Tải bản đầy đủ (.docx) (82 trang)

Thu hút nguồn vốn FDI vào Thủ đô Viêng Chăn nước CHDCND Lào Thực trạng và giải pháp (LV thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (424.51 KB, 82 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
---------------------------

LUẬN VĂN THẠC SĨ
THU HÚT NGUỒN VỐN FDI VÀO THỦ ĐÔ
VIÊNG CHĂN NƯỚC CHDCND LÀO - THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

BOUNYARITH VANNALY

Hà Nội - 2017

1


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
---------------------------

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Thu hút nguồn vốn FDI vào Thủ đô Viêng Chăn
nước CHDCND Lào - Thực trạng và giải pháp
Ngành: Kinh tế học


Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60310106

Học viên thực hiện: BOUNYARITH VANNALY
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. VŨ CHÍ LỘC

Hà Nội - 2017

2


3
LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tôi xin cam đoan
rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận này là trung thực và không trùng lặp
với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện
luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi
rõ nguồn gốc. Kết luận khoa học trong luận văn là kết quả quá trình nghiên cứu
khoa học nghiêm túc của tôi, trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2017
Tác giả luận văn

Bounyarith Vannaly

3



4
LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiên luận văn thạc sỹ kinh tế tại trường Đại học Ngoại
Thương, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình và tạo điều kiện của rất
nhiều người, sau đây là lời cảm ơn chân thành của tôi:
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn PGS.TS.
Vũ Chí Lộc, người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý
tận tình cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn Khoa Sau Đại học trường Đại học Ngoại Thương, cảm
ơn các giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ, các thầy cô giáo trong trường nói chung và
trong Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế nói riêng. Cảm ơn các đồng nghiệp, bạn
bè đặc biệt là Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lào, Bộ Công thương Lào, Sở kế hoạch và
Đầu tư Viêng Chăn đã tạo điều kiện về thời gian, hướng dẫn nội dung và cung cấp
những thông tin, tài liệu cần thiết cho việc phân tích trong luận văn, cũng như
những góp ý hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, đặc biệt xin chân thành cảm ơn gia đình đã động viên tôi, tạo điều
kiện về thời gian, kinh phí, giúp đỡ công việc gia đình cho tôi trong suốt thời gian
viết luận văn thạc sỹ kinh tế này được hoàn thành.

Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2017
Tác giả luận văn

Bounyarith Vannaly

4


5
MỤC LỤC


5


6
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

I. Tiếng Việt

NĐT
KCN
GCNĐT
NĐTNN
DN
CNTT
CHDCND
XHCN

: Nhà đầu tư
: Khu công nghiệp
: Giấy chứng nhận đầu tư
: Nhà đầu tư nước ngoài
: Doanh nghiệp
: Công nghệ thông tin
: Cộng hòa dân chủ nhân dân
: Xã hội chủ nghĩa

II. Tiếng Anh

FDI


: Foreign Direct Investment - đầu tư trực tiếp nước ngoài

ODA

: Official development assistance - Hỗ trợ phát triển chính thức

6


7
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH
1. Danh mục Bảng

2. Danh mục biểu đồ

3. Danh mục hình

7


8
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Luận văn nghiên cứu đề tài: “Thu hút nguồn vốn FDI vào Thủ đô Viêng Chăn,
nước CHDCND Lào - Thực trạng và giải pháp”. Trước tiên, bài viết đã nêu ra cái
nhìn tổng quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài: bao gồm các khái niệm, đặc điểm,
các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào. Luận văn cũng nghiên
cứu vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế của mỗi một
quốc gia, một địa phương; đi sâu tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực
tiếp nước ngoài của một địa phương, trên cơ sở đó đưa ra các chỉ tiêu đánh giá việc

thu hút FDI.
Tiếp theo, luận văn phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thủ đô
Viêng Chăn có ảnh hướng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, bài viết cũng làm
rõ những ưu thế vượt trội của Thủ đô so với các địa phương khác trên cả nước trong
công tác thu hút FDI. Với những điều kiện trên, bài viết tiếp tục đưa ra toàn cảnh
thu hút FDI của thủ đô Viêng Chăn trong giai đoạn 2011 - 2015. Trong giai đoạn
này, luận văn đã nêu ra các thành tựu mà FDI mang lại cho thủ đô, những mặt thành
công và hạn chế còn tồn tại trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI tại Thủ
đô. Cùng với đó, bài viết cũng nêu ra nguyên nhân của những hạn chế trên.
Cuối cùng, luận văn nêu lên sự ảnh hưởng của bối cảnh quốc tế và trong nước
hiện nay đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thủ đô Viêng Chăn. Đồng thời,
trên cơ sở nghiên cứu định hướng thu hút FDI của CHDCND Lào nói chung và thủ
đô Viêng Chăn nói riêng, kết hợp các kiến thức lý luận và thực tiễn khác, tác giả đã
đề xuất một số giải pháp vĩ mô và vi mô nhằm đẩy mạnh thu hút đầu FDI vào thủ
đô Viêng Chăn trong thời gian tới.

