BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LÊ HUY CƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2000
MỤC LỤC
Mục lục
Danh mục phụ lục và biểu bảng
Lời mở đầu
Chương1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH
VÀ THỊ TRƯỜNG DU LỊCH
1.1 Khái niệm về du lòch và khách du lòch
1.2 Sản phẩm du lòch
1.2.1 Yếu tố cấu thành sản phẩm du lòch
1.2.2 Đặc điểm đặc thù của sản phẩm du lòch
1.3 Thò trường du lòch và doanh nghiệp lữ hành
1.3.1 Các khái niệm về thò trường du lòch
1.3.2 Nội dung hoạt động và vai trò của doanh nghiệp lữ hành
1.4 Vai trò và ý nghóa kinh tế của du lòch quốc tế
1
Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA DU LỊCH VIỆT NAM TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH QUỐC TẾ
2.1 Thực trạng du lòch Việt nam trong hoạt động lữ hành quốc tế
2.1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển du lòch Việt nam
2.1.2 Kết quả và tình hình hoạt động lữ hành quốc tế thời gian qua.
2.1.3 Phân tích thực trạng trong kinh doanh lữ hành quốc tế và sản phẩm
du lòch Việt nam hiện nay
2.2 Đánh giá các yếu tố môi trường và nội bộ ngành
2.2.1 Những điểm mạnh (Strengths)
2.2.2 Những điểm yếu (Weaknesses)
2.2.3 Các cơ hội (Opportunities)
2.2.4 Các mối đe dọa (Threats)
11
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
KINH DOANH LỮ HÀNH QUỐC TẾ
3.1 Tiềm năng và xu thế phát triển của du lòch việt nam
3.2 Phương hướng - mục tiêu
3.3 Giới thiệu một số chiến lược
3.3.1 Xây phương án chiến lược trên cơ sở vận dụng ma trận SWOT
3.3.2 Các chiến lược
29
1
2
2
2
3
3
5
8
11
11
12
18
27
27
27
28
28
29
32
34
34
34
Trang 1
35
3.4 Các giải pháp để thực hiện chiến lược
A. Các giải pháp trong mức độ mỗi doanh nghiệp lữ hành quốc tế (tầm vi mô)
3.4.1 Hoàn thiện hoạt động tiếp thò tại doanh nghiệp
a/ Về chính sách sản phẩm
b/ Về chính sách giá
c/ Về chính sách phân phối
d/ Về chính sách chiêu thò - cổ động (Promotion strategy)
3.4.2 Tin học hóa trong hoạÏt động tiếp thò – Mở rộng quảng cáo và kênh
phân phối qua mạng toàn cầu
3.4.3 Mở rộng việc nghiên cứu thò trường và thực hiện phân khúc thò trường,
tiếp cận thò trường mục tiêu.
◊ Nghiên cứu thò trường khách du lòch Pháp
◊ Nghiên cứu thò trường khách du lòch Nhật
◊ Nghiên cứu thò trường khách du lòch Mỹ
B- Các giải pháp trong mức độ ngành du lòch (tầm vó mô)
3.4.4 Quảng bá tuyên truyền sản phẩm du lòch Việt nam
3.4.5 Nâng cao chất lượng sản phẩm du lòch Việt nam
3.4.5.1 Phát triển du lòch văn hóa gắn với các lễ hội dân tộc
3.4.5.2 Phát triển và nâng cấp các khu, điểm du lòch
3.4.5.3 Phát triển và xây dựng chiến lược du lòch sinh thái
3.4.5.4 Nâng cao chất lượng dòch vụ
3.4.6 Đào tạo nhân lực cho nhu cầu lâu dài và trước mắt của ngành
3.4.7 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế gắn thò trường du lòch với thò trường thế giới
và đẩy mạnh liên doanh liên kết.
C- Kiến nghò trong mức độ liên ngành – nhà nước (tầm vó mô)
3.4.8 Tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích hoạt động du lòch
3.4.9 Hoàn thiện tổ chức nâng cao hiệu quả QL nhà nước về du lòch,
3.4.10 Giải pháp về vấn đề tài chánh - vốn
35
35
38
38
39
41
43
44
45
45
46
48
48
49
50
50
51
52
53
54
54
Kết luận
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề đài :
Du lòch là một ngành kinh tế quan trọng, mang tính chất tổng hợp thúc
đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, tạo công ăn việc làm, mở rộng
giao lưu văn hóa và xã hội, tăng cường hữu nghò quốc tế. Du lòch ngày càng có
xu hướng phát triển mạnh mẽ, đó là ngành có tỷ lệ lợi nhuận cao. Nhiều nước
trên thế giới đang nỗ lực đầu tư vào ngành du lòch và coi đó là ngành mũi nhọn
trong nền kinh tế quốc dân, mang lại nguồn lợi khổng lồ cho các quốc gia đầu tư
phát triển du lòch. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển thì công nghiệp du
lòch trở thành vũ khí giúp quân bình cán quân thanh toán xuất nhập khẩu và thu
chi ngân sách quốc gia, có tác dụng đóng góp tích cực trong sự phát triển kinh tế
của đất nước.
Nước ta có tiềm năng về nhiều mặt để phát triển du lòch : nhiều danh lam
thắng cảnh nổi tiếng, điều kiệân thiên nhiên phong phúù, truyền thống văn hóa
lâu đời, nhiều di tích lòch sử, môi trường sinh thái tự nhiêân … có thể tạo nhiều
sản phẩm du lòch phong phú và đa dạng. Những yếu tố đó cósức thu hút với du
khách quốc tế, lôi cuốn du khách từ các châu lục khác đến tham quan du lòch
Việt nam, tạo điều kiện thuận lợi trong việc trong kinh doanh lữ hành quốc tế,
đẩy nhanh sự phát triển của ngành du lòch Việt nam.
Những năm vừa qua, ngành du lòch đã có được những bước đi quan trọng,
đạt những thành tựu nhất đònh, từng bước phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và
tăng dần lượng du khách quốc tế đến Việt nam. Tuy nhiên, sự phát triển vừa qua
chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, nhòp độ tăng trưởng của ngành không ổn
đònh và có chiều hướng chựng lại, sự cạnh tranh về sản phẩm du lòch Việt nam
còn rất yếu so với du lòch trong khu vực. Mặc dù chúng ta có tiềm năng to lớn về
tài nguyên du lòch nhưng thực trạng còn nhiều yếu kém trong hoạt động và môi
trường du lòch chưa tốt đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến đến du lòch nước ta vốn
non trẻ. Để bảo vệ và phát huy những thành quảû bước đầu đạt được trong thời
gian qua, đối phó với sự cạnh tranh gay gắt trên thò trường du lòch quốc tế, vấn
đề đặt ra là ngành du lòch phải khắc phục yếu kém trong hoạt động, hòa nhập
với thò trường du lòch quốc tế và khu vực ; xây dựng một chiến lược trong kinh
doanh lữ hành quốc tế là một bộ phận chủ yếu của phát triển du lòch và cần thiết
phải có ngay một loạt giải pháp tình thế, chính sách tháo gỡ nhằm duy trì tốc độ
phát triển của ngành, xứng đáng "Việt nam điểm đến của thiên niên kỷ mới"
Xuất phát từ những lý do trên, đặc biệt là tính thiết thực và cấp bách của
vấn đề, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu :" Một số giải pháp nhằm phát triển
kinh doanh lữ hành quốc tế của ngành du lòch Việt nam"
Trang 3
2. Giới hạn đề tài :
Nội dung hoạt động của ngành du lòch rất đa dạng phong phú, chính vì
vậy nội dung nghiên cứu của nó cũng rất rộng với nhiều mảng hoạt động trong
du lòch như lữ hành, lòch vụ lưu trú, vui chơi giải trí, vận chuyển … Về phạm vi
của luận văn này, sau khi nghiên cứu về hoạt động du lòch và xác đònh được vai
trò chủ chốt của hoạït động kinh doanh lữ hành quốc tế, luận văn giới hạn việc
nghiên cứu đề tài trong kinh doanh lữ hành quốc tế – dòch vụ kinh doanh chính
trong ngành du lòch. Tìm ra các giải pháp để phát triển hoạït động kinh doanh lữ
hành quốc tế (chủ yếu là hoạt động inbound).
3. Mục tiêu nghiên cứu
-
-
-
Đánh giá môi trường, thực trạng hoạt động trong ngành du lòch về vấn đề
kinh doanh doanh lữ hành quốc tế. Tìm nguyên nhân vì sao số lượng khách
du lòch quốc tế giảm, không vào Việt nam.
Đưa ra phương hướng giải pháp chiến lược cũng như các giải pháp thực hiện
và kiến nghò cụ thể nhằm phát triển kinh doanh du lòch lữ hành nói riêng và
du lòch Việt nam nói chung .
Với đề tài này, bằng cái giải pháp tháo gỡ cho hoạt động kinh doanh lữ hành
quốc tế, chúng tôi mong ước được đóng góp cho sự phát triển ngành du lòch
Việt nam, tạo thế mạnh trong cạnh tranh trên thò trường du dòch trong khu
vực cũng như trên thế giới.
