Tải bản đầy đủ (.pdf) (138 trang)

SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG CÓ PHỤ THUỘC VÀO RỪNG TẠIXÃ VÙNG CAO VĨNH SƠN, HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.02 MB, 138 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
*********۞*********

NGUYỄN NGỌC ĐẠO

SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG CÓ PHỤ THUỘC VÀO RỪNG TẠI
XÃ VÙNG CAO VĨNH SƠN, HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành: Lâm học
: 60.62.60

Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Hướng dẫn khoa học:
TS. BÙI VIỆT HẢI

Thành phố Hồ Chí Minh, 11/2010

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
*********۞*********

NGUYỄN NGỌC ĐẠO

SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG CÓ PHỤ THUỘC VÀO RỪNG TẠI
XÃ VÙNG CAO VĨNH SƠN, HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH



LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh, 11/2010

2


SINH KẾ NGƯỜI DÂN CÓ PHỤ THUỘC VÀO RỪNG TẠI XÃ VÙNG CAO
VĨNH SƠN, HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

NGUYỄN NGỌC ĐẠO

Hội đồng chấm luận văn

1. Chủ tịch:

PGS.TS. PHẠM VĂN HIỀN
Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh

2. Thư ký:

TS. LÊ MINH TRUNG
Công ty Công viên cây xanh TP.Hồ Chí Minh

3. Phản biện 1: TS. LA VĨNH HẢI HÀ
Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh
4. Phản biện 2: TS. NGUYỄN NGỌC THÙY
Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh
5. Ủy viên:


TS. BÙI VIỆT HẢI
Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG

3


LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên là Nguyễn Ngọc Đạo, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1972, tại huyện Thọ
Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Con ông Nguyễn Viết Đính và bà Lại Thị Thường.
Tốt nghiệp tú tài tại Trường THPT Lê Lợi, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh
Hóa, năm 1989.
Tốt nghiệp Đại học ngành Lâm nghiệp hệ chính quy tại Trường Đại học
Lâm Nghiệp Xuân Mai, Hà Tây, năm 1995.
Năm 1995 - 2003 công tác tại Lâm trường Sông Kôn Bình Định.
Năm 2003 - 2007 công tác tại Trung tâm Giống cây trồng Bình Định.
Năm 2007 - 2009 công tác tại Chi cục Lâm nghiệp Bình Định.
Từ năm 2009 đến nay công tác tại Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn
Bình Định.
Tháng 9 năm 2008 theo học Cao học ngành Lâm nghiệp tại Trường Đại học
Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh.
Tình trạng gia đình: Vợ Nguyễn Bảo Cẩm Thạch, kết hôn năm 2004.
Con trai Nguyễn Nhật Anh, sinh năm 2005.
Địa chỉ liên lạc:
Điện thoại: 0913.451.539
Email:


4


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.

Nguyễn Ngọc Đạo

5


LỜI CẢM ƠN
Với những kết quả thu được sau 3 năm học tập sau đại học tại Trường Đại
học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xin chân thành cảm ơn:
- Quý Thầy Cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã
truyền đạt kiến thức mới trong thời gian học sau đại học.
- Thầy giáo hướng dẫn đề tài: TS. Bùi Việt Hải đã giúp tôi hoàn thành luận
văn tốt nghiệp này.
- Các cơ quan: Trung tâm Giống cây trồng Bình Định, Chi cục Lâm nghiệp
Bình Định, Công ty TNHH Sông Kôn, UBND xã Vĩnh Sơn đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ công tác và học tập.
- Những người thân trong gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện
về tinh thần và vật chất giúp tôi từng bước đạt được những mong ước trên con
đường sự nghiệp.

Nguyễn Ngọc Đạo


6


TÓM TẮT
Luận văn “Nghiên cứu sinh kế của người dân địa phương có phụ thuộc vào
rừng tại xã vùng cao Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định” được thực hiện
từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 10 năm 2010 tại xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh,
tỉnh Bình Định.
Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy: (i) Hiện trạng về hệ thống sinh kế
của địa phương bao gồm 4 nhóm sinh kế chính, đó là sinh kế nông nghiệp, sinh kế
lâm nghiệp, sinh kế chăn nuôi và sinh kế phi nông nghiệp. Mỗi sinh kế của một
nhóm hộ đều được hình thành từ 5 loại tài sản (con người, tự nhiên, xã hội, hữu
hình và tài chính) độc lập hoặc phối hợp giữa chúng với nhau. (ii) Tất cả các nhóm
hộ dân tộc Ba Na ở Vĩnh Sơn đều có sự phụ thuộc vào rừng, chủ yếu để lấy lâm sản
ngoài gỗ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày. (iii) Các yếu tố tự nhiên, xã hội đều có
ảnh hưởng tới việc tiếp cận của các loại tài sản để tạo ra sinh kế của các nhóm dân
cư, mức độ ảnh hưởng của chúng giữa các nhóm hộ dân tộc hay nhóm giàu nghèo
là khác nhau rõ rệt, người dân tộc và hộ nghèo phụ thuộc vào rừng nhiều hơn. (iv)
Khung sinh kế của các nhóm dân cư được xây dựng cho từng loại nhóm hộ dựa
trên tầm quan trọng của từng loại tài sản, ảnh hưởng của chúng tới thu nhập và các
mức độ khó khăn mà người dân đang đương đầu.
Các giải pháp chủ yếu cho phát triển sinh kế được bao gồm: (a) giải pháp kỹ
thuật liên quan đến bố trí cơ cấu cây trồng và đầu tư thâm canh, (b) giải pháp hỗ trợ
liên quan đến tổ chức và việc thực hiện chính sách nhà nước tại địa phương.

