Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

HỌC THUYẾT đức TRỊ của KHỔNG tử

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (180.82 KB, 20 trang )

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN
MÔN: CHÍNH TRỊ HỌC NÂNG CAO
ĐỨC TRỊ-HỌC THUYẾT LÃNH ĐẠO CỦA KHỔNG TỬ

Giảng viên hướng dẫn:
Họ và tên:
SHSV:

HÀ NỘI-2017

1


MỞ ĐẦU
Đức trị là một nội dung cốt yếu của Nho học, là một lý luận về chính
trị,
quản lý có ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội từ thời cổ đại đến nay, không chỉ ớ
Trung Quốc - nơi nó sinh ra - mà còn ở cả một số nước khác trong khu
vực. Nằm cạnh Trung Quốc, Việt Nam không thể không chịu sự ảnh hưởng
của Nho học - Nho giáo. Từ khi du nhập cho đến ngày nay, Nho giáo đã có
những bước thăng trầm biến đổi, từ chỗ bị phản kháng mãnh liệt trong đời
sống cộng đồng dân cư người Việt ngay buổi ban đầu, Đức trị Nho giáo đã dần
dần chiếm lĩnh, dần dần khẳng định vị trí của mình từ trong đời sống làng xã
cho đến các triều đinh phong kiến trung ương tập quyển. Ngày nay, trước
những biến đổi lớn lao của xã hội, Đức trị Nho giáo không còn độc tôn là một
công cụ cai trị, quản lý xã hội, song nó vẫn chứa đựng một số hạt nhân hợp lý
và giá trị bền vững cần được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tế.
Trong học thuyết Đức trị này, Khổng Tử đã đề cập tới nhiều quan điểm
khác nhau về lãnh đạo, để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, tác giả lựa chọn đề


tài “ Đức trị- Lý thuyết lãnh đạo của Khổng Tử” làm tiểu luận kết thúc
môn học.

2


NỘI DUNG
1.

Giới thiệu về Khổng Tử

Khổng Tử (551 - 479 TCN) là người nước Lỗ, tên là Khâu, tự là Trọng
Ni, sinh ra trong một gia đình quý tộc sa sút. Khổng Tử - ông thày họ Khổng là cách gọi tôn kính của nhân dân Trung Quốc đối với người được coi là sáng
lập ra Nho gia. Cha của Khổng Tử là Thúc Lương Ngột, một quan võ nhỏ của
triều đình và mẹ là Nhan Thị. Năm 549 trước Công nguyên Thúc Lương Ngột
chết để lại người vợ goá, đứa con thơ cùng một gia tài không lấy gì làm sung
túc
Tuy mồ côi cha từ nhỏ và cuộc sống gia đình ngày càng bức bách nhưng
được mẹ chăm sóc chu đáo, ngay từ tuổi thơ ấu, Khổng Tử đã là người có chí
lớn, vượt qua mọi khó khăn trong đời sống của một gia đình quý tộc nhỏ sa
sút, ham học, sớm có ý thức về sứ mệnh của mình là người “giáo hoá” các di
sản văn hoá của Chu Công, trong đó có tư tưởng văn trị hay đức trị cho xã hội
thời ông và cho các đời sau.
Vào thời Khổng Tử các giá trị và lễ nhạc của nhà Chu bị băng hoại,
thời
thế loạn lạc không dứt, một nội dung quan trọng trong lập chí của Khổng Tử

thông qua khôi phục lễ mà khiến khôi phục lại trạng thái an thuận thái hoà
của
Tây Chu ở thời kỳ hưng thịnh. Khổng Tử muốn theo nghiệp Chu Công, lấy

việc
phò tá quân vương đương thời để cai trị xã hội, tạo ra trạng thái xã hội “người

3


già yên ổn, bằng hữu vui vẻ, trẻ nhỏ thì được chăm sóc”. Đây được coi là nội
dung trọng yếu của lý tưởng nhân sinh mà Khổng Tử luôn theo đuổi. Bên cạnh
đó, quê hương nước Lỗ của Khổng Tử là nơi bảo tồn được nhiều di sản văn
hoá cũ của nhà Chu. Thời đại của Khổng Tử như trên đã phân tích là thời đại
“vương đạo suy vi”, “bá đạo” đang nổi lên lấn át “vương đạo” của nhà Chu;
trật tự lễ pháp cũ của nhà Chu đang bị đảo lộn, “vua không ra vua, tôi không
ra tôi”, “cha không ra cha, con không ra con”, mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp
thống trị và nhân dân lao động. Vua quan tìm mọi cách đàn áp, bóc lột nhân
dân; chính sách cai trị là dùng chính và hình giống tư tưởng Pháp trị. Là một
nhà tư tưởng đề cao lòng nhân ái, lễ nghĩa và đạo đức xã hội, Khổng Tử chủ
trương lập lại phương thức cai trị xã hội nhà Chu, lấy lễ, nhạc và đạo đức làm
gốc. Ông lập ra luận thuyết, mở trường dạy học, đi chu du các nơi trong nước
để tuyên truyền tư tưởng lý thuyết của mình nhằm phục vụ mục đích trên.
Năm 19 tuổi, Khổng Tử lấy vợ và sinh con trai tên Lý, tự Bá Ngư. Thời
gian này Khổng Tử đã từng coi gia súc và giữ kho cho họ Quý Thị. Vài ba
năm
sau ông bắt đầu dạy học. Năm 34 tuổi, nhờ sự giúp đỡ của Nam Cung Quát học trò cũ của Khổng Tử - ông được Lỗ Chiêu Công cho sang Lạc Dương ở
Chu đế khảo lễ nghi, thư tịch, sau đó ông sang Tề học nhạc thiều. Năm 36 tuổi
Khổng Tử về Lỗ tiếp tục dạy học.
Năm 50 tuổi, Khổng Tử giữ chức Đại tư khấu. Trong vòng mấy nãm
làm
quan Khổng Tử đã thể hiện tài chính trị nổi trội. Ở tất cả các mặt nội chính,
ngoại giao, giáo hóa lễ nhạc, chế độ hành chính, có thể nói là “nước Lỗ đại
trị.

