TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
BÀI THẢO LUẬN
BỘ MÔN QUẢN TRỊ HỌC
HÀ NỘI- 2015
Giáo viên hướng dẫn : Hoàng Thị Phi Yến
Tên học phần
: Quản trị học
Mã học phần
: 1555BMG0111
Nhóm thảo luận
: Nhóm 6
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
Hiệu sách của ông Nam là một hiệu sách duy nhất ở thị xã A- Một thị xã đang trong giai
đoạn phát triển.Việc bán sách đã mang lại cho ông lợi nhuận, tuy không nhiều lắm nhưng ổn
định. Cách đây vài tháng, một công ty phát hành sách có tiếng trong nước đã khai trương một
hiệu sách đối diện với hiệu sách của ông Nam. Thoạt đầu ông không lo lắng gì mấy vì ông cảm
thấy có thể tiếp tục cạnh tranh được. Nhưng rồi hiệu sách mới bắt đầu bán nhiều tựa sách với giá
giảm và còn khuyến mại cho các khách hang thân thiết. Mặc dù đã cố gắng hết sức, nhưng trong
một thời gian ngắn hiệu sách của ông chỉ còn đạt được nửa doanh thu so với trước. sau gần 6
tháng, do doanh thu tương đối thấp không đủ tiền trang trải chi phí, nên ông Nam đã phải quyết
định đóng cửa hiệu sách của mình.
1/Nguyên nhân nào dẫn đến việc ông Nam phải đóng cửa hiệu sách ?
2/Nếu là chủ hiệu sách trên, anh(chị)sẽ làm gì để hiệu sách tồn tại và phát triển.
“ Phục hồi sau khi thất bại thường dễ
dàng hơn là khi xây dựng sau khi thành
công”
LỜI CẢM ƠN
Thực hiện chủ trương của trường đại học Thương Mại về việc không ngừng
rèn luyện học tập tốt, tập thể nhóm 6 đã theo học tích cực bộ môn”Quản trị học
căn bản”
Trong quá trình học tập và thực hiện thảo luận bài thảo luận cuối kì, tập thể
nhóm 6 đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của thầy cô giáo, ban giám
hiệu trường đại học Thương Mại.
Có được bản thảo luận cuối kì này, cùng với sự nỗ lực của từng cá nhân
trong tập thể nhóm 6, chúng em đã nhận được sự giúp đỡ to lớn và quý báu của
thày, cô giáo và đặc biệt là cô Hoàng Thị Phi Yến. Nhóm chúng em xin bày tỏ lòng
biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô Hoàng Thị Phi Yến. , Người đã trực tiế
phướng dẫn, dìu dắt và chỉ bảo tận tình những kiến thức về chuyên môn thiết thực
và những chỉ dẫn khoa học quý báu.
Xin chân thành cảm ơn đến tất cả quý thầy cô và bạn bè đã nhiệt tình giúp
đỡ .
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn.
Thân ái
Nhóm 6
LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan: Bài thảo luận này là những ý kiến thảo luận thực
sự của mỗi cá nhân trong nhóm 6, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của
cô Hoàng Thị Phi Yến.
Các tài liệu, những kết luận thảo luận trong bài này là trung thực chưa được
từng công bố dưới mọi hình thức nào .
Chúng em xin trách nhiệm về ý kiến thảo luận của nhóm.
Nhóm cam đoan
Nhóm 6
I. Cơ sở lí thuyết
1. Môi trường quản trị
a, Khái niệm
Môi trường là những định chế hay lực lượng bên trong và bên ngoài tác động đến
hoạt động của quản trị tổ chức.
b, Phân loại: Có nhiều cách khác nhau để phân loại môi trường quản trị, sau đây là
theo cách tiếp cận môi trường bên trong và bên ngoài:
•
Môi Trường bên ngoài : gồm môi trường Vĩ mô Và môi trường vi mô
- Môi trường vĩ mô :
+ Các yếu tố kinh tế vĩ mô: -Trong môi trường kinh tế,doanh nghiệp chịu tác động
của các yếu tố như:tổng sản phẩm quốc nội(GDP),yếu tố lạm phát,tỉ giá hối đoái và
lãi suất,tiền lương và thu nhập.Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo
ra cơ hội và cả những thách thức với doanh nghiệp.Để đảm bảo thành công của
hoạt động doanh nghiệp trước biến động về kinh tế,các nhà quản trị của doanh
nghiệp phải theo dõi,phân tích,dự báo biến động của từng yếu tố để đưa ra các giải
pháp,các chính sách kịp thời,phù hợp với từng thời điểm cụ thể nhằm tận
dụng,khai thác những cơ hội,giảm thiểu nguy cơ và đe dọa.
