ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
NGUYỄN XUÂN BA
NGHIÊN CỨU ĐƢA SẢN PHẨM ÂM THANH THƢƠNG
MẠI LÊN INTERNET VÀ ÁP DỤNG VÀO BÁO ĐIỆN TỬ
- ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà Nội - 2006
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
NGUYỄN XUÂN BA
NGHIÊN CỨU ĐƢA SẢN PHẨM ÂM THANH THƢƠNG
MẠI LÊN INTERNET VÀ ÁP DỤNG VÀO BÁO ĐIỆN TỬ
- ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
Ngành: Công nghệ điện tử - Viễn Thông
Chuyên ngành: Kỹ thuật vô tuyến điện tử và thông tin liên lạc
Mã số: 2.07.00
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Vƣơng Đạo Vy
Hà Nội - 2006
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, mã hoá audio đã chứng tỏ tầm quan trọng to lớn
trong các ứng dụng truyền thông di động và các hệ thống đa phương tiện. Nén âm
thanh là một phạm vi rộng, gắn liền với sự phát triển của các công nghệ audio hiện
đại. Có thể nói, nếu các công nghệ nén âm thanh không phát triển thì cũng không
phát triển được các loại hình dịch vụ audio số rộng rãi như hiện nay.
Có nhiều công nghệ nén âm thanh khác nhau đang được phát triển. Có công
nghệ đã trở thành tiêu chuẩn như MPEG1, MPEG2… và cũng có những công nghệ
đang được xem xét, đánh giá. Nhiều công nghệ nén âm thanh tuy chưa được công
nhận tiêu chuẩn của các tổ chức quốc tế nhưng cũng đang được phát triển mạnh
trên thị trường như là một tiêu chuẩn thực tế.
Ứng dụng của nén âm thanh cho các dịch vụ audio số cũng rất đa dạng. Có
thể liệt kê một số ứng dụng tiêu biểu sau:
- Phát âm thanh số (EUREKA DAB, WorldSpace, ARIB, DRM)
- Truyền ISDN đối với âm thanh chất lượng cao cho mục đích đóng góp và phân
phối chương trình phát.
- Âm thanh phục vụ cho truyền hình kỹ thuật số (DVB, ATSC, CD hình, ARIB)
- Âm thanh phục vụ cho truyền audio trên Internet (Real Audio, Apple Quicktime
và một số khác).
- Âm thanh cho các thiết bị cầm tay (mpman, mplayer3, Rio, Lyra, YEPP và một
số khác).
- Lưu trữ và trao đổi file nhạc trên máy tính.
Với các ứng dụng khác nhau thì nén âm thanh cũng sẽ theo chuẩn khác nhau
tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như tính đặc thù của dịch vụ, chất lượng yêu cầu… Đối
với âm thanh sử dụng cho mục đích thương mại và đặc biệt thương mại trên
Internet thì việc lựa chọn công nghệ nén là một bài toán khó.
Mục đích của đề tài là tìm hiểu vấn đề sản phẩm âm thanh thương mại trên
internet và trọng tâm đó là kỹ thuật nén MPEG1 layer3 (MP3). Luận văn gồm 3
chương:
- Chƣơng 1: Tổng quan về thương mại điện tử âm thanh
- Chƣơng 2: Giải pháp công nghệ nén âm thanh MP3
- Chƣơng 3: Một số triển khai bước đầu thương mại âm thanh trên Internet
Vì thời gian có hạn cũng như khả năng còn hạn chế nên luận văn sẽ không
tránh khỏi những sai sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy giáo, bạn
bè, đồng nghiệp và những ai quan tâm đến đề tài này!
CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ÂM THANH
Mở đầu
Tính đa dụng của mạng Internet ngày càng được khẳng định. Internet đã có
mặt và tham gia trực tiếp vào hầu hết các mặt của đời sống xã hội. Trên cơ sở của
Internet đã hình thành một nền thương mại mới trên Internet mà người ta gọi nó là
thương mại điện tử. Thương mại điện tử (TMĐT) tạo ra những hình thái mới trong
lĩnh vực dịch vụ thương mại; làm thay đổi nhiều tập quán kinh doanh cổ truyền…
1.1. Khái quát về thƣơng mại điện tử
1.1.1. Thƣơng mại điện tử là gì? Lịch sử phát
triển của TMĐT
1.1.1.1. Thương mại điện tử là gì?
Thương mại điện tử (Electronic Commerce) là hình thái hoạt động thương
mại bằng các phương pháp điện tử; là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua
các phương tiện công nghệ điện tử mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong
bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch.