8


9
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế ngày này đã và đang tạo ra xu hướng đối
với các quốc gia trên thế giới. Điều này làm cho nền kinh tế thế giới ngày càng trở
thành một chỉnh thể thống nhất, đòi hỏi các các quốc gia mở cửa nền kinh tế, tham
gia một cách tích cực vào các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Cùng với xu hướng hợp
tác quốc tế, toàn cầu hóa nền kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct
Invest -FDI) đang là đề tài nóng và ngày càng được quan tâm trên thế giới. Nguồn
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang đóng vai trò quan trọng, tạo nguồn lực bổ
sung về vốn, công nghệ, thị trường, kinh nghiệm quản lý và lao động trình độ cao

với phong cách công nghiệp, góp phần tạo việc làm, nâng cao trình độ phát triển
nhiều mặt của CHDCND Lào nói chung và thủ đô Viêng Chăn nói riêng.
Thủ đô Viêng Chăn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Lào.
Tuy nhiên, trong những năm qua, việc thu hút FDI trên địa bàn thủ đô Viêng Chăn
còn nhiều hạn chế trong đó có về số lượng, cũng như quy mô dự án, đặc biệt là
trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Đây là lĩnh vực trọng tâm của nền kinh tế Lào,
cho nên rất cần thiết phải tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài nhằm tạo đà mới
cho sự phát triển của thủ đô.
Vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra những giải pháp nhằm tăng cường thu hút
FDI với thủ đô Viêng Chăn trở thành vấn đề cấp bách, tác giả chọn đề tài: “Thu hút
nguồn vốn FDI vào Thủ đô Viêng Chăn nước CHDCND Lào - Thực trạng và
giải pháp" để tìm ra được những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước
ngoài; những điểm mạnh, điểm yếu của đầu từ trực tiếp nước ngoài ở thủ đô Viêng
Chăn, từ đó đưa ra phương hướng khắc phục được những điểm yếu đó thúc đẩy sự
phát triển kinh tế xã hội của nước CHDCND Lào nói chung cũng như thủ đô Viêng
Chăn nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những vấn đề được nhiều nhà kinh tế
quan tâm và nghiên cứu. Các nghiên cứu trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài là rất


10
phong phú và đa dạng được thực hiện bởi các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ
chức nghiên cứu trong nước và các tổ chức quốc tế cũng như nghiên cứu khoa học
của các cá nhân.Có tác giả nghiên cứu trong phạm vi một địa phương hay một
doanh nghiệp nào đấy về hoạt động FDI. Cũng đã có một số luận văn, luận án
nghiên cứu về FDI của CHDCND Lào nói chung và thủ đô Viêng Chăn nói riêng.
Cụ thể:
“Quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài Việt Nam -Lào, thực trạng và giải pháp”,
Sivixay Vanhnasy, Hà Nội- 2003.

“Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh tế ở Cộng Hoà Dân
Chủ Nhân Dân Lào” của Bua Khăm Thip Pha Vông, Hà Nội- 2001.
“Huy động vốn đầu tư phát triển tại Thủ đô Viêng Chăn nước Cộng hòa dân
chủ nhân dân Lào” của Khampouthong Vichitlasy, Hà Nội - 2013.
Có thể nói, cho đến nay các đề tài nghiên cứu về FDI ở CHDCND Lào nói
chung và thủ đô Viêng Chăn nói riêng được khá nhiều tác giả quan tâm. Trong các
nghiên cứu đó, họ đã đưa ra các giải pháp để tăng cường thu hút đầu tư FDI vào
CHDCND Lào nói chung và thủ đô Viêng Chăn nói riêng. Tuy nhiên, dù được tiếp
cận dưới nhiều góc đô, các giải pháp để tăng cường thu hút FDI vào thủ đô Viêng
Chăn nói riêng và nước CHDCND Lào nói chung chỉ được trình bày như là một
phần nội dung công trình nghiên cứu về FDI, chứ chưa thành nội dung duy nhất,
một cách có hệ thống. Đồng thời, các tác phẩm chưa nghiên cứu về đầu tư trực tiếp
nước ngoài của thủ đô Viêng Chăn vào giai đoạn 2011 - 2015. Do đó, tác giả thiết
nghĩ việc nghiên cứ vó hệ thống về hoạt động thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại thủ đô Viêng Chăn là hết sức cần thiết và cần tiếp tục đưa ra những kiến
nghĩ đẩy mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thủ đô Viêng Chăn.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài


Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Tìm hìm rõ về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thủ đô Viêng Chăn nước
CHDCND Lào trong giai đoạn 2011 - 2015, qua đó đề xuất giải pháp thúc đẩy thu
hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thủ đô Viêng Chăn.


11


Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Nghiên cứu, phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở thủ đô Viêng Chăn và thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thủ đô
Viêng Chăn để rút ra những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục.
Đề xuất các giải pháp để thúc đẩy thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
thủ đô Viêng Chăn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu



Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thu hút nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở thủ
đô Viêng Chăn nước CHDCND Lào.



Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào thủ đô Viêng Chăn nước CHDCND Lào.
- Về thời gian:
+ Số liệu, tình hình khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào thủ đô Viêng Chăn giai đoạn 2011 - 2015.
+ Các định hướng và giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thủ đô
Viêng Chăn giai đoạn đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, tác giả đã sử dụng phương pháp của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp và phân tích
thống kê, có sử dụng kết hợp các bảng, biểu để tính toán, minh họa, so sánh và rút
kinh nghiệm. Ngoài ra, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, nghiên cứu
các công trình trong và ngoài nước về các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
6. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn bao gồm ba chương:


12
- Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
- Chương 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO
THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN NƯỚC CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
- Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI VÀO THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN NƯỚC CHDCND LÀO
Mặc dù đã cố gắng, nhưng do những hạn chế về năng lực, trình độ cũng như
kinh nghiệm thực tiễn nên bài luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn.


13
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1. Khái niệm
Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã
(đang) ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới. Theo đó đã có nhiều quan điểm
được đưa ra nhằm định nghĩa cho hành vi này:
Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI: “Đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có
được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài
sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước
ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay
được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh
công ty"

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 1993): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài
với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế
nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh
nghiệp”(BPM5, fifth edition). Để có quyền kiểm soát nhà đầu tư cần nắm từ 10%
cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên.
Theo OECD, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là hoạt động đầu tư được thực
hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt
là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh
nghiệp nói trên bằng cách:
- Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn
quyền quản lý của chủ đầu tư
- Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có
- Tham gia vào một doanh nghiệp mới


14
- Cấp tín dụng dài hạn (trên 5 năm) (The fourth edition of the OECD detailed
benchmark definition of FDI 2008, tr. 48-49)
Hai định nghĩa trên nhấn mạnh mục tiêu thực hiện các lợi ích dài hạn của một
chủ đầu tư cư trú tại một nước, được gọi là nhà đầu tư trực tiếp thông qua một chủ
thể cư trú khác gọi là doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp. Mục tiêu lợi ích dài hạn
đòi hỏi phải có một quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp nhận
đầu tư trực tiếp, đồng thời nhà đầu tư có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với
việc quản lý doanh nghiệp.
Theo luật đầu tư năm 2014 của Việt Nam đã được thông qua, Việt Nam không
quy định khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI mà chỉđưa ra các khái niệm về
“đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”, “đầu tư ra nước ngoài” như sau:
“Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô
hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật

này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia
quản lý hoạt động đầu tư.
Đầu tư nước ngoài là việc NĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài
sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư.
Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp
pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư.”
Theo luật khuyến khích đầu tư số 02/QH của CHDCND Lào thông qua ngày
08/07/2009 đã đưa ra các khái niệm về “đầu tư”, “nhà đầu tư nước ngoài”, “đầu
tư trực tiếp” như sau:
“Đầu tư” là nhà đầu tư sử dụng vốn hữu hình và vốn vô hình vào khuyến
khích kinh doanh, sản xuất tại CHDCND Lào;
“Nhà đầu tư nước ngoài” có nghĩa là cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài
đến kinh doanh sản xuất tại CHDCND Lào;


15
“Đầu tư trực tiếp” có nghĩa là việc nhà đầu tư hoặc nhóm nhà đầu tư đưa vốn
tiến hành kinh doanh sản xuất, họ là chủ doanh nghiệp và quản lý hành chính hoặc
phát triển doanh nghiệp liên quan”.
Tuy nhiên, có thể kết hợp các khái niệm đã được thông qua để hiểu “ Đầu tư
trực tiếp nước ngoài FDI là hình thức đầu tư do NĐTNN bỏ vốn đầu tư và tham gia
quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và
tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các
quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Như vậy, có thể hiểu khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển
vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư trực tiếp tham
gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công
nghệ, kinh nghiệm quản lý,… nhằm mục đích thu lợi nhuận.
1.1.2. Bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Nói về bản chất của FDI thì mục đích kinh tế được đặt lên hàng đầu. Mục
đích cuối cùng của FDI chính là lợi nhuận, khả năng sinh lợi cao hơn khi sử dụng
đồng vốn ở các nước bản địa. Sử dụng FDI chính là đã thiết lập về quyền sở hữu Tư
Bản của công ty một nước ở một nước khác. Bằng việc đầu tư vốn FDI vào một
quốc gia khác, chủ thể đầu tư nước ngoài đã thiết lập quyền sở hữu tư bản của họ và
có quyền, trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của công ty tại nước sở tại.
Bên cạnh đó, đầu tư FDI chính là đã có sự kết hợp quyền sở hữu với quyền quản lý
các nguồn vốn đã được đầu tư. Quyền sở hữu và quyền quản lý được kết hợp giữa
nước nhận đầu tư và nước đầu tư dựa theo tỷ lệ đã được thỏa thuận.
1.1.3. Đặc điểm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được thực hiện thông qua các hình thức:
xây dựng mới, mua lại toàn bộ hay từng phần của một cơ sở đang hoạt động, mua cổ
phiếu của các công ty cổ phần để thao túng hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài không có những ràng buộc về chính trị, không để
lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế của nước chủ nhà, ngược lại đóng góp tích cực
cho phát triển kinh tế là một bộ phận hữu cơ trong cơ cấu đầu tư của nền kinh tế
nước chủ nhà.


