sẽ lớn hơn tỷ giá
giao ngay, nghóa là đồng tiền đònh giá sẽ giảm giá kỳ hạn và đồng tiền yết giá sẽ lên giá kỳ
hạn. Như vậy, chỉ cần căn cứ vào mức lãi suất của hai đồng tiền, chúng ta biết được đồng tiền

yết giá sẽ lên giá kỳ hạn. Như vậy, chỉ cần căn cứ vào mức suất của hai đồng tiền, chúng ta
biết được được rằng đồng tiền có lãi suất cao sẽ giảm giá kỳ hạn và đồng tiền có lãi suất thấp
sẽ lên giá kỳ hạn.
ii) Điểm kỳ hạn khấu trừ: trường hợp P< 0 (khi Rt < Rc) điểm kỳ hạn lúc này là 1 số âm và được
trừ khỏi tỷ giá giao ngay, trong trường hợp này, TGKH nhỏ hơn TGGN, nghóa là đồng tiền
đònh giá sẽ lên giá kỳ hạn và đồng tiền yết giá sẽ giảm giá kỳ hạn. Như vậy, đồng tiền có lãi
suất thấp lên giá kỳ hạn và đồng tiền có lãi suất cao sẽ giảm giá kỳ hạn.

d) Cách niêm yết tỷ giá kỳ hạn: Có 2 phương pháp:
1) Niêm yết tỷ giá kỳ hạn theo kiểu Outright : là tỷ giá hối đoái có kỳ hạn không tính trên cơ
sở của tỷ giá giao ngay, mà sử dụng tỷ giá kỳ hạn trực tiếp, ta không cần phải tính toán gì thêm. Ví dụ
: tỷ giá kỳ hạn 6 tháng FF/USD : 5,4110-90
2) Niêm yết tỷ giá kỳ hạn theo kiểu SWAP : là cách niêm yết tỷ giá theo điểm kỳ hạn.
Nghóa là theo công thức (a) : F = S + P ta phải cộng điểm kỳ hạn (P) thêm vào tỷ giá giao
ngay (nếu là điểm kỳ hạn gia tăng) hoặc phải trừ điểm kỳ hạn khỏi tỷ giá giao ngay (nếu là điểm kỳ
hạn khấu trừ)

Trang 10


Bảng 1.1 : Minh họa về niêm yết tỷ giá kỳ hạn (CAD/USD)

Kỳ hạn
Giao ngay
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng

Niêm yết tỷ giá kỳ hạn theo kiểu

Swap (trên Interbank)
Tỷ giá
Spread
1,3000 – 05
0,0005
42 – 44
0,0002
85 – 88
0,0003
44 – 42
-0,0002
88 – 85
-0,0003

Niêm yết giá tỷ kỳ hạn theo kiểu
Outright (trên thò trường bán lẻ)
Tỷ giá
Spread
1,3000 – 05
0,0005
1,3042 – 49
0,0007
1,3085 – 93
0,0008
1,2956 – 63
0,0007
1,2912- 20
0,0008

Từ bảng trên cho thấy :

1. Điểm kỳ hạn 3 tháng của tỷ giá mua vào là 42 điểm, nhỏ hơn điểm kỳ hạn của tỷ giá bán ra
là 44 điểm, do đó điểm kỳ hạn được cộng vào tỷ giá giao ngay. Đối với kỳ hạn 6 tháng, điểm
kỳ hạn cũng được cộng vào tương tự.
2. Chênh lệch giữa tỷ giá bán kỳ hạn 3 tháng và mua kỳ hạn 3 tháng là 0,0007. Kết quả này
được tính theo hai cách:
a) Forward points
= Forward offer rate – Forward bid rate =1,3049 – 1,3042 = 0,007
b) Forward points
= Spot spread + Forward points spread
= ( 1,3005 – 1,3000) + (0,0044 – 0,0042)= 0,0005 + 0,0002 = 0,0007
3. Điểm kỳ hạn 9 tháng của tỷ giá mua vào là 44 điểm lớn hơn điểm kỳ hạn của tỷ giá bán ra là
42 điểm, do đó điểm kỳ hạn được trừ khỏi tỷ giá giao ngay. Đối với kỳ hạn 12 tháng, điểm kỳ
hạn cũng được trư økhỏi tỷ giá giao ngay
4. Quy tắc để biết được khi nào thì cộng điểm kỳ hạn vào tỷ giá giao ngay và khi nào thì trừ
điểm kỳ hạn khỏi tỷ giá giao ngay như sau:
- Nếu điểm kỳ hạn Bid nhỏ hơn điểm kỳ hạn Offer, thì cộng điểm kỳ hạn vào tỷ giá
giao ngay.
-

Nếu điểm kỳ hạn Bid lớn hơn điểm kỳ hạn Offer, thì trừ điểm kỳ hạn khỏi tỷ giá giao
ngay.

Quy tắc này thật đơn giản nhưng đôi khi dễ nhầm lẫn. Để có thể nhớ được tốt hơn ta cần liên hệ với
bản chất là đồng tiền nào có lãi suất thấp hơn sẽ có giá trò kỳ hạn lớn hơn là giá trò giao ngay của nó.
e) Tỷ giá chéo kỳ hạn:
Hiểu theo nghóa rộng: Nếu 2 dồng tiền đều được yết giá (hoặc đònh giá, kỳ hạn thông qua 1
đồng tiền chung, thì tỷ giá kỳ hạn giữa chúng được suy ra từ tỷ giá kỳ hạn với đồng tiền chung gọi
là tỷ giá chéo kỳ hạn. Chẳng hạn ta có F(DEM/GBP) và (FRF/DEM) .DEM: đồng tiền chung thì tỷ
giá kỳ hạn suy ra từ 2 tỷ giá trên là F(FRF/GBP) hay F(GBP/FRF) được gọi là tỷ giá chéo kỳ hạn.
Nếu hiểu theo nghóa hẹp: do vai trò của đồng USD trên TTNH thường là đồng tiền yết giá

trong các giao dòch, tức là đóng vai trò đồng tiền chung, chúng ta có thể đònh nghóa: Tỷ giá chéo kỳ
hạn giữa 2 đồng tiền là tỷ giá kỳ hạn giữa 2 đồng tiền, trong đó không có đồng tiền nào là USD.
Trong thực tế, khảo sát ví dụ sau :
Tiêu chí
Tỷ giá giao ngay
Điểm kỳ hạn 1 tháng
Tỷ giá kỳ hạn 1 tháng

USD/GBP
1,8020 –30
15 – 13
1,8005 – 1,8017

DEM/USD
1,7610 –25
14 –12
1,7596– 1,7613

CAD/USD
1,2070 –75
20 –22
1,2090 – 1,2097

Trang 11


Điểm kỳ hạn 3 tháng
Tỷ giá kỳ hạn 3 tháng
Đồng tiền yết giá (đồng tiền
chào mua và chào bán)