7


SUMMARY


The thesis “Study of the livelihood of the local people depends on the forest
in Vĩnh Sơn commune of mountainous region, Vĩnh Thạnh district of Bình Định
province” was done from November 2009 until October 2010 in Vĩnh Sơn
commune, Vĩnh Thạnh district of Bình Định province.
The study results showed that: (i) Status quo of livelihood system available
in the locality including 4 main groups which are agricultural livelihood, forestry
livelihood, husbandry livelihood and non – agricultural livelihood. Each live hood
of one household group is formed from 5 types of properties (human, nature,
society, visibility and finance) which are independent or interactive to each other.
(ii) All household groups of Ba Na ethnic minority in Vĩnh Sơn commune are
dependent on forest, mainly harvesting the non timber forest products served for
their daily consumptions. (iii) Natural – social factors have affected the approach of
properties types to create the livelihood of the residential groups, the affect level of
them among ethnic groups or poor – rich groups is clearly different specifically the
ethnic minority people and poor people are more dependent on the forest. (iv)
Livelihood frame of residential groups is set up for each household group based on
the importance of each properties, its affect to income and difficulty levels which
the local people are encountering.
Main solutions for the livelihood development include: (a) technical
treatment relating to the arrangement of tree composition and investment of
intensive cultivation, (b) supportive treatment relating to organization and
implementation the State’s policies in the locality.

8


MỤC LỤC
CHƯƠNG

TRANG


Trang chuẩn y

i

Lý lịch cá nhân

ii

Lời cam đoan

iii

Lời cám ơn

iv

Tóm tắt luận văn

v

Mục lục

vii

Danh sách các bảng

x

Danh sách các hình


xii

Danh sách chữ viết tắt

xiii

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Đặt vấn đề ...................................................................................................... 1
1.2 Câu hỏi chính cho nghiên cứu......................................................................... 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ....................................................................... 4
1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài ........................................................................ 4
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái niệm về sinh kế và khung sinh kế bền vững ........................................... 5
2.2 Nghiên cứu về sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên rừng ................................... 7
2.2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài............................................................................. 7
2.2.2 Nghiên cứu ở trong nước ............................................................................ 9
2.3 Những nghiên cứu, dự án và các mô hình khuyến lâm đã thực hiện trên địa bàn
xã Vĩnh Sơn ................................................................................................ 12
2.4 Nhận xét tổng quan vấn đề nghiên cứu của đề tài ......................................... 13
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm nghiên cứu .................................................................................... 16
3.1.1 Tiêu chí lựa chọn địa điểm.......................................................................... 16
9


3.1.2 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu ..................................................... 16
3.1.3 Tình hình kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu ............................................. 18
3.2 Nội dung nghiên cứu ................................................................................... 20
3.3 Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 20

3.3.1 Cách tiếp cận .............................................................................................. 20
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin ................................................................. 21
3.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin .................................................. 23
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Hiện trạng và hệ thống sinh kế của các nhóm dân cư ở xã Vĩnh Sơn .................. 25
4.1.1 Đặc điểm của các nhóm hộ ........................................................................ 25
4.1.2 Các nhóm sinh kế và hệ thống sinh kế của các nhóm hộ dân cư ................. 27
4.1.3 Các loại tài sản để tạo sinh kế .................................................................... 34
4.2 Sự phụ thuộc của sinh kế vào nguồn tài nguyên rừng ở các nhóm hộ ........... 45
4.2.1 Sự phụ thuộc của sinh kế vào nguồn tài nguyên rừng ................................. 45
4.2.2 Tiếp cận của người dân trong việc sử dụng tài nguyên rừng ....................... 48
4.2.3 Đánh giá của người dân về mức độ phụ thuộc tài nguyên rừng .................. 50
4.2.4 Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức ảnh hưởng đến khả năng
tạo ra sinh kế ............................................................................................. 51
4.3 Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, xã hội và cộng đồng đến sinh kế, mối
quan hệ giữa các nhân tố và sinh kế ............................................................. 54
4.3.1 Ảnh hưởng của hoàn cảnh, tiến trình và cấu trúc cộng đồng tới sinh kế ..... 53
4.3.2 Ảnh hưởng của các nhân tố xã hội tới sinh kế ............................................ 64
4.3.3 Vai trò của các tổ chức địa phương tác động đến sinh kế của hộ gia đình .. 69
4.3.4 Cách tiếp cận các mô hình sản xuất lâm nghiệp trong việc định hướng phát
triển sinh kế của hộ gia đình ...................................................................... 72
4.4 Khung sinh kế và đề xuất những giải pháp cải thiện sinh kế người dân ........ 75
4.4.1 Xây dựng khung sinh kế cho các nhóm dân cư tại địa phương .................... 75
4.4.2 Những giải pháp cho sinh kế tại địa phương .............................................. 80