Các phương tiện điện tử được sử dụng trong thương mại điện tử là (1) máy điện
thoại; (2) máy FAX; (3) truyền hình; (4) các hệ thống thiết bị công nghệ thanh toán
điện tử (bao gồm cả mạng giá trị gia tăng); (5) các mạng nội bộ (intranet) và mạng
ngoại bộ (extranet); (6) mạng toàn cầu Internet. Công cụ Internet/Web ngày càng
phổ biến, giao dịch thương mại điện tử với nước ngoài hầu như qua Internet, các
mạng nội bộ và ngoại bộ nay cũng sử dụng công nghệ Internet.
Các hình thức hoạt động chủ yếu của giao dịch thương mại điện tử là: (1) thư điện
tử (email), (2) thanh toán điện tử (electronic payment), (3) trao đổi dữ liệu điện tử
(electronic data interchange: EDI), (4) giao gửi số hoá các dung liệu (digital
delivery of content), tức việc mua bán, trao đổi các sản phẩm mà người ta cần có
nội dung (chính nội dung là hàng hoá), mà không cần tới vật mang hàng hoá (như:
Phim ảnh, âm nhạc, các chương trình truyền hình, phần mềm máy tính…); (5) bán
lẻ hàng hoá hữu hình(retail of tangible goods). Trong các hình thức trên, trao đổi
dữ liệu điện tử (dưới dạng các dữ liệu có cấu trúc) là hình thức chủ yếu.
Thương mại điện tử bao gồm bốn loại giao tiếp: (1) người với người(qua điện
thoại, thư điện tử, FAX); (2) người với máy tính điện tử (qua các mẫu biểu điện tử,
qua Web); (3) máy tính điện tử với người (qua FAX, thư điện tử), và;(4) máy tính
điện tử với máy tính điện tử (qua trao đổi dữ liệu có cấu trúc, thẻ thông minh, mã
vạch).
Trong thương mại điện tử, các bên tham gia, các hình thức hoạt động, các
phương tiện kỹ thuật điện tử, và các hình thái giao tiếp kết hợp thành một thể hữu
cơ, đồng bộ, mang tính liên thông, liên tác.[1]
1.1.1.2. Lịch sử phát triển của thương mại điện tử
Từ khi Tim Berners Lee phát minh ra WWW vào năm 1990, các tổ chức, cá
nhân đã tích cực khai thác và phát triển thêm về WWW, trong đó có các doanh
nghiệp Mỹ. Các doanh nghiệp nhận thấy WWW giúp họ rất nhiều trong việc trưng
bày, cung cấp, chia sẻ thông tin, liên lạc với các đối tác …một cách nhanh chóng
tiện lợi và kinh tế. Từ đó, doanh nghiệp, cá nhân trên toàn cầu đã tích cực khai thác
thế mạnh của internet, WWW để phục vụ việc kinh doanh hình thành nên khái
niệm thương mại điện tử.
1.1.1.3. Các khái niệm B2B, B2C, P2P
Đôi khi bạn thấy ở đâu đó từ B2B, B2C, P2P v.v... và có thể bạn chưa hiểu ý
nghĩa của chúng. Trong Thương mại điện tử người ta phân chia các khái niệm
B2B, B2C, P2P... dựa trên việc phân loại những đối tượng tương tác mua và bán,
cụ thể là:
- B2B (Business – to – Business): việc kinh doanh Thương mại điện tử giữa hai
nhóm đối tượng trong đó người mua và người bán đều là doanh nghiệp. Ví dụ như
website www.vnmarketplace.net là nơi mà người mua và người bán đều là doanh
nghiệp.
- B2C (Business – to – Customer): việc kinh doanh Thương mại điện tử giữa hai
nhóm đối tượng trong đó người bán là doanh nghiệp và người mua là cá nhân. Ví
dụ như website siêu thị điện tử (bán lẻ) như www.amazon.com là nơi mà người
mua là cá nhân và người bán doanh nghiệp.
- P2P (Peer – to – Peer): việc kinh doanh Thương mại điện tử giữa hai nhóm đối
tượng trong đó người bán và người mua đều là cá nhân. Ví dụ như website siêu thị
điện tử (bán lẻ) như www.amazon.com là nơi mà người mua là cá nhân và người
bán doanh nghiệp.