+ Các yếu tố chính trị, luật pháp: Đối với các hoạt động về quản trị kinh doanh ở
các doanh nghiệp, Chính phủ đóng vai trò khá quan trọng: vừa có thể thúc đẩy vừa
có thể hạn chế việc kinh doanh. Chính phủ có thể thúc đẩy bằng cách khuyến khích
việc mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc
trợ cấp cho các ngành công nghiệp được lựa chọn, ưu tiên về thuế trong những
hoàn cảnh nhất định, bảo vệ một vài ngành kinh doanh thông qua những biểu thuế
suất đặc biệt, hay bằng cách trợ giúp việc nghiên cứu và triển khai.Nhà nước cũng
có thể hạn chế và điều chỉnh việc kinh doanh thông qua các bộ luật, nghị định,
thông tư và các quyết định như bộ Luật Lao Động, Luật Thương Mại, Luật Doanh
Nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thuế xuất nhập khẩu, Luật Bảo Vệ Môi Trường v.v...
Như vậy công việc quản trị kinh doanh ở các doanh nghiệp cần phải chấp hành đầy
đủ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước và nghiêm chỉnh tuân thủ
những quy định hiện hành của pháp luật là một đòi hỏi mang tính tất yếu khách
quan.
+ Các yếu tố văn hóa, xã hội:
Dân số: Để sản xuất hay kinh doanh, các nhà quản trị cần phải sử dụng đến nguồn
nhân lực, để bán được hàng họ cần đến khách hàng. Để hoạch định chiến lược phát
triển của mỗi công ty, người ta phải xuất phát từ cả hai yếu tố ảnh hường này. Nói
một cách khác, dân số và mức gia tăng dân số ở mỗi thị trường, ở mỗi quốc gia
luôn luôn là lực lượng có ảnh hưởng rất lớn đến tất cả mọi hoạt động về quản trị
sản xuất và quản trị kinh doanh ở mỗi doanh nghiệp.
Văn hóa: Mỗi con người, mỗi nhà quản trị, mỗi tổ chức đều thuộc về một nền văn
hóa cụ thể. Dưới ảnh hưởng của mỗi nền văn hoá, nhân cách, đạo đức, niềm tin,
thái độ, hệ thống các giá trị.vv… ở mỗi người được hình thành và phát triển. Như
vậy văn hóa quản trị nói chung và phong cách cùng phương pháp quản trị ở mỗi
doanh nghiệp nói riêng sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những nền văn hóa mà những
nhà quản trị của họ thuộc về các nền văn hóa đó. Qua nghiên cứu, người ta cũng
thấy rằng, văn hóa là một trong những yếu tố chủ yếu tác động, chi phối hành vi
ứng xứ của người tiêu dùng, chi phối hành vi mua hàng của khách hàng. Thêm vào
đó, tình cảm gia đình, sự hiểu biết xã hội, trình độ học vấn ... vẫn là điều xuất phát
khi mua sắm hàng hóa - dịch vụ, nghĩa là chi phối việc soạn thảo chiến lược và
sách lược kinh doanh ở mỗi doanh nghiệp cụ thể.
Tôn giáo: Mỗi tôn giáo đều có những quan niệm, niềm tin và thái độ riêng về cuộc
sống, về cách cư xử giữa các tín đồ với nhau và với mọi người. Tôn giáo có ảnh
hưởng rất lớn tới đạo đức, tư cách, văn hóa và lối sống của không chỉ chính bản
thân của các nhà quản trị mà cả tới những cán bộ công nhân viên dưới quyền quản
lý của họ. Các hoạt động lãnh đạo và điều hành của các nhà quản trị không thể
không tính tới ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo trong nhận thức, ứng xử, chấp hành
và thực thi các quyết định của những người dưới quyền. Không chỉ có vậy chúng ta
còn thấy rằng, tâm lý của người tiêu dùng cũng không nằm ngoài những ảnh hưởng
rất sâu sắc của tôn giáo.
