MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Vũ Trọng Phụng (20/10/1912 -18/10/1939) là một nhà văn , nhà báo nổi tiếng
của Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XX. Tuy thời gian cầm bút không bao lâu,
song khối lượng tác phẩm Vũ Trọng Phụng để lại khá lớn và có giá trị: hơn 30 truyện
ngắn, 9 cuốn tiểu thuyết, 9 tập phóng sự, 7 vở kịch cùng rất nhiều những bài báo, bài
nghiên cứu đăng trên các tạp chí đương thời. Tác phẩm của ông phản ánh chân thực
bức tranh cuộc sống. Nó có giá trị như một nhân chứng , vật chứng của thời đại, là
bản cáo trạng đối với chế độ thực dân nửa phong kiến, là lời kêu gọi thống thiết phẩm
giá, tự do, một cuộc sống xứng đáng không chỉ cho một thời mà cho mọi thời.
Tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng là một cuốn truỵên trào phúng độc
đáo mà ngưòi đọc có thể cười từ chương đầu đến chương cuối của tác phẩm và gợi ra
nhiều suy nghĩ về giá trị, thực chất của văn minh, hiện đại.Vì sao vậy? Phải chăng sự
1
thành công của tác phẩm là do tác giả tạo ra được nhiều mâu thuẫn trào phúng? Hay
do sự độc đáo của hình tượng nhân vật? Có thể có nhiều cách lý giải, từ nhiều góc độ
tiếp nhận văn học khác nhau.
PHẦN NỘI DUNG
1. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện
1.1.
Khái niệm cốt truyện
trong tiểu thuyết Số đỏ
Cốt truyện là cái sườn sự việc, biến cố trong tác phẩm tự sự, trong tiểu thuyết;
là phương tiện bộc lộ tính cách, thể hiện sự tác động qua lại giữa các tính cách, đồng
thời là phương tiện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội.
Có thể hiêu đơn giản cốt truyện là truyện được cô đúc lại, là cái cốt lõi liên
quan đến nhân vật chính. Cốt truyện trong văn học dân gian thường dơn giản,thường
thuộc loại cốt truyện đơn tuyến. Ở những truyện đơn giản thi cốt truyện và tình tiết
giao nhau một cách đơn giản. Ở truyện hiện đại như tiểu thuyết, cốt truyện hết sức
phức tạp và thường là cốt truyện đa tuyến. "Cốt truyện đa tuyến là cốt truyện trình bày
một hệ thống sự kiện phức tạp, nhằm tái hiện nhiều bình diện của đời sống ở một thời
1
kỳ lịch sử. Tái hiện những con đường diễn biến phức tạp của nhân vật,do đó có một
dung lương lớn" (Từ điển thuật ngữ văn học). Cốt truyện trong tiểu thuyết "Số đỏ"
cũng thuộc loại hình đa tuyến như vậy.
Nói chung, cốt truỵên là hệ thống sự kiện (biến cố) xảy ra trong đời sống của
nhân vật, có tác dụng bộc lộ tính cách, số phận nhân vật. Cái phần lõi của truyện đó có
thể tóm tắt, thuật lại hay vay mượn để sáng tạo ra tác phẩm khác.
Các loại hình cốt truyện
1.2.
Tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng được xây dựng dựa trên hai loại cốt truyện : cốt
truyện sự kiện và cốt truyện tâm lí.
1.2.1.
Cốt truyện sự kiện
Sự kiện , biến cố chính là trục vận động của loại hình cốt truyện này. Tiểu thuyết
của Vũ Trọng Phụng không đi theo một khuôn khổ của kết cấu truyền thông như các
tác giả khác. Tiểu thuyết của ông vượt khỏi cái khuôn khổ truyền thống để đủ sức
miêu tả bức tranh xã hội rộng lớn có hàng trăm nhân vật, nhiều thành phần xã hội ,
giai cấp, tính cách đa dạng, phức tạp.
Không giống như Giông tố, Vỡ đê; Số đỏ phản ánh hiện thực xã hội dưới một góc
cạnh khác. Sự kiện trong Số đỏ hoàn toàn mới mẻ, mới được cập nhập, du nhập từ xã
hội phương Tây. Sự kiện đó để lộ rõ nét một sự nuốt vội không trôi thứ văn hóa ngoại
lai. Hàng trăm sự kiện suốt 20 chương sách không sự kiện nào là đáng có thật, và vì
“giả thật” nên gây cười. Cái lai lịch của Xuân – một thằng ma cà bông mà sau này lại
leo lên nấc thang chót vót của xã hội , thành bậc anh hùng, vĩ nhân – cũng cho ta biết
bao chuyện châm biếm, khôi hài.