50 – 45
1,7970 – 1,7985
GBP

45 – 40
1,7565– 1,7585
USD

56 – 59
1,2126 –1,2134
USD

⇒ Lúc này, Tỷ giá mua GBP thanh toán bằng USD, kỳ hạn 1 tháng ( =1,8020) = tỷ gía giao ngay
(S(USD/GBP)=1,8020 ) trừ đi điểm khấu trừ kỳ hạn là 15 điểm.
Tỷ giá bán CAD sẽ là giá mua USD, kỳ hạn 1 tháng (1,2090) = tỷ giá giao ngay
(S(CAD/USD) = 1,2070) cộng thêm điểm gia tăng là 20 điểm
*Tỷ giá chéo S(CAD/GBP) và F(CAD/GBP) kỳ hạn 1 tháng là:
S(CAD/GBP) Bid = S(USD/GBP) Bid x S(CAD/USD) Bid = 1,8020 x 1,2070 = 2,1750
F(CAD/GBP)bid = F(USD/GBP) bid x F(AD/USD) bid = 1,8005 x 1,2090 = 2,1768
*Điểm kỳ hạn gia tăng của tỷ giá Bid (PB) :
PB = FB- SB = 2,1768 – 2,1750 = + 18 điểm/tháng
Tương tự :
S(CAD/GBP)Pffer = S(USD/GBP)Offer x S(CAD/USD)Offer = 1,8017 x 1,2075 = 2,1771
F(CAD/GBP)Offer = F(USD/GBP)Offer x F(CAD/USD) Offer=1,8017 x 1,2097 = 2,1795
B

B

B


B

*Điểm kỳ hạn gia tăng của tỷ giá Offer (P0) :
P0 = F0 – S0 = 2, 1795 – 2,1771 = + 24 điểm/tháng
Chúng ta thấy rằng: P0 / PB là 6 điểm, có nghóa là Spread trong GDKH là lớn hơn trong
GDGN. Điều này có thể được giải thích với các lý do sau: 1/ chi phí trong giao dòch kinh doanh kỳ
hạn cao hơn trong kinh doanh giao ngay; và 2/kỳ hạn trong giao dòch kỳ hạn dài hơn giao dòch giao
ngay nên rủi ro cao hơn.
*Kết quả tính toán cho thấy giá trò của GBP so với CAD kỳ hạn 1 tháng là lớn hơn so với giá trò giao
ngay, hay nói cách khác GBP lên giá so với CAD kỳ hạn 1 tháng (tức CAD giảm giá so với GBP kỳ
hạn 1 tháng). Kết quả này nói lên rằng mức lãi suất kỳ hạn 1 tháng của GBP là thấp hơn mức lãi suất
kỳ hạn 1 tháng của CAD.
Tóm lại, giao dòch kỳ hạn rất hiệu quả trong việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá đối với công ty tham gia
xuất khẩu nhập khẩu, vay nợ nước ngoài hay thực hiện đầu tư quốc tế. Đối với NHTM nghiệp vụ kỳ
hạn được sử dụng để cân bằng trạng thái ngoại hối mỗi khi có một giao dòch phát sinh.
1.3.3. GIAO DỊCH HOÁN ĐỔI NGOẠI HỐI - SWAPS TRANSACTIONS
a) Khái niệm : Giao dòch hoán đổi ngoại hối (gọi tắt là giao dòch hoán đổi) là việc đồng thời mua vào
và bán ra một đồng tiền nhất đònh, trong đó ngày giá trò mua vào và ngày giá trò bán ra là khác nhau.
Có hai loại giao dòch hoán đổi :
i) Hoán đổi giao ngay – kỳ hạn : (Spot – Forward Swaps): gồm 1 giao dòch giao ngay và 1 giao
dòch kỳ hạn

Mua(Bán)USD

Bán (mua) USD
kỳ hạn

giao ngay
ii)


t0 – Forward Swap) : bao gồm 2 giao dòch
t1 đều là giao dòch
Hoán đổi kỳ hạn – kỳ hạn (Forward
kỳ hạn được ký kết hợp đồng thời tại ngày hôm nay, nhưng có ngày giá trò khác nhau (giao
dòch này ít được sử dụng)
Ngày ký hợp

Mua(Bán)

đồng

USD kỳ

t0

t1

B

B

hạn

Bán (Mua) USD
kỳ hạn

t2
B


Trang 12


Giao dòch hoán đổi phổ biến trên thò trường ngoại hối là loại giao dòch bao gồm đồng thời một
giao dòch giao ngay và một giao dòch kỳ hạn. Do có sự liên quan chặt chẽ với nhau, nên người ta
thường liệt kê giao dòch hoán đổi thuộc loại giao dòch kỳ hạn. Trong đó giao dòch kỳ hạn bao gồm
giao dòch kỳ hạn 1 chiều (mua đứt, bán đứt) Outright Forwards và giao dòch hoán đổi – SWAPS
b) Đặc điểm của hợp đồng hoán đổi :
i)

Hợp đồng mua vào và bán ra một đồng tiền nhất đònh được ký kết đồng thời tại ngày hôm qua,
giống như trên TTGN và giao kỳ hạn, nếu không có thỏa thuận nào khác, thì khi nói mua 1 đồng
tiền có nghóa là NHYG mua vào ĐTYG và bán một đồng tiền có nghóa là NHYG bán ra ĐTYG.

ii)

Số lượng mua vào và bán ra đồng tiền này (ĐTYG) là bằng nhau trong cả hai vế (vế mua và vế
bán) của hợp đồng hoán đổi.
Ngày giá trò của hợp đồng vào và ngày giá trò của hợp đồng bán ra là khác nhau.

c) Tỷ giá hoán đổi (SWAP RATES)
Tỷ giá hoán đổi phản ánh điểm kỳ hạn (Forward Points) hay điểm hoán đổi (Swap Points) tại
đó NHYG sẵn sàng hoán đổi 2 đồng tiền nhất đònh thông qua giao dòch giao ngay và GDKH. Xét về
bản chất SWAP RATES = SWAP POINTS – FORWARD POINTS. Nghóa là : Tỷ giá hoán đổi không
phải là tỷ giá đích thực mà chỉ đơn thuần là chệnh lệch giữa tỷ giá kỳ hạn vả tỷ giá giao ngay, chính
là điểm kỳ hạn.
i) Tỷ giá hoán đổi mua : là phần chênh lệch mà ngân hàng chào giá sẵn sàng mua kỳ hạn ĐTYG
ii) Tỷ giá hoán đổi bán : là phần chênh lệch mà ngân hàng chàogiá sẵn sàng bán kỳ hạn ĐTYG trong
giao dòch SWAP
Ngân hàng chào giá sẽ yết tỷ giá SWAP mua và bán sao cho ngân hàng được lợi nhiều và trả

chi phí ít. Ngân hàng sẽ mua ĐTYG với điểm kỳ hạn âm nhiều hơn bán ĐTYG với điểm kỳ hạn âm
thấp hơn . Khi yết giá mua và bán, không cần thiết chỉ ra dấu của tỷ lệ SWAP để xác đònh tỷ lệ
SWAP là âm hay dương. Nếu tỷ lệ SWAP mua lớn hơn tỷ lệ SWAP bán, ĐTYG sẽ có điểm kỳ hạ âm.
Ngược lại, nếu tỷ lệ SWAP mua thấp hơn tỷ lệ SWAP bán, ĐTYG có điểm kỳ hạn dương.
SWAP là công cụ hữu hiệu để tạo ra trạng thái vốn của hai đồng tiền mà không tạo ra trạng thái
ngoại hối, việc áp dụng SWAP nhằm :
- Kéo dài trạng thái ngoại hối : Swap có thể được sử dụng để rút ngắn ngày giá trò của một
trạng thái ngoại hối. Cũng như khi kéo dài thời hạn. Swap có thể thực hiện trên cơ sở tỷ giá hiện tại
hoặc tỷ giá giao ngay ban đầu. Cũng như với việc đảo trạng thái ngoại hối bằng tỷ giá giao ngay ban
đầu, việc xác đònh tỷ giá của giao dòch Swap để rút ngắn thời hạn cần phải tính đến chi phí đi vay và
lãi vốn đầu tư của giao dòch kỳ hạn.
- Bảo hiểm khoản vay ngoại tệ
- Và đầu tư ngoại tệ
d) Quản trò rủi ro hối đoái trong hoạt động hoán đổi
Các nhà quản lý của một tập đoàn tài chính có thể dùng các loại hình hoán đổi đổi để dàn
xếp giải quyết những phức tạp, đưa ra những sáng kiến tài chính nhằm làm giảm chi phí vay mượn và
tăng cường quản lý rủi ro dol ãi suất và sự nguy hiểm củangoại tệ. Do tính bất quy tắc và sự hợp
nhất của thò trường vốn trong nước và lãi suất cực đoan, sự mất giá tiền tệ, thò trường hoán đổi

