Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

Đề tài Tiểu Luận về OPEC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (142.21 KB, 12 trang )

MỤC LỤC

1


I. TỔNG QUAN VỀ OPEC.
I.1. GIỚI THIỆU CHUNG:
-

-

OPEC là tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa ( viết tắt của Organiztion of
Petroleum Exprting Countries).
Opec được thành lập bởi 5 thành viên sáng lập Iran, Iraq, kuwait, Saudi Arabia, và
Venezuela tại hội nghị Baghdad vào ngày 14/10/1960.
Opec là tổ chức đa chính phủ. Khi mới thành lập thì OPEC đặt trụ sở tại Geneva,
Thụy Sỹ; sau đó chuyển về Vienna, Áo vào ngày 1/9/1965. Các nước thành viên
khai thác vào khoảng 40% tổng sản lượng dầu lửa thế giới và nắm giữ khoảng ¾
trữ lượng dầu thế giới.
Mục tiêu của OPEC là phối hợp và thống nhất chính sách xăng dầu giữa các nước
thành viên, để đảm bảo giá cả hợp lý và ổn định cho các nhà sản xuất dầu khí, ủng
hộ về mặt chính trị cho các nước thành viên khi bị các cưỡng chế vì các quyết
định của OPEC.
I.2. THÀNH VIÊN:
*Các nước Thành viên: 13 nước thành viên.
CHÂU PHI:


Algérie (tháng 7 năm 1969)




Libya (tháng 12 năm 1962)



Nigeria (tháng 7 năm 1971)



Angola (tháng 1 năm 2007)

TRUNG ĐÔNG:
2





Iran (tháng 9 năm 1960)
Iraq (tháng 9 năm 1960) (không được đếm vào phần xuất khẩu của OPEC từ
năm 1998) được dỡ bỏ lệnh cấm vận xuất khẩu ngày 6/1/2016.



Kuwait (tháng 9 năm 1960)



Qatar (tháng 12 năm 1961)




Ả Rập Saudi (tháng 9 năm 1960)



Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (tháng 11 năm 1967)

NAM MỸ:


Venezuela (tháng 9 năm 1960)



Ecuador (1973-1993, 2007)



Indonesia (tháng 12 năm 1962 , bị đình chỉ tư cách thành viện tháng 1/2009
và được gỡ bỏ 1/1/2016)

Cựu thành viên
Gabon (Thành viên chính thức từ 1975 đến 1995)
Thành viên tương lai


Bolivia, Canada, Sudan và Syria đã được OPEC mời tham gia
OPEC dựa vào phân bổ hạn ngạch cho các nước thành viên để điều chỉnh lượng
khai thác dầu, tạo ra khan hiếm hoặc dư thừa giả tạo qua đó tác động đến giá dầu.

OPEC là một liên minh độc quyền (cartel- một tổ chức lỏng lẻo, không phải lúc
nào các nước thành viên cũng tuân theo quyết định của nhóm) luôn tìm cách giữ
giá dầu ở mức có lợi nhất cho các nước thành viên.


I.3. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN:


Những năm 1960

OPEC hình thành trong bối cảnh chính trị và kinh tế quốc tế đang trong quá trình
chuyển đổi với chế độ thực dân bị xóa bỏ và sự ra đời của nhiều quốc gia độc lập.
3


