BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
---------o0o---------
LUẬN VĂN THẠC SĨ
MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VÀ CÁC BIỆN PHÁP
CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ NHẰM
NÂNG CAO NĂNG LỰC THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP
NƯỚC NGOÀI VÀO TỈNH HẢI DƯƠNG
Ngành: Kinh doanh
Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại
Mã số: 60340121
Họ và tên: LÊ THU QUỲNH
Nguời hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Phạm Duy Liên
Hà Nội - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của em. Các
số liệu, tư liệu được nêu và trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng và
trung thực. Nếu sai, em xin chịu mọi trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thu Quỳnh
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả quý
thầy cô đã giảng dạy, hỗ trợ chương trình đào tạo thạc sĩ Khóa 22 chuyên ngành
Kinh doanh thương mại; những người đã giúp em trang bị tri thức, tạo điều kiện
thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tại trường Đại
học Ngoại thương.
Với lòng kính trọng và biết ơn, em xin được bày tỏ lời cảm ơn tới PGS.TS
Phạm Duy Liên đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất,
song do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn hạn chế nên luận
văn không thể tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của các nhà
khoa học, quý thầy cô trong và ngoài trường để luận văn được hoàn thiện hơn
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
1. Bảng
2. Biểu
3.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Chữ
viết tắt
Nội dung
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Hình thức hợp đồng Xây dựng
-Vận hành - Chuyển giao
1
BOT
Build Operate Transfer
2
BTO
Build Transfer Operate
3
BT
Buid Transfer
4
5
FDI
ICD
Foreign Direct Investment
Inland Container Depot
6
KCN
7
8
9
10
Khu chế xuất
Kế hoạch - đầu tư
Người
11
KCX
KH - ĐT
Ng
PCI
Province Competitive
Index
UBND
12
VCCI
Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam
Vietnam Chamber of
Commerce and Industry
Hình thức hợp đồng Xây dựng Chuyển giao - Kinh doanh
Hình thức hợp đồng Xây dựng Chuyển giao
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Cảng cạn, nằm sâu trong nội
địa
Khu công nghiệp
Chỉ số năng lực cấp tỉnh
Uỷ ban nhân dân
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập toàn cầu hiện nay, việc thu hút cạnh
tranh nước ngoài của các địa phương đều được quan tâm và coi trọng hàng đầu. Các
địa phương tạo lập và phát huy hiệu quả lợi thế cạnh tranh của mình để thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng môi trường đầu tư hấp dẫn. Qua quá trình nghiên
cứu, luận văn đạt được một số kết quả như sau:
Thứ nhất, tác giả đã hệ thống hóa các định nghĩa và hiểu biết chung về môi
trường đầu tư và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra
mối quan hệ giữa môi trường đầu tư và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tác giả
cũng chỉ ra bài học kinh nghiệm của một số tỉnh trong việc cải thiện môi trường đầu
tư và chỉ ra định hướng phát triển môi trường đầu tư của tỉnh Hải Dương cho đến
năm 2030.
Thứ hai, từ những khái niệm cơ bản phía trên, cùng với các dữ liệu thông tin
tổng hợp được, tác giả đã đánh giá các nhóm yếu tố của môi trường đầu tư tại tỉnh
Hải Dương, tác động trong quá trình hoàn thiện môi trường đầu tư của tỉnh đến thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra được những thành
công, hạn chế trong quá trình hoàn thiện môi trường đầu tư cũng như những khó
khăn, thuận lợi và nguyên nhân từ các điều kiện khách quan và chủ quan của môi
trường đầu tư của tỉnh Hải Dương trong những năm qua. Việc tìm ra nguyên nhân
của những thuận lợi, khó khăn này sẽ giúp đưa ra những giải pháp tốt hơn cho tỉnh
trong việc cải thiện môi trường đầu tư.
Thứ ba, tác giả đưa ra các giải pháp theo từng lĩnh vực cụ thể để hoàn thiện
môi trường đầu tư của tỉnh tốt hơn. Theo đó, tác giả đề xuất cải thiện môi trường
đầu tư của tỉnh thông qua các biện pháp chủ động xúc tiến đầu tư, hoàn thiện chính
sách, pháp luật, nâng cấp hệ thống hạ tầng được phối hợp một cách đồng bộ. Tác
giả cũng đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và sự ổn
định xã hội tại địa phương. Các đề xuất phối hợp đồng bộ tăng cường sự thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Hải Dương.
9
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Hải Dương cũng giống như các địa phương khác trong cả nước tập
trung thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển công nghiệp, dịch vụ của địa
phương, tăng cường phát triển kinh tế - xã hội.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc cải thiện môi trường đầu tư là
một đòi hỏi khách quan, là yêu cầu số một để khơi thông các dòng vốn cho đầu tư
phát triển. Thực tiễn trong những năm qua, môi trường đầu tư của tỉnh đã được cải
thiện từng bước, góp phần thu hút các nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên,
việc thu hút đầu tư còn bộc lộ nhiều hạn chế. Thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu
tư còn nhiều vướng mắc; sử dụng các nguồn lực đầu tư còn dàn trải, lãng phí; hiệu
lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư thấp. Sự cạnh tranh về môi trường đầu tư
của tỉnh Hải Dương với các tỉnh khác trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài chưa cao.
Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá đúng đắn những kết quả đã đạt được,
những yếu kém, hạn chế còn tồn tại, rút ra nguyên nhân đối với môi trường đầu tư
của tỉnh là hết sức cần thiết. Trên cơ sở đó và tiếp thu quan điểm, đường lối, phương
hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp lớn trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng,
Nhà nước và tình hình thực tế của tỉnh để đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường
đầu tư, nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh, phát huy tối đa lợi thế, tiềm năng của tỉnh.
Chính vì thế tác giả lựa chọn đề tài “Môi trường đầu tư và các biện pháp
cải thiện môi trường đầu tư nhằm nâng cao năng lực thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào tỉnh Hải Dương” làm đề tài của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn về môi trường đầu tư đối với các doanh nghiệp và đầu tư trực tiếp nước ngoài ở
phạm vi tỉnh Hải Dương, Luận văn đề xuất cải thiện môi trường đầu tư tại tỉnh Hải
10
Dương đến năm 2030 để có thể có năng lực cạnh tranh với các tỉnh khác trong quá
trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đặt ra, Luận văn
tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Làm rõ những vấn đề lý luận về môi trường đầu tư ở địa bàn cấp tỉnh.
Phân tích, đánh giá các nhóm yếu tố của môi trường đầu tư và tác động của
quá trình hoàn thiện môi trường đầu tư với đầu tư nước ngoài tại tỉnh Hải Dương.
Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện môi trường đầu tư để thu hút
vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương đến năm 2030.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến các yếu tố về môi trường
đầu tư như các yếu tố tự nhiên, các yếu tố về năng lực quản lý hoạch định chính
sách của địa phương, các nhóm yếu tố về kết cấu hạ tầng và các yếu tố khác.
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của môi
trường đầu tư tác động đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh
Hải Dương trong thời gian từ 2010 đến nay, đề xuất phương hướng và giải pháp
hoàn thiện môi trường đầu tư ở địa phương đến năm 2030.
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về nội dung: chỉ xem xét đến một số yếu tố của môi trường đầu tư:
các yếu tố địa lý, tự nhiên; các yếu tố về cơ sở hạ tầng; các yếu tố về nguồn nhân
lực; các yếu tố về chính sách, pháp luật và các yếu tố về môi trường kinh tế của tỉnh
Hải Dương
Phạm vi về thời gian nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng: Luận văn lấy mốc từ năm 2010 đến năm 2016 do trong
khoảng thời gian này, các yếu tố về môi trường đầu tư trong tỉnh Hải Dương có
những biến động. Bên cạnh đó, các tỉnh lân cận cũng có sự bứt phá trong quá trình
cải thiện môi trường đầu tư. Tỉnh Hải Dương cũng đưa ra các phương hướng và
nhiệm vụ cụ thể làm cho môi trường đầu tư tốt hơn, tăng tính cạnh tranh trong thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
11
Phạm vi không gian nghiên cứu: Người viết chỉ tập trung nghiên cứu tỉnh
Hải Dương, có nghiên cứu thêm một số thành phố và tỉnh lân cận để rút ra những
bài học bổ ích cho tỉnh Hải Dương.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt
ra, Luận văn sẽ sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, so sánh đối
chiếu… trên cơ sở những quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Tác giả cũng sử dụng các bảng biểu để so sánh, đối chiếu làm rõ.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Phần Tham khảo, nội dung chính của
Luận văn kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cải thiện môi trường đầu tư nhằm
nâng cao năng lực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương II: Thực trạng về môi trường đầu tư với đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại tỉnh Hải Dương
Chương III: Các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút các
nguồn vốn đầu tư trực tiếp vào tỉnh Hải Dương
12
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI THIỆN MÔI
TRƯỜNG ĐẦU TƯ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC THU HÚT ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. Cơ sở lý luận về môi trường đầu tư
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm về môi trường đầu tư
1.1.1.1. Khái niệm về môi trường đầu tư
Trước khi nghiên cứu về môi trường đầu tư, bài viết nghiên cứu về khái niệm
“môi trường”.
Mọi cá nhân hay tổ chức không tồn tại độc lập mà tác động qua lại với nhau
cũng như tác động qua lại với môi trường xung quanh tạo thành sự vận động và
phát triển không ngừng. Như vậy, ta có thể hiểu môi trường là một không gian hữu
hạn tồn tại bao quanh sự vật, hiện tượng. Những sự thay đổi của môi trường xung
quanh, có thể tạo ra sự thuận lợi hay khó khăn cho các đối tượng, hiện tượng phát
triển.
Về môi trường đầu tư, đây là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, tùy theo
đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Đã có rất nhiều tác giả đề cập đến khái niệm môi
trường đầu tư này và có rất nhiều cách hiểu khác nhau.
Ở cách hiểu thứ nhất, trong sách Đầu tư quốc tế, khái niệm môi trường đầu
tư được trình bày như sau: “Môi trường đầu tư quốc tế là tổng hòa các yếu tố có
ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư trên phạm vi toàn cầu”.