1.1.2. Các cấp độ phát triển của thƣơng mại điện
tử
Thương mại điện tử phân chia thành nhiều cấp độ phát triển. Xin giới thiệu 2
cách phân chia sau:
* Cách phân chia thứ nhất: 6 cấp độ phát triển Thương mại điện tử
Cấp độ 1 - Hiện diện trên mạng: doanh nghiệp có website trên mạng. Ở mức độ
này, website rất đơn giản, chỉ là cung cấp một thông tin về doanh nghiệp và sản
phẩm mà không có các chức năng phức tạp khác.
Cấp độ 2 - Có website chuyên nghiệp: website của doanh nghiệp có cấu trúc phức
tạp hơn, có nhiều chức năng tương tác với người xem, hỗ trợ người xem, người
xem có thể liên lạc với doanh nghiệp một cách thuận tiện.
Cấp độ 3 - Chuẩn bị Thương mại điện tử: doanh nghiệp bắt đầu triển khai bán
hàng hay dịch vụ qua mạng. Tuy nhiên, doanh nghiệp chưa có hệ thống cơ sở dữ
liệu nội bộ để phục vụ các giao dịch trên mạng. Các giao dịch còn chậm và không
an toàn.
Cấp độ 4 - Áp dụng Thương mại điện tử: website của DN liên kết trực tiếp với dữ
liệu trong mạng nội bộ của DN, mọi hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa,
hạn chế sự can thiệp của con người và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động
và tăng hiệu quả.
Cấp độ 5 - Thương mại điện tử không dây: doanh nghiệp áp dụng Thương mại
điện tử trên các thiết bị không dây như điện thoại di động, Palm (máy tính bỏ túi)
v.v… sử dụng giao thức truyền không dây WAP (Wireless Application Protocal).
Cấp độ 6 - Cả thế giới trong một máy tính: chỉ với một thiết bị điện tử, người ta
có thể truy cập vào một nguồn thông tin khổng lồ, mọi lúc, mọi nơi và mọi loại
thông tin (hình ảnh, âm thanh, phim, v.v…) và thực hiện các loại giao dịch.
* Cách phân chia thứ hai: 3 cấp độ phát triển Thương mại điện tử
Cấp độ 1 - Thương mại thông tin (i-commerce, i=information: thông tin): doanh
nghiệp có website trên mạng để cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ... Các
hoạt động mua bán vẫn thực hiện theo cách truyền thống.
Cấp độ 2 - Thương mại giao dịch (t-commerce, t=transaction: giao dịch): doanh
nghiệp cho phép thực hiện giao dịch đặt hàng, mua hàng qua website trên mạng, có
thể bao gồm cả thanh toán trực tuyến.
Cấp độ 3 - Thương mại tích hợp (c-business, c=colaborating, connecting: tích hợp,
kết nối): website của doanh nghiệp liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng nội bộ
của doanh nghiệp, mọi hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế sự can
thiệp của con người và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả.
1.1.3. Lợi ích cho doanh nghiệp khi tham gia
thƣơng mại điện tử
- Nắm được thông tin phong phú về kinh tế thưong mại.
- Giảm chi phí sản xuất: trước hết là chi phí văn phòng, các văn phòng không giấy
tờ chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu giảm
nhiều lần(trong đó khâu in ân gần như bỏ hẳn), theo số liệu của hãng General
Electricity của Mỹ, tiết kiệm trên hướng này đạt tới 30%. Điều quan trọng hơn là
các nhân viên có năng lực được giải phóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ có thể tập
trung vào nghiên cứu phát triển, sẽ đưa đến những lợi ích to lớn lâu dài, nếu nhìn
nhận vấn đề từ góc độ chiến lược.
- Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị: Bằng phương tiện Internet/Web, một nhân viên
bán hàng có thể giao dịch được với nhiều khách hàng, ca ta lô điện tử trên Web
phong phú hơn nhiều và thương xuyên cập nhật so với ca ta lô in ấn chỉ có khuân
khổ giới hạn và luôn luôn lỗi thời.
- Giảm chi phí giao dịch: Thương mại điện tử qua Internet/ Web giúp người tiêu
thụ và doanh nghiệp giảm đáng kể thời gianvà chi phí giao dịch.
- Thiết lập và củng cố quan hệ đối tác.