4


chư hầu nể phục”. Đáng tiếc là cơ hội không được kéo dài, chán ngán cuộc
sống
vô luân trorig thâm cung mà ông được chứng kiến, Khổng Tử từ quan, bỏ
nước
Lỗ sang nước Vệ mong tìm được minh chủ nhưng ý nguyện của ông không
thành, dù đã bôn ba nhiều nước.
Năm 65 tuổi, Khổng Tử trở lại nước Lỗ. Ông san Thi, Thơ; định Lễ,
Nhạc; khảo Dịch; viết Xuân Thu và tiếp tục dạy học. Học trò của ông, theo sử
ký Tư Mã Thiên có tới 3 ngàn người, trong đó có 72 người hiền tài. Có thể nói
rằng Khổng Tử đã làm một công việc vẽ mắt cho con “Thần long” văn hoá
Trung Hoa. Sau khi Khổng Tử mất, học thuyết của ông được cả xã hội Trung
Quốc công nhận. Bắt đầu từ đời Hán, Khổng học đã trở thành một thứ tôn giáo
mới Khổng giáo - trở thành m ột thứ đạo cai trị chính thống của xã hội suốt
hơn 2 nghìn năm ở Trung Quốc. Bản thân Khổng Tử không chỉ đã được các
vua chúa Trung Hoa phong thánh mà còn được UNESCO phong tặng là “danh
nhân văn hoá thế giới”.
2. Lý thuyết lãnh đạo trong học thuyết Đức trị của Khổng Tử
2.1. Người lãnh đạo phải có tư cách của một quân tử
Khổng Tử không nhìn nhận con người một cách chung chung, giống
nhau mà thấy rõ sự khác nhau giữa họ về địa vị, quyền lực, của cải, học vấn,
tư cách... Chính sự khác biệt về các tiêu chí đó đã chia xã hội thành những
tầng lớp mà ông gọi là “loại người” khác nhau. Quản lý xã hội cần nhận thức
rõ sự khác nhau về đổi tượng để có phương pháp phù hợp vẫn trên cơ sở
nguyên tắc chung là đức trị.
- Quân tử và tiểu nhân.
5



Một là, về mục đích sống, động cơ hành động: quân tử vì nghĩa, tiểu
nhân vì lợi. Điều này có nghĩa là: hành vi của quân tử chủ yếu là phải hợp với
Nhân đạo cùng những hành vi đã thành khuôn phép. Tiểu nhân khi thấy lợi thì
làm, mục tiêu cuối cùng của mọi lời nói, việc làm đều là mưu cầu tư lợi cho
mình. Đây có thể coi là sự phân chia ranh giới cơ bản giữa quân tử và tiểu
nhân.
Hai là, Quân tử không ngừng học tập, tu dưỡng, phấn đấu, tiểu nhân
sống an phận thủ thường, có sao hay vậy. Người quân tử do có tự giác với
nhân tính nội tại của mình mà ra sức khai thác thế giới nhân cách nội tại của
mình, từ trong cuộc sống thường ngày, qua sự tu dưỡng đạo đức của mình, đạt
đến sự quán thông ta với ngoại vật, mình với người, một khung cảnh hoà đồng
trời với người, từ đó mà thành ra một người có đức tính kiên định. Kẻ tiểu
nhân chỉ nghĩ đến lợi lộc mà không biết phản tỉnh với đức tính của mình, bởi
thế khó có được một thế giới tinh thần tốt đẹp.
Ba là, Quân tử, trong quan hệ với mọi người, với xã hội, thì hoà mà
không đồng, tiểu nhân thì đồng mà bất hoà. Trong đối đãi xử sự với người,
người quân tử với tấm lòng nhân ái, thể hiện rõ rệt đức tính nội tại của mình,
dám kiên trì quan điểm đúng đắn của mình, đề ra ý kiến bất đồng tạo nên sự
phát triển hài hoà của sự vật. Tiểu nhân chỉ biết nhắm mắt làm bừa theo ý cấp
trên, mà không xuất phát từ thực tế. Họ không chú trọng đến đoàn kết, mà chi
thích kéo bè kéo cánh vì tư lợi mà thôi.
Bốn là, Quân tử, trong lối sống, thì nói đến khuôn phép, tiểu nhàn thì
tự ý làm bừa. Quân tử bởi có tự giác với Nhân ái mà có sự tuân thủ, lời nói
việc làm đều có quy củ nhất định. Quàn tử không vì một lúc yếu mềm mà tư
lợi làm bừa.
6