10


Chương 5: KẾT LUẬN
5.1 Kết luận ....................................................................................................... 84

5.2 Kiến nghị ..................................................................................................... 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 87
PHẦN PHỤ LỤC .............................................................................................. 91
Phụ lục 1 .............................................................................................................. a
Phụ lục 2 ............................................................................................................... l
Phụ lục 3 ............................................................................................................. m

11


DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG

TRANG

Bảng 3.1 Các loại hoạt động sản xuất nông nghiệp tại xã Vĩnh Sơn..................... 19
Bảng 4.1a So sánh một số đặc điểm giữa hai nhóm hộ theo dân tộc .................... 25
Bảng 4.1b So sánh một số đặc điểm giữa 3 nhóm hộ theo giàu nghèo................. 26
Bảng 4.2 Nghề nghiệp chủ hộ và các hoạt động sinh kế chính của hộ ............... 27
Bảng 4.3a Cơ cấu diện tích các loại cây nông nghiệp của các nhóm hộ ............. 29
Bảng 4.3b Cơ cấu diện tích các loại cây nông nghiệp của các nhóm hộ ............. 29
Bảng 4.4a Cơ cấu diện tích các loại cây lâm nghiệp ở nhóm hộ dân tộc .............. 31
Bảng 4.4b Cơ cấu diện tích các loại cây lâm nghiệp ở nhóm hộ giàu nghèo........ 31
Bảng 4.5a Diện tích nhận khoán và thu hái lâm sản của các nhóm hộ ................. 32
Bảng 4.5b Diện tích nhận khoán và thu hái lâm sản của các nhóm hộ ............... 33
Bảng 4.6a Tổng hợp tình hình chăn nuôi của các nhóm hộ dân tộc ..................... 34
Bảng 4.6b Tổng hợp tình hình chăn nuôi của các nhóm hộ giàu nghèo ............... 34
Bảng 4.7a Tổng hợp nhân khẩu và lao động theo nhóm hộ dân tộc ..............................35
Bảng 4.7b Tổng hợp nhân khẩu và lao động theo nhóm hộ giàu nghèo..................... 35
Bảng 4.8a Tổng hợp trình độ học vấn của chủ hộ theo nhóm dân tộc ........................ 36

Bảng 4.8b Tổng hợp trình độ học vấn của chủ hộ theo nhóm giàu nghèo................... 36
Bảng 4.9a Tổng giá trị các loại tài sản sử dụng theo nhóm dân tộc..................... 37
Bảng 4.9b Tổng giá trị các loại tài sản sử dụng theo nhóm hộ giàu nghèo ............. 37
Bảng 4.10a Tổng thu nhập từ các nhóm sinh kế theo nhóm dân tộc .................... 40
Bảng 4.10b Tổng thu nhập từ các nhóm sinh kế theo nhóm hộ giàu nghèo............ 41
Bảng 4.11a Diện tích sử dụng đất cho sinh kế theo nhóm dân tộc ....................... 42
Bảng 4.11b Diện tích sử dụng đất cho sinh kế theo nhóm giàu nghèo .................. 42
Bảng 4.12 Nơi mua vật dụng và nơi trao đổi hàng hóa của các hộ dân .............. 43
Bảng 4.13 Tham gia của người dân vào các tổ chức tại địa phương .................. 45
Bảng 4.14a Mức độ thu nhập từ lâm nghiệp theo nhóm hộ dân tộc ..................... 47
Bảng 4.14b Mức độ thu nhập từ lâm nghiệp theo nhóm hộ giàu nghèo ................ 47
12


Bảng 4.15 Tổng hợp lâm sản ngoài gỗ được thu hái từ rừng tự nhiên................. 49
Bảng 4.16 Kết quả đánh giá của người dân về mức độ quan trọng ..................... 50
Bảng 4.17 Mức tổng thu nhập (triệu/hộ/năm) của các nhóm hộ dân ................... 60
Bảng 4.18a Tổng hợp thu nhập theo nhân khẩu của các nhóm hộ dân ................ 61
Bảng 4.18b Tổng hợp thu nhập theo lao động của các nhóm hộ dân ................... 61
Bảng 4.19 Tổng hợp thu nhập theo lao động của các nhóm hộ dân .................... 62
Bảng 4.20 Tổng hợp thu nhập theo trình độ học vấn của chủ hộ ........................ 62
Bảng 4.21 Tổng hợp thu nhập theo nghề nghiệp của chủ hộ ............................. 63
Bảng 4.22a Tổng hợp thu nhập và đầu tư theo nhóm hộ dân tộc ......................... 64
Bảng 4.22b Tổng hợp thu nhập và đầu tư theo nhóm hộ giàu nghèo ................... 64
Bảng 4.23a Tổng hợp hộ có ti vi, điện thoại theo nhóm hộ dân tộc ..................... 65
Bảng 4.23b Tổng hợp hộ có ti vi, điện thoại theo nhóm hộ giàu nghèo ............... 65
Bảng 4.24a Tổng hợp nhận thông tin trong cộng đồng theo dân tộc .................... 66
Bảng 4.24b Tổng hợp nhận thông tin trong cộng đồng các nhóm dân cư ............ 66
Bảng 4.25 Tổng hợp thu nhập từ khoán bảo vệ rừng theo loại hộ ........................ 68
Bảng 4.26 Tổng hợp số tiền CTLN Sông Kôn đầu tư, hỗ trợ cho hộ dân ............. 70