4. Kết cấu nội dung :
Kết cấu nội dung của luận án gồm 3 chương :
- Chương 1 : Đề cập tới các nghiên cứu lý thuyết liên quan như khái niệâm về
du lòch, sản phẩm du lòch, doanh nghiệp lữ hành, vai trò của lữ hành quốc tế …
- Chương 2 : Phân tích thực trạng du lòch trong hoạt động kinh doanh lữ hành
quốc tế (inbound). Đánh giá được môi trường bên ngoài và bên trong, xây dựng
ma trận SWOT.
- Chương 3 : Khái quát xu thế phát triển của ngành. Xác đònh phương hướng
mục tiêu của ngành, thông qua ma trận SWOT giới thiệu giải pháp chiến lược
phù hợp. Đưa ra các giải pháp kiến nghò cụ thể nhằm phát triển kinh doanh lữ
hành quốc tế .
5. Phương pháp nghiên cứu :
Để thực hiện đề tài, chúng tôi áp dụng phương pháp mô tả phân tích. Áp dụng
phương pháp này, chúng tôi mô tả vấn đề, đánh giá phân tích thực trạng và đưa ra chiến
lược giải pháp thích hợp . Việc thu thập thông tin được tiến hành thông qua các dữ liệu
Trang 4
đã được tổng hợp xử lý từ các báo cáo, nguồn sách báo, tạp chí trong và ngoài nước,
mạng internet… Ngoài ra, chúng tôi cũng thu thập từ việc quan sát hiện trường như thu
thập ý kiến du khách quốc tế, các đối tác và đặc biệt là tham khảo ý kiến các chuyên gia
nghiên cứu về du lòch để lấy số liệâu đánh giá trong đề tài.
Vì điều kiện thời gian, khuôn khổ luận án có giới hạn, mặc dù cũng đã cố gắùng
nhưng với kiến thức có hạn, đề tài chắc còn nhiều thiếu sót và có thể chưa phân tích
hết các khía cạnh, chi tiết cụ thể trong việc đưa ra các giải pháp. Rất mong được các
Thầy , Cô, toàn trong Hội đồng cho ý kiến đóng góp, chỉ dẫn thêm để đề tài được hoàn
thiện hơn.
Trang 5
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH VÀ THỊ
TRƯỜNG DU LỊCH
(Lý thuyết cơ sở liên quan đến vấn đề nghiên cứu)
1.1 Khái niệm về du lòch và khách du lòch
Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lòch trở thành nhu cầu không thể
thiếu trong đời sống văn hóa - xã hội và hoạït động du lòch đang trở lên phát
triển mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng quan trọng ở nhiều nước
trên thế giới. Thuật ngữ "du lòch" trở lên thông dụng. Vậy du lòch là gì ?
Hiện tại khái niệm về du lòch vẫn còn là đối tượng nghiên cứu và thảo
luận của các tổ chức quốc tế. Theo như một số chuyên gia của Tổ chức Du lòch
Thế giới (WTO), khi hội thảo đểà thấy rõ sự mở rộng và bao quát của hiện tượng
du lòch, họ đã đưa ra ra khái niệm :" Du lòch nói chung được coi như là hoạt động
của con người đi du hành đến và lưu trú tại nơi ngoài môi trường thường xuyên
của họ trong thời gian liên tục không quá một năm để nghỉ ngơi, làm việc".
Hoặc có khái niệm của Kratft và Hunziket - hai giáo sư đưa ra trong đại hội lần
thứ 5 về du lòch của WTO :" Du lòch là tập hợp các mối quan hệ hiện tượng phát
sinh từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người. Nơi họ lưu trú đó
không phải là nơi ở thường xuyên và nơi làm việc để kiếm tiền". Tuy nhiên các
các khái niệm này đã quá bao quát và mở rộng, không đi sâu và bản chất của du
lòch.
Có một số chuyên gia khác đã đưa ra khái niệm cụ thể hơn từ bản chất
và hiện tượng của du lòch " Du lòch là quá trình hoạït động của con người rời khỏi
quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá
trò vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo khác lạ với quê hương không nhằm
mục đích sinh lợi được tính bằng tiền". Hoặc theo như Pirogionic -tác giả của
cuốn sách Cơ sở Đòa lý du lòch phục vụ tham quan cũng cho rằng "Du lòch là hoạt
động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại
tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, phát triển với thể
chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo
những tiêu thụ những giá trò về thiên nhiên, kinh tế văn hoá". Các khái niệm
này vừa chỉ rõ được nhu cầu mục đích của khách du lòch, vừa được chỉ rõ nội
dung của hoạt động du lòch, nguồn lực và phương thức kinh doanh du lòch.
Khi bàn tới khái niệm về du lòch chúng ta có khái niệm đi kèm trong đó khái niệm khách du lòch. Khách du lòch là người đi du lòch hoặc kết hợp du lòch
Trang 6
trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Tại
Hội nghò Liên minh quốc tế về du lòch tổ chức ở Lahaey vào tháng 04/1989 đã
xác đònh khách du lòch quốc tế là :"Người đi thăm viếng một quốc gia khác với
nước mà họ cư trú thường xuyên với mục đích của chuyến đi là tham quan, thăm
viếng, nghỉ ngơi có thời gian không quá một năm; ngoài ra người đó không được
làm bất cứ việc gì để được trả lương hoặc trả thù lao tại nước đến do ý muốn cá
nhân, hoặc do yêu cầu nước sở tại. Và sau đợt hành trình kết thúc phải rời khỏi
nước đó để trở về nước mà họ cư trú thường xuyên hoặc quốc gia khác.
Ở Việt nam, trong điều 20 của Pháp lệnh Du lòch ngày 20/02/99 đã xác
đònh lại rõ :"Khách du lòch nội đòa là công dân Việt nam và người nước ngoài cư
trú tại Việt nam đi du lòch trong phạm vi lãnh thổ Việt nam. Khách du lòch quốc
tế là người nước ngoài, người Việt nam đònh cư ở nước ngoài vào Việt nam du
lòch và công dân Việt nam, người nước ngoài cư trú tại Việt nam ra nước ngoài
du lòch".
1.2 Sản phẩm du lòch
1.2.1 Yếu tố cấu thành sản phẩm du lòch
Sau khi nghiên cứu về du lòch và các thể loại về du lòch, chúng đã hình
thành nên được khái niệm về sản phẩm du lòch một cách rõ ràng và đầy đủ hơn.
Sản phẩm du lòch là hệ thống toàn bộ những dòch vụ kinh doanh đáp ứng cho nhu
cầu khách du lòch từ khi họ nhập cảnh đến khi họ rời khỏi đất nước mà họ thăm
viếng.
Nói cách khác, sản phẩm du lòch đó là tổ hợp những cái nhằm đáp ứng
nhu cầu và mong muốn của khách. Từ “sản phẩm du lòch” dùng để diễn tả chất
lượng của sản phẩm hữu hình hay vô hình, nó là một sản phẩm tổng hợp, cấu
thành nên những sản phẩm hay là những bộ phận từ khi khách bước chân vào
nước ta đến khi đưa khách về nước. Sản phẩm du lòch bao gồm các yếu tố :
- Di sản của tài nguyên thiên nhiên, văn hóa văn nghệ, di tích lòch sử hay
sự tiến bộ khoa học kỹ thuật… có khả năng thu hút khách hay kích thích họ trong
chuyến đi.
- Những trang thiết bò phục vụ cho chuyến đi phục vụ cho yêu cầu lưu trú
của khách.
- Những tiện nghi phục vụ khách: Là tổng thể những điều kiện thuận tiện
phục vụ cho khách du lòch, nó là sự kết hợp và cộng đồng trách nhiệm của nhiều
ngành liên quan đến du lòch (từ các thủ tục hải quan, độ láng mòn của các tuyến
đường vận chuyển khách các phương tiện thông tin liên lạc, các dòch vụ, hàng
hóa cung cấp cho khách...)
Trang 7
1.2.2 Đặc điểm đặc thù của sản phẩm du lòch
Sản phẩm du lòch khác với nhiều sản phẩm đơn thuần, chòu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, sản phẩm chủ yếu là các dòch vụ, đa
dạng, tồn tại dưới hình thức vật chất và phi vật chất nên nó có các tính chất rất
đặc thù của nó. Sản phẩm du lòch có đặc điểm sau :
◊ Sản phẩm du lòch được bán cho khách trước khi họ thấy hay trước khi họ
hưởng thụ, du khách trả trước tiền cho nhà cung cấp hay cho các tổ chức trung
gian. Sản phẩm du lòch là một sản phẩm trừu tượng không thể đònh trước về mặt
số lượng và chất lượng cụ thể.
◊ Sản phẩm du lòch là sản phẩm tổng hợp bao gồm vận chuyển, lưu trú ăn
uống... các loại hình dòch vụ...
◊ Sản phẩm du lòch là loại sản phẩm không thể tồn kho, chu kỳ sống dài và
không thể tăng theo ý muốn của các nhà kinh doanh một cách nhanh chóng.
◊ Sản phẩm du lòch được bán ra một nơi có khoảng cách rất xa cho nên muốn
được phải qua nhiều kênh phân phối hoặc có sự phối hợp của nhiều quốc gia
trong cùng một chuyến đi của du khách.