Như vậy, sáng tạo ra sự kiện hài hước, nghịch lý đến ngược đời, ngược đời một
cách tồi tệ, hẳn thông điệp nhà văn muốn gửi gắm không dừng lại ở tiếng cười hài
hước. Những sự thật bi hài hiện diện qua từng sự kiện, tiếng cười trào phúng không
1
chỉ hướng đến một giai cấp, mà hơn thế, tác giả muốn đánh động một xã hội đang
hoá thân một cách quái dị vào vòng quay của văn minh rởm...
Đọc tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, xâu chuỗi các sự kiện trong hai mươi
chương của tiểu thuyết, ta nhận ra mắt xích giữa các sự kiện và rõ ràng đó là ý đồ của
nhà văn.Các sự kiện liên quan với nhau và mối liên kết giữa chúng tạo ra số đỏ cho
nhân vật chính.Câu chuyện về cuộc đời Xuân Tóc Đỏ, nhân vật trung tâm của tác
phẩm mới hiện lên trọn vẹn nhờ sự kết dính lôgíc giữa các sự kiện ấy.
1.2.2.
Cốt truyện tâm lí
Lấy tâm lí làm nội dung cơ bản, cốt truyện xoay quanh sự vận động, quá trình phát
sinh, phát triển về mặt tư tưởng, tình cảm, tính cách của nhân vật. Có chỗ khác biệt
giữa truyện có cốt truyện tâm lí và truyện không có cốt truyện hay vai trò của cốt
truyện không đáng kể.
Ở Số đỏ, diễn biến tâm lí phức tạp ở trong từng nhân vật. Thế giới nhân vật trong
tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng rất đa dạng, đông đảo. Ta có thể kể đến
hàng loạt chân dung biếm hoạ như: cụ Cố Tổ, ông Cố Hồng, vợ chồng Văn Minh, bà
Phó Đoan, Tuyết, Phán Mọc Sừng, cậu Tú Tân, Xuân Tóc Đỏ, Sư chùa Tăng Phú, Min
Đơ, Min Toa, bạn bè cụ Cố Hồng, bạn bè vợ chồng Văn Minh… Mỗi người một
gương mặt, một tính cách riêng. Đó là bức tranh đặc sắc từ trên xuống dưới của xã hội
đương thời.
Xuân Tóc Đỏ - nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là
một đứa bé mồ côi, lên 9 tuổi được ông bác họ nuôi. Nó nhìn trộm bác gái tắm và bị
đuổi. Từ đó, Xuân lấy đầu hè xó chợ làm nhà, lấy sấu ở các phố, lấy cá Hồ Hoàn
Kiếm làm cơm. Tóc hắn đỏ như lông gà vì phơi nắng, trèo me, trèo sấu. Rồi hắn len
lỏi vào nhặt banh sân quần vợt. Bị đánh, bị đuổi vì hắn nhìn trộm một con đầm thay
quần áo. Vài nét biếm họa khá chân thật đó, Xuân Tóc Đỏ hiện lên rõ nét là một tên
vô giáo dục. Từ môi trường vô giáo dục, lang thang kiếm sống với nhiều nghề phức
1
tạp, Xuân Tóc Đỏ trong một hoàn cảnh đặc biệt, được nhập vào môi trường của những
kẻ giàu có, những con người đang ôm ấp mộng Âu hóa và cải cách xã hội như bà Phó
Đoan, ông bà Văn Minh, ông TYPN.
Mụ Phó Đoan thèm khát thể xác của Xuân Tóc Đỏ nên đã xin cho hắn ra tù và tạo
điều kiện cho hắn gia nhập vào xã hội thượng lưu. Mụ giới thiệu hắn đến tiệm may Âu
Hóa của Văn Minh. Trong tiệm Âu Hóa của Văn Minh, hắn chỉ biết học thuộc lòng
như hắn đã từng học thuộc lòng những bài rao thuốc lậu trước đây. “Hở cánh tay và
hở cổ là dậy thì”, “Hở đến nách và hở nửa vú là ngây thơ”. Hắn cũng nhớ lời của chủ:
“Từ nay trở đi, xã hội văn minh hay dã man là trách nhiệm của anh!”. Hắn đã rơi vào
môi trường của các nhân vật toàn là quái thai của xã hội như mụ Phó Đoan dâm đãng
được bằng “Tiết hạnh khả phong”, như ông bà Văn Minh, ông TYPN đang chạy theo
phong trào Âu Hoá chơi bời hưởng lạc thời bấy giờ. Xuân Tóc Đỏ đã lợi dụng họ để
tiến thân. Chỉ mới một vài chi tiết, tâm lí nhân vật Xuân được tác giả mổ xẻ , phân
tích tỉ mỉ. Nhân vật có mặt ở hầu hết các trang sách, được lồng vào bên trong các sự
kiện, các biến cố.