Bảng 4.27 Tổng hợp số hộ vay và lượng vay theo nhóm giàu nghèo ................... 71
Bảng 4.28 Tổng hợp chỉ số ưa chuộng trung bình các mô hình .......................... 73
Bảng 4.29 Tổng hợp sự tiếp cận của người dân với các mô hình ........................ 74
Bảng 4.30 Tổng hợp diện tích các loài cây trồng theo nhóm dân cư ................... 74
Bảng 4.31a Tổng hợp những khó khăn của các nhóm hộ gia đình ...................... 75
Bảng 4.31b Xếp hạng thứ bậc các yếu tố cấu thành khung sinh kế ..................... 76
Bảng 4.32a Tổng hợp những khó khăn của các nhóm hộ gia đình . ..................... 78
Bảng 4.32b Xếp hạng thứ bậc các yếu tố cấu thành khung sinh kế ................... 78

13


DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH

TRANG

Hình 2.1 Lược đồ sinh kế bền vững của DFID (1999)............................................6
Hình 2.2 Các loại tài sản tạo sinh kế cho hộ gia đình (DFID, 1999).......................7
Hình 3.1 Sơ đồ minh họa vị trí xã Vĩnh Sơn trong huyện Vĩnh Thạnh.................17
Hình 4.1 Cơ cấu thu nhập từ các nhóm sinh kế chính của các hộ dân ................. 40
Hình 4.2 Cơ cấu sử dụng đất để tạo ra sinh kế của các hộ dân............................ 41
Hình 4.3 Cơ cấu các nguồn cho thu nhập từ lâm nghiệp ở các hộ dân ................ 46
Hình 4.4 So sánh tương đối diện tích đất sử dụng và thu nhập trên đó ............... 55
Hình 4.5 Thu nhập và mức sống của các hộ dân trong khu vực .......................... 55
Hình 4.6 Cơ cấu chi tiêu của các nhóm chính trong tổng chi phí của hộ ............ 56
Hình 4.7a Khung sinh kế của nhóm người Kinh và người dân tộc Ba Na............ 77
Hình 4.7b Khung sinh kế của nhóm hộ khá, trung bình và nghèo ....................... 78

14



DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CTLN

Công ty Lâm nghiệp

DFID

Ủy ban Phát triển quốc tế

IDRC

(International Development Research Centrer)
Trung tâm nghiên cứu phát triển quốc tế

ĐDSH

Đa dạng sinh học

ĐTQH

Điều tra Quy hoạch

KTLS

Khai thác lâm sản

BB-DV


Buôn bán - dịch vụ

KT-XH

Kinh tế - xã hội

LSNG

Lâm sản ngoài gỗ

LNXH

Lâm nghiệp xã hội

PRA

(Participatory Rural Appraisal)
Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia

QLBVR

Quản lý bảo vệ rừng

RTN

Rừng tự nhiên

SXNN


Sản xuất nông nghiệp

SXLN

Sản xuất lâm nghiệp

SWOT

(Strength Weakness Opportunity Threat)
Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

UBND

Ủy ban nhân dân

15


Chương 1

MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề

Khi khoa học càng phát triển thì vai trò quan trọng của rừng trong đời sống
kinh tế, văn hóa và bảo vệ môi trường sống càng được khẳng định. Tuy nhiên, cùng
với sự phát triển của xã hội, sự bùng nổ dân số ở bất cứ đâu cũng đều tạo ra sức ép
lên đất sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh, cộng với việc khai thác quá mức tài nguyên
rừng để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của con người, đã làm cho rừng ngày một
một thu hẹp về diện tích, giảm sút về chất lượng. Những tác động của sự suy giảm tài
nguyên thiên nhiên và môi trường đã ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ lên đời sống
của người dân ở các góc độ khác nhau, từ khu vực cộng đồng đến từng hộ. Theo
Oliver (2001), sự suy giảm tài nguyên rừng ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ lên sinh
kế người dân địa phương vốn có cuộc sống phụ thuộc vào rừng.
Không dễ dàng có các giải pháp cho vấn đề tác động xấu tới tài nguyên
rừng, nhưng hầu hết các chuyên gia về lâm nghiệp đồng ý rằng, những vấn đề ấy
không thể được giải quyết một cách đơn giản là đóng cửa các khu rừng, trong khi
người dân địa phương quá phụ thuộc vào rừng. Điều này đã được khẳng định trong
các nghiên cứu sự phụ thuộc vào rừng cho an ninh lương thực ở Thái Lan,
Tanzania, Việt Nam (FAO,1994). Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu và chương
trình về việc cải thiện đời sống của người dân liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp
được thực hiện trên toàn quốc. Những kết quả từ các nghiên cứu và chương trình
đều có một nhận định chung rằng: khi người dân có được một sinh kế bền vững thì
họ sẽ không còn tác động vào tài nguyên rừng, và đến một lúc nào đó họ sẽ thấy
được sự cần thiết phải có những biện pháp để quản lý bảo vệ nguồn tài nguyên này
cho việc tạo ra một sinh kế mới (Alther và ctv, 2002). Do đó, có thể giả thiết rằng
người dân có những tác động bất lợi đến rừng là do sinh kế của họ quá phụ thuộc
tài nguyên rừng. Theo đó, nghiên cứu sinh kế và hệ thống sinh kế là cơ sở cho việc
đề xuất những giải pháp phát triển sinh kế mang tính bền vững, giảm sự phụ thuộc
16


của người dân địa phương vào rừng, góp phần quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng
một cách bền vững.