+ Các yếu tố kỹ thuật, công nghệ: Ngày nay không có một doanh nghiệp sản xuất
nào muốn tồn tại và phát triển lại không dựa vào việc áp dụng những thành tựu tiến
bộ của khoa học - kỹ thuật và công nghệ. Ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật
và công nghệ là vô cùng phong phú và đa dạng, chúng ta có thể kể ra rất nhiều ảnh
hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ nữa, nhưng điều quan trọng cần
phải nhận thức được là các nhà quản trị thuộc mọi tổ chức nói chung và trong từng
doanh nghiệp nói riêng đều cần phải tính tới ảnh hường của các yếu tố này trong
các mặt hoạt động của mình. Sẽ là một sai lầm lớn, nếu trong kinh doanh mà các
nhà quản trị không hoạch định được một chiến lược đúng đắn về kỹ thuật và công
nghệ trong từng thời kỳ để sản xuất ra các loại sản phẩm tương ứng với thị trường.
Thực tế đang chứng tỏ rằng, nhà doanh nghiệp nào nắm bắt nhanh nhạy và áp dụng
kịp thời những thành tựu tiến bộ như vũ bão của khoa học kỹ thuật thì người đó sẽ
thành công.
+ Yếu tố tự nhiên:Thiên nhiên là thế giới xung quanh cuộc sống của chúng ta, là
khí hậu, thủy văn, địa hình, rừng núi, sông ngòi, hệ động thực vật, tài nguyên
khoáng sản thiên nhiên v.v...Dưới con mắt của các nhà quản trị đó là những lực
lượng và các yếu tố có sự ảnh hưởng rất sâu sắc tới cuộc sống của mọi con người
trên trái đất này. Thiên nhiên không phải là lực lượng chỉ gây ra tai họa cho con
người, thiên nhiên là cái nôi của cuộc sống. Đối với nhiều ngành công nghiệp thì
tài nguyên thiên nhiên như các loại khoáng sản, nước ngầm, lâm sản, hải sản v.v...
là nguồn nguyên liệu cần thiết cho công việc sản xuất , kinh doanh của nó.Bảo vệ,
phát triển và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang là một yêu
cầu cấp bách, bức xúc tất yếu khách quan trong hoạt động của tất cả mỗi nhà quản
trị.
-
Môi trường vi mô:
+ Đối thủ cạnh tranh: Trong nhóm đối thủ cạnh tranh có thể kể đến ba nhóm: đối
thủ cạnh tranh trực tiếp, đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, và sản phẩm thay thế. Sự hiểu
biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với các công ty. Các
đối thủ cạnh tranh với nhau quyết định tính chất và mức độ tranh đua, hoặc thủ
thuật giành lợi thế trong ngành phụ thuộc vào đối thủ cạnh tranh. Không am hiểu
đối thủ cạnh tranh sẽ là một nguy cơ thực sự cho mọi hoạt động về quản trị kinh
doanh ở các tổ chức. Nghiên cứu kỹ lưỡng và vạch ra các đối sách phù hợp luôn là
một đòi hỏi khách quan cho các hoạt động quản trị ở mọi doanh nghiệp trước đây
cũng như hiện nay và mãi về sau này.
+ Nhà cung ứng: Các nhà cung ứng có ưu thế có thể tăng thêm lợi nhuận bằng cách
nâng giá, giảm chất lượng hoặc giảm mức độ dịch vụ đi kèm. Yếu tố làm tăng thế
mạnh của các nhà cung ứng tương tự như các yếu tố làm tăng thế mạnh của người
mua sản phẩm là số người cung ứng ít, không có mặt hàng thay thế và không có
các nhà cung ứng nào chào bán các sản phẩm có tính khác biệt. Các nhà quản trị
phải tìm cách bảo đảm có được các nguồn cung ứng nhập lượng đều đặn và với giá
thấp. Bởi các nhập lượng này tượng trưng cho các bất trắc - tức là sự không có sẵn
hoặc sự đình hoãn của chúng có thể làm giảm hiệu quả của tổ chức - quản trị bị
buộc phải cố gắng hết sức để có được nguồn cung ứng ổn định.
+ Khách hàng: Là người tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, khách
hàng là một yếu tố quyết định đầu ra của sản phẩm. Không có khách hàng các
doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ của mình.