◊ Nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm du lòch dễ bò thay thế, nó phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố như tình hình chính trò, tình hình kinh tế xã hội...
Đồng thời, sản phẩm du lòch thường bò chi phối và mất cân đối bởi tính thời vụ.
◊ Chu kỳ sống của sản phẩm du lòch được đánh giá có quá trình dài, nó gồm 4
giai đoạn như sau :
1. Giai đoạn giới thiệu (còn gọi là giai đoạn khởi đầu)
2. Giai đoạn trưởng thành : Giai đoạn này có đặc tính là sự tăng trưởng
nhanh số lượng du khách, doanh thu lợi nhuận...
3. Giai đoạn bão hòa : Có đặc điểm là không có thể lôi kéo thêm được
khách hàng mới.
4. Giai đoạn suy thoái : Biểu hiện của giai đoạn này là có sự giảm sút rất
nhanh ở các chỉ tiêu kinh tế như số lượng du khách , doanh thu, lợi nhuận...
Sản phẩm du lòch hết sức đa dạng và phong phú. Tùy theo phạm vi nghiên
cứu mà chúng ta có các thể loại về du lòch và các nhóm hàng trong sản phẩm du
lòch.
Phụ lục 1 : Các thể loại du lòch
Phụ lục 2 : Phân loại nhóm hàng trong sản phẩm du lòch
1.3 Thò trường du lòch và doanh nghiệp lữ hành
1.3.1 Các khái niệm về thò trường du lòch
Trang 8
Qua phần trên, chúng ta đã có khái niệm về du lòch và sản phẩm du lòch.
Khi nói về sản phẩm du lòch thì sẽ xuất hiện người mua - khách hàng, đó chính
là các khách du lòch. Khái niệm thò trường có quan hệ mật thiết với các khái
niệm như sản phẩm du lòch, khách du lòch, cung cầu du lòch... mà chúng ta cần
phải nắm rõ.
Thò trường du lòch là nơi thực hiện sự trao đổõi sản phẩm du lòch vì mục
đích thỏa mãn nhu cầu mong muốn, sức mua của khách hàng. Khách hàng là
những người tiêu dùng có nhu cầu và mong muốn tiêu thụ các sản phẩm du lòch.
Cầu của du lòch là một thành phần quyết đònh tạo nên thò trường du lòch.
Cầu của du lòch là một tập hợp những khách hàng có khả năng và mong muốn
tiến hành một cuộc trao đổi giúp cho họ thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ sản phẩm du
lòch. Như vậy cầu của du lòch được tạo ra từ nhu cầu của khách hàng nhưng nhu
cầu đó đã được biến thành mong muốn và sức mua thực tế. Trong đó nhu cầu
của khách là cơ sở ban đầu có ý nghóa quyết đònh. Nhu cầu này tùy thuộc vào
các tầng lớp khách khác nhau về mức độ thu nhập, về đòa phương cư trú, về tập
quán, về các nhu cầu tâm sinh lý cơ thể, về giá cả... Cầu du lòch chòu tác động
của hàng loạt các nhân tố mà ta đã biết, trong đó nổi bật nhất là nhân tố thu
nhập. Chính nhân tố này đã tạo ra cơ cấu phức tạp đa dạng của cầu về du lòch
mà các đơn vò kinh doanh du lòch cần phải nắm được và càng phải chú trọng
“đào sâu” công tác tiếp thò.
Cung của du lòch còn gọi là khả năng du lòch là toàn bộ hệ thống của cải
và dòch vụ mà bộ máy du lòch đưa ra phục vụ cho khách, nó bao hàm một chuỗi
các nhiệm vụ trách nhiệm và hoạt động hợp thành các đơn vò chức năng hoạt
động trên thò trường du lòch, là một hệ thống các hoạt động dòch vụ kinh doanh
nhằm thỏa mãn chuyến hành trình, tham quan, lưu trú do các đơn vò kinh doanh
du lòch thự hiện. Hay nói cách khác cung du lòch chính là khả năng cung cấp sản
phẩm du lòch và nói đến yếu tố cung của du lòch chính là đề cập tới các doanh
nghiệp kinh doanh du lòch.
Mối quan hệ giữa cung và cầu trên thò trường có quan hệ và tác động
ràng buộc lẫn nhau. Cung tác động lên cầu qua khối lượng và cơ cấu của nó.
Còn cầu ảnh hưởng đến sự phát triển của cung quan việc tăng tiêu thụ và phân
hóa của cầu. Xu hướng đặc trưng của thò trường du lòch là sự cân bằng tương ứng
giữa cung và cầu.
Thò trường du lòch có những đặc thù riêng so với thò trường hàng hóa. Du
khách thường ở rất xa các đòa điểm du lòch, thiếu những thông tin cần thiết để
chuẩn bò và thực hiện chuyến đi du lòch của mình. Thông tin về cơ sở lưu trú về
khí hậu của đòa điểm du lòch, thông tin về phong tục tập quán của cộng đồng dân
Trang 9
cư. Du khách sẽ được cung cấp, tư vấn từ một loại doanh nghiệp đặc thù. Hoạt
động tư vấn cung cấp thông tin, là biểu hiện chức năng môi giới, trung gian giữa
khách hàng với các doanh nghiệp cung ứng dòch vụ, giữa cung và cầu du lòch.
Hoạt động du lòch loại này có nhiều thuộc tính nhưng mục tiêu của doanh nghiệp
là tổ chức khai thác đến mức tối đa lượng khách tiềm năng khi mua sản phẩm,
tham gia tour du lòch do hãng tổ chức. Các doanh nghiệp loại này cũng có thể có
hoặc không có cơ sở lưu trú khách sạn, hay các phương tiện vận chuyển. Họ có
thể không phải là doanh nghiệp trực tiếp bán ra các dòch vụ lưu trú, vận chuyển.
Việc đầu tư xây dựng khách sạn hay các nhà hàng có thể có những doanh
nghiệp hay tập đoàn lớn đầu tư. Họ có thể sử dụng trực tiếp các cơ sở họ có,
hoặc nếu không có họ đứng ra mua các dòch vụ và kết hợp các dòch vụ lại tổ
chức đi tour, tạo thành sản phẩm du lòch bán cho khách du lòch.
Loại hoạt động du lòch như trên, mà nội dung có ba thuộc tính tổ chức sản xuất, môi giới trung gian và khai thác là một loại hoạt động đặc biệt. Hoạt
động này có tên riêng : Hoạt động lữ hành.
1.3.2 Nội dung hoạt động và vai trò của doanh nghiệp lữ hành
Doanh nghiệp lữ hành được xác đònh như là một loại doanh nghiệp trung
gian làm cầu nối giữa cung và cầu du lòch trong thò trường du lòch, trong phạm vi
một quốc gia cũng như trong phạm vi du lòch quốc tế. Nghiên cứu chức năng vài
trò của hoạt động lữ hành thuộc phạm trù lý thuyết có ý nghóa thực tiễn trong
việc giải thích các vấn đề có liên quan đến hoạt động các doanh nghiệp lữ hành.
Khái niệm về doanh nghiệp lữ hành
Chúng ta biết rằng sản phẩm du lòch vốn đa dạng và phong phú. Các
doanh nghiệp về du lòch ngày nay cũng trở nên đa dạng về loại hình, đông về số
lượng, qui mô cũng rất khác nhau. Các loại doanh nghiệp du lòch thông thường
kinh doanh theo các nhóm sản phẩm du lòch bao gồm : doanh nghiệp kinh doanh
dòch vụ lưu trú (khách sạn,camping, motel, nhà trọ…), kinh doanh các loại hình
giải trí, doanh nghiệp kinh doanh dòch vụ vận chuyển khách, doanh nghiệp kinh
doanh dòch vụ ăn uống, nhà hàng, quán bar… doanh nghiệp kinh doanh dòch vụ
hướng dẫn du lòch v.v…..
Một loại doanh nghiệp đặc biệt được ra đời sau hơn, muộn hơn nhưng có
vai trò rất quan trọng khi du lòch đã trở thành một ngành kinh tế. Hoạt động của
doanh nghiệp này đóng vai trò cầu nối giữa cung và cầu du lòch, đóng vai trò
cầu nối giữa du khách và doanh nghiệp cung ứng các loại dòch vụ hàng hóa du
lòch cho du khách. Doanh nghiệp có nhiệm vụ tổ chức và thực hiện các chuyến
đi du lòch , giúp các nhu cầu du lòch thành thực tiễn : Doanh nghiệp lữ hành.
Trang 10
Chúng ta có thể đònh nghóa về doanh nghiệp lữ hành như sau:" Doanh
nghiệp lữ hành là một đơn vò kinh tế được thành lập và hoạt động với mục đích
gián tiếp hoặc trực tiếp làm môi giới giữa cung và cầu du lòch trên thò trường
trong nước cũng như trên phạm vi quốc tế thông qua việc "sản xuất" tiêu thụ
các loại dòch vụ của chính doanh nghiệp hoặc của các đối tác bạn hàng khác".