2.
Nghệ thuật xây dựng cốt truyện trong tiểu thuyết Số đỏ qua góc nhìn thi
pháp học
2.1.
Mô típ cốt truyện
Mô típ là thuật ngữ phiên âm từ tiếng Pháp (motif) có nghĩa như “khuôn”,
“dạng”, “kiểu”; nhằm chỉ những thành tố , những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã hình thành
ổn định , bền vững được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật. Nếu
hiểu như vậy thì mô típ là yếu tố đã định hình tồn tại như một phản ánh khách thể hiện
thực qua một chủ thể sáng tạo.
Trong số 23 mô típ của hệ thống mô típ trong văn học nghệ thuật Phương Đông
được giáo sư Trần Đình Sử thống kê ở công trình “Dẫn luận thi pháp học”, chúng ta
nhận thấy truyện “Số đỏ” thuộc mô típ “Người dốt gặp may”. Nhân vật từ kẻ hạ lưu
1
đã trở thành vĩ nhân. Chọn lựa mô típ này cho câu chuyện lớn của mình, nhà văn có
thuận lợi gì? Vì sao nhà văn Vũ Trọng Phụng lại chọn mô típ ấy? Mô típ này thuận lợi
cho việc xây dựng cốt truyện mà ở đó cuộc đời của nhân vật chính biến chuyển theo
hướng “Người dốt gặp may”, nhưng độc đáo hơn nếu ta giải mã cái “Số đỏ”, sự may
mắn của Xuân Tóc Đỏ. Có phải chính cái may mắn đã dẫn dắt Xuân, một tên lưu
manh, ma cà bông, vô học vào cái xã hội trưởng giả “thượng lưu” danh giá. Đúng,
nhưng đó chỉ là cái may mắn đầu tiên do sự ngẫu nhiên may mắn. Nhưng chính cái
thói dâm ô của Xuân mới giúp hắn lọt vào mắt xanh của mụ Phó Đoan, cái tài thổi loa
quảng cáo thuốc lậu giúp hắn dễ dàng thành công ở tiệm may Âu hóa. Thì ra, bản chất
lưu manh, vô lại của hắn giúp hắn dễ dàng tiến thân và phù hợp với bản chất lưu
manh, đồi bài của xã hội “thượng lưu”. Vậy tiếng nói chỉ trích, trào phúng chính là
hướng đến tên lưu manh ấy?. Không! Chính cái xã hội ấy là môi trường thuận lợi để
Xuân phát huy cao độ bản chất lưu manh, vô lại của hắn. Và như vậy, với cái vỏ ngoài
“Người dốt gặp may” tác giả khéo léo chĩa mũi nhọn trào phúng vào cả xã hội hà
thành thượng lưu rởm. Xây dựng nhân vật với mô típ “Người dốt gặp may”, trong đó
sự thăng tiến kỳ lạ của Xuân Tóc Đỏ, tác phẩm đã gióng lên tiếng chuông báo động
trước tình trạng mọi thang bậc giá trị bị đảo lộn. Bên cạnh đó, mô típ xì-căng-đan
cũng được tác giả sử dụng. Tuy ít dùng hơn nhưng mô típ này lại tỏ ra có hiệu quả.
Mô típ này vừa bộc lộ tính cách nhưng lại vừa bộc lộ xã hội. Để nổ ra một vụ xì-căngđan cần có hai yếu tố. Thứ nhất, nhân vật phải có nét cá biệt về tính cách. Thứ hai, vụ
xì-căng-đan phải mang tính phổ quát, nghĩa là không mấy lạ lẫm về mặt xã hội.