Vĩnh Sơn là một trong những xã vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Bình
Định, có diện tích tự nhiên 17.599,1 ha, trong đó đất có rừng tự nhiên là 11.851,6
ha (Chi cục kiểm lâm Bình Định, 2010). Rừng tự nhiên xã Vĩnh Sơn chủ yếu là
rừng phòng hộ rất xung yếu, phòng hộ đầu nguồn sông Kôn và các hồ chứa nước
của các nhà máy thủy điện. Với vị trí nằm phía Tây tỉnh Bình Định và giáp với tỉnh
Gia Lai, xã Vĩnh Sơn có khí hậu giao thoa giữa Tây Nguyên và duyên hải Nam
Trung Bộ, nên có lượng mưa lớn và mùa mưa kéo dài, đã tạo cho xã Vĩnh Sơn có
nguồn tài nguyên thực vật đa dạng, phong phú về loài và có nhiều loài quý hiếm.
Song, do nhu cầu của con người ngày một lớn đã gây ra sức ép về đất sản xuất nông
nghiệp và cây công nghiệp tại đây. Bên cạnh đó, do nhu cầu cộng với giá trị cao
của lâm sản mà một bộ phận dân cư thường xuyên tác động bất hợp pháp vào rừng
để khai thác các nguồn lâm sản. Những điều đó đã làm cho diện tích rừng tự nhiện
ngày một thu hẹp và chất lượng rừng cũng đang bị suy giảm nghiêm trọng.
Để phát triển kinh tế và quản lý bảo vệ tài nguyên rừng, trong thời gian qua
tỉnh Bình Định thực hiện nhiều chương trình, dự án nhằm hỗ trợ người dân xã Vĩnh
Sơn có cuộc sống ổn định, như: chương trình 135, chương trình giao khoán bảo vệ
rừng, dự án trồng rừng 327 và 661, chương trình hỗ trợ cây con giống của tỉnh và các
công ty đứng chân trên địa bàn huyện. Gần đây nhất, từ năm 2008 là chương trình hỗ
trợ các khu vực đặc biệt khó khăn theo Nghị quyết 30A của Chính phủ. Bên cạnh các
chương trình và dự án trên, trong 10 năm trở lại đây, để giúp người dân tận dụng tiềm
năng phát triển kinh tế, đã có nhiều đề tài nghiên cứu cấp tỉnh về các mô hình khuyến
nông, khuyến lâm được thực hiện trên địa bàn xã, như: trồng thử nghiệm cây Sa nhân
dưới tán rừng, trồng thử nghiệm cây Song bột, trồng thử nghiệm một số loài rau và hoa
ôn đới; các mô hình khuyến lâm như trồng cây Quế, cây Bời lời, cây Mây nếp, cây
Luồng, măng Điền trúc. Các chương trình và dự án trên đã góp phần phát triển sinh kế
và văn hóa xã hội, cải thiện cuộc sống người dân tại địa phương. Nhưng bên cạnh đó,
việc thực hiện các chương trình, dự án và nghiên cứu cũng còn một số hạn chế. Xét về

17



cách tiếp cận và hệ thống thì các chương trình, dự án và đề tài nghiên cứu hầu như sử
dụng phương pháp từ trên xuống. Vì vậy, việc thực hiện một số dự án thiếu đồng bộ
nên có nhiều vấn đề nảy sinh sau dự án, trong đó có vấn đề về phát triển sinh kế và bảo
vệ và phát triển rừng. Thêm nữa, với các nghiên cứu trên địa bàn xã chủ yếu là những
nghiên cứu ứng dụng theo kiểu trạm trại, chưa có nghiên cứu nào có sự tham gia của
người dân, chưa đi sâu phân tích hệ thống sinh kế người dân tại đây, cũng chưa có
nghiên cứu nào tìm hiểu các giá trị của tài nguyên rừng trong việc tạo ra sinh kế,
những khó khăn mà người dân đang gặp phải để đề ra giải pháp phát triển sinh kế
giảm bớt sự phụ thuộc vào rừng.
Vì vậy, đề tài “Sinh kế của người dân địa phương có phụ thuộc vào rừng
tại xã vùng cao Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định” được đặt ra để
tìm hiểu và phân tích một cách hệ thống sinh kế của các nhóm người dân địa phương
và cách thức mà người dân nhìn nhận, đánh giá các giá trị của tài nguyên rừng trong
việc tạo ra sinh kế của họ.
1.2 Câu hỏi chính cho nghiên cứu
1. Người dân địa phương đang phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên rừng nào
cho cuộc sống? Các loại tài sản cho sinh kế mà người dân có được? Mức độ phụ
thuộc của sinh kế vào từng nguồn tài nguyên rừng?
2. Cách tiếp cận của người dân với tài nguyên rừng như thế nào? Tác động
qua lại giữa sinh kế và tài nguyên rừng như thế nào? Ngoài ra, sinh kế có bị ảnh
hưởng bởi các yếu tố hoàn cảnh của địa phương ra sao?
3. Cách tiếp cận của người dân với các nguồn thông tin, các tổ chức, các mô
hình lâm nghiệp nhà nước thực hiện trên địa bàn, những tác động của nó tới sinh kế
của hộ dân như thế nào?
4. Liệu có những giải pháp hay chiến lược nào khác để cải thiện sinh kế
người dân, giảm sự phụ thuộc của họ vào tài nguyên rừng?