16
Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận mà có thể
cả bí quyết kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý hiện đại, tạo ra năng lực sản
xuất mới và mở rộng thị trường cho cả nước tiếp nhận đầu tư và nước đi đầu tư.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một dự án mang tính lâu dài. Đây là đặc điểm
phân biệt giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, đầu tư gián tiếp thường là các
dòng vốn có thời gian hoạt động ngắn và có thu nhập thông qua việc mua và bán
chứng khoán. Đầu tư gián tiếp có tính thanh khoản cao hơn so với đầu tư trực tiếp,
dễ dàng thu lại số vốn ban đầu khi đem bán chứng khoán và tạo điều kiện cho thị
trường tiền tệ phát triển ở những nước tiếp nhận đầu tư
1.1.4. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

Theo Luật khuyến khích đầu tư của CHDCND Lào thông qua ngày
08/07/2009 quy định các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm:


Đầu tư 100% của nhà đầu tư nước ngoài
Đầu tư 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài, cụ
thể là một hoặc nhiều nhà đầu tư thực hiện bỏ ra 100% vốn đầu tư vào dự án nào đó
tạo CHDCND Lào.



Đầu tư góp cổ phần giữa nhà đầu tư trong và ngoài nước
Đầu tư góp vốn cổ phần giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước
cùng tiến hành kinh doanh, cùng sở hữu và tạo lập pháp nhân mới theo luật pháp
nước CHDCND Lào.
Việc tổ chức hoạt động, quản lý, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư góp vốn
chung được quy định thỏa thuận góp vốn điều lệ pháp nhân mới.
Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư dưới hình thức trên cần góp vốn tối thiểu không
dưới mười phần trăm (10%) tổng số vốn đầu tư.



Liên doanh theo thỏa thuận
Liên doanh đầu tư chung theo thỏa thuận là cùng đầu tư giữa pháp nhân trong
CHDCND Lào với pháp nhân nước ngoài được quy định tại hợp đồng nhưng không
tạo thành pháp nhân mới hoặc lập chi nhánh tại CHDCND Lào.


17
Pháp nhân trong nước trên cần thông báo cho Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch

và Đầu tư và Bộ Tài Chính để quản lý theo luật định.
Thỏa thuận và liên doanh và đầu tư theo hợp đồng cần dược chứng nhận của
cơ quan cấp phép có thẩm quyền.
1.2. Vai trò đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế
1.2.1. Đối với nước đầu tư
Việc đầu tư vốn sang nước ngoài mang đến cho nước đi đầu tư các những mặt
tích cực và tiêu cực:
1.2.1.1. Tích cực
Có khả năng kiểm soát hoạt động sử dụng vốn đầu tư giúp các nước đầu tư
đưa ra những quyết định tốt nhất đối với họ, nâng cao hiệu qủa sử dụng vốn.
Các chủ đầu tư nước ngoài có thể mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiếp
cận được các nguồn nguyên liệu mới, các tiến bộ khoa học công nghệ trong khu vực
và thế giới
Đưa ra các sản phẩm với giá cả cạnh tranh do khai thác được nguồn lao động
giá rẻ hoặc các nguồn nguyên liệu gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, từ đó nâng cao
hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng năng suất và thu nhập
quốc dân. Thông qua thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, chủ đầu tư có thể
nâng cao khả năng năng cạnh tranh của chính mình trên thị trường thế giới.
Tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch và chiếm lĩnh thị trường vì thông qua
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mà chủ đầu tư nước ngoài xây dựng được
các doanh nghiệp của mình sẽ được áp dụng các chính sách đặc biệt của nước sở tại.
1.2.1.2. Những mặt hạn chế
Ngoài các tác động tích cực, việc đầu tư ra nước ngoài cũng tồn tại một số
điểm tiêu cực sau:
Dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám nếu các chủ đầu tư nước ngoài để mất
bản quyền sở hữu công nghệ, bí quyết trong quá trình chuyển giao.