Xì-căng-đan “người chồng mọc sừng” có sự tham gia của Xuân Tóc Đỏ, Phán
mọc sừng, Hoàng Hôn, tình nhân của Hoàng Hôn, Tuyết(chương 5,8,10,14,15) từ lúc
khởi đầu đến lúc làm cụ tổ chết (kết thúc). Rõ ràng hai âm mưu để làm cho cụ tổ chết:
âm mưu dùng “thuốc phạm” không thành, âm mưu gây sốc tâm lí do Phán mọc sừng
chủ trương lại thành công. Xì-căng đan “Tuyết hư hỏng” kéo theo hàng loạt sự kiện và
bàn dân thiên hạ ai cũng đều biết, đều mục kích được, từ Victor Ban, Phán giây thép,
1
Hoàng Hôn, Phó Đoan, hôn phu của Tuyết đến cụ Phán bà, vợ chồng Văn Minh. Cũng
có những xì-căng-đan mang tính cục bộ , bộ phận. Chẳng hạn xì-căng-đan phát sinh từ
cuộc đấu khẩu của Lang tỳ, Lang phế. Vô cớ mà cái bệnh hôi nách của cô Nga, ghẻ lở
của cô Tuyết được giấu nhẹm bỗng dưng được khai ra khiến hai cô phải: “đỏ mặt,
ngẩn người ra như gỗ, rồi lôi nhau cắm cổ chạy mất”.
Mô típ xì-căng-đan bộc lộ tính cách một cách rõ nét. Một Phán mọc sừng tiêu biểu
cho hạng người âm mưu, cơ hội, bị đồng tiền làm thui chột lương tâm, đánh rơi đạo lí,
rắp tâm giết cụ cố tổ để chia phần của cải, tài sản. Một Phó Đoan, một tuyết là con đẻ
của xa hội hường thụ, chạy theo lối sống vật chất, ham muốn xác thịt. Mặt khác, mô
típ này cũng bộc lộ bản chất xã hội một cách sâu sắc. Đây không còn chỉ là chuyện
một người, một nhóm người, mà là cả xã hội; xã hội tôn thờ ái tình, đề cao thân xác ,
hưởng lạc, ích kỉ, tham lam đua đòi, biến nhân tính thành vật tính.
Tình huống truyện
2.2.
Có thể nói, mỗi chương tiểu thuyết có một hoặc hơn một tình huống. Mỗi tình
huống lại thể hiện một mâu thuẫn trào phúng. Ở truyện, nhà tiểu thuyết đã tạo ra
khá nhiều tình huống trào phúng thật hài hước, khiến người đọc không “cười mím
chí” mà “sục sịch cười”. Chẳng hạn : Cảnh một đồn cảnh sát buồn bã đến ngao
ngán, vì không ai chịu chửi nhau và đái bậy để được phạt, nhà cải cách Âu hóa
TYPN với những kiểu “ngây thơ”, “lời hứa”, “lưỡng lự”… lại mắng vợ là đồ lãng
mạn, “đồ đĩ” vì mặc áo quần tân thời; cảnh thằng Xuân đọc thuốc “Nhức đầu giải
cảm” mà bỗng thành thi sĩ trào phúng không kém gì Tú Mỡ; cảnh bà Phó Đoan
được Xuân hứa tặng “tiết hạnh khả phong” … và tình huống trào phúng độc đáo
nhất, lạ lùng nhất, cũng là bi đát nhất là cảnh “Hạnh phúc của một tang gia”!.
2.2.1.
Tình huống phi lí
1
Trong Số đỏ tình huống phi lí có mật độ dày đặc với nhiều cách thể hiện: con
người phi lí : (TYPN, cố Hồng, Văn Minh, Phó Đoan...), sự kiện phi lí (tranh nhau
mọc sừng giữa Phán giây thép và tình nhân của vợ-chương 10, sự đại bại được
tung hô vạn tuế - chương 20), Phó Đoan bụng ưng hiếp nhưng miệng la làng
-chương 17, bàn chuyện cứu chữa cho cụ Cố nhưng không phải để sống mà là để
mau chết - chương 6, nước ruộng với mớ rau thài lài mà cứu cụ tổ khỏi bệnh chương 7, thơ quảng cáo thuốc lậu đánh bại được thơ lãng mạn vang tiếng một
thời-chương 10, ngôn ngữ của kẻ vô học “mẹ kiếp”, “nước mẹ gì” lại được ghi vào
từ điển của Hội Khai Trí Tiến Đức - chương 20) việc làm phi lí ( cảnh sát phạt lẫn
nhau để nộp đủ tiêu ở sở cảnh sát Trung ương giao cho Ty cảnh sát chi nhánh
-chương 3) cảnh tượng phi lí (biến đám ma tành đám rước, chuyện buồn lại hóa ra
vui - chương 15). Những con người phi lí là cái nhan tạo tình huống phi lí.