Trái lại, tiểu nhân cứ thấy lợi thì làm theo, lúc nào mà họ khốn cùng thì

họ tự ý làm bừa, thậm chí không cần nghĩ đã chọn thủ đoạn gì nữa.
Năm là, Quân tử, về phong thái, thì thanh thản thư thái, tiểu nhân thì
kiêu sa mà lo âu. Biểu hiện ở thái độ sống, quân tử do có nhân đức, có hiểu
biết, dẫu nghèo mà vui với đạo, bởi thế mà trong lúc nguy khốn vẫn bình thản,
thư thái, có địa vị cao không kiêu ngạo, khinh rẻ người khác. Tiểu nhân vì sự
cầu lợi, mà cảm thấy không được yên ổn, lại lo được lo mất, chỉ thích tận
hưởng xa hoa, với người thì ngạo mạn nên không lúc nào được yên ổn cả.
Sáu là, Quân tử, trong việc làm, làm thì dễ mà nói ra thì khó, kẻ tiểu
nhân thì nói giỏi làm chẳng được việc gì. Người quân tử làm công việc của
mình thường rất dễ dàng, song để họ thật vừa ý thì khó. Người quân tử biết sử
dụng người, thường là căn cứ vào tài năng của người ta mà phân công việc, vì
thế những người dưới quyền đều làm xong công việc một cách nhiệt tình. Đối
với kẻ tiểu nhân thì chỉ vì muốn làm sao cho xong việc là được, dùng những
phương thức không chính đáng để làm vừa lòng người ta thì kẻ tiểu nhân cũng
vẫn tỏ ra vui vẻ. Cho nên, kẻ tiểu nhân làm thì khó mà lại tỏ ra vui mừng là
làm xong việc
Bảy là, Quân tử mừng vì người khác thành đạt, kẻ tiểu nhân đố kị với
người khác. Quân tử thì cái mình làm được thì cũng muốn giúp người khác
làm
được, cái mình không muốn làm cho mình thì cũng không muốn làm cho
người
khác. Người quân tử luôn vui vẻ giúp đỡ vào việc thành đạt của người khác.
Kẻ
tiểu nhân muốn đặt tư lợi của mình lên hàng đầu nên không quan tâm nhiệt
7


tình
giúp đỡ người khác. Trái lại, để giành được tư lợi của mình họ thường là bất
kể

thủ đoạn, không chỉ tranh chỗ của người khác mà còn có thể làm điều ác với
người ta nữa.
2.2.Người lãnh đạo là Vua-nhưng vẫn chịu mệnh trởi
Khổng Tử đề cao mệnh trời (thiên mệnh) trong mối quan hệ với con
người và xã hội: đời người và đường đi (đạo) của người đều phải phù hợp với
thiên mệnh. Tuy nhiên, ông quan niệm về trời lại không nhất quán, lúc thì duy
vật (Trời là quy luật khách quan) lúc khác lại duy tâm (trời như ông thần, ông
thánh); đạo cai trị của Khổng Tử trước sau đều nhấn mạnh đến phương châm:
tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, tránh chủ quan tuỳ tiện.
Trong nghị luận nhiều chỗ ồng nói đến “Trời”, “Mệnh trời” để trình bày
ý kiến của mình. “Trời” đối với Khổng Tử có chỗ như là một quy luật, là trật
tự của vạn vật “Trời có nói gì đâu, bốn mùa vẫn thay đổi, trăm vật vẫn sinh
trưởng”, có chỗ ông khẳng định trời có ý chí “Than ôi! trời làm mất đạo ta”;
“Mắc tội với trời không thể cầu được ở đâu mà thoát được”. Ý chí của Trời là
Thiên mệnh (Mệnh lệnh của trời: Mệnh trời). “Thiên mệnh” nói vắn tắt là
mệnh. Ông cho rằng mỗi cá nhân, sự sống - chết, phú qủý hay nghèo hèn đều
là do “Thiên mệnh” quy định. Phú quý không thể cầu mà có được, do vậy bất
tất phải cầu. Mặt khác, Khổng Tử lại cho rằng con người bằng nỗ lực chủ
quan của mình cũng có thể thay đổi được cái “Thiên tính” ban đầu. ông nói,
con người lúc sinh ra, cái “tính” trời phú cho là giống nhau nhưng trong quá
trình tiếp xúc, học tập... nó làm cho họ khác nhau, có kẻ trí có người ngu