Trang 13


(swaps) được phát hiện tương đối gần đây và tăng trưởng nhanh chóng, với mức trao đổi vào đầu năm
1991 vượt hơn 2 tỷ đôla. Trên thực tế, một vài trái khoán châu u được phát hành rẻ hơn mà không
cần bất cứ swaps nào cho người vay vốn hoặc tìm ra những nguồn vốn hấp dẫn hơn.
Để hoán đổi mang lại lợi nhuận kinh tế thật sự cho cả hai bên, cần phải có một hàng rào để
ngăn ngừa hoạt động kinh doanh chênh lệch tỉ giá hoàn toàn. Sự cản trở này nên có hình thức như các
hạn chế về luật đối với giao dòch ngoại hối spot và forward, sự khác biệt trong nhận thức của các nhà
đầu tư về rủi ro tín dụng tương ứng của hai bên, sức lôi cuốn hoặc khả năng chấp nhận của một người
vay đới với một số tầng lớp nhà đầu tư, sự chênh lệch thuế, vân vân và vân vân.

Các hoán đổi cũng cho phép các công ty giảm chi phí quản lý rủi ro ngoại hối. Một tập đoàn
Mỹ, chẳng hạn, có thể muốn bảo hiểm vốn có lãi suất cố đònh bằng đồng mác Đức để giảm sự rủi ro
do đồng DM có thể gây ra, nhưng có điều nó bò cản trở do đây là loại tín dụng tương đối được ít biết
đến trên thò trường tài chính Đức. Ngược lại, một công ty Đức rất thành công trên thò trường nước
mình muốn tài trợ bằng đồng đô la lãi suất thả nổi, nhưng nó lại tương đối ít được biết đến trên thò
trường tài chính Mỹ.
Trong trường hợp tương tự, một ngân hàng trung gian quen thuộc với các nhu cầu cung cấp
vốn và có “thuận lợi so sánh” trong việc vay mượn của cả hai bên có thể dàn xếp một vụ hoán đổi
tiền tệ. Một công ty Mỹ vay đô la thả nổi, và một công ty Đức vay DM giá cố đònh. Hai công ty này
sau đó có thể hoán đổi cho nhau cả thanh toán vốn gốc và lời. Khi vụ hoán đổi đến kỳ hạn, ví dụ năm
năm, số tiền gốc được hoàn trả về cho người giữ tiền lúc đầu. Cả hai phía đều tiết kiệm được chi phí
bởi họ mượn trước hết trên thò trường nơi họ có những thuận lợi so sánh và sau đó hoán đổi cho nhau
lấy trách nhiệm thanh toán mà họ muốn.
Quả vậy, các hoán đổi cho phép các bên giao dòch cam kết dưới một số hình thức thuế, hệ
thống sửa đổi, hoặc kinh doanh chênh lệch tỉ giá trên thò trường tài chính. Nếu thò trường vốn thế giới
hoàn toàn hòa nhập, các hoán đổi sẽ ít được khuyến khích hơn vì có ít cơ hội kinh doanh chênh lệch tỉ
giá hơn.
1.3.4. GIAO DỊCH TIỀN TỆ TƯƠNG LAI (FUTURES TRANSACTIONS)
a) Khái niệm
Thò trường tiền tệ quốc tế (IMM) được hình thành như là một chi nhánh của CME
(Chicago Mercantile Exchange) vào năm 1972 để giao dòch future vế ngoại tệ. Hiện nay, giao dòch
Future về tiền tệ trên thò trường IMM bao gồm: Bảng Anh, Đollar Canada, Yen Nhật, France Th Só,
Mark Đức, và Đollar Úc. IMM là nơi giao dòch của nhà đầu cơ tiền tệ cũng như những ai muốn giảm
rủi ro tiền tệ của mình.
Hợp đồng giao sau (Future contracts) : là một thỏa thuận để mua hoặc bán một tài sản
vào một thời điểm chắc chắn trong tương lai với một mức giá nhất đònh hay còn gọi là giao dòch tương
lai, giao dòch này thực hiện trên tiền tệ trong tương lai, được ấn đònh vào thời điểm ký hợp đồng , và
ngày giao nhận được ấn đònh bởi hội đồng quản trò của thò trường (như CME, IMM, …) Các hợp đồng
này tiêu biểu cho bước đầu tiên trong quá trình phát riển của công cụ tài chính future, được đònh hình
sau những dạng hợp đồng tương lai tương tự của ngũ cốc và hàng hoá, vốn đã được giao dòch trên

TTHĐ ở Chicago hơn 100 năm qua.
b)

Các hợp đồng tương lai về ngoại tệ và kích cở của hợp đồng :

Các hợp đồng kỳ hạn được giới thiệu và giao dòch trước các hợp đồng tương lai hàng thế kỷ,
nhưng các hợp đồng kỳ hạn vẫn là phương thức giao dòch cơ bản và phổ biến, đặc biệt là trong lónh
vực ngoại hối. Tuy nhiên, cả hợp đồng kỳ hạn và tương lai đều được thỏa thuận giá trước và giao
nhận hàng (tiền), thanh toán sau. Những chi tiết về hàng hóa (tiền) trong giao dòch đã được quy đònh
cụ thể. Do các hợp đồng tương lai được thỏa thuận thông qua sở giao dòch và điều quan trọng hơn cả

Trang 14


là các bên có thể chấm dứt hợp đồng tại bất cứ thời điểm nào thông qua sở giao dòch, nên ta có thể
lưu ý rằng : hợp đồng tương lai là tương tự hợp đồng kỳ hạn nhưng được giao dòch trên cơ sở giao dòch.
Các hợp đồng giao dòch tiền tệ tương lai là những hợp đồng được tiêu chuẩn hóa, và được thực
hiện trên sàn giao dòch của Sở giao dòch tiền tệ tương lai – Future Exchange (SGD). Các công ty, cá
nhân và cả các ngân hàng tạo thò trường gửi các lệnh đặt mua hay đặt bán một số lượng cố đònh ngoại
hối cho các nhà môi giới hay các thành viên của sở giao dòch. Trên sở giao dòch các lệnh đặt mua, hay
còn gọi là các trạng thái trường (long positions) được đối chiếu với các lệnh bán, hay còn gọi là trạng
thái đoản (short positions). Một công ty thanh toán bù trừ (Clearing Corporation) của sở giao dòch bảo
đảm cho cả hai bên mua và bán rằng lệnh bán sau khi đã được đối chiếu và khớp với nhau sẽ chắc
chắn được thực hiện. Cung, cầu về các hoạt động tương lai được thể hiện thông qua việc các đối tác
sẵn sàng mua hay bán các hợp đồng, điều này làm cho giá cả hợp đồng biến động theo giá của các
lệnh đặt mua hay bán, mặt khác giá cả biến động làm cho các hợp đồng mua và bán khớp được với
nhau. Trong những tình huống đặc biệt (xảy ra rối loạn) các lệnh đặt mua và đặt bán có khoảng cách
xa nhau về giá cả, các giao dòch trên thò trường tạm thời không xảy ra, trường hợp này gọi là “hố
ngầm trên sở giao dòch” (Trading pit)
Để một thò trường trở thành thò trường của các hợp đồng tương lai, thì điều cần thiết là chỉ tồn

tại một số ít ngày giá trò nhất đònh tại sở giao dòch CME, chỉ có 4 ngày giá trò, đó là: vào thứ Tư của
tuần thứ Ba trong các tháng: Ba, Sáu, Chín và Mười hai. Sau khi đã mua hay đã bán thì các hợp đồng
tương lai ít khi được duy trì cho đến ngày đáo hạn. Những hợp đồng được duy trì đến ngày đáo hạn sẽ
được thanh toán giống như các giao dòch kỳ hạn, tức là sau 2 ngày làm việc kể từ khi hợp đồng đáo
han. Nhằm tạo ra các điều kiện đồng nhất giữa các hợp đồng, thì đối với mỗi ngoại tệ, các hợp đồng
tương lai có một số lượng nhất đònh, gọi là cở hợp đồng.
Bảng 1.2