Nội dung hoạt động lữ hành
Hoạt động lữ hành mang bản chất 3 thuộc tính : sản xuất - tổ chức , môi
giới trung gian và khai thác. Chúng xác đònh chức năng của một doanh nghiệp lữ
hành.Nhiệâm vụ của hoạt động lữ hành xét theo bản chất được phân làm 4 nhóm:
- Nhóm các công việc chuẩn bò cho một hành trình du lòch
- Nhóm các công việc liên quan đến tổ chức hành trình du lòch
- Nhóm các công việc mang nội dung môi giới trung gian
- Những nhiệm vụ liên quan đến chức năng khai thác của hoạt động lữ
hành
Như vậy hoạt động lữ hành có hai nhóm chính :
-
Hoạt động có nội dung tổ chức - sản xuất
Hoạt động có nội trung môi giới trung gian.
Hoạt động tổ chức sản xuất là hình thức thể hiện trực tiếp chức năng sản
xuất của một hãng lữ hành. Hoạt động tổ chức sản xuất được biểu hiện thông
qua việc chuẩn bò và tổ chức thực hiện các chuyến đi du lòch cho từng cá nhân
hay một tập khách với một chương trình tổng hợp theo giá tour trọn gói.
Khi du lòch được thực hiện dưới hình thức tour trọn gói thì yêu cầu khách
quan phải xuất hiện một hình thức dòch vụ tổng hợp. Hãng lữ hành đặt trước các
loại dòch vụ với yêu cầu về thời gian cung ứng. Sản phẩm của hãng lữ hành sẽ
là các loại dòch vụ doanh nghiệp cung ứng cho du khách. Sản phẩm của hãng lữ
hành sẽ là sản phẩm được cấu thành phần lớn từ các đối tác, họ là các doanh
nghiệp chuyên doanh hoặc không chuyên doanh du lòch. Hãng lữ hành (tour
operator) sử dụng các loại "nguyên liệu" để "chế biến ", "sản xuất" ra loại sản
phẩm là các tour du lòch đáp ứng nhu cầu của du khách. Như vậy, có thể quan
niệm sản phẩm lữ hành là kết quả của một việc kết hợp sử dụng các điều kiện,
yếu tố tổ chức kỹ thuật với lao động sống dưới sự điều hành của một doanh
nghiệp đặc biệt nhằm thỏa mãn một nhu cầu đặc biệt của xã hội.
Nội dung hoạt động môi giới trung gian của hoạt động lữ hành là một
trong hai nội dung chính của chức năng cơ bản đối một doanh nghiệp lữ hành.
Nhu cầu khách quan và điều kiện bắt buộc tồn tại hoạt động môi giới cỉa hoạt
động lữ hành do các yếu tố sau : Sự cách trở về đòa lý dẫn đến cách trở về
Trang 11
không gian giữa cung và cầu, giữa doanh nghiệp cung ứng các dòch vụ du lòch
với du khách; do thiếu thông tin cần thiết; có nhiều nhà sản xuất không có điều
hiện cung ứng sản phẩm một cách trực tiếp. Trong trường hợp này các hãng lữ
hành được làm đại lý tiêu thụ cho các nhà sản xuất.
Bản chất của hoạt động môi giới trung gian của doanh nghiệp lữ hành là
các hoạït động đóng vai trò cầu nối giữa du khách và các doanh nghiệp cung
ứng các dòch vụ du lòc nhằm cho du khách thỏa mãn hơn nhu cầu về du lòch. Nội
dung môi giới bao gồm các hoạt động như : tư vấn, thông tin, giúp du khách thực
hiện các thủ tục, cung cấp các dòch vụ trọn gói, hay từng phần cho du khách với
tư cách được ủy quyền của doanh nghiệp du lòch hoặc hãng lữ hành khác.
Đặc điểm hoạt động lữ hành
Hoạt động lữ hành mang tính chất tổng hợp đa dạng với 3 thuộc tính tổ
chức sản xuất, môi giới trung gian, khai thác. Hoạt động lữ hành có đặc tính
chung như những hoạt động du lòch khác nhưng cũng có những nét riêng biệt
riêng :
- Sản phẩm chủ yếu là các dòch vụ, đa dạng và tồn kho dưới dạng phi vật
chất. Sản phẩm lữ hành khi trở thành hàng hóa có đặc tính chung của dòch vụ là
không thể dự trữ và bảo quản lâu dài.
- Sản phẩm của hoạït động lữ hành không có điều kiện cho du khách
chiêm ngưỡng, thử trước, chúng được "sản xuất", tiêu thụ tại chỗ . Thời gian sản
xuất và tiêu thụ nhiều khi đòi hỏi một chu kỳ thời gian dài từ khi bắt đầu cho
đến khi kết thúc một hành trình du lòch.
- Hoạt động lữ hành mang tính quốc tế cao. Các hãng lữ hành thỏa thuận
công việc với nhau thông qua hợp đồng, giao dòch bằng ngôn ngữ quốc tế thống
nhất, các tranh chấp được giải quyết thông qua các cơ quan luật pháp quốc tế,
chấp hành nghiêm ngặt các qui đònh về thanh toán quốc tế …
- Du khách không có điều kiện hưởng thụ hàng hóa trực tiếp ngay . Các
loại hàng hóa dòch vụ được cung ứng dầøn trong suốt hành trình du lòch. Cùng
một loại dòch vụ nhưng khách được hưởng với chất lượng đa dạng do nhiều
nguồn cung cấùp.
- Giá tổng hợp của sản phẩm du lòch do hãng lữ hành cung ứng bao gờ
cũng thấp hơn tổng trò giá các dòch vụ đơn lẻ cộng lại.
- Chất lượng dòch vụ phụ thuộc rất nhiều vào các đối tác cung ứng. Chất
lượng sản phẩm chỉ có thể đánh giá một cách tổng hợp sau khi tour du lòch kết
thúc.
Với những đặc điểm phức tạp đặc thù trong hoạt động lữ hành, một hãng
lữ hành muốn vươn lên trong thò trường, thu hút được du khách con đường duy
nhất là phải làm hết sức mình đảm bảo uy tín với khách hàng là du khách, với
Trang 12
các đối tác bạn hàng là các hãng lữ hành (hãng gửi khách hoặc nhận khách)
cũng như đối với các nhà cung ứng dòch vụ.
Vai trò của doanh nghiệp lữ hành
Hoạt động của doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò cầu nối giữa cung và
cầu du lòch, cầu nối giữa du khách và doanh nghiệp cung ứng các loại dòch vụ
hàng hóa du lòch cho du khách. Hoạt động lữ hành là ngành nghề tổng quát bao
trùm, chiếm vò trí quan trọng nhất trong các kinh doanh du lòch khác. Các nghề
khác chỉ là các bán phần, chuyên sâu. Sản phẩm của lữ hành bao gồm trọn gói
tất cảc các sản phẩm khác và nó tác động cho các dòch vụ khác hoạt động và
phát triển. Khi du lòch lữ hành là sản phẩm trọn gói (package tour), thì trong nó
chứa cả dòch vụ lưu trú, hướng dẫn, ăn uống, vận chuyển... Nhưng giá của nó về
nguyên tắc, bao giờ cũng thấp hơn giá các dòch vụ đơn lẻ cộng lại do được
hưởng giá ưu đãi (giá sỉ, giá đoàn, giá giảm, hoa hồng….) Về lợi nhuận, ngoài
các lãi từng phần trên (do hoa hồng hay trực tiếp kinh doanh) nó còn có lợi
nhuận tổng thể.
Hoạt động lữ hành có ý nghóa to lớn, tác động đến nhiều lónh vực khác
nhau trong hoạt động du lòch. Hoạt động hoa lữ hành có vai trò như động lực kéo
con tàu du lòch trong hành trình du lòch, có vai trò kích thích mối quan hệ tạo lập
các loại sản phẩm du lòch mới… Hoạt động lữ hành có tác động cho du lòch phát
triển cả bề sâu, vừa mở bề rộng qui mô phạm vi hoạt động vừa tác động cho du
lòch phát triển với chất lượng cao hơn. Hoạt động lữ hành từ khi hình thành đã
phát triển với tốc độ nhanh và giành được những thành quả rất đáng khích lệ
nhất là đối với những nước có ngành du lòch phát triển. Công nghiệp du lòch
thực sự đóng góp vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân.
1.4 Vai trò và ý nghóa kinh tế của du lòch quốc tế
Trong ngành du lòch, du lòch lòch quốc tế có vai trò rất quan trọng, nóù tác
động tích cực đến nền kinh tế của đất nước và của một vùng thông qua việc tiêu
dùng của khách du lòch.
Thông qua tiêu dùng, du lòch tác dụng mạnh lên lónh vực lưu thông và do
vậy gây ảnh hưởng lớn lên lónh vực khác của quá trình tái sản xuất xã hội. Kinh
tế du lòch gây biến đổi lớn trong cơ cầu của cán cân thu chi của đất nước. Đối
với du lòch quốc tế , việc khách mang ngoại tệ đến đổi và chi tiêu ở khu du lòch
làm tăng tổng số tiền trong cán cân thu chi của vùng và của đất nước. Còn đối
với du lòch nội đòa việc tiêu tiền của dân ở vùng du lòch chỉ gây biến động trong
Trang 13
cơ cấu cán cân thu chi của nhân dân theo vùng chứ không làm thay đổi tổng số
như tác động của du lòch quốc tế.