8


“Tính tương cận dã, tập tương viễn dã”. Đây là mặt tích cực, chỗ “thêm vào”
của Khổng Tử so với quan điểm “Mệnh trời” trước đó
Về bản chất người: Hiểu về bản chất con người thì mới có thể cai trị,
quản lý các cá nhân và xã hội một cách đúng đắn. Khổng Tử cho rằng, con
người có sẵn nhân tính, khác với loài cầm thú khác. Tính người của Khổng Tử

về cơ bản là tốt đẹp. Sau này, Mạnh Tử kế thừa, phát triển tư tưởng của Khổng
Tử khi khẳng định “nhân chi sơ tính bản thiện”. Bản chất con người chung
quy là do các phẩm chất hay đức tính tạo thành. Mức độ phát triển của các đức
tính này lại phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội tốt hay xấu. Trong Luận ngữ có
nói: Bản tính con người gần giống nhau, do tập nhiễm mới khác xa nhau.
2.3.Các phẩm chất của người lãnh đạo là nhân trí dũng
Trong học thuyết của mình, trước hết, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh
đến các phẩm chất đạo đức của nhà lãnh đạo và quy chúng thành những tiêu
chuẩn cơ bản, đó là Nhân, Trí, Dũng. Trong đó, nhân đóng vai trò căn bản, cốt
lõi. Khi Phàn Trì hỏi về người nhân, Khổng Tử nói: “[Đó là người biết] yêu
người”. Hỏi về người trí, ngài bảo: “[Đó là người] biết người”. (Phàn Trì vấn
nhân, Tử viết: “Ái nhân”. Vấn trí, Tử viết: “Tri nhân”) [Luận ngữ, XII, 21](1).
Chữ nhân trong học thuyết của Khổng Tử phản ánh mối quan hệ xã hội
sâu sắc, bao hàm nhiều nghĩa mà trước hết là đạo trung thứ: điều gì mình
muốn đạt thì cũng làm cho người khác cùng đạt (phù nhân giả, kỷ dục lập nhi
lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân), điều gì mình không muốn thì không nên
làm cho người khác (kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân). Đó là thái độ ứng xử thiện
tâm, biết suy ta ra người để yêu thương người, giúp đỡ người và quan trọng
hơn, là không hại người. Tăng Tử, một học trò giỏi của Khổng Tử đã khẳng
định với các bạn học của mình rằng, “Đạo của thầy chỉ tóm tắt ở một điều

9


“trung thứ mà thôi” (Phu tử chi đạo, trung thứ nhi dĩ hĩ) [Luận ngữ, IV, 15].
Chúng ta thấy, tư tưởng trung thứ của Khổng Tử mang ý nghĩa nhân văn cao
cả. Trong thế giới hiện đại mà chúng ta đang sống, nếu mọi người biết yêu
thương nhau, hiểu nhau và biết khoan dung như tư tưởng của Khổng Tử nêu ra
cách đây 2500 năm, thì làm gì có các cuộc chiến tranh phi nghĩa, có sự phân
hoá giàu nghèo đến cực độ đang diễn ra trên trái đất này.

Khi nói về mối quan hệ giữa nhân và trí, Khổng Tử cho rằng, “Người
nhân an vui với điều nhân. Khéo biết lợi dụng lòng nhân để đem lại lợi ích cho
mọi người thì gọi là trí mà thôi” (Nhân giả an nhân, trí giả lợi nhân) [Luận
ngữ, IV, 2]. Nói "người nhân" để xử vào cảnh nghèo túng, "người trí" để xử
vào cảnh lạc thú. Như vậy, nhờ có trí người quân tử mới phân biệt được đúng
sai, phải trái, mới biết cách đối xử có nhân, có lòng dũng cảm để làm tròn đạo
lý. Khổng Tử cũng nhấn mạnh rằng, nếu không có trí thì nhân cũng không
thực hiện được.
Biết người là biểu hiện của trí năng con người. Việc con người biết yêu
thương đồng loại của mình, coi người cũng như mình là do đều có điểm xuất
phát chung - cùng bẩm thụ từ một “Khí” và là một trong ba bộ phận cấu thành
quan trọng của vũ trụ – tam tài (Thiên, Địa, Nhân). Tuy nhiên, nhận thức về
con người trong học thuyết của Khổng Tử không thể đi xa hơn, không thể đạt
tới trình độ bản thể luận mà chỉ dừng lại ở năng lực ứng xử trong phạm vi
“Ngũ luân” – năm mối quan hệ: Vua – tôi, Cha – con, Chồng – vợ, Anh – em,
Bè – bạn; lấy đối tượng “gia đình” làm hạt nhân, nền tảng cho các quan hệ
khác. Có thể nói, tài trí mà Khổng Tử muốn đề cập tới là năng lực ứng xử theo
các quan hệ đẳng cấp nhất định. Điều đó đòi hỏi người quân tử phải biết
mệnh, chính danh để trở thành người cầm quyền.