HP ĐỒNG GIAO SAU VỀ TIỀN TỆ :

Tên hợp đồng
Australian dollar
Bristish Pound
Canadian Dollar
Deutsch Mark
Frech Franc
Janpannese Yen
Swiss France
ECU
-

Số lượng 1 hợp
đồng
AUD 100.000
GBP 62.500
CAD 100.000
DEM 125.000
FRF 500.000

PHÍ BIÊN TẾ YÊU CẦU

Ban đầu($ ) Duy trì ($)
1.200
900
2000
1500
700
500
1,400
1,000
700
500

Mức thay đổi tối
thiểu về giá
0,0001 (1 điểm)
0,0002 (2 điểm)
0,0001 (1điểm)
0,0001 (1 điểm)
0,0005(0.5điểm)

Trò giá của 1
điểm ($)
10,00
6,25
10,00
12,50
2,50

JPY 12.500.000
1,700

1,300
0,0001 (điểm)
12,50
CHF 125.000
1,700
1,300
0,0001 (1 điểm)
1250
ECU 125.000
1,700
1,300
0,0001 (1điểm)
12,50
Nguồn: Contract specifications and minimum margin Requirements, CME, 1989

Tháng giao dòch
: 1, 3, 4, 6, 7, 9, 10, 12 và tháng giao ngay
Giờ giao dòch : 7h20 sáng – 2g00 chiều.
Ngày giao dòch cuối cùng : ngày thứ Tư của tuần thứ Ba của tháng giao nhận

Các hợp đồng Future về tiền tệ hiện đang được giao dòch với các đồng bảng Anh, đôla
Cana, Mác Đức, Fanc Thụy Só, Franc Pháp, Yên Nhật, đôla Úc và đồng Ecu của châu u. Các hợp
đồng giao dòch bằng guilder Halan và pêsoMêxicô thì đã huỷ bỏ. Tư nhân được khuyến khích tham
gia thò trường này.
Kích cỡ hợp đồng được tiêu chuẩn hóa cho từng đồng ngoại tệ riêng. Bảng trên trình bày các
chỉ tiêu của hợp đồng. Đòn cân tài chính (leverage) ở mức cao, yêu cầu về lãi biên tế trung bình dưới

Trang 15



4% trò giá hợp đồng future. Cân bằng đòn bẩy bảo đảm rằng tài sản của nhà đầu tư sẽ có những dao
động nhỏ trong hối suất.
c)

So sánh giữa thò trường Kỳ hạn và thò trường Tương lai :

Tiêu chí
Đòa điểm giao dòch

Giá trò một hợp đồng

Các đồng tiền giao dòch
Điều khoản biến động
giá (tỷ giá) hàng ngày
Những ngày đến hạn

Thời hạn tối đa
Rủi ro tín dụng

Luồng tiền

Các thành viên đủ tư
cách

Các thò trường kỳ hạn
Phi tập trung, có mạng lưới toàn cầu,
các thành viên giao dòch với nhau
bằng điện thoại, telex, hay hệ thống
giao dòch điện tử.
Không được tiêu chuẩn hóa và là

một giá trò tùy ý; giá trò giao dòch
được thỏa thuận giữa người mua và
người bán
Tất cả các đồng tiền nếu có thể mua
bán được
Hàng ngày giá cả biến động theo
cung cầu thò trường không có giới
hạn, trừ khi có can thệp của NHTW
Vào bất cứ ngày làm việc nào nếu
được thỏa thuận giữa người mua và
người bán
Không hạn chế. Có những hợp đồng
kỳ hạn có kỳ hạn tới 20 năm
Phụ thuộc vào bên đối tác. Rủi ro
được phòng ngừa bằng các hạ mức
tín dụng và ngày nay yêu cầu ký quỹ
cũng đang được thònh hành

Các thò trường tương lai
Tập trung trên sàn của sở giao dòch,
các thành viên giao dòch với nhau theo
phương thức mặt đối mặt
Được tiêu chuẩn hóa, cố đònh và không
thương lượng dược. Các giao dòch có độ
lớn bằng bội số của giá trò một hợp
đồng
Hầu hết chỉ là các đồng tiền chính
Mức biếnn động tỷ giá hàng ngày có
thể được giớii hạn bởi sở giao dòch.
Những ngày đến hạn được tiêu chuẩn

hóa. Thông thường là vào thứ Tư của
tuần thứ 3 của tháng 3; 6; 9; 12.
Tối đa là 12 tháng

Rủi ro tín dụng gắn với sở giao dòch.
Rủi ro được phòng ngừa bằng biện
pháp ký quỹ. Tài khoản ký quỹ được
điều chỉnh hàng ngày theo mức lãi hay
lỗ của hợp đồng
24 giờ/ngày
4-8 giờ/ngày. Các sở giao dòch được
nối với nhau để tạo ra thò trường toàn
cầu
Về mặt chính thức là không có hạn Phải là thành viên của sở giao dòch.
chế nào
Những người không phải là thành viên
muốn giao dòch phải sử dụng nhà môi
giới

d) Yết giá Future
-

-

Giá Future được niêm yết một cách thuận tiện, dễ hiểu bằng cách nêu số dolar trên 1 ngoại tệ
hay số cent trên 1 ngoại tệ. Ví dụ giá future về dầu thô ở thò trường NYMEX được niêm yết
bằng đơn vò dollar/thùng (với 2 số lẻ) còn giá future về trái phiếu và hối phiếu kho bạc nhà
nước được CBOT niêm yết bằng đơn vò dollar và 1/32 dollar. Mức chuyển dòch giá tối thiểu
được ấn đònh luôn trong phương thức niêm yết giá của từng loại giao dòch.
Giá Future tại sở giao dòch xuất hiện hàng ngày trên ấn phẩm tài chính


*Để hiểu rõ về giá future, ta hãy so sánh với giá kỳ hạn :
-

Nhiều nghiên cứu cho thấy nếu lãi suất không rủi ro không đổi, với cùng kỳ hạn, giá kỳ hạn
bằng giá future ở cùng ngày chuyển giao.