(Phùng Xuân Nhạ, 2001)
Theo định nghĩa ở trên, môi trường đầu tư quốc tế sẽ bao gồm ba yếu tố ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư, đó là:
- Các yếu tố của môi trường của nước đầu tư : thay đổi chính sách đầu tư ra
ngoài, tiềm lực kinh tế, các chính sách vĩ mô, khoa học công nghệ...
- Các yếu tố của môi trường nước nhận đầu tư: tình hình phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội; tình hình chính trị, các chính sách phát triển và thu hút đầu tư của
nhà nước, các điều kiện tự nhiên khác...
- Các yếu tố của môi trường quốc tế: xu hướng liên kết và phát triển trong
khu vực, xu hướng đầu tư, toàn cầu hóa...
13
Các yếu tố của môi trường đầu tư quốc tế tác động qua lại lẫn nhau, mỗi sự
thay đổi của các yếu tố sẽ dẫn đến sự thay đổi các quyết định đầu tư khác nhau.
Cách hiểu thứ hai về môi trường đầu tư được tổng hợp lại như sau: “Môi
trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố cụ thể hình thành nên các cơ hội và động cơ để
các công ty có thể đầu tư một cách có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng hoạt động
của mình”.(Ngân hàng thế giới, 2005)
Trong định nghĩa thứ hai, khái niệm môi trường đầu tư đã được xem xét tại
địa điểm (một quốc gia, một vùng, một địa phương cụ thể). Các nhân tố tác động
đáng kể như chính sách pháp luật, thuế, hệ thống hành chính... cùng với các nhân tố
ít tác động như điều kiện tự nhiên, quy mô lao động... là các yếu tố cơ bản của môi
trường đầu tư. Theo định nghĩa này, hành vi của Chính phủ là rất quan trọng vì
thông qua cách lựa chọn chính sách của Chính phủ sẽ xác định được tình hình môi
trường đầu tư.
Như vậy, khái niệm này về môi trường đầu tư liên quan chặt chẽ đến những
nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác điều hành, các thể chế có chất
lượng cao và cơ sở hạ tầng xã hội trong việc tạo ra tăng trưởng. Nhìn chung, tiền đề
của tăng trưởng được khái quát từ khái niệm về một môi trường đầu tư lành mạnh
trong đó bao gồm các yếu tố: Sự ổn định về kinh tế và chính trị, luật pháp; cơ sở hạ
tầng thích hợp, thuế và các quy định tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, chính
sách lao động và khả năng tiếp cận các nguồn tài chính. Các yếu tố này được chia
thành 3 nhóm: Nhóm các yếu tố tự nhiên, xã hội, chính trị; nhóm các yếu tố điều
hành và nhóm các yếu tố cơ sở hạ tầng.
Ở định nghĩa thứ ba, môi trường đầu tư cũng làm rõ hơn cho định nghĩa thứ
hai về môi trường đầu tư:
“Môi trường đầu tư (theo nghĩa chung nhất) là tổng hòa các yếu tố bên
ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp
luật, cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, lợi thế của một quốc gia có tác động trực
tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của nhà đầu tư”.(Vũ Chí Lộc, 2012)
Ở định nghĩa này, môi trường đầu tư được hiểu là các điều kiện liên quan đến
kinh tế, chính trị, hành chính, cơ sở hạ tầng tác động đến hoạt động đầu tư và kết
14
quả hoạt động của doanh nghiệp. Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường đầu
tư là: vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng (bao gồm mạng lưới giao
thông, thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp năng lượng, cấp thoát nước, các công
trình công cộng phục vụ sản xuất kinh doanh như cảng biển, sân bay…), hệ thống
pháp luật và hành chính (các cơ chế chính sách và những quy định của nhà nước
liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh), yếu tố kinh tế, nguồn nhân lực.
Một số cách hiểu khác về môi trường đầu tư được đề cập trong các tài liệu
khác. Môi trường đầu tư có thể hiểu là tổng hòa các yếu tố của nước nhận đầu tư có
ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư nước ngoài và phát triển kinh tế. Nhìn từ góc độ quá
trình đầu tư, nếu hiểu theo nghĩa hẹp, môi trường đầu tư là các yếu tố ảnh hưởng
đến quá trình hoạt động và chấm dứt đầu tư. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, môi trường
đầu tư là tất cả các yếu tố tác động đến quá trình đầu tư, từ việc thành lập các dự án
đầu tư, tìm hiểu quá trình đầu tư đến thực hiện đầu tư và chấm dứt đầu tư. Môi
trường đầu tư bao gồm các yếu tố tác động liên tục đến quá trình đầu tư của doanh
nghiệp, và ngược lại, quá trình đầu tư sẽ mang lại những tác động đến môi trường
đầu tư. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc cải thiện môi trường đầu tư là
một đòi hỏi khách quan, là yêu cầu số một để khơi thông các dòng vốn cho đầu tư
phát triển.