Như vậy khách hàng và nhu cầu của họ nhìn chung có những ảnh hưởng hết sức
quan trọng đến các hoạt động về hoạch định chiến lược và sách lược kinh doanh
của mọi công ty. Tìm hiểu kỹ lưỡng và đáp ứng đầy đủ nhu cầu cùng sở thích thị
hiếu của khách hàng mục tiêu sống còn cho mỗi doanh nghiệp nói chung và hệ
thống quản trị của nó nói riêng.Các doanh nghiệp cũng cần lập bảng phân loại
khách hàng hiện tại và tương lai. Các thông tin có được từ bảng phân loại này là cơ
sở định hướng quan trọng cho việc hoạch định chiến lược, nhất là các chiến lược
liên quan trực tiếp đến marketing. Các yếu tố chính cần xem xét là những vấn đề
địa dư, tâm lý khách hàng v.v..
•
Môi trường bên trong:
Nhóm này bao gồm các yếu tố và điều kiện bên trong của doanh nghiệp như:
nguồn tài chính, nguồn nhân lực hệ thống cơ sở vật chất v.v... Nhóm này giúp
doanh nghiệp xác định được điểm mạnh, điểm yếu trong các hoạt động về quản trị
của mình. Các yếu tố nội bộ có ảnh hưởng khá quan trọng đến việc xác định sứ
mạng và mục tiêu của tổ chức. Với ý nghĩa đó, nhóm này là những tiền đề chủ yếu
cho quá trình lựa chọn và xác định mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược kinh doanh của
các doanh nghiệp.
=> Nhà quản lý cần hiểu rõ môi trường mà tổ chức mình đang hoạt động và nhận
thức được các ảnh hưởng của các yếu tố đó trong ngắn hạn và dài hạn để từ đó đưa
ra các giải pháp phòng ngừa hoặc giải quyết các trục trặc, khủng hoảng có thể phát
sinh.
2.Quản trị sự thay đổi.
a, Tính tất yếu khách quan của sự thay đổi trong quản trị
Những thay đổi môi trường bên trong và bên ngoài : chính trị,pháp luật,kinh tế,văn
hóa,tiến bộ khoa học công nghệ…có thể gây ra rủi ro hoặc tạo cơ hội nên buộc nhà
quản trị phải có những thay đổi trong quản trị để tận dụng cơ hội,giảm thiểu rủi ro
đảm bảo hoạt động tổ chức thích nghi với môi trường.
b, Mô hình quản trị thay đổi.
- Áp lực thay đổi trong quản trị đòi hỏi các nhà quản trị phải hoạt động nhanh,song
phải cẩn trọng và chính xác.
- Những nỗ lực thay đổi có thể vấp phải sự chống đối của nhân viên vì:
+Quyền lợi cá nhân thiển cận.
+Tính ỳ,thói quen,ngại sự thay đổi.
+Dánh giá không đầy đủ,thực hiện mục tiêu về sự thay đổi.
+Khả năng chịu đựng sự thay đổi kém.
- Các chiến lược nhằm giảm sự chống đối:
+Giáo dục và truyền đạt thông tin.
+Tham gia và lôi kéo.
+Tạo thuận lợi.
+Thương lượng và thỏa thuận.
+Thao túng và tranh thủ
+Ép buộc.
Mô hình quản trị sự thay đổi: Quản trị sự thay đổi được thực hiện như một quá
trình gồm 5 bước:
*Bước 1:Xác định những tác nhân kích thích-lực lượng đòi hỏi sự thay đổi
- Lực lượng bên ngoài:sự thay đổi thị trường,công nghệ,môi trường khác
- Lực lượng bên trong:ra quyết định,truyền đạt thông tin,con người trong tổ
chức(đạo đức kém…)
- Phản ứng-thừa nhận nhu cầu thay đổi:Thông tin giúp nhà quản trị hiểu rõ quy mô
của các lực lượng đòi hỏi thay đổi.
=>Bước 1 chính là giai đoạn nhận thức,có nên hành động hay không
*Bước 2:Chẩn đoán vấn đề: Trả lời 3 câu hỏi cơ bản:
- Vấn đề,triệu chứng của vấn đề là gì?
- Cần phải thay đổi cái gì?
- Mục tiêu của sự thay đổi là gì?Đo lường như thế nào?
*Bước 3: Các phương án,thủ thuật quản trị sự thay đổi
- Căn cứ vào bản chất vấn đề đã chẩn đoán
+Trọng tâm của thủ thuật thay đổi: cơ cấu tổ chức,con người,công nghệ.
+Thay đổi cơ cấu:Xác định công việc,bộ phận,quy mô và quyền hạn nhà quản
trị.
+Thay đổi con người:Đào tạo,bồi dưỡng,huấn luyện,phát triển quản trị…
+Thay đổi công nghệ:Máy móc,tự động hóa,robốt
- Nhận rõ những điều kiện hạn chế:
+Không khí lãnh đạo.