1.3 Mục tiêu nghiên cứu


18


(1) Phân tích hệ thống sinh kế, các tài sản để tạo ra sinh kế của các nhóm
người dân địa phương và đánh giá ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, xã hội và
cộng đồng tới việc tạo ra sinh kế của họ.
(2) Xây dựng khung sinh kế của các nhóm dân cư, từ đó đề xuất những giải
pháp phát triển sinh kế, giảm sự phụ thuộc sinh kế vào rừng.
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng tài nguyên, đề tài phân biệt tài nguyên rừng cho sinh kế là
rừng và đất rừng trên địa bàn xã Vĩnh Sơn. Về phương pháp, khi đánh giá vai trò
của tài nguyên rừng và sự phụ thuộc của người dân vào tài nguyên rừng, đề tài nhìn
nhận theo cách của người dân địa phương. Về nội dung nghiên cứu, đề tài giới hạn
ở các loại sinh kế có liên quan trực tiếp tới sản xuất nông lâm nghiệp tương ứng
với 4 mục tiêu đã nêu, tất cả đều xoay quanh “tam giác”: tài nguyên rừng – xã hội
– cộng đồng và quy về một điểm chung là sinh kế.
Thời gian nghiên cứu của luận văn từ tháng 11 năm 2009 và kết thúc vào
tháng 10 năm 2010.

19


Chương 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Khái niệm về sinh kế và khung sinh kế bền vững
Sinh kế về cơ bản là phương tiện mà hộ gia đình sử dụng để đạt được một
đời sống tốt và duy trì nó. Tính bền vững của sinh kế thể hiện ở một số khía cạnh:
môi trường, kinh tế, xã hội và thể chế (DFID, 1999).
Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con

người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ. Nó phải có khả
năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ. Sinh kế bền vững
không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở
hiện tại và tương lai, trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang
lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai (trích dẫn từ DFID, 1999).
Theo DFID (1999), sinh kế bền vững là khi chúng chống lại những tổn
thương của các cú sốc hay áp lực từ bên ngoài; không phụ thuộc vào sự hỗ trợ bên
ngoài, hoặc nếu có, bản thân sự trợ giúp cần bền vững về kinh tế và tổ chức; đảm
bảo sự sản xuất và tái sản xuất dài hạn các nguồn tài nguyên thiên nhiên; không
làm tổn hại hoặc làm suy yếu các lựa chọn sinh kế khác nhau của nhóm khác nhau
hay thành phần khác nhau trong cộng đồng.
Phân tích sinh kế bền vững đơn giản là tìm hiểu về sinh kế của người dân và
từ đó tìm cách để làm cho chúng trở nên bền vững. Để thực hiện điều này, chúng ta
sử dụng công cụ mang tên “Khung sinh kế bền vững” (SLF). Khung sinh kế bền
vững được Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 1999) phát triển,
đã nêu lên những yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người dân, hình 2.1.

20


Theo Hình 2.1, DFID cho rằng, sinh kế không chỉ có nghĩa là các hoạt động
mà con người thực hiện để kiếm sống. Nó còn có nghĩa là tất cả các yếu tố khác
nhau góp phần vào và ảnh hưởng lên, khả năng của con người đảm bảo đời sống
cho họ và hộ gia đình của họ.
Hộ gia đình kết hợp các các nguồn lực khác mà họ có thể vận dụng để tạo ra
các hoạt động giúp họ đạt được sinh kế tốt nhất cho gia đình họ. Do đó, trong phân tích
sinh kế, mọi thứ nhằm tạo dựng sinh kế có thể xem là “tài sản” cho sinh kế. Để thuận
tiện cho việc phân tích, các tài sản này có thể phân chia thành 5 loại (Trích từ Võ Văn
Thoan, 1997):
-


Tài sản con người (H): sức khoẻ, tiềm năng, kiến thức, kỹ năng, …

-

Tài sản xã hội (S): tổ chức hộ gia đình, tổ chức nhóm và cộng đồng, …

-

Tài sản tự nhiên (N): đất đai, tài nguyên rừng, nước, động thực vật, …

-

Tài sản hữu hình (P): cơ sở hạ tầng, cơ sở kinh doanh, các dịch vụ, …

-

Tài sản tài chính (F): vốn tài chính sử dụng đầu tư cho sản xuất, …

21


Các tài sản của hộ gia đình có thể xem là một hình ngũ giác (hình 2.2). Nó có
thể tương đối rộng, cân xứng, thể hiện một cơ sở tài sản mạnh. Nó cũng có thể nhỏ và
không cân xứng, trong đó hộ gia đình có một số ít các tài sản hoặc hộ gia đình phụ
thuộc vào một số ít tài sản. Ngũ giác tài sản này có thể cung cấp điểm khởi đầu có ích
cho sự phân tích sinh kế hộ gia đình. Nó khuyến khích các nhà nghiên cứu xem xét tất
cả các loại tài sản và tài nguyên có khả năng giữ một vai trò trong sinh kế của một hộ
gia đình (Bùi Việt Hải và ctv, 2008).