Bên cạnh khái niệm môi trường đầu tư, khái niệm môi trường kinh doanh
hay môi trường đầu tư kinh doanh cũng được sử dụng rộng rãi. Có rất nhiều ý kiến
cho rằng hai khái niệm này đồng nhất, cũng có những ý kiến cho rằng hai khái niệm
không giống nhau. Theo nghĩa rộng hơn, môi trường kinh doanh bao gồm những
yếu tố bên trong và những yếu tố bên ngoài. Những yếu tố bên trong phản ánh điểm
mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp, những yếu tố bên ngoài tạo ra thời cơ và thách
thức cho doanh nghiệp. Theo nghĩa hẹp, môi trường kinh doanh là các yếu tố bên
ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Như
vậy, khái niệm môi trường đầu tư và môi trường kinh doanh đều có điểm tương
đồng đều bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư hoặc kinh doanh.
Khái niệm môi trường đầu tư rộng hơn, bao trùm cả khái niệm môi trường kinh
doanh, môi trường kinh doanh chỉ là một phần trong toàn bộ chu trình đầu tư.
15
Theo ý kiến của người viết, môi trường đầu tư là tổng hòa của các yếu tố bên
ngoài tác động đến các hoạt động đầu tư. Các yếu tố bên ngoài là các yếu tố kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, tự nhiên, công nghệ, các chính sách của Chính phủ, các
chính sách của địa phương đó... với các hoạt động đầu tư.
Về môi trường đầu tư của tỉnh Hải Dương, do phân tích với quy mô tại một
tỉnh cụ thể, tác giả cũng sẽ phân tích môi trường đầu tư theo định nghĩa thứ ba ở
trên và chia môi trường đầu tư của tỉnh thành các nhóm yếu tố tương ứng:
- Các đặc điểm tự nhiên, văn hóa, xã hội của tỉnh. Đây được coi là các yếu tố
cơ bản, thay đổi chậm và thời gian thực hiện dài.
- Hệ thống cơ sở hạ tầng thu hút vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn nước
ngoài. Đây là yếu tố của môi trường đầu tư có thể thay đổi và phát triển được.
- Các chính sách của Chính phủ và chính sách của tỉnh trong thu hút đầu tư.
Đây cũng là các yếu tố có thể học hỏi, khắc phục và sửa chữa kinh nghiệm của các
tỉnh khác để nâng cao khả năng cạnh tranh của tỉnh trong khu vực khi thực hiện thu
hút đầu tư nước ngoài.
- Nguồn nhân lực, công nghệ của địa phương. Để thay đổi các yếu tố này
cũng phụ thuộc rất nhiều vào các chính sách của tỉnh cũng như các giải pháp mang
tính đột phá và toàn diện.
Trong số các nhóm yếu tố trên, nhóm yếu tố tự nhiên là nhóm yếu tố khó cải
thiện và thay đổi nhất. Các chính sách của tỉnh chính là nhóm yếu tố có tính chất
quyết định và tác động đến toàn bộ các yếu tố còn lại.
1.1.1.2. Đặc điểm của môi trường đầu tư
Thứ nhất, môi trường đầu tư là sự tổng hợp của các yếu tố. Môi trường đầu
tư không chỉ tác động đến nhà đầu tư, mà còn tác động đến người lao động và cả
nền kinh tế. Do đó, khi đánh giá môi trường đầu tư cần đánh giá tổng hợp các yếu tố
và các mối quan hệ giữa các yếu tố. Khi cải thiện môi trường đầu tư cần chú ý đến
ảnh hưởng của việc cải thiện tất cả các yếu tố của môi trường đầu tư, từ đó đưa ra
các giải pháp phù hợp.
Thứ hai, môi trường đầu tư còn có tính tương tác cao. Giữa chính phủ, môi
trường đầu tư, nhà đầu tư và các yếu tố khác có sự liên hệ qua lại, tác động lẫn
16
nhau. Nhà đầu tư khi đưa ra quyết định đầu tư sẽ căn cứ vào môi trường đầu tư để
có những hướng đầu tư đúng đắn. Ngược lại, nhà đầu tư sẽ giúp nâng cao môi
trường đầu tư, nâng cao trình độ người lao động để đáp ứng được yêu cầu của mình,
nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật của nơi nhận đầu tư. Chính phủ thông qua vai
trò quản lý của mình cải thiện môi trường đầu tư cũng như tạo ra các kênh thông tin
thu hút các nhà đầu tư; các nhà đầu tư sẽ có những phản hồi góp phần cải thiện môi
trường đầu tư.
Thứ ba, môi trường đầu tư có tính động và mở. Các yếu tố của môi trường
đầu tư luôn vận động biến đổi. Khi nhìn môi trường đầu tư, các nhà đầu tư phải căn
cứ trên sự vận động cũng như tác động qua lại của các yếu tố với nhau. Sự vận động
các yếu tố của môi trường đầu tư cấp tỉnh chịu sự tác động của các yếu tố môi
trường đầu tư cấp quốc gia. Các yếu tố của môi trường đầu tư cấp quốc gia lại chịu
sự tác động của các yếu tố môi trường đầu tư cấp quốc tế, sự hội nhập ngày càng
sâu sắc, toàn cầu hóa. Hai thuộc tính này của môi trường đầu tư yêu cầu nhà đầu tư
cũng như Chính phủ phải có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về hướng phát triển của
môi trường đầu tư, phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới.