Trang 16


-

-

Tuy nhiên khi Spot giảm, nhà đầu tư bò lỗ, đưa đến xu hướng lãi suất giảm. Nhà đầu tư lúc này
sẽ giữ hợp đồng kỳ hạn hơn là hợp đồng future, thì sẽ không ảnh hưởng đến dòch chuyển lãi
suất. Lãi suất bò ảnh hưởng bởi hợp đồng future sẽ hấp dẫn hơn đồng kỳ hạn. Do đó, khi Spot
có liên hệ rất chặt chẽ với lãi suất, giá future có xu hướng cao hơn giá kỳ hạn.
Sự khác nhau về lý thuyết giữa giá future và giá kỳ hạn vài tháng trong nhiều tình huống
thường là nhỏ vì sẽ được bỏ qua. Trên thực tế, có nhiều yếu tố không được nêu ở trên( thuế,
phí chuyển giao, và vấn đề ký quỹ) mà chúng có thể làm cho giá future và forward khác
nhau. Khi thời hạn của hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng future tăng, sự khác biệt giữa giá future
và giá kỳ hạn rõ ràng hơn. Vì vậy sẽ nguy hiểm khi giả đònh giá future và giá kỳ hạn có thể
thay thế lẫn nhau. Điểm này đặc biệt liên quan đến hợp đồng future về Eurodollar với thời
hạn 10 năm.

e) Giảm thiểu rủi ro thông qua thanh toán hàng ngày (market to market) ?
Hợp đồng future thanh toán hàng ngày qua phòng thanh toán bù trừ, tiền lời có thể được rút ra
và tiền lỗ có thể được nộp vào hàng ngày. Tình hình thực tế này được hiểu là “đònh theo giá thò
trường”

Thanh toán hàng ngày giảm thiểu rủi ro không thanh toán được cho các hợp đồng future hơn
là hợp đồng khác. Hằng ngày, các nhà đầu tư future phải chi trả mọi khoản lỗ hoặc nhận khoản lời
xuất phát từ các biến động chi trả giá lên xuống trong ngày. Một nhà đầu tư không có khả năng chi
trả vì tình hình kinh doanh không sinh lợi sẽ buộc ngưng giao dòch ở đây, thay vì cho phép dấn sâu vào
lỗ chồng chất ở thời điểm hợp đồng đáo hạn (mà trường hợp này lại hoàn toàn có thể xảy ra đối với
hợp đồng forward)
1.3.5. GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN TIỀN TỆ - OPTION TRANSACTIONS
a) Giới thiệu thò trường option:
Mặc dù các giao dòch forward, future, … có đem lại điểm lợi cho người mua, chúng bảo vệ cho
người sở hữu hợp đồng trước mọi rủi ro về biến động hối suất nhưng chúng lại loại trừ khả năng giảm
lợi nhuận từ những biến động này. Điều này khiến chúng ta cần phải xem xét đến công cụ giao dòch
tiền tệ lựa chọn (option).
- Về nguyên tắc, một option là một công cụ tài chính mang lại cho người sở hữu có một quyền
– nhưng không phải là nghóa vụ bắt buộc – được bán (put) hoặc mua (call) một công cụ tài chính khác
với giá và ngày đònh sẵn. Người bán hoặc mua quyền chọn (option) phải thực hiện hợp đồng nếu bên
đối tác yêu cầu.
- Bởi vì các quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán có giá trò, nên người mua phải trả cho người
bán option 1 số tiền lệ phí cho quyền chọn này. Khi áp dụng cho các đồng ngoại tệ, call option đưa cho
khách hàng quyền được mua, put option cung cấp cho người bán quyền được bán option theo các hợp
đồng với đồng tiền và kỳ hạn được đònh sẵn.
- Một option của Mỹ có thể được thực hiện vào bất cứ lúc nào cho trước ngày đến hạn, còn 1
option châu Âu phải đợi đến ngày đáo hạn mới thực hiện được.
- Một option sinh lời khi được thực hiện với hối suất hiện hành trên thò trường thuộc vùng được
gọi là “ hái ra tiền” (in the money), còn vùng “làm mất tiền” (out – of – the – money) là option
không có khả năng sinh lời khi thực hiện với hối suất hiện hành trên thò trường (xem biểu đồ 1.1)
- Giá nêu trên hợp đồng là giá thực hiện (exercise – price, strike price), một option có giá trò
hiện thực bằng với hối suất thời điểm gọi là “ ngang giá” (at –the –money)
- Ngày nêu trên hợp đồng là ngày đáo hạn (expiration date), ngày thực hiện (exercise date,
strike date) hoặc là thời hạn (maturity)


Trang 17


Như vậy, “ Hợp đồng quyền chọn tiền tệ là quyền chứ không phải nghóa vụ, mua hoặc bán một
đồng tiền này với 1 đồng tiền khác tại tỷ giá cố đònh đã thỏa thuận trước, trong một khoảng thời gian
nhất đònh”
• Mục đích sử dụng option :
- Các công ty tài chính nắm giữ 1 số tiền đầu tư lớn ở nước ngoài, nơi mà sự thay đổi về TGHĐ
có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận.
- Các công ty có dòng ngoại tệ trong tương lai chưa rõ ràng.
- Để phòng ngừa rủi ro
• Quyền chọn mua và quyền chọn bán tiền tệ:
- Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ là hợp đồng, trong đó người mua hợp đồng có quyền mua 1 đồng
tiền nhất đònh. Nghóa là:
+ Hợp đồng quyền chọn mua ĐTYG (chứ không phải ĐTĐG)
+ Tương đương với hợp đồng quyền chọn bán ĐTĐG
+ Khi nói đến quyền chọn mua tiền tệ, bao hàm ý là quyền chọn muTYG và đồng thời là
quyền chọn bán ĐTĐG
- Hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ là hợp đồng, trong đó người mua hợp đồng có quyền bán 1 đồng
tiền nhất đònh, nghóa là : Đồng tiền chọn bán là ĐTYG (chứ không phải ĐTĐG) và hợp đồng tương
đương với hợp đồng quyền chọn mua ĐTĐG. Khi nói đến quyền chọn bán tiền tệ, bao hàm ý là quyền
chọn bán ĐTYG và đồng thời là quyền chọn mua ĐTĐG.
b) Kỹ thuật vận hành option:
i) Những người tham gia trên thò trường option
- Những người tạo thò trường (Market makers) bao gồm người bán hợp đồng và người
mua hợp đồng.
- Người môi giới trên sàn giao dòch (The floor brokers)
- Nhân viên lưu trữ lệnh ( The order book official)
- Công ty thanh toán bù trừ (The option clearing corporation)
ii) Tỷ giá (giá) giao dòch quyền chọn :

Khác với tỷ giá trong GDGN, GDKH, …,“ tỷ giá quyền chọn” ngoài yếu tố cung cầu, còn
phụ thuộc vào mức phí quyền chọn là cao hay thấp, do đó nó có thể cao hơn hoặc thấp hơn đáng kể so
với TGGN hay giao kỳ hạn. Điều này có nghóa là “tỷ giá quyền chọn” có thể là bất cứ như thế nào
nếu người mua muốn, bởi vì tỷ giá quyền chọn và phí quyền chọn mà người mua phải trả cho người
bán luôn có mối quan hệ với nhau, do đó người bán luôn sẵn sàng chấp nhận mọi tỷ giá quyền chọn
mà người muề nghò và đưa ra mức phí quyền chọn tương ứng.
iii) Hoa hồng (commission) = phí quyền chọn (option premium) mà người mua phải trả cho
người bán hay còn gọi là giá option
iv) Ký quỹ: Người môi giới phải ký quỹ ở phòng thanh toán bù trù.
c) Có hai loại Option : call và put : Call option cung cấp cho người nắm giữ quyền được mua tài sản
cơ sở vơí mức giá xác đònh vào một ngày nhất đònh. Put option cung cấp cho người nắm giữ quyền
được bán tài sản cơ sở vơí mức giá xác đònh vào một ngày nhất đònh.
d) Có 4 vò thế trên thò trường Option : vò thế dài hạn trên call option; vò thế ngắn hạn trên call option;
vò thế dài hạn trên put option; vò thế ngắn hạn trên put option. Bán option (vò thế ngắn hạn) được gọi
là phát hành option. Option hiện nay được giao dòch trên chứng khoán, chỉ số chứng khoán, ngoại tệ,
hợp đồng future, trái phiếu,… riêng đối với TTCK phải qui đònh các điều kiện của hợp đồng option
được giao dòch. Đặc biệt phải nêu rõ cỡ của hợp đồng, thời gian đáo hạn chính xác, và giá thực hiện.
Các điều kiện của hợp đồng option chứng khoán không được điều chỉnh theo cổ tức trả bằng tiền mặt.