Cụ thể như chương 15 đã miêu tả cảnh đưa ma cụ cố, nhìn xa trông giống đám
ma nhưng lại gần lại giống đám rước. Nhìn bề ngoài, hẳn ai cũng nghĩ gia đình
đang đau buồn lắm. Nhưng thực không phải thế, đám ma của cụ cố tổ là dịp để bọn
con cháu vô tâm thể hiện niềm sung sướng thỏa thích, là dịp để cụ cố Hồng khoe
ngực đầy huy chương, để cho Tuyết liếc Xuân, để cho người bạn của cụ cố Hồng
già nua mà vẫn kịp nhìn thấy làn da trắng thập thò trong tấm áo voan mỏng của
Tuyết. Đúng là “Hạnh phúc của một tang gia”. Đám tang của cụ cố tổ trở thành
một chuỗi cười dài, một “cuộc đưa tiễn tập thể” cứ y như chuyện đùa vậy.
Hay như ở chương 17, bà Phó Đoan cảm thấy buồn rầu vì không được Xuân
chú ý. Khi tắm bà đã cố làm đủ mọi cách để gợi tình như thỉnh thoảng lại vào
bụng, vào đùi, bì bạch... mà Xuân vẫn thản nhiên như thường. Hành động “bà
nhòm qua lỗ khóa xem bên ngoài động tĩnh ra sao” đã làm mất đi giá trị của bà
phó và như môt gáo nước lạnh dội vào đầu bà đẩy vị trí của bà phó từ một con
người danh giá xuống vị trí của một người dưới mức tầm thường, lại đưa vị trí của
Xuân từ một con người mang tiếng là dâm thành con người ngoan ngoãn.
1
Tất cả mọi trường hợp phi lí từ con người, sự kiện, việc làm hay cảnh tượng
được trưng ra để phơi bày bộ mặt thật cái xã hội lôn tùng phèo; ông hóa thành
thằng, thằng lại lên ông với đầy đủ những nhân cách bại hoại, trâng tráo, thô bỉ,
bịp bợm và bất lương tột đỉnh. Tiếng cười của Vũ Trọng Phụng nhằm vào những
phi lí của cuộc sống, sự xuống cấp nhân tính, suy thoái linh hồn. Phải có con mắt
tinh đời, nhìn cuộc sống ở chiều đa dạng phức tạp thì nhà văn mới có thể hiểu
được bản chất của con người một cách thấu đáo như thế, tiếng cười này chính là sự
lột tả bản chất thật của con người. Đọc văn Vũ Trọng Phụng khiến “kẻ trọc phú
cũng phải giật mình” là vì lẽ đó.
2.2.2.
Tình huống ngẫu nhiên
Ở Số đỏ, một chuỗi sự kiện ngẫu nhiên tiếp nối gây bất ngờ, lí thú gây ngạc
nhiên , nuôi dưỡng hứng thú thẩm mĩ cho người đọc. Tình huống ngẫu nhiên chính
à cái bẫy giăng sẵn, nhân vật không có quyền chủ động quyết định của chính mình.
Ngấu nhiên tạo nên những “cú hích” để Xuân leo lên nấc thang chót vót của xã
hội. Từ bản tính vốn có ưa dòm trộm, Xuân nhận được sự thương hại của bà Phó
Đoan. Sự ngẫu nhiên này là sự khai lối cho Xuân gia nhập vào thế giới thượng lưu.
Hay khi trở thành “đốc tờ” Xuân cũng là một sự ngẫu nhiên. Không ai có thể
tưởng tượng mấy lá rau sam, thài lài và nước ruộng lại cứu được cụ Tổ. Trong đấy
ắt hẳn có cái ngẫu nhiên vô ảnh, vô hình. Cụ tổ sống không phải do bài thuốc bí
truyền được Xuân mang về từ đền Bia nhưng do ngẫu nhiên cụ tổ khỏi bệnh và
ngẫu nhiên Xuân được tặng danh hiệu “đốc tờ”. Đến như cái chết của cụ tổ cũng là
một sự ngẫy nhiên, tình cờ. Hiệu quả câu nói “ông là người chồng mọc sừng” như
mũi tên lạc vô tình , ngẫu nhiên làm chết cụ tổ. Thực ra, Phán mọc sừng có ý đồ
làm chết cụ tổ nhưng Xuân và Phán gặp nhau ở nhà cố Hồng lần đó là ngẫu nhiên.
Và còn rất nhiều yếu tố ngẫu nhiên lần lượt diễn ra ở trong các chương truyện.