Thị trường dầu mỏ thế giới bị chi phối bởi các công ty đa quốc gia “Seven Sisters”,
và các nền kinh tế tư bản khác(CPE). OPEC phát triển tầm nhìn chung, thiết lập
các mục tiêu và thành lập Ban thư ký đầu tiên tại Geneva và sau đó tại Vienna vào
năm 1965. OPEC đã thông qua “Bản tuyên bố chính sách khai thác dầu mỏ ở các
nước thành viên” vào năm 1968, trong đó nhấn mạnh quyền chính đáng của tất cả
các quốc gia thực thi chủ quyền vĩnh viễn đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên
của họ vì lợi ích của sự phát triển quốc gia. OPEC đã lên đến 10 thành viên vào
năm 1969.
• Những năm 1970
Các nước thành viên nắm quyền kiểm soát ngành công nghiệp dầu mỏ trong nước
và OPEC đã có tiếng nói quan trọng trong việc định giá dầu thô trên thị trường thế
giới. Trong 2 lần biến động bởi lệnh cấm vận dầu mỏ của Ả Rập vào năm 1973 và
cuộc Cách mạng Iran nổ ra năm 1979 làm giá dầu tăng vọt trên thị trường, OPEC
đã mở rộng sứ mệnh của mình với Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên của Người đứng
đầu Nhà nước và Chính phủ ở Algeria vào năm 1975, đề cập đến hoàn cảnh khó

khăn của các nước nghèo và kêu gọi cho một kỷ nguyên mới của sự hợp tác trong
các mối quan hệ quốc tế, vì lợi ích của sự phát triển và ổn định kinh tế thế giới.
Năm 1976, Quỹ Phát triển Quốc tế OPEC được thành lập. Các nước thành viên đã
bắt tay nhau vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đầy tham vọng. Số thành viên
OPEC đã lên đến 13 năm 1975.
• Những năm 1980
Thị phần OPEC đã có lúc giảm mạnh và tổng doanh thu dầu mỏ giảm xuống dưới
1/3 so với trước đó, gây khó khăn nghiêm trọng về kinh tế cho nhiều nước thành
viên. Giá tăng mạnh cuối thập kỷ và thị phần OPEC bắt đầu phục hồi, OPEC đưa
ra mức trần sản lượng nhóm được phân chia giữa các nước thành viên và Giỏ tham
chiếu cho giá cả. Vấn đề môi trường đã được bàn đến trong chương trình nghị sự
năng lượng quốc tế.
• Những năm 1990
Đột phá trong đối thoại sản xuất - tiêu dùng tương ứng với tiến bộ liên tục trong
quan hệ OPEC/ngoài OPEC. Sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất năm 1992, OPEC
đã theo đuổi tính công bằng, sự cân bằng và thực tiễn trong việc đảm bảo nguồn
cung ứng dầu.
• Những năm 2000:
Cơ chế giá dầu OPEC đã giúp củng cố và ổn định giá dầu thô trong những năm đầu
thập kỷ này. OPEC nổi lên trong việc hỗ trợ ngành dầu mỏ, như là một phần của sự
nỗ lực toàn cầu để giải quyết các cuộc khủng hoảng kinh tế. Hội nghị thượng đỉnh
OPEC lần thứ hai và thứ ba tại Caracas và Riyadh vào năm 2000 và 2007 thiết lập

4


thị trường năng lượng ổn định, phát triển bền vững và môi trường là ba vấn đề chi
phối và OPEC đã thông qua một chiến lược dài hạn toàn diện từ năm 2005.
2010 đến nay Nền kinh tế toàn cầu đại diện các nguy cơ chính đối với thị trường
dầu mỏ vào đầu thập niên, như bất ổn kinh tế vĩ mô toàn cầu và rủi ro cao xung

quanh hệ thống tài chính quốc tế tạo áp lực lên nền kinh tế. Tình trạng bất ổn xã
hội leo thang ở nhiều nơi trên thế giới bị ảnh hưởng cả cung và cầu trong suốt nửa
đầu của thập kỷ, mặc dù thị trường vẫn tương đối cân bằng.Giá ổn định từ năm
2011 đến giữa 2014, trước khi rơi vào tình trạng rớt giá nghiêm trọng. Trọng tâm
của thế giới về các vấn đề môi trường đa phương đã bắt đầu để làm sắc nét, với kỳ
vọng cho một thỏa thuận thay đổi khí hậu của LHQ-dẫn mới. OPEC tiếp tục tìm
kiếm sự ổn định trên thị trường, và nhìn để tăng cường hơn nữa đối thoại và hợp
tác với người tiêu dùng và các nhà sản xuất không thuộc OPEC.