Hình 2.2 Các loại tài sản tạo sinh kế cho hộ gia đình (DFID, 1999)
2.2 Nghiên cứu về sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên rừng
2.2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Theo Arnold (1998), trong sự kiểm tra sự đóng góp của các khu rừng tạo
sinh kế bền vững, chúng “bao gồm tất các nguồn lực có thể sản xuất các sản phẩm
từ rừng, có thể gồm cả đất dưới tán rừng, đất dưới tán cây bụi, đất trống và các cây
ở trong trang trại, cũng giống như các khu rừng”. Hơn nữa, sự đóng góp các khu
rừng được xác định không chỉ là các sản phẩm nó cung cấp, mà còn cả những dịch
vụ không đo đếm được mà nó cung cấp. Arnold cũng cho rằng sự đóng góp của các
khu rừng vào sinh kế rất khó đo lường. Tỷ lệ các sản phẩm được tiêu thụ của những
người thu thập biến đổi theo mùa vụ. Theo sự lựa chọn, hầu hết các thông tin chỉ là
miêu tả trong tình huống rất cụ thể.
Theo Guha (1989), sự phụ thuộc của người dân niềm núi vào tài nguyên
rừng được thể chế hóa thông qua rất nhiều thể chế xã hội và văn hóa. Thông qua
22


tôn giáo, văn hóa và truyền thống, các cộng đồng bản địa đã tạo ra một vành đai
xung quanh rừng. Khi được tôn trọng và dưới các lễ nghi phù hợp, các thế lực này
sẽ duy trì sự ổn định và thịnh vượng cho cộng đồng (dẫn theo Trần Đức Viên và
ctv, 2005)
Theo Sato (2000), rừng là nơi cung cấp cho người dân các nguồn năng
lượng, lương thực, thuốc chữa bệnh cũng như các vật liệu để làm nhà, đóng thuyền
và vật liệu khác. Sato còn cho rằng, người dân sống dựa vào rừng ở hai khía cạnh.
Thứ nhất là phụ thuộc vào thu nhập, liên quan đến thu nhập họ có được từ bán các
sản phẩm từ rừng; và thứ hai là sự phụ thuộc về sinh kế, được tính toán bằng các
loại sản phẩm rừng sử dụng hàng ngày (dẫn theo Trần Đức Viên và ctv, 2005).
Một nghiên cứu của Wilkes (2003) về sinh kế của người dân ở Yunnan
(Trung Quốc) đã nêu ra rằng, các loại tài sản là cái quyết định trong việc duy trì
sinh kế. Có sự hiểu biết tốt hơn về các tài sản sinh kế và tiến trình có lẽ là hữu ích

hơn trong việc xác định những can thiệp có liên quan, mà khác với những can thiệp
mang tính quy ước, áp đặt được tạo ra bởi những dự án. Ngoài ra, phân tích chức
năng của các loại tài sản sẽ đem đến một sự hiểu biết tốt hơn về vai trò của các tài
sản trong sinh kế nhằm đề xuất, lựa chọn giải pháp để hỗ trợ sinh kế cho người dân
địa phương.
Nghiên cứu sự phụ thuộc vào rừng cho an ninh lương thực ở Thái Lan,
nghiên cứu điển hình tại hai xã thuộc huyện Phu Wiang, tỉnh Kon Kaen. Trước khi
rừng bị đóng, cửa người dân vùng cao có thu nhập từ việc trồng cây trên đất rừng,
khai thác các tài nguyên rừng như: khai thác gỗ, khai thác các lâm sản phụ để bán
và tiêu dùng hàng ngày, những người dân nghèo có việc làm và thu nhập. Khi rừng
bị đóng cửa hoàn toàn, những hộ dân có nhiều đất vẩn ổn định sản xuất, với các hộ
nghèo ít đất sản xuất thì không có việc làm, họ không có thu nhập. Một số người
dân địa phương phải đi kiếm việc làm ở địa phương khác, một số tiếp tục khai thác
lâm sản trái phép. Những người nghèo vẫn vào rừng để hái nấm và lấy củi để sử
dụng hàng ngày và bán để lấy tiền chi tiêu. Nghiên cứu đó đã cho thấy rằng, người