Những yếu tố ngẫu nhiên đó đều là “hảo biến” đến với Xuân. Những “hảo biến”
1
đó bộc lộ mặt tính cách cá nhân và mặt xã hội- xã hội bịp bợm, chó đểu, chụp dật,
chôm chỉa, ác ôn, vô đạo.
Ngẫu nhiên được Vũ Trọng Phụng sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật, như
cái then khóa xây dựng cốt truyện, kết nối tình tiết, sự kiện.
Sử dụng chi tiết “đắt”
2.3.
Để tạo ra sự kiện cho câu chuyện, nhà văn sử dụng nhều chi tiết. Chi tiết có thể
là một lời nói một cử chỉ một hành động của nhân vật, hoặc một nét chân dung...
Những chi tiết đặc sắc tập trung thể hiện rõ nét sự việc tiêu biểu. Trong tiểu thuyết
"Số đỏ", nhà văn có rất nhiều thành công trong việc tạo dựng chi tiết tiêu biểu.
Những chi tiết nói năng của nhân vật tưởng nhỏ nhặt nhưng đầy dụng ý của tác
giả. Ví như mỗi lần Xuân mở miệng là "mẹ kiếp","nước mẹ gì", để lộ dấu ấn của
một tên vô học dù hắn đang tiến ngày càng gần tới vị trí "nhà cải cách xã hội"...
Hay chi tiết câu nói cửa miệng của cụ cố Hồng "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi " dù
chẳng biết gì cả. Các chi tiết lời nói của nhân vật có giá trị cá tính hoá nhân vật
một cách sắc nét nhất, góp phần hoàn thiện chân dung các nhân vật. Thêm nữa,
cũng qua phát ngôn của nhân vật, hẳn tác giả muốn hàm ẩn một thông tin nghệ
thuật nào đấy. Thử xét các chi tiết lời nói khác sau đây:
- Văn Minh: "Moa có hai thằng bạn hiện đã mở phòng khám bệnh độ hai năm
nay (...) số người chết vì hắn cũng khá nhiều. Thật là một ông lang băm có danh
vọng"
- Ông TYPN: "Quần áo là để tô điểm, đẻ làm tăng sắc đẹp chứ không phải để
che đậy. Bao giờ mà y phục tiến bộ đến cực điểm, đi đến chỗ tận thiện, tận mỹ, thì
nghĩa là y phục phải không còn... che đậy cái gì của người đàn bà nữa."
Chỉ đọc qua hai chi tiết chúng ta nhận ra hai hiện tượng gây cười. Thật là vô lý,
ngược đời. “Phòng khám bệnh”, “Số người chết … khá nhiều” làm nên danh vọng
của “đốc tờ”. Hay triết lý của nhà mỹ thuật chiêu dụ phụ nữ Âu hóa với mục đích
1
gì khác ngoài trục lợi (Kiếm tiền). Hai chi tiết đã khéo mĩa mai châm biếm kẻ hợm
hĩnh, làm những chuyện trái ngược với văn minh, tân tiến.
Thực ra, trong tác phẩm “Số đỏ” có không ít chi tiết hết sức “đắt giá”. Nhà văn
quay cận cảnh ông Phán mọc sừng khóc “Hứt! Hứt! Hứt!” và đóng dấu sừng sững
trên trang văn Vũ Trọng Phụng, để rồi ngày nay, mỗi khi muốn chế giễu ai đó giả
dối, thói đạo đức giả là người ta ứng khẩu “Hứt! Hứt! Hứt!”
Cũng cần nói thêm rằng ở tiểu thuyết “Số đỏ” có những chi tiết sáng tạo của Vũ
Trọng Phụng mà đọc lên người đọc thực sự bái phục, thầm kêu lên “Tiên sư nhà
văn Vũ Trọng Phụng” đầy ngưỡng mộ. Chẳng hạn chi tiết kêu cứu của bà Phó
Đoan khi bị Xuân Tóc Đỏ đụng chạm đến cái đạo đức quý hóa của bà “Thủ tiết thờ
chồng”. Tiếng kêu cứu “Ơ kìa? Hay chửa kìa! Ơ hay! Ơ hay” rồi Bà Phó Đoan
ngừng kêu để nói:
- “Cậu ấy xuống tìm vú em để vòi đấy chứ quái gì?”