10


Khổng Tử đã coi năng lực trị quốc xuất phát từ khả năng tự hoàn thiện
(tu thân) của người quân tử. Ông nói rằng, “Lấy đức để làm việc chính trị
cũng ví như ngôi sao Bắc thần, ở yên vị mà các ngôi sao khác đều chầu về”
(Vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần cư kỳ sở, nhi chúng tinh củng chi) [Luận
ngữ, II, 1]. Quan điểm chính trị mà Khổng Tử đề ra là “hữu vi”, đối lập với
quan điểm “vô vi” của Lão Tử. Nếu Lão Tử cho rằng, “Chính trị của thánh
nhân là làm cho dân lòng thì hư tĩnh, bụng thì no, tâm chí thì yếu, xương cốt

thì mạnh. Khiến cho dân không biết, không muốn, mà bọn trí xảo không dám
hành động. Theo chính sách vô vi thì mọi việc đều trị” (Thị dĩ thánh nhân chi
trị, hư kỳ tâm, thực kỳ phúc, nhược kỳ chí, cường kỳ cốt. Thường sử dân vô tri
vô dục, sử phù trí giả bất cảm vi dã. Vi vô vi, tắc vô bất trị) [Đạo Đức kinh,
chương 3] thì theo Khổng Tử, để có năng lực trị quốc, con người phải trải qua
một quá trình học tập, tu dưỡng. Trong chương 1, sách Đại học, phần Kinh
văn có ghi chép lời của Khổng Tử như sau: “Sự vật được nghiên cứu kỹ thì
sau sự hiểu biết mới tới. Hiểu biết thấu đáo thì sau ý nghĩ mới thành thật. Ý
nghĩ thành thật thì sau tâm mới ngay thẳng. Tâm ngay thẳng thì sau bản thân
mới tu sửa. Thân tu sửa thì sau nhà mới ngăn nắp. Nhà ngăn nắp thì sau nước
mới trị an. Nước trị an thì sau thiên hạ mới thái bình” (Vật cách nhi hậu tri chí.
Tri chí hậu ý thành. Ý thành nhi hậu tâm chính. Tâm chính nhi hậu thân tu.
Thân tu nhi hậu gia tề. Gia tề nhi hậu quốc trị. Quốc trị nhi hậu thiên hạ bình).
Như vậy, chủ trương của Khổng Tử là “làm sáng cái đức sáng” để thi hành
đường lối đức trị. Ở đây, chúng ta tìm thấy sự thống nhất của hai nhà tư tưởng
vĩ đại này về quan điểm chính trị. Đó là sự hạn chế đến mức tối đa những
mệnh lệnh, những quy định hà khắc. Theo Khổng Tử, “Dùng chính lệnh để
dẫn dắt dân, dùng hình pháp để giữ trật tự, dân tránh khỏi tội nhưng chưa biết
hổ thẹn. Dùng đức để dẫn dắt, dùng lễ để giữ trật tự, dân biết hổ thẹn mà tiến
11


tới chỗ tốt lành” (Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ. Đạo chi
dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách) [Luận ngữ, II, 3]. Người quân tử muốn có
đức sáng, đức lớn phải hết sức nỗ lực tu dưỡng bản thân, trước hết thành
người có nhân, có trí. Có nhân, có trí thì người quân tử mới đủ khả năng thi
hành đạo nghĩa. Nói cách khác, nhân và trí là tiền đề để người quân tử dũng
cảm hành động hợp với đạo nhân nghĩa, không bị nhầm lẫn trong hành động.
Khổng Tử nói rằng, "Người quân tử lấy đạo nghĩa làm căn bản, dùng lễ để thi
hành, biểu lộ bằng đức khiêm tốn, hoàn thành nhờ chữ tín. Quân tử vậy thay!"

(Quân tử nghĩa dĩ vi chất, lễ dĩ hành chi, tốn dĩ xuất chi, tín dĩ thành chi. Quân
tử tai) [Luận ngữ, XV, 17].
Khổng Tử quan niệm về dũng như là lòng dũng cảm, xả thân vì việc
nghĩa. Khổng Tử cho rằng, để là người nhân thì cần phải có dũng, bởi nếu
không có lòng dũng cảm thì không thể giúp người được, không thể thực hiện
được mục đích của mình. Tuy vậy, ông cũng cho rằng, người có dũng chưa
chắc đã phải là người nhân. Quan tâm đến dũng nhưng Khổng Tử vẫn nhấn
mạnh đến nhân nghĩa. Tử Lộ hỏi: Người quân tử có quý trọng dũng không?
Khổng Tử trả lời: "Người quân tử quý trọng điều nghĩa hơn. Người quân tử có
dũng mà không có nghĩa thì làm loạn. Kẻ tiểu nhân có dũng mà không có
nghĩa thì làm trộm cướp" (Tử Lộ vấn: "Quân tử thượng dũng hồ?" Tử viết:"
Quân tử nghĩa dĩ vi thượng. Quân tử hữu dũng nhi vô nghĩa vi loạn. Tiểu nhân
hữu dũng nhi vô nghĩa vi đạo") (Luận ngữ, XVII, 22). Điều đó chứng tỏ rằng,
dũng trong tư tưởng của Khổng Tử thuộc nội hàm của khái niệm đạo đức –
tinh thần, chứ không phải dựa vào sức mạnh cơ bắp.
Khi bàn đến “đức” và “tài” trong mẫu người lý tưởng – người quân tử,
Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh đến mặt đức (nhân), còn về mặt tài (trí) thì ông
12