+Hệ thống tổ chức chính thức
+Văn hóa tổ chức
*Bước 4:Lựa chọn phương án
- Lựa chọn chiến lược để thực hiện thủ thuật ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của
thực hiện mục tiêu thay đổi.
- Có 3 kiểu:đơn phương sử dụng quyền lực,ủy quyền toàn bộ,chia sẻ quyền hạn
=>Tùy từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn chiến lược thích hợp.
*Bước 5: Thực hiện và đánh giá
- Hai khía cạnh thực hiện sự thay đổi là thời gian và phạm vi
- Đánh gía là công việc quan trọng,có 3 tiêu chí đánh giá: phản ứng nội bộ,bên
ngoài,của người tham gia.
II. Nguyên nhân và giải pháp
1.Nguyên nhân của việc ông Nam đóng cửa hiệu sách
- Nguyên nhân dẫn đến việc ông Nam phải đóng cửa hiệu sác Người bán hàng
không chỉ chú ý đến mình chất lượng sản phẩm của mình mà còn phải biết những
phương thức đổi mới cách bán hàng của mình để đáp ứng sự hài lòng của khách
hàng.Nếu người bán hàng không biết đến những điều đó thì sẽ thất bại giống như
hiệu
sách
của
ông
Nam
trong
tình
đã
nêu.
- Nguyên nhân khách quan: Do đối thủ cạnh tranh là một công ty phát hành sách có
tiếng trong nước.So sánh ở phương diện đối thủ cạnh tranh thì chúng ta rõ ràng
thấy được công ty này có lợi thế cạnh tranh mạnh hơn hẳn so với hiệu sách của ông
Nam.Một điều khác là do doanh thu của hiệu sách không đủ để trang trải chi phí
nên ắt buộc ông Nam phỉa đóng cửa hiệu sách của mình.
- Nguyên nhân chủ quan: Sự thất bại chủ yếu ở đây là do ông Nam đã quá chủ
quan trước đối thủ của mình biểu hiện qua sự không lo lắng của ông và tin rằng
mình có thể cạnh tranh trước đối thủ.Do sự chủ quan của mình ông Nam đã không
có những hành động,giải pháp kịp thời để cạnh tranh với đối thủ trước mắt.Có thể
nói ông Nam chỉ biết bán sách thôi chứ không có kinh nghiệm kinh doanh nào.Vì
thế ông đã không có những hành động như:giảm giá sách,khuyến mại cho những
khách hàng quen….Mà trong khi đó đối thủ đã mạnh sẵn về tiếng tăm lại còn đang
tung ra những khuyến mại,giảm giá đã thu hút nhiều khách hàng đến mua trong đó
tất nhiên có cả những khách của hiệu sách ông Nam trước đây.Vì vậy dây chính là
nguyên nhân chính dẫn đến việc ông Nam phải đóng cửa hiệu sách của mình.
- Do chiến lược kinh doanh còn lệ thuộc vào lối mòn cũ mà không biết thay đổi,
do không biết tận dụng lợi thế có nhiều khách hàng quen
- Do ông nam chủ quan coi thường đối thủ, 2 ông không chú ý chất lượng các loại
sách và thị hiếu của người tiêu dung, 3 chưa có các giải pháp thu hút khách hàng, 4
đối thủ khá mạnh là công ty phát hành sách có tiếng
- Từ 2 phía. 1 bên là hiệu sách đối diện có chiến lược kinh doanh mạnh hơn hiệu
sách ông nam. Còn 1 bên là ông nam k chịu đổi mới cách kinh doanh để cạn
- Ông Nam không thực hiện các chương trình giảm giá, khuyến mãi và marketing
thích hợp cho cửa hàng để thu hút thêm khách hàng. Cửa hàng của ông mở đã lâu
và không tạo được nét đặc trưng mới, hay nhập các loại sách phù hợp với thị hiếu
và nhu cầu của mọi loại đối tượng khách hàng…
- Doanh thu thấp không đủ trang trải các chi phí, Ông Nam chưa bắt kịp với xu
hướng thay đổi của người tiêu dùng, do đó lượng khách ngày càng ít hơn, ông Nam
chưa có trình độ chuyên môn cao trong việc lên kế hoạch chiến lược., không có
nguồn vốn ổn định, không có nguồn tài chính dự trữ, chưa có chiến lược phát triển
cho hiệu sách. Cơ cấu tổ chức không rõ ràng và còn hạn chế sử dụng các nguồn
lực, Làm việc theo cảm tính . làm việc theo sự an toàn của bản thân, " cảm thấy có
thể tiếp tục ".