Thông qua lónh vực lưu thông mà du lòch có ảnh hưởng tích cực lên sự
phát triển của nhiều ngành công nghiệp và nông nghiệp (như công nghiệp sản
xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp gỗ, công nghiệp
dệt, ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi v.v….). Du lòch quốc tế đòi hỏi hàng hóa
có chất lượng cao, phong phú về chủng loại và hình thức. Do vậy du lòch quốc tế
góp phần đònh hướng cho sự phát triển các ngành ấy trên các mặt : số lượng,
chất lượng chủng loại và việc chuyên môn hóa của các xíù nghiệp trong sản
xuất. Ảnh hưởng của du lòch quốc tế lên sự phát triển của các ngành cũng rất lớn
: sự sẵn sàng đón tiếp các du lòch : không chỉ thể hiện ở chỗ đó có tài nguyên du
lòch mà bên cạnh đó phải có cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống đừơng xá, nhà
ga, sân bay, bưu điện v.v…. Qua đó kích thích phát triển tương ứng các ngành có
liên quan. Ngoài ra du lòch phát triển còn đánh thức một số ngành sản xuất thủ
công cổ truyền.
Kinh tế du lòch làm tăng thu nhập quốc dân trên hai mặt sáng tạo và sử
dụng. Hoạt động du lòch quốc tế là nguồn thu nhập đáng kể cho đất nước. Ở các
nước du lòch phát triển thu nhập ngoại tệ từ du lòch quốc tế chiếm 20% hoặc hơn
thu nhập ngoại tệ của đất nước. Ngoại tệ thu được từ du lòch quốc tế làm sống
động cán cân thanh toán của đất nước du lòch, góp phần xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật cho đất nước.
Cũng như ngoại thương, du lòch quốc tế tạo điều kiện cho đất nước tiết
kiệm lao động xã hội khi xuất nhập khẩu một số mặt hàng. Nó có tác dụng xuất
khẩu tại chỗ nhanh chóng và hiệu quả hơn xuất khẩu ngoại thương. Xuất khẩu
bằng du lòch còn là xuất các dòch vụ mà ngoại thương không thực hiện được.
Ngoài ra đối tượng xuất khẩu của du lòch quốc tế còn là hàng hóa, rau xanh,
hàng lưu niệm v.v… là những mặt hàng rất khó theo đường ngoại thương , mà
muốn xuất khẩu theo đường ngoại thương chúng ta phải đầu tư rất nhiều chi phí
cho việc đóng gói , bảo quản và vận chuyển mà giá lại rất thấp. Việc xuất khẩu
bằng du lòch quốc tế luôn đảm bảo thực hiện doanh thu lớn hơn nhiều nếu cùng
hàng hóa đó đem xuất khẩu theo đường ngoại thương. Hàng hóa trong du lòch là
hàng hóa được bán với gia bán lẻ, luôn đảm bảo cao hơn hàng hóa xuất bán theo
đường ngoại thương là gia bán buôn. Ngoài ra xuất khẩu bằng du lòch quốc tế
không tốn chi phí vận chuyển quốc tế tốn ít chi phí đóng gói và bảo quản như
xuất khẩu ngoại thương vì vận chuyển trong phạm vi đất nước, do vậy tiết kiệm
chi phí và tránh được các rủi ro. Du lòch quốc tế bò động có ý nghóa khác hẳn du
lòch quốc tế chủ động. Nó hình thức nhập khẩu đối với đất nước gửi khách đi nớc
Trang 14
ngoài chứ không có tác dụng xuất khẩu như việc tổ chức du lòch quốc tế dạng
chủ động.
Việc phát triển du lòch quốc tế sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm và tạo
điều kiện tăng thu nhập cho dân đòa phương. Ngoài ra, du lòch quốc tế là phương
tiện tuyên truyền và quảng cáo không mất tiền cho đất nước du lòch chủ nhà, khi
khách đến khu du lòch khách có điều kiện làm quen với một số mặt hàng ở đó.
Khi trở về đất nước của mình, khách bắt đầu tìm kiếm các sản phẩm đó ở thò
trường đòa phương và nếu không thấy, khách có thể yêu cầu các cơ quan ngoại
thương nhập các mặt hàng ấy. Theo cách này du lòch quốc tế góp phần tuyên
truyền cho nền sản xuất của nước chủ nhà.
Sự phát triển du lòch quốc tế còn có ý nghóa quan trọng đến việc mở rộng
và củng cố các mối quan hệ kinh tế quốc tế theo các hướng : ký kết hợp đồng
trao đổi khách giữa các nước, các tổ chức và các hãng du lòch, tham gia các tổ
chức quốc tế về du lòch. Ngoài ra sự phát triển du lòch còn có ý nghóa lớn đối với
việc góp phần khai thác, bảo tồn các di sản văn hóa và dân tộc, góp phần bảo
vệ và phát triển môi trường thiên nhiên xã hội.
Qua nghiên cứu trên, chúng ta thấy rằng nhu cầu về sản phẩm ngày càng
phát triển và đa dạng, du lòch là thực sự ngành kinh tế quan trọng. Nhận thức
đúng đắn nội dung của khái niệm du lòch và bản chất của nó chính là tạo tiền đề
để nghiên cứu và xây dựng đúng đắn các giải pháp trong kinh doanh du lòch.
Những cơ sở lý luận thấy rõ rằng trong kinh doanh du lòch, hoạt động lữ
hành là hoạt động quan trọng nhất để thúc đẩy du lòch, nó là đầu nối kết hợp
giữa cung và cầu du lòch, tạo cơ sở để hình thành và phát triển các các loại sản
phẩm du lòch mới. Với sản phẩm đặc thù của du lòch và đặc điểm phức tạp đặc
thù trong hoạt động lữ hành, mỗi doanh nghiệp lữ hành để thu hút được khách,
để bán được sản phẩm, phải nắm bắt nhu cầu đa dạng của du khách, đảm bảo uy
tín trong kinh doanh và coi trọng công tác tiếp thò.
Trên bình diện lớn hơn, với vai trò và ý nghóa kinh tế to lớn của du lòch
quốc tế, phát triển hoạt động lữ hành quốc tế chính làø yếu tố chủ chốt để phát
triển ngành du lòch, tạo nguồn ngoại tệ cho ngành cũng như cho nền kinh tế
quốc dân. Thực sự đưa nghành công nghiệp du lòch trở thành ngành kinh tế quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Trang 15
Chương 2 :
THỰC TRẠNG CỦA DU LỊCH VIỆT NAM TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH QUỐC TẾ
2.1 THỰC TRẠNG DU LỊCH VN TRONG HOẠT ĐỘNG LỮ HÀNH QUỐC TẾ
2.1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển du lòch Việt nam
Giai đoạn 1960-1975
Mặc dù là một nước có nhiều tiềm năng du lòch, trước năm 1975 du lòch
Việt Nam chưa được tổ chức và phát triển. Điều kiện kinh tế kém, tình trạng
chiến tranh kéo dài, hoạt động du lòch chỉ là tự phát. Các doanh nghiệp hoạt
động với qui mô lớn và các tour-operator lớn chưa xuất hiện. Các cơ sở lưu trú
còn yếu kém.
Ngày 9/7/1960 chính phủ Việt nam ra nghò đònh 26/CP thành lập "Công ty
Du lòch Việt nam" đánh dấu thời điểm ra đời của ngành du lòch Việt nam.
Nhưng chức năng nhiệm vụ chính của Công ty Du lòch Việt nam là đón các đoàn
khách của Đảng và Nhà nước. Nhiệm vụ kinh doanh du lòch là thứ yếu.
Giai đoạn 1975- 1986
Sau ngày miền nam giải phóng, ngành du lòch đã tiếp thu một số cơ sở vật
chất chuyên ngành từ các tỉnh phía Nam bao gồm khách sạn nhà hàng … và bắt
đầu một giai đoạn mới biến chuyển về hoạt động du lòch. Ngày 27/06/78 Ủy ban
Thường vụ Quốc hội nước Việt nam ban hành nghò quyết số 282/NQ-QH phê
chuẩn thành lập Tổng cục Du lòch Việt nam.
Tổng cục Du lòch được thành lập, ngành du lòch quản lý nhà nước theo hai
cấp : Ngành và đòa phương phối hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ. Tuy có
thuận lợi, nhưng trong giai đoạn này vẫn chỉ đạt kết quả hết sức khiêm tốn :
Đến cuối năm 1986 toàn ngành khai thác và phục vụ được 59.359 lượt khách
quốc tế và 474.174 lượt khách nội đòa (con số thống kê tính cả phục khách lưu
trú). Nguyên nhân chính là sự kìm hãm của cơ chế quản lý quan liêu bao cấp từ
mô hình quản lý kế hoạch hóa tập trung.
Giai đoạn sau 1986
Từ năm 1987, nhờ chính sách mở cửa của Nhà nước ngành du lòch Việt
nam mới “thay da đổi thòt”, số lượng du khách đến Việt nam tăng bình quân
Trang 16
hàng năm 40,41%. Nếu như năm1987 Việt nam chỉ chiếm 0.7% trong tổng số
10.052.181 khách du lòch đến vùng Đông nam Á thì 5 năm sau con số này đã
tăng lên đến 1,97% (1992 có khoảng 20.300.000 du khách đến Đông nam Á).