18
Việc không tìm hiểu rõ môi trường tại nước sở tại sẽ khiến các nhà đầu tư

nước ngoài gặp khá nhiều rủi ro trong quá trình thực hiện các dự án.
1.2.2. Đối với nước, địa phương nhận đầu tư
Tác động của đầu tư nước ngoài đến các nước, địa phương nhận đầu tư được
thể hiện như sau:
1.2.2.1. Tích cực
Tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại, các kinh nghiệm quản lý, tác phong làm
việc tiên tến của nước ngoài. Hầu hết các nước tiếp nhận đầu tư đều có kỹ thuật và
công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý thấp kém không phát huy được thế mạnh của
mình. Trong khi đó các công ty xuyên quốc gia có kỹ thuật và công nghệ hiện đại,
các chuyên gia quản lý giỏi, có kinh nghiệm hoạt động nhiều năm trên thị trường
thế giới.
Khai thác tốt nhất các lợi thế của quốc gia tiếp nhận đầu tư về tài nguyên thiên
nhiên, điều kiện địa lý,…
Kết hợp tối ưu các yếu tố sản xuất và sử dụng triệt để các nguồn lực trong
nước, từ đó góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế trong nước. Có thể dễ dàng
giải thích yếu tố này thông qua việc đầu tư của mình, để tổ chức hoạt động sản xuất
kinh doanh, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ phải thuê mướn lao động, mua hàng hóa
dịch vụ cần thiết, mua nguyên vật liệu, đẩy ngoại tệ vào nèn kinh tế,.. chính các yếu
tố này sẽ làm tăng thu nhập cho lao động nước được tiếp nhận đầu tư, từ đó họ sẽ
chi tiêu nhiều hơn tiết kiệm, kết quả là tổng nguồn vốn đầu tư xã hội tăng lên, góp
phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tạo thêm việc làm, nâng cao chất lượng lao động. Hầu hết các doanh nghiệp
liên doanh, các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài…thu hút một lượng lớn lao
động; đồng thời người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
được tiếp thu công nghệ sản xuất hiện đại, làm việc trong môi trường chuyên
nghiệp và trình độ quản lý cao.


19
Thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế đối với các nước tiếp nhận đầu tư thông

qua việc gắn kết kinh tế trong nước với hệ thống sản xuất, phân phối và trao đổi
quốc tế của các nước này. Chủ thể của các hoạt động đàu tư trực tiếp nước ngoài
trên thế giới là các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia với mạng lưới rộng lớn, thông
qua việc tiếp nhận đầu tư của các công ty, tập đoàn này, nước sở tại có điều kiện
thuận lợi để tiếp cận và thâm nhập thị trường quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu,
thích nghi với tập quán quốc tế và những thay đổi trên thị trường thế giới.
1.2.2.2. Tác động tiêu cực
Bị động trong việc bố trí cơ cấu đầu tư theo ngành và theo vùng lãnh thổ.
Trường hợp các nước sở tại không có kế hoạch đầu tư cụ thể và chi tiết, hiện tượng
đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, các nguồn lực tự nhiên bị khai thác quá mức, các hiệu
tượng ô nhiễm môi trường có thể trở nên nghiêm trọng.
Việc thẩm định thiếu kỹ lưỡng sẽ dẫn đến tiếp nhận các công nghệ lạc hậu, cũ
kỹ gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và điều này sẽ khiến các nước tiếp nhận đầu
tư sẽ phải trả giá đắt, gây thiệt hại lớn đến lợi ích kinh tế.
Việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài không có quy hoạch cụ thể,
khoa học cũng dẫn đến tình trạng chênh lệch về thu nhập, gia tăng sự phân hóa giữa
các tầng lớp nhân dân, tăng mức chênh lệch phát triển trong vùng hoặc giữa các
vùng với nhau,... của nước sở tại.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút nguồn vốn FDI của một địa phương
Đối với các nước đang phát triển, thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài
(FDI) là một trong những chính sách quan trọng trong việc phát triển kinh tế. Với
những tác động tích cực, FDI đã góp phần đáng kể vào việc thực hiện các mục tiêu
tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm, chuyển giao
công nghệ và giúp khai thác một cách hiệu quả các nguồn tài nguyên của các quốc
gia này.
Đối với một địa phương, việc thu hút nguồn vốn FDI phụ thuộc vào 3 nhóm
yếu tố: tình hình kinh tế thế giới, tình hình thu hút nguồn vốn FDI vào quốc gia và
bản thân môi trường thu hút FDI vào địa phương đó.