Cuối cùng, môi trường đầu tư có tính hệ thống. Môi trường đầu tư quốc gia
ảnh hưởng bởi môi trường đầu tư quốc tế. Môi trường đầu tư quốc gia lại là tổng
hòa của môi trường đầu tư các vùng, khu vực, các tỉnh, ngành, lĩnh vực khác nhau
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Do đó, khi thu hút các nhà đầu tư, Chính phủ
cần quản lý đầu tư một cách có hệ thống, tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến môi
trường đầu tư, quản lý một cách không chồng chéo, hoàn thiện các văn bản và thủ
tục hành chính.
1.1.2. Phân loại môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư được cấu thành từ nhiều yếu tố, tùy cách tiếp cận khác
nhau và góc nhìn khác nhau, môi trường đầu tư được phân loại cụ thể.
1.1.2.1. Theo hình thái của môi trường đầu tư
Bao gồm môi trường cứng và môi trường mềm
- Môi trường đầu tư cứng liên quan đến các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng kỹ
thuật đảm bảo cho sự phát triển của kinh tế vùng, quốc gia như hệ thống cơ sở hạ
17
tầng giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp năng lượng... Cơ sở hạ tầng
cũng là một yếu tố cơ bản và quan trọng của môi trường đầu tư như chất lượng
đường bộ, hệ thống tưới tiêu, cảng, các sân bay. Cơ sở hạ tầng thường được đánh
giá là một trong những rào cản lớn nhất đối với đầu tư.
- Môi trường đầu tư mềm bao gồm hệ thống dịch vụ hành chính công, dịch
vụ pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư, hệ thống các dịch vụ ngân hàng, kế toán,
kiểm toán; hệ thống tài chính.... Hệ thống tài chính có thể khuyến khích đầu tư bằng
cách huy động nguồn vốn tiết kiệm cũng như giúp các nhà đầu tư kiểm soát rủi ro.
Hệ thống tài chính cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo. Hệ
thống tài chính có thể giúp thúc đẩy tăng trưởng, từ đó tác động gián tiếp tới việc
xoá đói giảm nghèo. Hệ thống tài chính cũng có thể tác động trực tiếp hơn tới xoá
đói giảm nghèo thông qua việc cho phép người nghèo có nhiều cơ hội tiếp cận với
các dịch vụ tài chính. Việc tiếp cận các tài khoản tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm và
kiều hối cũng giúp các hộ gia đình kiểm soát tốt hơn những biến động về thu nhập,
và cho phép người nghèo đầu tư vào các dịch vụ thiết yếu như y tế và giáo dục.
1.1.2.2. Theo các nhóm yếu tố tác động đến đầu tư
- Khung chính sách: bao gồm hệ thống các quy định hành chính, luật pháp và
chiến lược của nhà nước. Khung chính sách bao gồm khung chính sách quốc gia và
khung chính sách quốc tế. Khung chính sách quốc gia bao gồm 2 nhóm là khung
chính sách vòng trong và khung chính sách vòng ngoài. Khung chính sách vòng
trong là các quy định liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư nước ngoài như bảo
hộ đầu tư, các tiêu chuẩn đối xử với nhà đầu tư nước ngoài. Khung chính sách vòng
ngoài là những chính sách liên quan gián tiếp đến hoạt động đầu tư như chính sách
thương mại, chính sách tư nhân hóa, chính sách thuế... Khung chính sách quốc tế là
các nhân tố thuộc về các hiệp định đầu tư song phương và đa phương, các liên kết
kinh tế quốc tế...
- Các yếu tố kinh tế: là tổng thể các yếu tố cấu thành lên một nền kinh tế. Các
yếu tố kinh tế bao gồm các nhân tố chủ yếu :
Tính sẵn có của nguồn nguyên liệu
Nguồn lao động và trình độ lao động
18
Cơ sở hạ tầng
Các nguồn khác: công nghệ, thương hiệu...
Các chi phí đầu tư: chi phí thực cho nguyên nhiên liệu được điều chỉnh theo năng
suất lao động; chi phí cho các yếu tố đầu vào, các yếu tố trung gian.
Các yếu tố khác của nền kinh tế
- Các yếu tố tạo thuận lợi cho kinh doanh: đây là các biện pháp mà chính phủ
hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài gồm: hoạt động xúc
tiến đầu tư, các biện pháp khuyến khích đầu tư (miễn, giảm thuế, thuế ưu đãi...), các
biện pháp nhằm giảm tiêu cực phí (công khai, minh bạch, giảm và loại trừ tham
nhũng...); các biện pháp cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ tiện ích, công
cộng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.
1.1.2.3. Theo yếu tố cấu thành
- Môi trường chính trị xã hội: sự ổn định của chính trị, quan hệ của các đảng
phái, sự ủng hộ của các đảng phái, của quần chúng nhân dân, tổ chức xã hội với
đảng cầm quyền, năng lực quản lý của đội ngũ lãnh đạo, tình hình an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội...
- Môi trường pháp lý và hành chính: hệ thống pháp luật công bằng, rõ ràng,
ổn định, khả năng thực thi pháp luật tốt...
- Môi trường kinh tế và tài nguyên: các chính sách kinh tế, tài nguyên thiên
nhiên và khả năng khai thác, chính sách bảo hộ thị trường trong nước...