Trang 18


Tuy nhiên, chúng sẽ được điều chỉnh theo cổ tức trả bằng chứng khoán, theo sự phân chia chứng
khoán, và quyền phát hành. Mục đích điều chỉnh là giữ cho vò thế của cả người phát hành lẫn người
mua không đổi.
1.4. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI :
‰

TTNH của một số Sở giao dòch trên thế giới


Bảng 1.3 sau đây chỉ doanh số giao dòch ròng toàn cầu từ năm 1989 đến năm 1995, các đồng
tiền được sử dụng nhiều nhất trong giao dòch và các trung tâm giao dòch ngoại hối quan trọng nhất.
Doanh số mua bán ròng toàn cầu (chỉ tính doanh số một chiều mua vào hoặc bán ra) tại thời
điểm tháng 4 năm 1995 ước tính vào khoảng trên 1.250 tỷ USD/ngày; thò trường hoạt động tích cực
nhất là London với doanh số giao dòch hàng ngày lên tới 464 tỷ USD, sau đó là New York với doanh
số là 244 tỷ USD, Tôkyo là 161 tỷ USD, Singapore là 105 tỷ USD và Frankfurt là 76 tỷ USD, sau đây
ta khảo sát TTNH ở Singapore theo từng loại hình nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối (bảng 1.4)
Bảng 1.3 :Doanh số giao dòch ròng toàn cầu từ năm 1989 đến năm 1995
TIÊU CHÍ
1989
1992
1995
590
820
1190
Doanh số giao dòch ròng toàn cầu/ ngày (tỷ
USD)
Thành phần các đồng tiền trong giao dòch (%)
Đôla Mỹ
45
41
41,5
Mark Đức
13,5
20
18,5
Yên Nhật
13,5
11,5
12

Bảng Anh
7,5
7
5
Các đồng tiền khác
20,5
20,5
23
Tổng cộng
100
100
100
Thành phần theo đòa lý (%)
Anh Quốc
26
27
30
Mỹ
16
16
16
Nhật Bản
15
11
10
Singapore
8
7
7
Hong kong

7
6
6
Th Só
8
6
5
Các nước khác
20
27
26
Tổng cộng
100
100
100
Nguồn: Bank of International Settlements.

Trang 19


Bảng 1.4 : Doanh số giao dòch ngoại hối bình quân mỗi ngày ở TTNH Singapore.

Doanh số bình quân/ ngày
Trong đó phân theo nghiệp vụ:
- Giao dòch giao ngay (SPOT)
- Giao dòch kỳ hạn (FORWARD)
- Giao dòch hoán đổi (SWAP)

Phân theo đối tượng:
- Ngân hàng

- Phi ngân hàng

1998
139

Đơn vò tính: Tỷ USD
1995
105.4

60
4
75

45
2.2
58.2

120
19

100
5.4

Nguồn: Trung Tâm Thanh Toán Bù Trừ Singapore
Theo số liệu của Trung tâm thanh toán bù trừ Singapore thì doanh số giao dòch ngoại hối bình
quân mỗi ngày ở thò trường này vào năm 1998 đã tăng lên 139 tỷ USD, ta thấy rất rõ từ bảng số liệu
1.4 so với năm 1995 là 105.4 tỷ USD, trong đó nghiệp vụ giao ngay và hoán đổi chiếm tỷ tệ cao,
nghiệp vụ kỳ hạn chiếm tỷ lệ không đáng kể .
Một ưu điểm của giao dòch ngày nay là mang tính toàn cầu, đặc biệt là khi các sở giao dòch
mang tính toàn cầu, đặc biệt là khi các sở giao dòch được tự động hóa hoàn toàn, mang lại khả năng

nối liền các Sở giao dòch với nhau. Ví dụ, Sở Giao dòch buôn bán Chicago và Sở Giao dòch Tiền tệ
Quốc tế Singapore (SIMEX) được nối với nhau để cho một nhà buôn đăng ký một lượng đô la Châu
Âu hoặc một ngoại tệ nào đó tại một Sở Giao dòch kia.
Thêm nữa, một số Sở Giao dòch kỳ hạn nước ngoài mua bán các hợp đồng về tài sản chủ yếu
từ nước ngoài. Ví dụ, LIFFE (Sở giao dòch Pháp) bắt đầu giao dòch một hợp đồng về trái phiếu của
Chính phủ Đức thậm chí một thời gian dài trước khi Đức có thò trường kỳ hạn.
Việc giao dòch các hợp đồng kỳ hạn sản phẩm của nước ngoài và các cơ hội mở hợp đồng trên
thò trường khác đưa các thò trường đến chế độ giao dòch gần như suốt 24 giờ. Ví dụ, hợp đồng kỳ hạn
trái phiếu Chính phủ Mỹ giao dòch tại Cục Thương mại Chicago, London, Tokyo, Australia. Các Sở
Giao Dòch không nhất thiết phải được nối với nhau và các hợp đồng không nhất thiết phải đồng nhất
nhưng ít nhất người ta có thể giao dòch các công cụ cơ bản như hợp đồng kỳ hạn trái phiếu Bộ tài
chính, trên vài múi giờ. Một bước tiến quan trọng trên hướng này, được thực hiện bởi GLOBEX –
giao dòch bằng điện tử.
GLOBEX thuộc sở hữu chung của Sở Giao dòch buôn bán Chicago và Reuters PLC, một hãng
tin Anh . GLOBEX là một hệ thống giao dòch kỳ hạn điện tử theo giờ. Có khoảng 400 trạm máy tính
GLOBEX ở trụ ở của các hãng toàn thế giới. Trong những giờ nhất đònh, người giao dòch có thể ngồi
tại một trạm và phát giá mua và bán các hợp đồng kỳ hạn. Nếu người giao dòch đang mua và thấy một
hợp đồng hấp dẫn chào bán, anh ta có thể chấp nhận hợp đồng đó. Nếu anh ta phát giá mua, giá đó có
thể được chấp nhận ngay lập tức hoặc chậm hơn bởi một một người bán tại một trạm khác ở một nơi
nào đó trên Thế giới.
‰

Nguyên nhân các giao dòch ngoại hối toàn cầu giảm sút :

Trang 20


Theo Ngân hàng thanh toán quốc tế, khác với xu hướng gia tăng liên tục trong những năm
trước , trong năm 2001, các giao dòch trên TTNH toàn cầu đã sụt giảm rõ rệt, số liệu bảng 1. 5 cho
thấy :

Bảng 1.5 : Doanh số giao dòch trên thò trường ngoại hối toàn cầu
Doanh số trung bình ngày vào tháng 4/2001; tỷ USD
Các loại giao dòch