20
1.3.1. Môi trường thế giới
1.3.1.1. Tình hình kinh tế thế giới
FDI là vốn từ nước ngoài nên nó hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình kinh tế thế
giới. Nếu kinh tế thế giới phát triển tốt, ổn định thì dòng vốn FDI đầu tư đi cũng sẽ
ổn định. Ngược lại, nếu kinh tế thế giới bất ổn thì dòng vốn FDI sẽ bị ảnh hưởng
trực tiếp. Do vậy, tình hình kinh tế thế giới nhiều khi là thời cơ, nhưng nhiều khi
cũng là thách thức đối với chiến lược thu hút nguồn vốn FDI của một quốc gia.
1.3.1.2. Xu hướng của dòng vốn FDI trên thế giới
Xu hướng của dòng vốn FDI trên thế giới có vai trò quyết định đối với sự
thành công của chính sách thu hút nguồn vốn FDI của một quốc gia. Bất cứ một
quốc gia nào muốn phát triển cũng đều phải cần đến nguồn vốn, thì FDI chính là
một trong những nguồn vốn nước ngoài quan trọng có thể huy động. Một quốc gia
nằm trong chiều nhận của xu hướng vận động của dòng vốn sẽ là điều kiện cần để
quốc gia đó thu hút được những lượng vốn lớn từ nước ngoài, đi kèm với lượng vốn
đó sẽ là công nghệ, là trình độ quản lý để quốc gia đó dần thoát khỏi tình trạng kém
phát triển, bắt kịp với sự phát triển chung của cả khu vực.
1.3.2. Môi trường quốc gia nước tiếp nhận đầu tư
1.3.2.1. Chủ trương, chính sách thu hút của quốc gia
Môi trường quốc gia nước nhận đầu tư có ảnh hưởng quan trọng đối với việc
thu hút nguồn vốn FDI vào một địa phương. Tất cả các nhân tố về điều kiện tự
nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của quốc gia đều có tác động đến kết quả
thu hút nguồn vốn FDI của quốc gia đó. Tuy nhiên, đối với một địa phương, yếu tố
gây ảnh hưởng trực tiếp chính là yếu tố chính sách và môi trường chính trị.
Với các doanh nghiệp FDI, đặc biệt là các công ty đa quốc gia, mối quan tâm
hàng đầu về môi trường chính trị là sự ổn định chính trị và trong chính sách của
quốc gia có khuyến khích, tạo điều kiện cho thu hút nguồn vốn FDI hay không. Nếu
chính sách của một quốc gia là đẩy mạnh thu hút nguồn vốn FDI cho phát triển kinh
tế thì sẽ có những chính sách tích cực, hấp dẫn đối với vấn đề thuế, giải phóng mặt



21
bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng,… phục vụ cho hoạt động thu hút đầu tư và triển khai
dự án. Từ chính sách, định hướng chung của quốc gia, các địa phương sẽ căn cứ vào
tình hình thực tế của địa phương mình để có những phương án đề xuất chi tiết, cụ
thể nhằm thu hút nguồn vốn FDI vào địa phương mình.
Yếu tố chính sách thể hiện ở việc quốc gia đó có khuyến khích thu hút nguồn
vốn FDI hay không, khuyến khích thu hút nguồn vốn FDI vào những lĩnh vực nào,
hệ thống pháp luật đã thông thoáng và hỗ trợ được tốt cho các chủ đầu tư muốn đầu
tư vào quốc gia, chính sách chung về giải phóng mặt bằng,… Nếu như tất cả các
chính sách đều hấp dẫn thì rõ ràng quốc gia đó sẽ là một điểm đến hấp dẫn đối với
các nhà đầu tư nước ngoài.
1.3.2.2. Tình hình hội nhập của quốc gia
Việc thu hút nguồn vốn FDI còn thể hiện ở chính sách mở cửa và hội nhập
kinh tế của quốc gia đó. Mở cửa nền kinh tế có ý nghĩa quan trọng cho thu hút
nguồn vốn FDI, hội nhập kinh tế quốc tế góp phần mở rộng thị trường, thu hút đầu
tư nước ngoài. Tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, trở thành thành
viên của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là WTO giúp cho các quốc gia mở rộng thị
trường đồng thời có thể tìm thấy nhiều đối tác quốc tế, và từ đó tăng cường thu hút
nguồn vốn FDI. Mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế và đầu tư nước ngoài là
một mối quan hệ tỷ lệ thuận: càng tham giahội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới, các quốc gia sẽ càng có nhiều cơ hội tìm thấy nhiều đối tác và thu hút được
càng nhiều FDI để phát triển kinh tế. Hiệp định thương mại khu vực có thể đóng
một vai trò quan trọng trong việc tăng cường dòng vốn FDI các nước thành viên,
thông qua việc tạo ra cơ hội tiếp cận với thị trường khu vực. Vì vậy, hội nhập khu
vực mạnh mẽ thông qua các hiệp định thương mại có thể ảnh hưởng đến quyết định
đầu tư của các công ty đa quốc gia.
1.3.3. Môi trường địa phương tiếp nhận đầu tư
1.3.3.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý

Trong cơ cấu kinh tế toàn cầu hiện nay, khoảng cách địa lý và sự gần
gũi về văn hóa và ngôn ngữ đang trở thành một yếu tố quyết định quan trọng