Đánh giá được tầm quan trọng của ngành du lòch, ngày 22/06/93 chính
phủ đã ra nghò quyết số 45/CP về đổi mới quản lý và phát triển ngành du lòch
Việt nam. Nghò quyết đã khẳng đònh : Du lòch là một ngành kinh tế quan
trọng, Đảng và Nhà nước coi "phát triển du lòch là một hướng chiến lược quan
trọng trong đường lối phát triển KT-XH nhằm góp phần thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước "
Các doanh nghiệp du lòch được thành lập với số lượng ngày càng đông, đa
dạng với các thành phần kinh tế khác nhau và dần phát triển. Đến năm 1997 du
lòch Việt nam đã có mối quan hệ hợp tác du lòch với trên 800 hãng của 50 nước
khác nhau trên thế giới. Du lòch Việt nam đã trở thành thành viên chính thức
của Tổ chức du lòch Thế giới từ năm 1981, là thành viên của hiệp hội du lòch
Châu Á Thái Bình Dương từ năm 1989 và tích cực tham gia các hoạt động du
lòch khu vực nhằm xúc tiến phát triển ngành du lòch.
Bắt nguồn từ gần như hai bàn tay trắng, đến nay ngành du lòch Việt nam
đã đạt được những thành tựu nhất đònh. Khách quốc tế tăng từ 670 nghìn lượt
người năm 1997 lên 1,7 triệu lượt năm, trung bình mỗi năm tăng 26,5%. Đặc
biệt năm 1994 số lượng lượt khách quốc tế vào Việt nam đã được 1 triệu. Thu
nhập xã hội từ du lòch năm 1993 là 3.250 tỷ đồng, đến 1997 đạt 8.700 tỷ đồng,
trong khi doanh thu toàn ngành tăng trung bình 24,9% (năm1993 đạt 2.500 tỷ
đồng, năm1997 đạt 7.000 tỷ đồng). Mặc dù số lượng còn kém so với các nước và
hoatï động du lòch trong thời gian qua có bộc lộ những tồn tại yếu kém cần khắc
phục nhưng đây là mức tăng trưởng khá cao so với các nước trong khu vực, đánh
dấu kết quả khả quan cho sự phát triển của ngành, đặc biệt là sự phát triển vượt
bậc cơ sở vật chất của ngành dòch vụ lưu trú khách sạn và số lượng khách lưu
trú.
2.1.2 Kết quả và tình hình hoạt động lữ hành quốc tế thời gian qua.
Loại hình hoạt động của các doanh nghiệp du lòch hiện nay ở Việt nam
Hiện nay doanh nghiệp du lòch tại Việt nam được hiểu như sau: “Doanh
nghiệp du lòch là đơn vò kinh doanh được thành lập nhằm mục đích tạo nguồn lợi
nhuận chủ yếu bằng việc kinh doanh dòch vụ du lòch”. Các loại hình hoạt động
hiện tại của doanh nghiệp bao được thể hiện thành nghề cơ bản như sau :
♦ Dòch vụ lữ hành : Xây dựng, bán các chương trình du lòch hoặc tổ chức các
tuyến du lòch theo yêu cầu của khách hoặc làm đại lý bán các chương
Trang 17
trình du lòch; tổ chức các chuyến du lòch đã bán cho khách.
♦ Dòch vụ hướng dẫn du lòch.
♦ Dòch vụ quảng cáo và thông tin du lòch.
♦ Dòch vụ lưu trú và phục phụ ăn uống trong các khách sạn nhà nghỉ, motel,
nhà khách, nhà hàng...
♦ Dòch vụ vận chuyển khách : bằng các phương tiện và vận chuyển đường
bộ, đường sông đường biển và đường không.
♦ Các loại dòch vụ khác: Dòch vụ visa, thủ tục nhập xuất cảnh, bán hàng lưu
niệm, book vé, phòng, đăng cai tổ chức hội nghò hội thảo v.v...
Các tổ chức chuyên doanh lữ hành nếu có thò trường ổn đònh và một sốø
các điều kiện cơ sở khácsẽ được phép kinh doanh lữ hành quốc tế (doanh nghiệp
lữ hành quốc tế), tức là được kinh doanh tổ chức đón khách nước ngoài và công
dân Việt nam cư trú ở nước ngoài đến Việt nam du lòch, đưa công dân Việt nam
đi du lòch nước ngoài.
Trong các các nghề, dòch vụ lữ hành là ngành nghề tổng quát bao trùm,
chiếm vò trí quan trọng nhất. Đây chính là ngành nghề chủ chốt của công nghiệp
du lòch mà chúng ta nghiên cứu ở đây, nó được mệnh danh là “con gà đẻ trứng
vàng”, đem lại thu nhập ngoại tệ cho nền kinh tế quốc gia.
Đánh giá kết quả và tình hình hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế
Có thể nói du lòch Việt nam, lữ hành quốc tế nói riêng chỉ thực sự phát
triển từ những năm từ 90 trở lại đây. Với bắt nguồn từ gần như hai bàn tay
trắng, các doanh nghiệp trong ngành đã đạt kết quả đáng khích lệ :
Bảng 1 : Số lượng lượt khách quốc tế vào Việt nam
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
Tổng số
600.438 1.018.244 1.351.296 1.607.155 1.715.637 1.520.128 1.731.754
Lượng khách năm
136,5
169,6
132,7
118,9
106,8
88,6
114%
trước =100%
(Nguồn : Tổng cục du lòch)
Nhìn chung, Việt nam có tỷ lệ tăng số khách quốc tế hàng năm ở mức
25% là một con số khá đạt so với nền du lòch non trẻ như Việt nam. Tuy nhiên
những năm gần đây, từ năm 1996 tốc độ tăng trưởng không ổn đònh, có dấu hiệu
chựng lại và giảm sút. Nếu trong thời gian từ 1990-1994 tốc độ tăng của khách
quốc tế vào Việt nam luôn ở mức trên 35%, thì từ 1995 trở lại đây mức tăng chỉ
hơn 10 % và còn giảm (năm 1998 giảm 11%).
Với lượng khách quốc tế đạt được với mức như trên đó là thành quả và sự
nỗ lực và cố gắng lớn. Nhưng điều đó chưa thể nói được là hoạt động lữ hành
Trang 18
quốc tế của các doanh nghiệp cũng đạt được kết quả tăng trưởng như trên. Với
quan điểm thực tế và khoa học hơn, dám nhìn nhận hơn, có thể nói rằng các số
liệu của chúng ta về chỉ tiêu khách du lòch thống kê không được sát thực. Do
ngay quan điểm ban đầu nên các báo cáo cũng như thông tin truyên truyền trên
báo chí thường chỉ tính đến số khách quốc tế nhập cảnh khi nói về kết quả hoạït
động kinh doanh du lòch khiến cho chúng ta cảm giác "sống trên mây" về hoạt
động của lữ hành quốc tế. Số liệu tăng trưởng trên một phần nào cũng đánh
được sự phát triển của ngành về số lượng khách phục vụ (lưu trú vận chuyển, ăn
uống…. khi khách vào hội họp, làm việc v.v… ) nhưng dễ bò hiểu không chính xác
và cảm giác lầm tưởng rằng chúng ta đã đón được trên một triệu khách quốc tế
là trên một triệu khách du lòch vào đi tour Việt nam.
Căn cứ trong "Qui chế quản lý kinh doanh du lòch" (ban hành kèm theo
nghò đònh số 37/HĐBT ngày 28/01/1992 của Hội đồng bộ trưởng) đònh nghóa
rằng :"Khách du lòch quốc tế là người nước ngoài, người Việt nam đònh cư ở
nước ngoài và lưu đêm ở Việt nam… ". Với khái niệm này, toàn bộ số khách
nhập cảnh Việt nam và có lưu đêm ở Việt nam đều được thống kê là khách du
lòch quốc tế (chắc chắn số liệu của bảng trên đã được thống kê từ số khách nhập
cảnh của các cửa khẩu). Do đó, chúng ta có ý tưởng và thống kê, đánh giá tình
hình bò thiếu chính xác.
Hiện nay, khái niệm này đã có sửa đổi lại. Trong điều 20 của Pháp lệnh
Du lòch ngày 20/02/1999 đã xác đònh lại rõ :"Khách du lòch nội đòa là công dân
Việt nam và người nước ngoài cư trú tại Việt nam đi du lòch trong phạm vi lãnh
thổ Việt nam. Khách du lòch quốc tế là người nước ngoài, người Việt nam đònh
cư ở nước ngoài vàoViệt nam du lòch và công dân Việt nam, người nước ngoài
cư trú tại Việt nam ra nước ngoài du lòch", theo điều 10 trong pháp lệnh :" Du
lòch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thăm thỏa mãn nhu cầu tham
quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong trong thời gian nhất đònh. Khách du lòch là người
đi du lòch hoặc kết hợp, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận
thu nhập"
Như vậy, con số về khách du lòch nước ngoài vàoViệt nam còn nhỏ hơn số
trên rất nhiều. Nếu thống kê theo chỉ tiêu mục đích nhập cảnh chúng ta có số
liệu sau (loại visa nhập cảnh của khách tại các cửa khẩu) :
Bảng 2: Số lượng khách nhập cảnh phân theo mục đích chuyến đi (trang sau)
Rõ ràng số lượng khách du lòch thuần túy còn thấp và chưa hề vượt 1 triệu
khách. Thậm chí, số khách du lòch còn thấp hơn nhiều so với thống kê trên vì :
rất nhiều khách vào làm việc, để nhanh chóng tiện lợi họ thông qua các Công ty
du lòch làm dòch vụ visa du lòch nhập cảnh Việt nam; có số Việt kiều thăm thân
Trang 19
tính trong đó; số lượng lớn khách nhập cảnh đường bộ sử dụng visa du lòch để
buôn bán tiểu ngạch tại biên giới Việt nam -Trung quốc và biên giới
Campuchia. Quả thực với số liệu bảng 2 tỷ lệ Việt kiều chiếm không nhỏ và số
liệu thống kê về đường nhập cảnh bảng 3 phần nào xác nhận đánh giá trên.