có bàn đến nhưng vẫn còn mờ nhạt. Có thể nói, quan niệm về [tài] trong tư
tưởng của Khổng Tử mang tính phiến diện, bởi ông chỉ dừng lại ở tài trị nước,
tức là tài của người có chức, có quyền.
Trí, trong văn cảnh mà chúng ta đang nói tới được hiểu là tài trí, theo
Khổng Tử, không phải là kiến thức về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, mà là sự
hiểu biết về đạo thánh hiền, làm theo giáo huấn của bề trên. Trí ở đây chỉ
thuần tuý về mặt sách vở giáo điều, chưa phải là những tri thức phản ánh tính
tất yếu khách quan của tự nhiên và xã hội, để từ đó đưa lại sự tự do cho hành
động của con người. Theo Khổng Tử, để có được trí, con người phải tu dưỡng
theo lối "khắc kỷ phục lễ vi nhân", là vui thích với lục nghệ (ngự, xạ thư, số,

lễ, nhạc). Nội dung của trí chỉ gói gọn trong các kinh điển của người xưa (Thi,
Thư, Lễ, Dịch và Xuân Thu). Khổng Tử muốn nhà cai trị trở thành sao Bắc
đẩu, song ngôi sao đó chỉ toả sáng trên bầu trời đức trị, không trực tiếp dẫn dắt
dân trên con đường giàu có về vật chất, mạnh về tinh thần. Khi Phàn Trì xin
học về nghề trồng lúa, Khổng Tử nói: “Ta không bằng ông lão nhà nông”. Xin
học nghề làm vườn, Khổng Tử nói: “Ta không bằng ông lão làm vườn”. Phàn
Trì ra khỏi, Khổng Tử nói: “Tiểu nhân thay ngươi Phàn Tu! Người trên
chuộng lễ, ắt dân chẳng ai dám không cung kính, người trên chuộng nghĩa, ắt
dân chẳng ai dám không phục, người trên chuộng chữ tín, ắt dân chẳng ai dám
không thật lòng. Nếu đã như vậy, ắt dân chúng bốn phương địu con bồng cái
theo về. Cần gì phải học cày cấy” (Phàn Trì thỉnh học giá, Tử viết: “Ngô bất
như lão nông” Thỉnh học vi phố, viết: “Ngô bất như lão phố”. Phàn Trì xuất,
Tử viết: “Tiểu nhân tai Phàn Tu dã! Thượng hiếu lễ, tắc dân mạc cảm bất kính,
thượng hiếu nghĩa tắc dân mạc cảm bất phục, thượng hiếu tín tắc dân mạc cảm
bất dụng tình. Phù như thị tắc tứ phương chi dân cưỡng phụ kỳ tử nhi chí hĩ.
13


Yên dụng giá?) [Luận ngữ, XIII, 4]. Quan điểm của Khổng Tử mang tính đẳng
cấp khắc nghiệt, cho công việc làm ruộng, làm vườn là nghề của kẻ tiểu nhân.
Trong tư tưởng của Khổng Tử, quân tử là kẻ cầm quyền, có sức mạnh như gió
thổi rạp cỏ (tiểu nhân - dân chúng).
Không chỉ là nhà tư tưởng lớn, Khổng Tử còn là một nhà giáo, một
người thầy đã được nhân dân Trung Hoa tôn vinh là bậc "chí thánh tiên sư,
vạn thế sư biểu". Cả cuộc đời Khổng Tử phấn đấu cho lý tưởng đạo đức của
mình. Ông luôn giáo dục các học trò tu tâm dưỡng tính, đồng thời kêu gọi các
bậc vua chúa cần phải "tu thân", sửa đức theo gương những bậc vua thánh thời
xưa như vua Nghiêu, vua Thuấn. Bản thân Khổng Tử cũng là một tấm gương
về người có đức. Thế nhưng, cũng có lúc Khổng Tử đã phải thốt lên rằng: “Ta
chưa hề thấy người thật lòng ham thích điều nhân, cũng như chưa thấy người

thật lòng ghét điều bất nhân. Ham thích điều nhân là coi điều nhân trên hết,
không gì hơn được. Ghét điều bất nhân thì trong lúc làm điều nhân chẳng để
điều bất nhân vướng vào thân. Có ai trọn ngày ra sức làm điều nhân chăng? Ta
chưa hề thấy người nào không đủ sức để làm điều nhân. Hoặc có đấy, ta chưa
được thấy tận mắt” (Ngã vị kiến hiếu nhân giả, ố bất nhân giả. Hiếu nhân giả
vô dĩ thượng chi. Ố bất nhân giả, kỳ vi nhân hĩ, bất sử bất nhân gia hồ kỳ thân.
Hữu năng nhất nhạt dụng lực ư nhân hĩ hồ? Ngã vị kiến lực bất túc giả. Cái
hữu chi hĩ, ngã vị chi kiến giã) [Luận ngữ, IV, 6].
Những lời than phiền của Khổng Tử cho thấy, ông đã bất lực trong
việc xây dựng mẫu người quân tử. Lý tưởng về một mẫu người "toàn thiện"
mà ông dày công xây dựng chỉ là không tưởng. Bởi xã hội thời ông sống đầy
bất công, mọi trật tự xã hội đã bị đảo lộn, chiến tranh liên miên. Người ta
tranh giành đất đai và quyền lực mà bất chấp tất cả đến nỗi khi chứng kiến
14