22
của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nghiên cứu của IFC và FIAS năm 1997
cũng xác nhận rằng có vốn đầu tư nước ngoài từ các nước phát triển đến các
nước đang phát triển bị ảnh hưởng bởi khoảng cách địa lý. Ví dụ, trong khi
các công ty Nhật Bản có xu hướng mở công ty con ở Trung Quốc và các
nước mới công nghiệp hóa châu Á thì các công ty Tây Âu có xu hướng mở
công ty con của họ ở Đông Âu. Các quốc gia Tây Âu sẽ ưu tiên thị trường
châu Phi, nơi vị trí địa lí khá gần với châu Âu và các nước châu Phi lại là các
thuộc địa cũ của các nước đế quốc trước kia như Anh, Pháp, Tây Ban Nha,…
Tài nguyên thiên nhiên
Từ thế kỷ 19 đến trước chiến tranh thế giới thứ hai, khoảng 60% dòng vốn
FDI trên thế giới là đầu tư vào nguồn tài nguyên thiên nhiên (Lý Hoàng Phú, 2014).
Nhu cầu phát triển kinh tế cũng như nhu cầu tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là
khoáng sản cho các cuộc cách mạng công nghiệp tại các nước phát triển châu Âu và
Bắc Mỹ là lý do chính cho việc mở rộng hoạt động đầu tư nước ngoài. Các nước có
dự trữ dồi dào về khoáng sản có lợi thế lớn khi thu hút các NĐTNN đặc biệt là
những công ty khai thác tài nguyên thiên nhiên. Cho đến hiện nay, khi mà các quốc
gia trên thế giới đang nỗ lực tìm kiếm những công nghệ mới, những sản phẩm mới
để tránh việc khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, việc đầu tư vào các ngành
công nghiệp khai thác vẫn chiếm một tỉ trọng đáng kể trong tổng giá trị dòng vốn
FDI trên thế giới hiện nay..
1.3.3.2. Điều kiện kinh tế
Quy mô thị trường
Quy mô và tiềm năng phát triển thị trường là một yếu tố tác động quan trọng
đối với thu hút nguồn vốn FDI. Khi đề cập đến qui mô của thị trường, tổng giá trị
GDP - chỉ số đo lường qui mô của nền kinh tế - thường được quan tâm. Theo

UNCTAD, quy mô thị trường là cơ sở quan trọng trong việc thu hút đầu tư tại tất cả
các quốc gia và các nền kinh tế. Nhiều nghiên cứu cho thấy FDI là hàm số phụ
thuộc vào qui mô thị trường của nước mời gọi đầu tư. Nhằm duy trì và mở rộng thị
phần, các công ty đa quốc gia (MNEs) thường thiết lập các nhà máy sản xuất ở các


23
nước dựa theo chiến lược thay thế nhập khẩu của các nước này. Các nghiên cứu
khác cũng chỉ ra rằng, mức tăng trưởng GDP cũng là tín hiệu tốt cho việc thu hút
FDI. Bên cạnh đó, nhiều nhà đầu tư với chiến lược “đi tắt đón đầu” cũng sẽ mạnh
dạn đầu tư vào những nơi có nhiều kỳ vọng tăng trưởng nhanh trong tương lai và có
các cơ hội mở rộng ra các thị trường lân cận. Khi lựa chọn địa điểm để đầu tư trong
một nước, các nhà đầu tư nước ngoài cũng nhắm đến những vùng tập trung đông
dân cư - thị trường tiềm năng của họ.
Nguồn nhân lực
Chi phí lao động là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư
của NĐTNN và thực tế này đã được chứng minh trong rất nhiều nghiên cứu. Theo
UNCTAD, sự sẵn có của lao động giá rẻ ở Trung Quốc là lợi thế để thu hút FDI từ
châu Âu và Hoa. Ngoài lao động giá rẻ, tỷ lệ lao động/đầu ra (năng suất lao động)
cũng xác định dòng vốn FDI. Tuy nhiên theo xu hướng phát triển của khoa học
công nghệ cũng như xu hướng mới của FDI, liên quan đến nguồn lao động, ngoài sự
sẵn có, chi phí thấp ra, nguồn lao động có trình độ cũng là một lợi thế của các quốc
gia đang phát triển nhận đầu tư khi thu hút FDI vào nước mình.
1.3.3.3. Chính sách thu hút nguồn vốn FDI của địa phương
Đối với các doanh nghiệp FDI, đặc biệt là các công ty đa quốc gia, mối quan
tâm hàng đầu về môi trường chính trị là sự ổn định chính trị. Căn cứ vào định
hướng chung của cả nước mà mỗi địa phương sẽ có những chính sách hiệu quả
riêng cho mình.
Một trong những chính sách quan trọng trong thu hút FDI chính là chính sách
xúc tiến thu hút đầu tư. Xúc tiến đầu tư với các hoạt động xây dựng hình ảnh đóng

vai trò như là chiếc cầu nối giúp giải quyết sự bất cân xứng thông tin, các hoạt động
này sẽ giúp các nhà tư vấn/môi giới hay chính các nhà đầu tư có được nhữngthông
tin tổng thể, chính xác về môi trường đầu tư, thông qua đó, lợi thế cạnh tranh của
nước sở tại về thu hút đầu tư nước ngoài cũng được tăng cường, nâng cao.Các
nghiên cứu tiến hành bởi Ngân hàng Thế giới chỉ ra rằng xúc tiến đầu tư có thể tác
động lớn đến mức độ thu hút nguồn vốn FDI của một địa phương. Cụ thể, khi gia