Bảng 3 : Số lượng khách nhập cảnh theo các phương tiện
1993
Đườnghàngkhông 528.372
1994
1995
1996
1997
1998
1999
940.707
1.206.799
939.635
1.033.743 873.690 1022073
550.414 489.274 571.749
Đường bộ
53.652
46.522
122.752
505.653
Đường biển
18.414
31.015
21.745
161.867
131.480 157.164 187.937
(Nguồn : Tổng cục du lòch)
Do thống kê thiếu chính xác như vậy, khiến công tác dự báo sai lệch, sự
phát triển dòch vụ lưu trú đã tăng quá nhanh. Điều này giải thích nghòch lý xảy
ra trong khi khách vào đang chựng lại thì những năm qua số phòng khách sạn
vẫn tiếp tục tăng và vượt quá nhu cầu thực tế. Do đó, hiệu xuất sử dụng phòng
thấp, ế ẩm xảy ra là điều dễ hiểu.
Một yếu tố về tình hình khách du lòch quốc tế vào Việt nam cần phải
được đánh giá là thời gian lưu lại của khách tại Việt nam rất ngắn và mức chi
tiêu của khách thấp. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Du lòch thì thời gian
lưu lại trung bình của khách tại Việt nam là 4,5 ngày (Thái lan là 8,4). Hệ số sử
dụng phòng của các cơ sở lưu trú khách sạn của chúng ta hiện nay rất thấp
(Việt nam trung bình 43%, Singapore 83,4%, Thái lan 56,6%). Tổng cục Du lòch
ước tính khách du lòch nước ngoài khi đến Việt nam chi tiêu trung bình 500
USD/người cho các dòch vụ, mua sắm. Mức này thấp hơn trung bình 700USD của
thế giới, thua xa mức chi tiêu của du khách đến các nước khu vực như Thái lan
(trên 1000 USD/người), Malaysia(800-1000 USD). Đánh giá về nguyên nhân
khách rất ít chi tiêu này : chất lượng hàng hóa và dòch vụ không phong phú và
ổn đònh, phần lớn phải thanh toán bằng tiền mặt, số ngày lưu trú ít ; đồng thời,
dù tỷ giá ngoại tệ có khá cao để thu hút khách chi tiêu, nhưng với cơ chế 2 giá
như hiện nay, đã làm hạn chế sự chi tiêu mua sắm của du khách rất nhiều. Có lẽ
thấy rằng, rằng sản phẩm du lòch nói chung còn yếu, không phong phú, cơ cấu
chi tiêu của khách hầu như tiền phòng chiếm đa số còn như các dòch vụ khác chi
tiêu không đáng kể gì, đặc biệt tỷ lệ vui chơi giải trí chiếm tỷ lệ rất thấp
(6,91%). Điều này không tránh khỏi sự giảm thu ngoại tệ từ khách du lòch quốc
tế.
n uống
17.68%
Thuêphòng
45.36%
Chi phí khác
9.72%
Mua hàng
9.70%
Vui chơi
giải trí
6.91%
Đi lại
10.63%
Trang 20
Bảng biểu 4 : Cơ cấu chi tiêu của khách nước ngoài
Tổng số
Thuê phòng
Ăn uống
Mua hàng
Vui chơi và giải trí
Đi lại
Chi phí khác
du lòch tại Việt nam các năm qua
100%
45,36
17,68
9,70
6,91
10,63
9,72
(Nguồn : Tổng cục du lòch)
Kết quả hoạt động của doanh nghiệp lữ hành quốc tế chính là thước đo
đánh giá sự phát triển và trình độ của ngành du lòch của mỗi quốc gia và thể
hiện ở số lượng khách quốc tế chủ động (inbound). Xét về tỷ lệ tăng trưởng
khách quốc tế nhập cảnh Việt nam thì chúng ta có nhiều năm có tỷ lệ tăng
trưởng khá, tuy nhiên về cơ cấu của khách nhập cảnh tỷ lệ khách du lòch hầu
như không tăng. Số tour trọn gói bán cho khách chiếm tỷ lệ thấp. Trên thực tế
để thống kê được số khách du lòch đi tour trọn gói là một vấn đề khó thực hiện
được, chủ yếu dựa vào báo cáo của các doanh nghiệp. Theo qui chế quản lý lữ
hành, doanh nghiệp lữ hành quốc tế phải đảm bảo trực tiếp ký kết với thò trường
nước ngoài để tổ chức đi tour trọn gói ít nhất là 500 lượt khách quốc tế/1 năm,
đạt tỷ lệ khách đi tour trọn gói là 20% trở lên. Chính vì vậy, hầu hết các doanh
nghiệp đều báo cáo số khách đi tour trên 500 lượt khách đi tour trọn gói để đảm
bảo đủ điều kiện tiếp tục kinh doanh lữ hành quốc tế, nhưng thực tế chỉ xin visa
cho khách hoặc thực hiện dòch vụ bán phần. Theo ước tính của các chuyên viên
quản lý ngành, tỷ lệ đi tour trọn gói thực tế khoảng 12,7% so với tổng số khách
xin vào, khoảng 30% khách có dòch vụ từng phần như đặt phòng, thuê xe, mua
vé hộ... còn lại là khách du lòch ba-lô hoặc vào kết hợp du lòch, đi tự do tức là
chỉ mua (trả phí) dòch vụ visa. Các khách vào du lòch Việt nam hầu như chỉ vào
một lần, số lượng vào du lòch lần hai chiếm rất ít (4,2% trong khi Thái lan là
37%). Các doanh nghiệp lữ hành có số lượng tour inbound trọn gói thấp, số
lượng thấp hơn 1000 khách chiếm đa số (trừ một số các đơn vò chuyên doanh
đầu đàn như Vietnam Tourism, Saigon Toursist, Hanoi Tourist...). Có một số khá
lớn chỉ chuyên kinh doanh dòch vụ visa, có một số chuyên thu gom khách từ các
cá nhân kinh doanh bất hợp pháp hoặc tiếp tay với du lòch nước ngoài kinh
doanh bất hợp pháp (trực tiếp tổ chức tour trọn gói cho khách nước ngoài vào
Việt nam), để cho nước ngoài núp bóng.
Sự giảm lượng khách quốc tế lại ảnh hưởng đến tính chất hoạt động kinh
doanh lữ hành quốc tế. Các doanh nghiệp phải tăng cường kênh tiêu thụ sản
phẩm trực tiếp, thực hiện kinh doanh đưa khách Việt nam đi du lòch nước ngoài
(outbound). Lượng khách outbound tuy có tăng (79% năm 1998) nhưng chỉ số
Trang 21
tuyệt đối vẫn thấp (dưới 20.000 người). Trước tình hình đó, nhiều doanh nghiệp
tăng cường quảng cáo tiếp thò trực tiếp, tổ chức các chương trình tour phục vụ
đối tượng khách nội đòa đặc biệt trong dòp lễ hội và dòp hè. Chiến lược khai thác
thò trường nội đòa đã được nhiều doanh nghiệp đưa lên hàng đầu, số lượng khách
du lòch nội đòa tăng 25% năm 1998 và tăng 29% năm 1999. Một số doanh
nghiệp đã tổ chức tiếp thò, phân phối trực tiếp rộng rãi đến cơ quan, trường học,
xí nghiệp với cơ chế giá rất "bình dân". Hoạt động outbound và du lòch nội đòa
hiện đang tăng trưởng nhanh.
Khách quan mà nói thì cũng có nhiều doanh nghiệp lữ hành quốc tế hoạt
động bài bản, đònh hướng chuyên nghiệp cao, sản phẩm đa dạng và từng bước
nâng cao chất lượng,ï có nhiều cố gắng và đầu tư đáng kể vào công tác tiếp thò
và quảng cáo sản phẩm du lòch Việt nam, gia nhập các tổ chức du lòch quốc tế
như PATA, ASTA, JATA... xây dựng mối quan hệ tốt với bạn hàng quốc tế .