1989

1992

1995

1998

2001

Giao dòch giao ngay

317

340

494

568

387

Giao dòch kỳ hạn

27


58

97

128

131

Giao dòch hoán đổi

190

324

546

734

656

Những sai lệch trong điều tra

56

44

53

60


36

590

820

1.190

1.490

1.210

Tổng số

Nguồn : Central Bank survey of foreign exchange and derivatives market activity , 2001
Tổng doanh số giao dòch trung bình ngày trên TTNH quốc tế truyền thống (xét GDGN, GDKH
trực tiếp và hoán đổi) chỉ đạt 1.210tỷ USD vào tháng 4/2001, giảm 19% so với 1.490 tỷ USD vào
tháng 4/1998. Trong đó, TTGN có doanh số giảm mạnh nhất (#32%) từ 568 tỷ USD xuống còn 387 tỷ
USD, và khối lượng giao dòch trên thò trường hoán đổi ngoại tệ cũng giảm 11% (từ 734 tỷ USD xuống
656 tỷ USD) , trong khi đó, chỉ có doanh số giao dòch trên thò trường kỳ hạn trực tiếp là tăng nhưng
với tỷ trọng khiêm tốn 2,3% từ mức 128 tỷ USD lên 131 tỷ USD.
Các chuyên gia kinh tế thế giới cho rằng đồng Euro ra đời và đi vào hoạt động cùng với tỷ
trọng ngày càng tăng của các giao dòch môi giới điện tử trên TTGN cũng như những vụ hợp nhất
trong công nghiệp ngân hàng là những nguyên nhân chính đã khiến cho doanh số giao dòch trên
TTNH giảm đáng kể. Tuy doanh số trong các giao dòch giảm, nhưng tỷ trọng tham gia của USD trong
các giao dòch lại tăng đến mức cao nhất kể từ năm 1989 , điều này phản ánh một phần nghòch lý cao
giá của đồng Đôla Mỹ trong nền kinh tế đang rơi vào suy thoái này.
Kết luận chương 1
Thò trường ngoại hối Việt nam còn rất mới mẻ, việc đưa vào ứng dụng những nghiệp vụ kinh
doanh ngoại hối vẫn còn đang gặp rất nhiều trở ngại và khó khăn. Chương vừa qua nhằm giúp ta hiểu

mộ cách hệ thống từng loại hình nghiệp vụ : giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, giao sau, và quyền chọn
cùng với những kinh nghiệm từ hoạt động của các nước khác trên thế giới. Để có cơ sở đưa ra những
biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh ngoại hối và phòng ngừa rủi ro về hối đoái phù hợp
với chính sách tài chính tiền tệ nước ta, chương tiếp theo chúng ta sẽ phân tích thực trạng hoạt động
kinh doanh ngoại hối ở Việt nam trong thời gian qua, và sẽ thấy được những ứng dụng công cụ kinh
doanh ngoại hối như thế nào trong phòng ngừa rủi ro hối đoái của các ngân hàng và doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu hiện nay.

Trang 21


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI,
CÔNG CỤ QUẢN TRỊ RỦI RO HỐI ĐOÁI TẠI VIỆT NAM
2.1
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ LIÊN NGÂN
HÀNG Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA :
Thò trường ngoại tệ liên ngân hàng (TTNT LNH) được thành lập theo quyết đònh số
203/QĐ/NHNN9 ngày 20/09/1994 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và đi vào hoạt động
ngày 15/10/1994 theo QĐ số 203/NHNN13 ngày 20/09/1994 của Thống đốc NHNH Việt Nam :
TTNTLNH là thò trường mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa các ngân hàng được phép kinh
doanh ngoại tệ, NHNN trung ương đứng ra tổ chức điều hành, sử dụng quỹ điều hòa ngoại tệ với tư
cách là người mua, người bán cuối cùng để can thiệp thò trường một cách có hiệu quả, nhằm thực hiện
chính sách tiền tệ của Nhà nước. TTNTLNH với quy chế tổ chức và hoạt động hoàn chỉnh giúp xác
đònh đúng vai trò quản lý của Ngân hàng Nhà nước trung ương theo quy đònh trong pháp lệnh ngân
hàng và chỉ mua bán ngoại tệ với Ngân hàng thành viên trong TTNTLNH những khi cung cầu ngoại
tệ trên thò trường này mất cân đối.
Theo quy chế ban hành, đồng tiền được sử dụng trong giao dòch tại các TTNTLNH bao gồm:
USD, DEM, GBP, FRF, JPY, HKD và VND. Số lượng ngoại tệ giao dòch mỗi lần trên thò trường được
qui đònh mức tối thiểu là 50.000 USD hoặc các tương đương, số lượng ngoại tệ giao dòch phải chẵn

đến hàng chục nghìn.
Trước mắt, thò trường này thực hiện các nghiệp vụ mua bán giao ngay (SPOT), mua bán có kỳ
hạn (FORWARD)
Và việc giao dòch giữa các thành viên được thực hiện qua điện thoại, fax, telex, swift, mạng vi
tính toàn cầu Dealling System, … Các ngân hàng thương mại quốc doanh, Ngân hàng thương mại cổ
phần Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và các ngân hàng liên doanh đều có
thể tham gia TTNTLNH nếu đã được phép kinh doanh ngoại tệ và có hệ thống thông tin nội bộ nối
mạng với Ngân hàng Nhà nước.
Hoạt động của TTTTLNH – nơi các tổ chức tín dụng mua bán vốn khả dụng lẫn nhau, bao
gồm thò trường nội tệ liên ngân hàng và thò trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Trong phạm vi nghiên cứu, sau đây chúng ta phân tích thực trạng của thò trường ngoại tệ liên
hàng Việt Nam :
Trong điều kiện hiện nay, các hoạt động can thiệp của NHNN trên thò trường tiền tệ không tác
động trực tiếp đến TTNTLNH, tuy nhiên nó tác động gián tiếp thông qua những thay đổi về dự trữ
nội tệ và lãi suất đến cung cầu trên thò trường ngoại tệ đến thò trường bán lẻ sẽ tác động đến hoạt
động xuất nhập khẩu và qua đó tác động đến các mục tiêu vó mô của nền kinh tế. Vì thế, một thò
trường ngoại tệ ổn đònh và sôi động sẽ là kênh dẫn truyền tác động các hoạt động can thiệp trên thò
trường tiền tệ liên ngân hàng một cách hiệu quả và nhanh chóng.
TTNTLNH Việt Nam bắt đầu hoạt động từ cuối năm 1994. Sau thời kỳ đầu hoạt động thiếu
ổn đònh, thò trường này ngày càng chứng tỏ vai trò cầu nối giữa cung – cầu ngoại tệ giữa các tổ chức
tín dụng của mình thông qua sự tăng lên nhanh chóng của doanh số giao dòch bình quân tháng từ năm
1998 – 2001, theo dõi bảng sau :

Trang 22


Chỉ tiêu /năm
Doanh số giao dòch bình quân
tháng


1997
58

1998
33

1999
217

ĐVT: triệu USD
2000
>1000

Nguồn: Ngân hàng Nhà Nước
Nhận thấy, doanh số hoạt động giao dòch biến động mạnh trong năm không chỉ phản ánh nhu
cầu ngoại tệ của nền kinh tế mà còn bò ảnh hưởng gián tiếp bởi tâm lý trông đợi sự tăng lên của tỷ giá
giữa USD và VND. Sự biến động này đặc biệt mạnh trong 2 năm gần đây. Thông thường nhu cầu
ngoại tệ tăng lên vào các tháng đầu năm hoặc cuối năm do nhu cầu thanh toán L/C hoặc trả nợ vay
đến hạn. Nhưng từ tháng 5/1999 trở lại đây, doanh số giao dòch có xu hướng tăng lên rất nhanh cùng
với mức biến động giảm tới vài trăm triệu USD từ tháng này sang tháng khác (theo dõi Biểu đồ số 2.1
)
- Có sự mất cân đối lớn giữa cung và cầu theo hướng cầu ngoại tệ lớn hơn mức cung ngoại tệ.
Sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trên thò trường ngoại tệ liên ngân hàng cũng rất
hạn chế do dự trữ ngoại hối mỏng (xem phụ lục số ). Hơn nữa, khả năng sử dụng nghiệp vụ hoán đổi
ngoại tệ (SWAP) nhằm tác động vào lượng tiền Ngân hàng Trung ương là không khả thi trong điều
kiện này.
Có thể nói rằng xu hướng gia tăng rõ rệt các giao dòch ngoại tệ trên thò trường ngoại tệ liên ngân
hàng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát huy hiệu quả tác động của nghiệp vụ thò trường mở
(nghiệp vụ phụ thuộc vào hoạt động mua, bán ngoại tệ) qua kênh tác động của nó. Tuy nhiên, sự
thiếu ổn đònh, thậm chí đột biến trong giao dòch ngoại tệ bởi các nguyên nhân phi kinh tế như tâm lý

găm giữ, tích luỹ đôla sẽ bóp méo những dấu hiệu tỷ giá của thò trường và do đó, làm sai lệch các
quyết đònh can thiệp của Ngân hàng Nhà nước trên thò trường mở. Sau đây chúng ta lần lượt phân tích
một số giao dòch kinh doanh ngoại tệ phổ biến tại Việt nam.
2.2