những cảnh đó, Mạnh Tử đã nói rằng: đánh nhau giành đất, thây chất đầy đất.
Đánh nhau giành thành thây chất đầy thành. Chính vì vậy, Khổng Tử luôn hoài
niệm về cái thời xa xưa của Tam hoàng, Ngũ đế. Ông mong muốn thời xưa ấy
tái hiện trong thời đại của ông, mong những “vua thánh tôi hiền” lại xuất hiện
ở thời Xuân Thu Chiến quốc, nhưng điều này khó có được và có chăng nữa thì
cũng rất hiếm! Vậy nguyên nhân nào đã làm cho lý tưởng của Khổng Tử chỉ là
không tưởng? Trước hết, đó là vì những chuẩn mực đạo đức của mẫu người lý
tưởng - quân tử mà ông xây dựng xa rời thực tế. Thứ hai, mẫu người lý tưởng
đó thuộc số ít trong giới quý tộc, một đẳng cấp vốn coi thường nhân dân, sống
trên sự lam lũ khổ cực của người dân. Khổng Tử dạy học trò của mình rằng,
“… Làm nghề cầy ruộng đôi khi gặp cảnh đói khó. Chịu khó học hành ắt được
hưởng lộc. Người quân tử chỉ lo âu về đạo lý, chẳng lo âu chuyện nghèo khó”
(Canh dã, nỗi tại kỳ trung hĩ. Học dã, lộc tại kỳ trung hĩ. Quân tử ưu đạo, bất
ưu bần) [Luận ngữ, XV, 31]. Trong tâm niệm của Khổng Tử, để trở thành nhà

cầm quyền, người quân tử phải ra sức học tập, xin nhấn mạnh thêm, sự học đó
là học cách trị người, để khi thành đạt, được hưởng lộc từ mồ hôi nước mắt
của dân, song chỉ tạ ơn trời đã ban phát chứ không phải “bổng lộc” từ cuộc
sống trần thế. Ông chưa tìm được con người gắn bó với thực tiễn, lăn lộn
trong hoạt động thực tiễn xã hội. Con người tài (có trí) - đức (có nhân) mà ông
xây dựng mới chỉ dừng lại ở mặt lý thuyết chứ chưa thành hiện thực. Đó chính
là mặt hạn chế trong tư tưởng của Khổng Tử nói riêng cũng như ở nhiều nhà
triết học trước C.Mác nói chung.
2.4.Cách ứng xử của người lãnh đạo
Nói về tư tưởng của Khổng Tử, ông tuy rất nhấn mạnh rằng người quân
tử trong đối nhân xử thế phải lấy nghĩa lý làm đầu, song trên thực tế ông cũng
15


không chỉ nói về nghĩa mà không nói đến lợi. Mục tiêu của Khổng Tử là
muốn
có được một xã hội lý tưởng thuận hoà, mỗi người lấy nghĩa làm đầu, người
ta
không mưu tư lợi thái quá mà muốn làm người quân tử giúp ích cho xã hội
bằng
việc làm vì nghĩa của mình, đây cũng là cách đế đạt được xã hội lý tưởng. Vì
thế Khổng Tử nhấn mạnh người quân tử không mưu tư lợi mà phải sống vì
nghĩa lý, đấy là nhu cầu đem đến điều tốt đẹp cho quốc kế dân sinh. Như vậy,
chủ thể cai trị, quản lý xã hội phải có đạo đức của người quân tử, phải đối xử
với người khác với tấm lòng một chính nhân quân tử. Một xã hội mà có nhiều
kẻ “tiểu nhân đắc ý” nắm quyền thì nhất định sẽ bị rối loạn, suy thoái.
Trong ứng xử của người lãnh đạo phải lấy Trung dung và Tứ vô làm
phương châm ứng xử. Tư tưởng Trung dung có vị trí đặc biệt quan trong trong
tư tưởng Nho giáo, được thể hiện trong nhiều lĩnh vực. Một cách ngắn gọn,
Trung dung có nghĩa là không thái quá, không bất cập. Khổng Tử cho rằng

“Lời nói và việc làm của người quân tử thì phù hợp với chuẩn tắc trung dung”,
còn của kẻ tiểu nhân thì phản lại chuẩn tắc trung dung vì người quân tử luôn
giữ được trạng thái trung hòa, hành vi và tình cảm khi biểu hiện ra đúng mực,
phù hợp với tình huống, hoàn cảnh.
-Kẻ sĩ: Có thể nói rằng, người quân tử được Khổng Tử nói đến là cách
gọi chung cho những người làm điều nhân, ở đó còn có thể chia thành tầng thứ
cao thấp nữa. Trên một ý nghĩa nhất định kẻ sĩ mà Khổng Tử nói đến cũng
tương tự như khái niệm quân tử. Sĩ là một tiêu chí về đẳng cấp thân phận; ở
thời đại Xuân Thu của Khổng Tử, đã thấy nói đến Sĩ, Nông, Công, Thương,
16