Saigon Tourist và Vietnam Tourism là các đàn anh đầu đàn trong ngành
du lòch, đã hình thành hàng chục năm, với tư cách hãng du lòch quốc gia nên tạo
rất nhiều uy tín trên thò trường, Hoạt động lữ hành của Công ty thực sự phát triển
kể cả inbound, outbound và du lòch nội đòa. Vừa qua, Sàigòn Tourist có thành
công rất lớn, mở ra tín hiệu rất đáng vui mừng cho hoạt động lữ hành quốc tế là
sự kiện đón tàu du lòch của hãng Star Curises ngày 07/09/99 mang theo 2000
khách quốc tế. Đây là một hoạt động kinh doanh lữ hành chuyên nghiệp cao, có
tính chất liên kết đa quốc gia và mang lại lượng khách rất lớn trong chương trình
này (khoảng 150 ngàn khách).
Ngoài hai con chim đầu đàn của du lòch lữ hành và các doanh nghiệp lữ
hành của Tổng cục và Hà nội, mấy năm nay còn nổi lên nhiều doanh nghiệp
thu hút được lượng khách đi tour như Bến Thành Tourist, Incotour, Vietrvel,
Fiditour, VYC… các Công ty trên cũng là một trong những Công ty có khách
đông và nhiều khách tour trọn gói. Tuy nhiên, số lượng khách làm visa của các
Công ty trên còn chiếm tỷ không nhỏ.
Ngoài ra cũng phải công nhận kết quả hoạt động lữ hành của các liên
doanh. Hiện tại, liên doanh trong lữ hành quốc tế chưa có chủ trương phát triển,
mới có tổng cộng 8 liên doanh được cấp giấp phép hoạït động. Số lượng được
cấp giấy phép hoạït động còn rất ít, nhưng là những doanh nghiệp đưa khách vào
đi tour trọn gói với số lượng rất cao do nguồn khách từ Công ty mẹ cung ứng
qua. Mỗi liên doanh đều có tính chất chuyên nghiệp cao và nguồn khách vào
Việt nam đi tour rất ổn đònh, trung bình mỗi năm khoảng 10.000 khách như
Công ty Hongnhi cho nguồn khách Đài loan, Apex cho nguồn khách Nhật,
Exotissimo Travel cho nguồn khách Pháp…. Đây cũng là một vấn đề cần xem
Trang 22
xét lại trong quan điểm nhìn nhận về vấn đế hoạt động lữ hành quốc tế và việc
cấp giấy phép cho liên doanh lữ hành quốc tế.
Nhìn nhận chung về tình hình và kết quả hoạt động, trừ một số các đơn vò
chuyên doanh đầu đàn, cách tổ chức du lòch lữ hành của hầu hết các doanh
nghiệp đều chưa có tính chuyên nghiệp cao, mà còn chắp vá tạm bợ. Các Công
ty còn lại cũng chưa có một thế mạnh gì đặc sắc, tạo được sản phẩm đặc thù của
mình. Hầu hết, các sản phẩm đều giống nhau, cũng vẫn là các danh lam thắng
cảnh Nha Trang Đà lạt Vũng tàu, Huế.... Chỉ chủ yếu giành và giữ khách là do
chính sách giá, các sản phẩm du lòch (tour) chào bán đều giống nhau hậu quả là
sản phẩm du lòch của ta mất tính hấp dẫn và nhàm chán.
Để khắc phục sự giảm sút số lượng khách du lòch quốc tế vào Việt nam,
trên phương diện vó mô một loạt các sự kiện về du lòch đã được khơi dậy niềm
tin mới : Lần đầu tiên sau 38 năm xây dựng và trưởng thành, ngành du lòch đã có
pháp lệnh về du lòch; bên cạnh đó, Ban chỉ đạo Nhà nớc về du lòch đã được
thành lập, thực hiện chương trình hành động quốc gia về du lòch với chương trình
hành động quốc gia "Việt nam - điểm đến của thiên niên kỷ mới" và triển khai
đến từng doanh nghiệp. Tuy nhiên, quan hệ liên ngành còn nhiều vướng mắc
khó khăn. Công tác quản lý Nhà nước còn nhiều bất cập, cán bộ của ngành còn
thiếu, kinh nghiệm quản lý và kinh doanh du lòch chưa nhiều. Nhận thức du lòch
khá hơn nhưng chưa đầy đủ. Các chế độ chính sách đầu tư chưa phù hợp, chưa
thể hiện đúng chủ trương phát triển du lòch của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt
nguồn ngân sách; chưa đáp ứng kòp khiến chương trình thực hiện còn chậm.
Hà nội đã tổ chức "Thăng long mùa thu", TP.Hồ Chí Minh đã tổ chức
"Hội chợ đất phương Nam". Nhìn chung, qui mô và trình độ tổ chức thành công.
Tuy nhiên nó vẫn mang nặng sự long trọng của phần lễ, mang tính hô hào hình
thức, chưa mang tính chất hội; hình như chỉ "mình khai thác ta". Toàn bộ hộïi chợ
chỉ toàn doanh nghiệp các đòa phương, khách Việt nam vào thưởng thức ẩm thực,
chưa gắn lễ hội vào sản phẩm du lòch, chưa có tác dụng thu hút tiếp thò khách
quốc tế. Dù sao đây là một trong những cố gắng rất lớn về mặt vó mô trong quản
lý và xúc tiến du lòch của ngành du lòch. Hy vọng với tiềm năng du lòch của Việt
nam và sự tác động tích cực của Nhà nước, các khó khăn, yếu kém trong ngành
được tháo gỡ và tạo điều kiện cho hoạt động lữ hành quốc tế và ngành du lòch
nói chung phát triển.
2.1.3 Phân tích thực trạng trong kinh doanh lữ hành quốc tế và sản
phẩm du lòch Việt nam hiện nay
Có nhiều ý kiến cho rằng có tình hình giảm sút yếu kém như trên do ảnh
hưởng của cuộc khủûng hoảng kinh tế tài chính tiền tệ ở Đông Nam Á. Thực tế
Trang 23
dám nhìn nhận, thì đây là sự tránh né khi báo cáo thành tích. Phân tích cụ thể
hơn khi khủng hoảng kinh tế tài chính tiền tệ xảy ra, tác động lớn nhất là vào
tình hình đầu tư. Hàng loạt các dự án đã phải đình lại, các chủ đầu tư mà quốc
tòch trong khối Đông Nam Á chiếm tỷ lệ cao, khiến có phần ảnh hưởng đến
khách quốc tế đầu tư vào Việt nam. Nhưng giảm sút về số lượng khách đi du
lòch thì có lẽ không thể đổ tại do khủng hoảng kinh tế vì thực tế tỷ lệ khách quốc
tế nhập cảnh mà quốc tòch các nước trong khối Đông nam Á chiến tỷ lệ nhỏ
(Phụ lục 3 - Bảng số lượng khách quốc tế phân theo quốc tòch). Vậy vì sao có tình
hình hoạt động yếu kém trên và có sự giảm sút khách du lòch quốc tế, các doanh
nghiệp không bán được sản phẩm tour ?
Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, bên cạnh những kết quả
đạt được đáng khích lệ và những mặt mạnh mà các doanh nghiệp lữ hành quốc
tế đã đạt được, góp phần phát triển hoạt động của ngành, hoạt động lữ hành
quốc tế thời gian qua cũng bộc lộ nhiều những khuyết điểm yếu kém tồn tại cần
phải sớm khắc phục :
Công tác quảng bá tiếp thò kém cả ở tầm vó mô và nội tại mỗi doanh
nghiệp, thông tin về du lòch Việt nam không đến được với khách hàng :
Quảng bá tiếp thò là một việc quan trọng hàng đầu nhằm tăng cường thu
hút khách nhưng những năm qua ngành du lòch vẫn chưa xây dựng được chiến
lược và kế hoạch thực thi cho công tác tiếp thò của toàn ngành. Việc nghiên cứu
thò trường còn tản mạn manh mún, mang tính tự phát, chưa mang tầm Quốc gia.
Vì thế du lòch Việt nam chưa nắm bắt được xu thế vận động của từng thò trường
để từ đó có được sách lược đầu tư , khai thác đối với từng thò trường cụ thể.
Việc đầu tư kinh phí, ngân sách cho công tác tuyên truyền quảng bá, tiếp
thò còn rất ít nên không có điều kiện thực hiện. Cho đến nay, Việt nam chưa có
một Văn phòng đại diện du lòch ở nước ngoài. Các bộ phận thương vụ ở Sứ quán
Việt nam tại nước ngoài thì không đả động gì tới việc xúc tiến phát triển du lòch.
Các ấn phẩm quảng bá về du lòch của ngành không đáng kể, chủ yếu là các
doanh nghiệp tự làm, manh mún và chất lượng không cao. Gần đây, Tổng cục
Du lòch lòch đã tập trung sản xuất một ấn phẩm như đóa CD - ROM về du lòch
Việt nam, biên soạn sách "hướng dẫn du lòch", "tập gấp", website giới thiệu
ngành du lòch () nhưng cả nội dung và hình thức
còn ở khoảng cách khá xa so với yêu cầu phát triển (ở Thái lan để thu hút mỗi
năm 7 triệu khách quốc tế, Tổng cục du lòch Thái lan đã chi 60 triệu USD cho
công tác tuyên truyền, quảng bá; tương tự như vậy đối với Singapore 80 triệu
USD, trong khi đó ở Việt nam kinh phí giành cho quảng bá tiếp thò thời gian qua
hàng năm chỉ mới tính đến con số 100.000 USD, bắt đầu từ khi có Chương trình
Trang 24