23


dân nghèo sống phụ thuộc vào rừng để cho thực phẩm hàng ngày cả khi họ đã kiếm
được việc làm ở địa phương khác (FAO, 1994).
Nghiên cứu sự phụ thuộc vào rừng cho an ninh lương thực tại hai làng
Mbambakofi và Nanguruwe, huyện Mtwar khu vực niềm Đông Nam Tanzania. Kết
quả cho thấy, với vụ sản xuất nông nghiệp bình thường người dân chỉ phụ thuộc
vào rừng cung cấp gỗ, không phụ thuộc vào an ninh lương thực. Nhưng khi gặp
thiên tai người dân phải phụ thuộc vào rừng để cung cấp thêm lương thực mới có
thể duy trì sản xuất nông nghiệp (FAO, 1994).
2.2.2 Nghiên cứu ở trong nước
Nghiên cứu sự phụ thuộc vào rừng và an ninh lương thực của các hộ gia
đình cộng đồng người Dao ở xã Yên Hương, huyện Hàm Yên, tỉnh Phú Thọ của

FAO. Kết quả cho thấy vai trò quan trọng của cây rừng và các sản phẩm từ rừng
cho an ninh lương thực, trong từng bữa ăn của của người dân, đặc biệt là những
người nghèo nhất (FAO, 1994).
Kết quả nghiên cứu hiện trạng thực vật rừng cho lâm sản ngoài gỗ phục vụ
cho sinh kế của người Pa Co tại xã Phú Vinh, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế
của Lê Thị Diên, Ngô Trí Dũng (2004) đã kết luận: Cuộc sống của người dân nơi
đây còn rất khó khăn nên giá trị mà thực vật rừng cho LSNG đem lại rất có ý nghĩa
đối với sinh kế của gia đình họ, đặc biệt là với nhóm người trung bình và nghèo.
Kết quả nghiên cứu của Ninh Khắc Bản (2003) về khai thác và sử dụng bền
vững nguồn tài nguyên thực vật phi gỗ cho rừng ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Kết quả cho thấy số hộ gia đình ven rừng trong các nhóm nghiên cứu phụ thuộc vào
thu nhập lâm sản ngoài gỗ từ rừng chiếm 60 - 70%. Tác giả kiến nghị, sự phong phú
và đa dạng về sản phẩm trên địa bàn cho phép xây dựng một chiến lược phát triển tổng
hợp gồm nhiều sản phẩm. Điều này góp phần làm giảm sự phụ thuộc của người khai
thác, người sản xuất vào một sản phẩm nhất định cũng như giảm sức ép lên nguồn
ngoài tự nhiên.
Trong “Báo cáo đánh giá tác động lâm sản ngoài gỗ” của John Raintree,
Nguyễn Thị Nghĩa và Bùi Thị An (2007) có nhấn mạnh, ở tất cả các điểm hiện
24


trường của dự án LSNG, mối liên hệ giữa nông nghiệp và lâm nghiệp đã trở nên rất
quan trọng và gắn bó với an ninh lương thực của người dân. Tuy nhiên, trình độ sản
xuất nông nghiệp ở các vùng này vẫn chỉ là mức tự túc, tự cấp. Sau nhiều năm
bùng nổ dân số, bình quân đất nông nghiệp trên một đầu người giảm xuống đến
mức chỉ còn một vài sào, ngay cả các hộ khá giả cũng phải mua gạo ăn một vài
tháng trong năm. Các ngành nghề phi nông nghiệp và khai thác LSNG là những
nguồn thu đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là đối với nhóm hộ nghèo, không có
phương cách nào khác ngoài việc khai thác các sản phẩm từ rừng mà đa phần đời
sống người dân phụ thuộc vào là gỗ nhiên liệu, lâm sản ngoài gỗ. Ngoai ra, trong

báo cáo còn cho biết các khảo sát của dự án đều cho thấy, có nhiều kỹ năng và kinh
nghiệm khác nhau của các hộ gia đình tham gia vào các hoạt động LSNG. Các hộ
kinh tế khá dường như có sự kết hợp giữa các nguồn thu nhập ổn định và có phạm
vi rộng dựa trên đa dạng hóa thu nhập và đầu tư vào nhiều ngành nghề chứa không
chỉ giới hạn ở nhu cầu sinh kế hàng ngày. Khác với nhóm hộ khá và trung bình,
mặc dù có đa dạng hóa các nguồn thu nhập, song hoạt động sản xuất của nhóm hộ
nghèo chỉ ở mức để tồn tại. Mặt khác, do nguồn thu nhập bị phụ thuộc chủ yếu vào
việc thu hái các sản phẩm từ rừng cộng với tình trạng thiếu việc làm và thu nhập
thấp, đã tạo sức ép khai thác rừng để bổ sung vào thu nhập của nhóm hộ nghèo
nặng nề hơn so với các nhóm hộ khác.
Trương Thị Kim Chuyên và Phạm Gia Trân (2005) khi nghiên cứu về kinh
tế xã hội ở vùng đệm Vườn quốc gia Cúc Phương cho thấy thu nhập chính của đa
số các hộ tại đây là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Khai thác các sản phẩm từ
rừng chỉ nhằm hỗ trợ cho nhu cầu sống hàng ngày của họ hay chỉ khai thác vào lúc
khó khăn.
Nguyễn Thị Kim Tài (2006) cũng đã nghiên cứu về sinh kế của người dân
địa phương và động lực quản lý bền vững tài nguyên rừng tại xã Quốc Oai, huyện
Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng. Nghiên cứu đã cho thấy tài nguyên rừng ở xã Quốc Oai có
tác dụng quan trọng trong đời sống cộng đồng dân cư địa phương. Đặc biệt, đối với

25


×