Có thể nói, chi tiết này ngoài ý nghĩa làm rõ cho sự việc “Một vụ cưỡng bức” ở
chương 8, tác giả còn tô vẽ thêm “Phẩm chất không đứng đắn” của bà Phó Đoan,
và hơn thế nhà văn đã thể hiện khả năng “tả chân” triệt để.
Ở tiểu thuyết “Số đỏ” mỗi chi tiết nghệ thuật ta có thể thấy “tính quan niệm”
của nhà văn. Tùy từng đối tượng trào phúng mà tác giả chọn lựa chi tiết phù hợp.
Thử hiểu xem tác giả để cho nhân vật Xuân Tóc Đỏ nói với đốc tờ Trực Ngôn là
nhằm mục đích gì? Đốc tờ Trực Ngôn ba hoa về lý thuyết Freud, Xuân nói: “Chổ
anh em mình với nhau cần gì còn phải giảng giải”. Phải chăng, khi so sánh với kẻ
vô học và trí thức,thì trí thức rỡm cũng ú ớ như kẻ vô học? Hay tác giả muốn bật ra
vấn đề xã hội đáng phải suy nghĩ? Trí thức rởm” và kẻ vô học sẵn sàng tìm đến với
nhau, dựa dẫm nhau để trục lợi.
Khó có thể thống kê hết những chi tiết độc đáo trong tiểu thuyết “Số đỏ”. Có
điều chính nhờ chi tiết đã dẫn dắt câu chuyện; cốt chuyện tưởng như chỉ xoay
1
quanh nhân vật chính Xuân Tóc Đỏ lại sinh động hẳn lên, vẽ ra một bức tranh lớn,
nhiều màu sắc về xã hội thành thị tư sản đầu thế kỷ XX ở Việt Nam. Ở đó đối
tượng “Mục kích” của tác giả hẳn không phải ở một cá nhân, một giai cấp nào mà
toàn bộ xã hội tư sản thuộc địa hài hước, buồn cười, lố bịch với hàng loạt thới rởm
tật xấu có thể trở thành phổ biến ở mọi chế độ xã hội “Cấp tiến rởm, bình dân rởm,
tri thức rởm, nghệ thuật rởm, khoa học rởm, bằng tước rởm”. Điều đáng trân trọng
ở tài nghệ của tác giả là: chính những chi tiết đặc sắc của tác phẩm là có sức “vận
hành” vào đời sống với mức độ sâu rộng đến vậy. Và chính những chi tiết “bé nhỏ”
lại có “độ lớn” trong việc tạo ra bất ngờ, hấp dẫn người đọc.
2.4.
Lời kể
Tiếp cận “Số Đỏ” người đọc dễ nhận ra tiểu thuyết được trần thuật theo quan
điểm tác giả. Ở đó không có một nhân vật kể lại câu chuyện và xưng tôi như “Đôi
Mắt” của Nam Cao… Qua cách gọi tên nhân vật, lời dẫn truyện, người đọc nhận ra
lời trần thuật theo quan điểm của tác giả khá nổi bật. Câu truyện được phát triển,
kết dính nhờ vào lời dẫn, lời bình của tác giả. Điều quan trọng ở “Số Đỏ” là qua
cách khai thác vốn từ, cách miêu tả… đã tạo nên một giọng kể có phong cách tác
giả. Toàn bộ thiên truyện có một giọng điệu mỉa mai và giàu tính hài hước. Đó là
giọng giễu nhại xuyên suốt tác phẩm “Giễu nhại là biện pháp bắt chước từ ngữ,
phong cách, giọng điệu, ý tưởng,… của ai đó làm cho nó trở nên lố bịch, hài hước
để châm biếm”(SGK Ngữ văn 10, tập 1, tr 167)
Có người cho rằng cái đặc sắc của tiểu thuyết “Số Đỏ” của Vũ Trọng Phụng
chính là thủ pháp mô phỏng lời thoại của các nhân vật trong truyện để làm cái lò
xo đẩy sự việc tiến dần. Nhân vật trong truyện không tiến thân bằng âm mưu và
hành động mà vừa do cơ may, vừa do xã hội dẫn dắt, đồng thời do khả năng bắt
chước như… Vẹt của hắn cũng góp phần làm nên thành công. Xuân Tóc Đỏ vốn là
một kẻ vô học, nhặt ban quần... nhưng rõ ràng tài bắt chước thì quá "siêu". Nhại lại
những lời của Văn Minh như “hợp thời trang”, “tân tiến”, “hủ lậu”, “bình đẳng nữ
1
giới”... mà Xuân trở thành một nhà cải cách... Cứ như thế hắn lần lượt lên vai “đốc
tờ”, nhà báo, nhà thể thao, thậm chí là anh hùng cứu quốc, vĩ nhân. Sự mô phỏng
của nhân vật Xuân rõ ràng là sự máy móc ngu độn. Không buồn cười sao được khi
Xuân Tóc Đỏ cứ nói mãi câu của Văn Minh “Chúng tôi rất được hân hạnh” khi
mình hắn nói với một nhân vật khác như ông Phán hay với chồng chưa cưới của cô
Tuyết...