MỘT SỐ NGHIỆP VỤ KINH DOANH NGOẠI HỐI CHÍNH TẠI VIỆT NAM

2.2.1.

NGHIỆP VỤ KINH DOANH NGOẠI TỆ GIAO NGAY :

Nghiệp vụ mua bán giao ngay được thực hiện dưới 2 hình thức : giao dòch ngoại tệ tiền mặt và
giao dòch chuyển khoản giao ngay.
2.2.1.i) Thò trường ngoại tệ tiền mặt, bao gồm: ngoại tệ tiền kim loại, tiền giấy, séc du lòch và
thẻ tín dụng, nó chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trên thò trường ngoại hối tổng thể, nhưng ngoại tệ tiền mặt lại
là dạng ngoại hối quen thuộc nhất đối với chúng ta. Sau đây chúng ta hãy xem bảng biểu diễn tỷ giá
giao dòch tiền mặt của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam :
Bảng 2.1 : Tỷ giá ngoại tệ tiền mặt tại SGD Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam(ngày 08/06/1999)
Tỷ giá ngoại tệ tiền mặt (VND/1 ngoại tệ)
Mua vào
Ký hiệu
Tên đồng tiền
Bán ra
Spread (%)
EUR
GBP
HKD
USD

FRF

CHF

Euro Currency
Poud Sterling
Hongkong Dollar
US Dollar
Loại $100 và $50
Các loại khác
French Franc
Swiss Franc

14 186,00
20 881,00
1 685,00

14 359,00
22 453,00
1 812,00

1,22
7,53
7,54

13 850,00
13 830,00
2 039.00
8 457,00

13 918,00
13 918,00

2 192,00
9 094,00

0,49
0,64
7,50
7,53

Trang 23


DEM
JPY
THB
AUD
CAD
SGD

Deutsche Mark
Yen
Baht
Autralia Dollar
Canadian Dollar
Singapore Dollar

6 924,00
108,00
333,00
8 576,00
8 899,00

7 580,00

7 342,00
115,87
392,00
9 221,00
9 569,00
8 151,00

6,04
7,29
17,72
7,52
7,53
7,53

Từ bảng trên, ta thấy:
+ Cách yết giá ngoại tệ tiền mặt tại Việt Nam theo quy luật thông thường nghóa là đồng ngoại tệ đóng
vai trò là đồng tiền yết giá còn VND là đồng bản tệ, đóng vai trò là đồng tiền đònh giá (ngược lại với
ở Mỹ: ngoại tệ/1USD)
+ Tỷ lệ % chênh lệch giữa tỷ giá mua vào, tỷ giá bán ra tại thò trường ngoại hối Việt Nam thường cao
hơn so với thò trường ngoại tệ tiền mặt trên thế giới (điển hình thò trường Mỹ kà gần 1,5% xét trên hầu
hết các đồng tiền: Yên Nhật: Spread ở Mỹ cùng thời điểm so sánh là 5,85% trong khi spread ở Việt
nam – SGD Ngân hàng Ngoại thương là 7,29%; Dollar Hồng kông spread tương ứng là 5,84% - 7,54%,
…) Điều này nói lên chi phí cho giao dòch tiền mặt ngoại tệ ở Việt Nam là cao hơn mặt bằng của thế
giới. Lý do này có thể được giải thích như sau:
1)
2)
3)
4)

5)

Chi phí quản lý tiền mặt ngoại tệ của Việt Nam cao.
Doanh số mua và bán ngoại tệ tiền mặt của Việt Nam không cao.
Chi phí xuất nhập khẩu ngoại tệ tiền mặt của Việt Nam lại cao.
Rủi ro giao dòch tiền mặt của Việt Nam và
Thò trường ngoại tệ tiền mặt qua ngân hàng không có tính cạnh tranh, bộ chi phối đáng
kể bởi hoạt động thò trường ngoại tệ ngầm.
Ngoài ra, chúng ta còn thấy rằng đối với thò trường tiền mặt qua Ngân hàng ở Việt Nam có:
Chênh lệch tỷ giá mua bán tiền mặt đối với USD là quá thấp chỉ ở mức 0,49% hay 0,64%
là do thò trường ngầm tiền mặt USD ở Việt Nam hoạt động rất mạnh, là những điểm thu
hút ngoại tệ tiền mặt nhằm phục vụ cho một bộ phận nhập khẩu lậu qua đường biên giới.
Làm cho tỷ giá mua USD ở thò trường chợ đen thường cao hơn tỷ giá mua của các ngân
hàng. Điều này khiến cho các ngân hàng phải nâng tỷ giá mua lên sát với tỷ giá mua ở
thò trường tự do, dẫn đến chênh lệch tỷ giá giảm xuống. Đối với tỷ giá bán tiền mặt USD
: theo nguyên tắc ấn đònh của NHNN, thì các ngân hàng không được yết giá ngoại tệ vượt
trần do NHNN đã quy đònh nên cũng làm cho chênh lệch tỷ giá bò thu hẹp lại.

Trong khi đồng Baht Thái Lan : có chênh lệch rất cao : 17,72% là do thời kỳ này Thái
Lan đang trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, giá trò của đồng Baht không ổn đònh và có
dấu hiệu giảm giá so với các ngoại tệ khác.
Trong lúc giao dòch ngoại tệ tiền mặt giữa các khách hàng với các ngân hàng diễn ra trên thò
trường bán lẻ giữa các ngân hàng giao dòch với phần phụ trội ngoại tệ tiền mặt của mỗi đồng tiền
trên thò trường bán buôn, bao gồm các công ty chuyên nghiệp mua và bán ngoại tệ tiền mặt với các
ngân hàng thương mại và các sở giao dòch ngoại hối. Giao dòch này thường xảy ra ở các thò trường
các nước Anh, Ý, Đức, …
Ở Việt Nam hiện nay chưa hình thành thò trường bán buôn ngoại tệ tiền mặt, các ngân hàng
thương mại phải xử lý (xuất khẩu hoặc nhập khẩu) tình trạng dư thừa hay thiếu hụt ngoại tệ tiền mặt
trực tiếp với nước ngoài. Do truyền thống là một ngân hàng đối ngoại duy nhất trước đây và là ngân
hàng chủ lực trong kinh doanh đối ngoại ngày nay, NHNT Việt Nam luôn có doanh số mua bán ngoại

tệ tiền mặt lớn nhất với khách hàng chủ yếu là công ty và tư nhân, đồng thời NHNT cũng là ngân
hàng đại lý về tiền mặt cho hầu hết các NHTM ở Việt Nam. Tuy nhiên, ngân hàng ngoại thương vẫn


Trang 24


×