tức là xem sĩ là đứng đẩu trong bốn hạng người. Theo Khổng Tử, thân phận
của kẻ sĩ ở mức độ nhất định cũng liên quan tới tu dưỡng đạo đức. Trí của kẻ
sĩ là ở đạo, tức là tự giác làm điểu nhân, là điều kiện cơ bản để một phần tư trí
thức được xem là kẻ sĩ. Về điểm này Khổng Tử yêu cầu một sự phân tách với
người quân tử. Khổng Tử đề ra, kẻ sĩ với bạn hữu phải giúp đỡ nhau, với anh
em phải hoà làm một... Vì thế, kẻ sĩ có thể được xem là phần tử trí thức có chí
lớn hành đạo - là người trí thức quân tử. Còn tráng sĩ là người quân tử có sức
mạnh thân thể và giỏi võ thuật, có chí hướng hành động vì nghĩa, bảo vệ cái
thiện, người yếu, chống lại cái xấu và sức mạnh dã man.
- Thiện nhân: “Thiện nhân là người mà ta khó gặp được, phải là người
tận tâm mà quên mình” Khổng Tử nói. Khi Tử Trương hỏi về thiện nhân, ông
cho rằng: là người làm điều thiện mà không muốn để người khác biết đến.
Chính bởi thiện nhân là người có phẩm cách nhất định, có thể ở địa vị cao
trong xã hội, nên Khổng Tử cũng đặt nhiều hy vọng ở họ, theo ông nhìn nhận,
nếu như dùng người dân chưa qua huấn luyện để tác chiến như vậy là xem
thường sinh mệnh của dân chúng. Ông cũng nói: thiện nhân dạy dân đủ bảy
năm rồi mới có thể dùng vào việc binh nhung. Điều ấy có nghĩa là, thông qua
việc người cai trị chỉ bảo cho dân làm theo hiếu đễ trung tín, người dân làm

theo pháp luật nghiêm minh, bởi thế mà có thể tham gia việc chiến sự ở đó.
Khổng Tử với thiện nhàn gửi gắm những kỳ vọng to lớn, ông nói: Thiện nhân
sửa sang quốc chính liền suốt trăm năm, đủ để cảm hoá người tàn bạo khiến
họ không làm điều ác nữa, cũng có thể lấy điều thiện để cảm hoá người dân
khiến cho không cần phải ràng buộc bằng hình phạt nặng nữa. Hiển nhiên,
không cần dùng đến hình phạt nặng nói ở đây mang sắc thái lý tưởng nồng
đậm của Nho gia theo thuyết Đức trị. Càng suy nghĩ lại lời nói của

17


Khổng Tử về việc sửa sang chính sự chẳng khó thấy rằng, điều mà
Khổng Tử đề cập ở đây có thể thấy đó là mắt xích trong lý tưởng điều hành
chính sự bằng nhân ái của ông.
- Con người toàn diện:
Khi Tử Lộ hỏi về con người toàn diện là thế nào, Khổng Tử trả lời
rằng:
“Nếu như có trí lực như Tang Vũ Trọng, có lòng không ham muốn như Công
Xước, có dũng cảm như Trang Tử đất Biện, có tài nghệ như Nhiễm Cầu, lại
được sức nhờ lễ nhạc, người như thế cũng có thể là người hoàn toàn
vậy”Khổng Tử cũng đồng thời chỉ rõ ràng làm thế nào để thành một người
toàn diện?. Thấy lợi thì nhớ đến nghĩa lý, thấy hiểm thì không tiếc sinh mệnh,
không quên làm theo điều phải, như vậy thì có thể trở thành con người toàn
diện. Ngoài ra, đối với người toàn diện Khổng Tử có nói đến trí, liêm, dũng và
tài nghệ, song lại không thấy nói đến nhân ái. Qua đó chúng ta có thể thấy
rằng con người toàn diện mà Khổng Tử để cập đích xác chưa có tầm cỡ của
thánh nhân.
- Thánh nhân: Thánh nhân là điển hình của nhân cách lý tưởng, Khổng
Tử và Nho gia đã vì điều này mà nêu lên. Dễ dàng thì thấy rằng thánh nhân là
người đã làm trọn đạo làm người. Cụ thể là thánh nhân có đức hạnh rất cao,

cũng có đủ tài cán lớn.

18


KẾT LUẬN
Học thuyết lãnh đạo của Khổng Tử được thể hiện qua Học thuyết Đức
trị là một trong những tiền đề để các nhà lãnh đạo hiện nay hoạch định đường
lối cũng như chương trình hành động của mình. Trong lý thuyết đó mặc dù
còn nhiều hạn chế nhưng nội dung cốt lõi căn bản vẫn còn nguyên giá trị.
Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, trong quá trình phấn
đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tư
tưởng về việc xây dựng con người mới "vừa hồng, vừa chuyên" - vừa có đức,
vừa có tài đòi hỏi phải có sự vận dụng sáng tạo những lý thuyết trên.

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình đào tạo trình độ thạc sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh Đề án 1677
2. Quốc Hùng (Biên dịch), Những tố chất của người lãnh đạo, Nxb
Văn Hóa.2005
3. Tư tưởng Đức trị của Khổng Tử, />
20



×