Cần lưu ý rằng sự nhiễu nhại với nhân vật là ngu dốt, là không có ý thức,
nhưng sự sáng tạo và hư cấu của Vũ Trọng Phụng lại là có ý thức nhằm mục đích
giễu cợt và hiệu quả gây cười là rất rõ.
KẾT LUẬN
Với cách nhìn cuộc sống trong tính tổng thể rộng lớn, Vũ Trọng Phụng đã
chứng tỏ mình là một cây bút viết khỏe và tận dụng mọi biểu hiện nhỏ nhất để
phục vụ cho việc tạo hài. Ngòi bút châm biếm sâu cay Vũ Trọng Phụng làm hiện
lên rõ nét một thế giới nhân vật với mối quan hệ lố bịch, quái gở và bố cục cân đối
với cách đặt tên chương hóm hỉnh. Đặc biệt, nhà văn đã tạo ra loạt tình huống chứa
kịch tính và có khả năng tạo hài lớn đã đưa nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng
Phụng lên đỉnh cao của nó. Bởi vậy truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng là những tác
phẩm tiêu biểu thể hiện bức tranh chế độ thực dân nửa phong kiến Việt Nam
những năm 1930-1945 nó vẽ lên được cảnh sống tủi nhục, người lao động lương
thiện bị áp bức, bọn quái thai phất lên lộng hành, tác oai, tác quái, trật tự xã hội bá
nháo và hỗn độn, con người xô đẩy nhau, giâm đạp lên nhau vì đồng tiền.
1
Đi sâu vào thế giới nhân vật của Vũ Trọng Phụng chúng ta mới thấy được hết
tài nghệ của ông. Phải có cái nhìn tinh tế nhạy bén Vũ Trọng Phụng mới phát hiện
ra một tầng lớp xã hội thượng lưu từ ngoại hình đến tính cách tưởng chừng chỉ biết
diễn trò ấy lại hiện lên bản chất đích thực của một xã hội: dâm, đểu và vô nghĩa lý.
Có thể nói rằng thành công chung của tiểu thuyết “Số Đỏ”, một cuốn tiểu
thuyết phong phú, độc đáo, sắc sảo là kết quả của sự kỳ công nghệ thuật ở từng
yếu tố nhờ mỗi chi tiết tình huống đều được sáng tạo qua lăng kính của nhà viết
tiểu thuyết tài hoa. Bằng việc sử dụng tổng hợp các yếu tố nghệ thuật nhà văn đã
có được hiệu quả mĩa mai, châm biếm đối với thói đạo đức giả, hợm hĩnh, rỡm đời
trong xã hội thượng lưu…. Một thành công xuất sắc!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Nguyễn Phong Nam, (2010), Đại cương thi pháp học, Giáo trình tại Đại học Sư
2.
Phạm – Đại học Đà Nẵng.
Phan Cự Đệ, ( 1978), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập 1, NXB Đại học và
Trung học chuyên nghiệp.
3. Đinh Lựu, (2010), Nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, NXB Thông tin và
truyền thông.
4. Nguyễn Đăng Mạnh, (1992), Tác giả văn học Việt Nam, tập 2, NXB Giáo dục.
5. Nguyễn Phong Nam, Thi pháp nhân vật trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, tạp
6.
7.
chí KHXH, số 33-tháng 11/1997.
Trần Đình Sử, (1998), Giáo trình dẫn luận thi pháp học, NXB Giáo dục.
Trần Đăng Thao, (2004), Đặc sắc văn chương Vũ Trọng Phụng, NXB Thanh
niên.
1
8.
Nguyễn Ngọc Thiện, (2007, tuyển chọn và giới thiệu) Vũ Trọng Phụng tác gia
và tác phẩm, NXB Giáo dục.
9. Nguyễn Quang Trung, (2002), Tiếng cười Vũ Trọng Phụng, NXB Văn hóa
thông tin.
10. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, (2004), Từ điển thuật ngữ văn học Việt Nam, NXB
Giáo dục.
11.
1