2. Giải pháp để hiệu sách tồn tại và phát triển
Tiếp cận từ những vấn đề nguyên nhân mà hiệu sách đang gặp phải , Nếu
đứng trên cương vị chủ hiệu thì nhóm chúng em đưa ra một số giải pháp để có thể
duy trì cửa hiệu sách của ông Nam:
Bên cạnh những giải pháp cần nhiều ngân sách đã được nêu trên, thì ta cũng nên
nhìn nhận vào vấn đề chính là để có được nguồn vốn lớn là rất khó và liệu có chắc
rằng các giải pháp trên sẽ thực sự thành công?
Giải pháp mà nhóm em đưa ra dựa trên những lợi thế, ưu điểm cửa tiệm sách ông
Nam có được. Đó là trước đây tiệm sách của ông Nam là duy nhất ở thị xã A, điều
kiện này chứng tỏ ông đã gây dựng được uy tín, thương hiệu cho tiệm sách. Ông
nhận ra được đâu là đối tượng khách hàng trọng điểm trong khu vực này, thị hiếu
tiêu dùng, tâm lý tiêu dùng ưu tiên sử dụng của người dân ở đây rõ hơn ai hết. Đấy
chính là điểm mạnh cửa tiệm sách ông Nam. Thay vì chạy theo các kế hoạch theo
lối đi của tiệm sách kia hay tăng số lượng sản phẩm lên nhiều thể loại sách các
loại, chúng em cho rằng tiệm sách ông Nam nên cân nhắc các lợi thế của mình để
đi riêng, chăm chút vào một loại sản phẩm nhất định và cụ thể đây là một thể loại
sách,loại báonào đó nhất định . Ông Nam nên chú trọng vào chất lượng sản phẩm
hơn. Ví dụ như khu vực tiệm sách của ông Nam gần các trường học thì đầu tư, phát
triển thiên về các vật phẩm, trang thiết bị học tập, các sách giáo khoa, giáo trình,
tài liệu học tập... Có như vậy thì ông sẽ không cần phải lo nghĩ về vấn đề nguồn
vốn lấy từ đâu ra để cải thiện tình trạng của tiệm sách.
Câu " biết người biết ta trăm trận trăm thắng" quả thực rất đúng trong trường hợp
này. Có thể tiệm sách mới có các chiến lược marketing rất tốt nhưng liệu họ có tiếp
tục được mãi, tiệm sách của ông Nam tuy k đầu tư nhiều nhưng biết đầu tư đúng
chỗ thì sẽ ít phải lo về rủi ro hơn. “Mèo nhỏ chỉ nên bắt chuột nhỏ”, chúng ta phải
cân nhắc đâu là phương án lựa chọn tối ưu và phù hợp vs tiệm sách. Sau khi thay
đổi về sản phẩm có xu hướng khiến cho việc kinh doanh tốt hơn thì các nguồn lãi,
lợi nhuận sẽ giúp ta đầu tư thêm về nhiều mặt hơn nữa. Các hình thức kết hợp
thưởng trà , café sáng với nhật báo ... cũng là cách để tận dụng nguồn tài liệu
phong phú mà tiệm có để kiếm thêm doanh thu.
KẾT LUẬN
Thực tế,ông Nam đã không đưa ra được giải pháp để duy trì hiệu sách khiến
hiệu sách phải đóng cửa.Từ đó chúng ta liên hệ đến hàng ngàn doanh nghiệp phải
tuyên bố phá sản hàng năm cũng vì họ đã không có giải pháp cho doanh nghiệp
của mình.Chính vì thế các nhà quản trị tương lai cần phải học tập ngay từ bây
giờ,không chỉ là học lý thuyết suông trên giấy mà chúng ta cần đặt mình vào các
tình huống quản trị để chúng ta có thêm nhiều kinh nhiệm giải quyết vấn đề.Để sau
này khi chính thức ra ngoài cuộc sống chúng ta sẽ nhanh nhạy hơn trong việc giải
quyết các vấn đề mà chính bản thân gặp phải.
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
1.
2.
3.
Quản trị học căn bản – Donnelly JR.J.K (2000)
Quản Trị Học – Nguyễn Thị Liên Diệp
Tập bài giảng Quản trị học – Trường Đại Học Thương Mại