- Môi trường tài chính: các chính sách tài chính, các chỉ tiêu đánh giá nền tài
chính quốc gia, tỷ giá hối đoái và khả năng điều tiết của nền kinh tế, hiệu quả hoạt
động của hệ thống ngân hàng, khả năng đầu tư của chính phủ cho phát triển...
- Môi trường cơ sở hạ tầng: hệ thống đường sá, giao thông, hệ thống cung
cấp năng lượng...
- Môi trường lao động: nguồn lao động và giá cả lao động cũng như trình độ
của người lao động...
- Môi trường quốc tế: quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế...
Ngoài ra, môi trường đầu tư có thể chia theo phạm vi của môi trường đầu tư:
- Môi trường đầu tư cấp quốc gia
19
- Môi trường đầu tư vùng
- Môi trường đầu tư tỉnh
Trong phạm vi nghiên cứu của bài luận văn, tác giả nghiên cứu tập trung vào
phân tích môi trường đầu tư theo phạm vi của môi trường đầu tư tại một địa phương
cụ thể. Đó là môi trường đầu tư tỉnh Hải Dương. Ngoài ra, bài viết cũng phân loại
môi trường đầu tư theo nhóm các yếu tố cấu thành để có thể phân tích sâu hơn và có
cái nhìn tổng quan hơn về môi trường đầu tư ở tỉnh Hải Dương.
1.1.3. Khái niệm về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI
Để đánh giá khả năng thu hút vốn đầu tư nói chung và vốn đầu tư nước ngoài
nói riêng, luận văn nghiên cứu tới chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Đây là một
trong những chỉ số của môi trường đầu tư trong phạm vi nghiên cứu cấp tỉnh.
“Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hay PCI (viết tắt của Provincial
Competitiveness Index) là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền cấp tỉnh, thành
của Việt Nam trong việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát
triển doanh nghiệp dân doanh”. (VCCI, 2005)
Chỉ số này được đưa vào lần đầu tiên năm 2005 gồm 8 chỉ số thành phần cho
47 tỉnh thành trong cả nước do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
(VCCI) hợp tác và nghiên cứu dưới sự trợ giúp của Cơ quan hợp tác Phát triển
Quốc tế Hoa Kỳ US - AID. Kể từ năm 2006, tất cả các tỉnh thành được đưa vào
bảng xếp hạng . Năm 2013, 10 chỉ số thành phần được hoàn thiện gồm có:
-
Chi phí gia nhập thị trường thấp;
-
Doanh nghiệp dễ dàng Tiếp cận đất đai và có mặt bằng kinh doanh ổn định;
Môi trường kinh doanh công khai minh bạch, doanh nghiệp có cơ hội tiếp
cận công bằng các thông tin cần cho kinh doanh và các văn bản pháp luật cần thiết;
-
Thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính và thanh tra
kiểm tra hạn chế nhất (Chi phí thời gian).
-
Chi phí không chính thức ở mức tối thiểu;
20
-
Cạnh tranh bình đẳng - chỉ số thành phần mới;
-
Lãnh đạo tỉnh năng động và tiên phong;
-
Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, do khu vực nhà nước và tư nhân cung cấp;
-
Có chính sách đào tạo lao động tốt;
-
Hệ thống pháp luật và tư pháp để giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả.
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI không chỉ đánh giá khả năng cạnh
tranh của địa phương trong việc phát triển doanh nghiệp trong địa bàn mà còn cả
năng lực cạnh tranh trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp cả trong và
ngoài nước.
Với việc loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố cơ bản như tự nhiên và xã hội
trong một tỉnh, điểm mạnh của bộ chỉ số PCI trong đánh giá môi trường một tỉnh là
đánh giá được yếu tố quyết định nhất trong môi trường đầu tư địa phương, giúp xác
định và hướng vào các thực tiễn điều hành kinh tế tốt có thể đạt được ở cấp tỉnh, tập
trung phân tích các chính sách của chính quyền địa phương là chủ yếu.
Chỉ số PCI nghiên cứu chỉ ra được mối tương quan giữa các chính sách điều
hành của chính quyền địa phương với đánh giá của doanh nghiệp cũng như sự cải
thiện phúc lợi của địa phương. Chỉ số PCI này được xây dựng trên cơ sở đánh giá
của các doanh nghiệp. Do vậy chỉ số này sẽ phản ánh một cách khách quan và trung
thực về môi trường đầu tư và kinh doanh của địa phương.
Chỉ số PCI phản ánh được thực trạng điều hành của chính quyền các tỉnh về
thu hút đầu tư và điều hành hoạt động của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chỉ số
PCI cũng chỉ ra các điểm mạnh điểm yếu, cũng như xác định được chính quyền nào
có chất lượng điều hành kinh tế tốt và các doanh nghiệp hài lòng. Trong số những
yếu tố của môi trường đầu tư như đã phân tích ở trên, thực trạng điều hành và các
chính sách của địa phương là yếu tố quyết định và quan trọng nhất, ảnh hưởng lớn
đến các yếu tố khác. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI chỉ ra được thực trạng
điều hành của địa phương đó. Từ đó, chính quyền tỉnh sẽ nhận biết được môi trường
21
đầu tư của mình hiện đang còn những yếu kém gì cần phải khắc phục để đáp ứng
yêu cầu của doanh nghiệp và tỉnh trở nên cạnh tranh hơn so với các tỉnh thành khác
của Việt Nam.