- Tạo điều kiện sớm tiếp cận “Kinh tế số hoá”.[1]
1.1.4. Thanh toán điện tử trực tuyến
1.1.4.1. Mô hình thanh toán qua mạng trên thế giới
Thanh toán trực tuyến trên Internet đã có từ những năm đầu của thập kỷ 90,
bắt đầu với việc bán pizza qua mạng Internet. (Hobbes' Internet Timeline v1.1,
/>Đại đa số các thanh toán quốc tế được thực hiện thông qua thẻ tín dụng (credit
card). Ngoài ra, còn có nhiều phương thức thanh toán khác như Paypal,
TradEnable, eCharge Phone, Mondex, Internet Cash , eGold, SMS, bank transfer,
thẻ trả trước, coupons …
Thẻ tín dụng là loại thẻ Visa, MasterCard… có tính quốc tế, chủ thể có thể dùng
được trên toàn cầu. Tên gọi là tín dụng vì chủ thẻ dùng trước tiền của ngân hàng để
chi trả, đến cuối tháng chủ thẻ mới thanh toán lại cho ngân hàng.
Trên thẻ có các thông số sau: Hình chủ sở hữu thẻ, họ và tên chủ sở hữu thẻ,
số thẻ (Visa Electron và MasterCard đều có 16 chữ số), thời hạn của thẻ, mặt sau
thẻ có dòng số an toàn (security code) tối thiểu là ba chữ số, và một số thông số
khác cùng với các chip điện tử hoặc vạch từ (Magnetic stripe). Chủ thẻ cũng được
cung cấp PIN code (Personal Information Number – mã số cá nhân) để khi rút tiền
từ máy, chủ thẻ phải nhập đúng PIN code này thì máy mới xử lý yêu cầu rút tiền.
Trong thanh toán trực tuyến, chủ sở hữu thẻ không cần quét thẻ cũng như
không cần cung cấp thông tin về PIN code. Vậy làm sao để đảm bảo an toàn cho
chủ thẻ không bị người khác sử dụng trái phép thẻ của mình? Một thông số khác có
thể được sử dụng bổ sung: thông tin về địa chỉ nhận hoá đơn thanh toán việc sử
dụng thẻ do ngân hàng gửi cho chủ thẻ. Những thông tin về thẻ tín dụng người mua
phải khai báo khi thực hiện việc mua qua mạng bao gồm:
- Số thẻ (16 chữ số được in trên mặt trước của thẻ).
- Họ tên chủ sở hữu in trên thẻ.
- Thời hạn hết hạn của thẻ, cũng in trên mặt trước thẻ.
- Mã số an toàn là ba chữ số cuối cùng in trên mặt sau thẻ. Thông số này không bắt
buộc phải cung cấp, tuỳ website có yêu cầu hay không.
- Địa chỉ nhận hoá đơn thanh toán việc sử dụng thẻ do ngân hàng gửi cho chủ thẻ.
Thông số này cũng không bắt buộc phải cung cấp, tuỳ website có yêu cầu hay
không.
Hiện giao thức thanh toán qua mạng được sử dụng gọi là SET (Secure Electronic
Transaction – Giao dịch điện tử an toàn) do Visa và Master Card phát triển năm
1996. Hình sau minh hoạ cách thức sử lý thanh toán qua mạng.
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1. Bộ thương mại (2001),Thương mại điện tử, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội.
Tr.3,4,6.
2. TS. Vũ Mạnh Chu(2006), Các quy định pháp luật về quyền tác giả và quyền liên
quan
3. Thạc sĩ. Dương Tố Dung(2005), Cẩm nang thương mại điện tử cho doanh nhân,
Nhà xuất bản Lao Động. Tr 66-68.
4. Đỗ Hoàng Tiến, Vũ Đức Lý (2001), Truyền hình số, nhà xuất bản khoa học và
kỹ thuật, Hà Nội.
Tiếng Anh
5. Chi-Min Liu and Wen-Whei Chang(1999),audio coding standards
6. John Watkingson(2001), The MPEC Hand book.
7. K. Brandenburg and H. Popp, An introduction to MPEG Layer-3
8. Michael Morgan, Jeff Wandling,Rich Casselberry, Webmaster Expert Solutions
9. Ramapriya Rangachar(2001), Analysis and improvement of the MPEG-1 layer
III algorithm at low bit-rates.Tr 45-54.
10. Rassol Raissi(2002), The Theory Behind Mp3
11. Tay Lay Kheng, Ling Su Yuen(1998), Status of E-Commerce Deverlopment in
Singapo.