24
tăng 10% trong ngân sách xúc tiến đầu tư sẽ làm tăng 2,5% lượng vốn FDI; và với
mỗi 1$ chi phí cho các hoạt động xúc tiến đầu tư ban đầu sẽ thu về được một giá trị
ròng tương ứng gấp gần 4 lần (Phạm Thị Minh Lý 2014, tr. 50).
Ngoài chính sách về xúc tiến, địa phương cũng cần có chính sách rõ ràng, nhất
quán về thuế, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ doanh nghiệp sau cấp vốn,… để đáp ứng
tốt nhất yêu cầu từ phía các nhà đầu tư.
1.3.3.4. Cơ sở hạ tầng của địa phương
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Để đảm bảo cho hoạt động đầu tư được hiện thực hóa và đi vào hoạt động đòi
hỏi quốc gia tiếp nhận đầu tư phải đảm bảo một cơ sở hạ tầng đủ để đáp ứng tốt
nhất các nhu cầu đầu tư kể từ lúc bắt đầu triển khai, xây dựng dự án cho đến giai
đoạn sản xuất kinh doanh khi dự án đi vào hoạt động. Đó là cơ sở hạ tầng công
cộng như giao thông, liên lạc,… các dịch vụ đảm bảo cho sinh hoạt và sản xuất như
điện, nước cũng như các dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh như
ngân hàng - tài chính. Bên cạnh đó, địa phương cũng cần quan tâm đến việc trang bị
một cơ sở hạ tầng xã hội tốt, đào tạo đội ngũ chuyên môn có tay nghề, nâng cao
trình độ nhận thức cũng như trình độ dân trí của người dân, luôn ổn định tình hình trật
tự an ninh - xã hội, có như vậy mới tạo nên sức hấp dẫn lớn đối với các NĐTNN.
Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh toàn cầu hiện nay, việc cơ sở hạ tầng
không có và thiếu hiệu quả có nghĩa là không chỉ chi phí giao dịch tăng cao đối với
những các công ty đang tồn tại mà còn là một rào cản để cho các doanh nghiệp mới.

Cơ sở hạ tầng tốt được thể hiện ở một số tiêu chí như chất lượng và số lượng
ki lô mét đường bộ, đường thủy, đường sắt, số lượng cảng biển, sân bay. Phát triển
cơ sở hạ tầng có tầm quan trọng cao đối với việc mở rộng thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài vì cơ sở hạ tầng đầy đủ giúp cho các doanh nghiệp tiếp cận tốt hơn
nguồn tài nguyên thiên nhiên và thị trường tiềm năng. Sự sẵn có và độ tin cậy của
dịch vụ viễn thông, hệ thống giao thông đường bộ, đường không phát triển, dịch vụ
cung cấp điện, nước đáng tin cậy có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với lợi nhuận
của các công ty nước ngoài và trong việc thu hút nguồn vốn FDI.


25
Cơ sở hạ tầng xã hội
Ngoài cơ sở hạ tầng kỹ thuật, môi trường thu hút đầu tư còn chịu ảnh hưởng
khá lớn của cơ sở hạ tầng xã hội. Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm hệ thống y tế và
chăm sóc sức khỏe cho người dân, hệ thống giáo dục và đào tạo, vui chơi giải trí và
các dịch vụ khác. Ngoài ra, các giá trị đạo đức xã hội, phong tục tập quán, tôn giáo,
văn hóa.... cũng cấu thành trong bức tranh chung về cơ sở hạ tầng xã hội của
mộtnước hoặc một địa phương. Nghiên cứu của UNDP/World Bank cho thấy xu
hướng đầu tư vào khu vực Đông Nam Á có nhiều chuyển biến tích cực là nhờ vào
“tính kỷ luật của lực lượng lao động” cũng như “sự ổn định về chính trị và kinh tế”
tại nhiều quốc gia trong khu vực này.
1.4. Các chỉ tiêu đánh giá việc thu hút nguồn vốn FDI
1.4.1. Các chỉ tiêu liên quan đến quy mô và cơ cấu vốn đầu tư
Quy mô và cơ cấu vốn đầu tư thể hiện một phần tình hình thu hút nguồn vốn FDI.
1.4.1.1. Quy mô đầu tư
Quy mô đầu tư thể hiện qua số vốn đầu tư và số lượng dự án đầu tư và quy mô
một dự án đầu tư tức là mức vốn trên mỗi dự án đầu tư. Đây là những con số định
lượng thể hiện kết quả chung của việc thu hút nguồn vốn FDI của thời điểm này so
với thời điểm khác. Quy mô đầu tư cho thấy một cái nhìn tổng quan ban đầu đối với
kết quả thu hút nguồn vốn FDI vào một quốc gia hoặc một địa phương

Chỉ tiêu về số vốn đầu tư được thể hiện ở 3 tiêu chí: Vốn đăng ký mới, vốn
cấp thêm, vốn thoái lui và vốn thực hiện.
Vốn đăng ký mới là tổng vốn FDI đăng ký được thể hiện trên giấy phép, bao
gồm vốn tự có và vốn vay ngân hàng. Vốn tự có gồm vốn nước ngoài và vốn góp
của đối tác liên doanh trong nước. Vốn vay ngân hàng cũng gồm vay ngân hàng
nước ngoài và vay ngân hàng trong nước. Cũng như số lượng dự án đăng ký mới,
giá trị vốn FDI đăng ký lớn thể hiện sức hấp dẫn của môi trường đầu tư của địa bàn
tiếp nhận với các nhà đầu tư nước ngoài nhưng không thể hiện hết được chất lượng
của các dự án đăng ký.


×