Hạn chế của chỉ số PCI là tỷ lệ của các chỉ số thành phần trong cách tính toán
kết luận ra chỉ số cuối cùng còn nhiều ý kiến tranh cãi. Ngoài ra, do chỉ nêu ra được
một nhóm yếu tố về thực trạng điều hành ở địa phương, chỉ số năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh chỉ nhìn được môi trường đầu tư ở một góc độ nên thiếu sự toàn diện và
sâu sắc khi phân tích.
1.2. Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Tìm hiểu, nghiên cứu khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài chúng ta thấy có
nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mỗi khái niệm đều cố gắng
khái quát hoá bản chất và nhấn mạnh đến một khía cạnh nào đó của đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Có thể thấy rõ qua một số khái niệm sau:
Ủy ban Liên hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) (1999) định
nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài là: “Một khoản đầu tư bao gồm mối quan hệ trong
dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở
một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ nước ngoài) trong một
doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư
nước ngoài (doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trực tiếp, doanh nghiệp liên doanh
hoặc chi nhánh nước ngoài) ”. (UNCTAD, 1999)
Khái niệm do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra năm 1997 được chấp nhận khá
rộng rãi về đầu tư trực tiếp nước ngoài là: “Số vốn đầu tư được thực hiện để thu
được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền
kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là có được tiếng nói hiệu lực và
đạt hiệu quả cao trong quản lý doanh nghiệp ”(IMF, 1997). Khái niệm này cho
thấy, sự khác nhau cơ bản giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với đầu tư gián tiếp là
mục đích của các nhà đầu tư.
Năm 2005, Luật đầu tư nước ngoài được điều chỉnh và đã đưa ra định nghĩa
đầu tư nước ngoài trong Điều 2, chương I như sau: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà
22
đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để
tiến hành hoạt động đầu tư”(Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, 2005).
Luật đầu tư nước ngoài năm 2005 không đề cập cụ thể đến khái niệm đầu tư
trực tiếp nước ngoài và đầu tư nước ngoài gián tiếp mà chỉ đưa ra khái niệm đầu tư
trực tiếp, đầu tư gián tiếp. Hai khái niệm trên được hiểu trong Điều 3, chương I của
Luật đầu tư nước ngoài 2005 số 59/2005/QH11: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu
tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”, “đầu tư
gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các
giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính
trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư”.
(Luật đầu tư nước ngoài, 2005)
Dù có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng xét về bản chất, đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) là một loại hình di chuyển vốn quốc tế trong đó người chủ sở hữu
vốn đồng thời là người quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn. Để tham
gia trực tiếp vào việc quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn, nhà đầu tư
nước ngoài phải có một lượng vốn nhất định và tuân theo các hình thức đầu tư nhất
định do pháp luật nước sở tại quy định.
Nói cách khác, trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài sẽ
sử dụng vốn, tài sản, kinh nghiệm, uy tín và nhãn hiệu sản phẩm của mình để tiến
hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nước sở tại nhằm thu lợi nhuận và để đạt
được những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Về thực chất đây là hình thức xuất
khẩu vốn, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá.
Trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài là
chủ thể quan trọng thành lập nên doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (hay còn
gọi là doanh nghiệp FDI) và có thể nói không có đầu tư trực tiếp nước ngoài tất yếu
không có doanh nghiệp FDI. Doanh nghiệp FDI là phương tiện, là cách thức để nhà
đầu tư nước ngoài trực tiếp bỏ vốn và tham gia quản lý kinh doanh ở một nước khác.
- Doanh nghiệp FDI là những pháp nhân mới được thành lập tại nước nhận đầu
tư. Trong đó, các đối tác có quốc tịch khác nhau và bên nước ngoài có tỷ lệ góp vốn tối
23
thiểu đủ để trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp. Quan niệm này nhấn mạnh đến
vai trò sáng lập của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp FDI.
- Doanh nghiệp FDI là những loại hình doanh nghiệp có vốn của bên nước
ngoài và có sự quản lý trực tiếp của bên nước ngoài. Doanh nghiệp này hoạt động
theo luật pháp của nước sở tại để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm thu
được lợi ích cho tất cả các bên.
Theo các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp có tư cách pháp
nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, trong đó nhà đầu tư nước ngoài sở hữu từ
10% trở lên số cổ phần thường hay quyền bỏ phiếu (đối với doanh nghiệp có tư cách
pháp nhân) hoặc tương đương (đối với doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân).
Những quan niệm đã trình bày ở trên cho thấy sự không thống nhất trên bình
diện quốc tế trong quan niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, do
đặc thù của mỗi quốc gia mà có các quy định khác nhau về mô hình doanh nghiệp cho
hoạt động đầu tư nước ngoài.
Ở Việt Nam, đến nay chưa có khái niệm chính thức nào khác về doanh nghiệp
FDI ngoài những ghi nhận được đề cập trong Luật Đầu tư năm 2005, Luật đầu tư năm
2014 cũng không đề cập đến khai niệm này.
Như vậy, khác với Luật Doanh nghiệp và Luật doanh nghiệp nhà nước quan
tâm đến tiêu chí trách nhiệm của doanh nghiệp (công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) và tiêu chí nguồn gốc vốn của
doanh nghiệp (công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước khác), thì qui định của
Luật Đầu tư nước ngoài lại nhấn mạnh theo tiêu chí tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư
nước ngoài trong doanh nghiệp. Điều này không phù hợp với thực tiễn về quản lý
nhà nước đối với doanh nghiệp, bởi vì điều mà các bên thứ ba quan tâm ở doanh
nghiệp không phải là nhà đầu tư có tỷ lệ góp vốn bao nhiêu, ... mà là doanh nghiệp
chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản trước đối tác, trước Nhà nước và các chủ
thể khác như thế nào. Đây chính là điểm hạn chế trước đây của Luật Đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam.
Để khắc phục hạn chế trên, Luật Doanh nghiệp 2005 đã phân loại doanh
nghiệp theo tiêu chí cách thức góp vốn và chịu trách nhiệm (công ty trách nhiệm
24
hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) mà không phụ
thuộc vào nguồn gốc vốn góp (tức là không phân biệt doanh nghiệp của nhà đầu tư
trong nước hay nước ngoài, của một nhà đầu tư hay nhiều nhà đầu tư). (Luật doanh
nghiệp, 2005)
Luật Đầu tư (2005), Khoản 6, Điều 3 khi định nghĩa về doanh nghiệp FDI
cũng không còn sử dụng khái niệm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và
doanh nghiệp liên doanh nữa mà thay vào đó đã sử dụng khái niệm: “Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành
lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu
tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại” (Luật đầu tư, 2005)
Vậy, theo Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Đầu tư 2005, doanh nghiệp 100%
vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh về bản chất vẫn tồn tại nhưng
tên gọi pháp lý của chúng đã thay đổi. Tùy theo cách thức góp vốn và chịu trách
nhiệm trong các doanh nghiệp này, chúng có thể là công ty TNHH, công ty cổ phần,
công ty hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân.
Qua phân tích ở trên, tác giả tổng kết lại như sau: “Doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức tổ chức kinh doanh, trong đó có một bên
hoặc các bên mang quốc tịch khác nhau cùng góp vốn, cùng quản lý cơ sở kinh tế
đó vì mục tiêu sinh lời, phù hợp với các quy định luật pháp của nước sở tại và
thông lệ quốc tế”.
1.2.2. Đặc điểm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.2.1. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có các đặc trưng sau:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài không có những ràng buộc về chính trị, không
để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế của nước chủ nhà nhưng có đóng góp tích
cực cho phát triển kinh tế và là một bộ phận hữu cơ trong cơ cấu đầu tư của nền
kinh tế nước chủ nhà.
- Trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, có sự thiết lập quyền sở hữu
về tư bản thực của công ty ở một nước khác, đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực
hiện bằng vốn của cá nhân hoặc tập thể do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư,
25
quyết định sản xuất, kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về các khoản lỗ, lãi. Đầu tư
trực tiếp nước ngoài phát triển gắn liền với sự ra đời và hoạt động của các công ty
xuyên quốc gia.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có mục tiêu, nhiệm vụ rõ ràng nhằm mở rộng,
chiếm lĩnh thị trường của các công ty xuyên quốc gia và thu về lợi nhuận tối đa cho
nhà đầu tư.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có sự kết hợp quyền sở hữu với quyền quản lý
các nguồn vốn đã được đầu tư. Khác với hình thức đầu tư gián tiếp, trong đầu tư
trực tiếp, chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên
doanh tùy theo tỷ lệ góp vốn của mình.
- Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có kèm theo việc chuyển giao công
nghệ và kỹ năng quản lý. Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có
thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý... Đây
là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được.
- Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với sự phát triển của thị
trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế. Trong hình thức đầu tư trực tiếp
nước ngoài, các công ty mẹ thường chuyển giao vốn của mình qua các công ty chi
nhánh. Do đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài có liên quan chặt chẽ với dòng lưu
chuyển vốn quốc tế, trong đó một công ty ở một nước tạo ra hoặc mở rộng chi
nhánh ở nước khác.
Những đặc trưng trên cho thấy bản chất và những lợi thế nổi bật của đầu
tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế của các nước đang phát triển nói
riêng và của nền kinh tế thế giới nói chung. Hiện nay, trong bối cảnh hầu hết các
quốc gia đều hoạt động theo cơ chế thị trường, xu thế khu vực hóa và toàn cầu
hóa các hoạt động kinh tế đang ngày càng phổ biến và diễn ra với tốc độ nhanh,
khoa học - kỹ thuật, công nghệ đạt đến trình độ phát triển cao.... đầu tư trực tiếp
nước ngoài được sử dụng như một trong những hình thức hợp tác kinh tế,
phương tiện thực hiện phân công lao động quốc tế và được xem là một trong các
điều kiện quyết định sự phát triển của nền kinh tế thế giới.