II. CÁC THÀNH TỰU MÀ OPEC ĐẠT ĐƯỢC.
II.1. NGUỒN CUNG CẤP DẦU AN TOÀN VÀ ỔN ĐỊNH CHO THẾ GIỚI
-

-

Kể từ khi hình thành vào năm 1960, OPEC đã chú trọng đến trách nhiệm là nhà
cung cấp năng lượng tuyến đầu, cụ thể là đảm bảo nguồn cung dầu cho thế giới
được quản lý tốt, an toàn, ổn định. Mục đích thành lập đầu tiên của Tổ chức là
nhằm giữ giá dầu ổn định, loại bỏ những sự biến động có hại và không cần thiết.
Từ đó tạo nguồn thu nhập ổn định cho các quốc gia thành viên và một nguồn cung
kinh tế hiệu quả, thường xuyên cho các quốc gia tiêu thụ. Những nguyên tắc này
được quy định rất rõ trong điều lệ hoạt động của OPEC.
OPEC đã chứng minh những cam kết khi thành lập của mình bằng việc giữ ổn
định, trật tự cho thị trường dầu mỏ, mặc dù trong thực tế, đôi khi rất khó khăn để
đạt được. Trong tương lai, OPEC vẫn cam kết để đảm bảo cung cấp dầu thô ổn
định, giá cả hợp lý cho thị trường.
II.2. NĂM MƯƠI TUỔI - MỘT THÀNH CÔNG CỦA CHÍNH OPEC.

-


-

Khi OPEC đã được thiết lập ở Baghdad vào năm 1960, đã có một số người đã dự
đoán rằng tổ chức sẽ không kéo dài. Tuy nhiên, 50 năm sau, từ một nhóm nhỏ ban
đầu đã phát triển thành tổ chức của 12 nước xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới.
Đây không phải là việc dễ dàng, nhất là trong tình hình thế giới vào thời điểm bấy
giờ. Chất xúc tác chính cho sự thành lập của OPEC đến khi một nhóm các công ty
dầu khí đa quốc - cái gọi là Seven Sisters, tại thời điểm đó là lực lượng thống trị
trong thị trường dầu, đơn phương giảm giá niêm yết của thô họ cung cấp. Những

5


-

-

-

-

doanh nghiệp này kiểm soát lượng dầu khai thác và quyết định bán cho ai, với giá
như thế nào.
Vì vậy, trong năm 1960, năm quốc gia sản xuất dầu mỏ - Iran, Iraq, Kuwait, Saudi
Arabia và Venezuela đã liên kết với nhau thông qua một cam kết để bảo vệ lợi ích
quốc gia hợp pháp của mình và đảm bảo trật tự, ổn định trong thị trường dầu mỏ
quốc tế. Không có sự phô trương, không có sự đưa tin từ các phương tiện truyền
thông lớn trên thế giới, chỉ 5 quốc gia đứng lên bảo vệ lợi ích của mình, lợi ích
của toàn cầu.
Nhưng trong một thế giới trước đây do các cường quốc công nghiệp chi phối, tất cả

đều chống lại họ. Tuy nhiên, từng chút một, OPEC đã bắt đầu tạo ra thương hiệu
của riêng mình. Trong thời điềm đó, sự hình thành của OPEC là một hành động
dũng cảm, một hành động tiên phong, một hành động chứng minh rằng các nước
đang phát triển có đủ nguồn lực để tạo nên một tổ chức cho riêng mình.
Kể từ khởi đầu khiêm tốn của mình, OPEC đã trải qua những thăng trầm, nhưng rõ
ràng là nó đã phát triển ở tầm cao và đạt được một sự thành công đáng kinh ngạc.
Nó đã cung cấp sự hỗ trợ và sự tự tin để các thành viên khẳng định lợi ích của họ
trong ngành công nghiệp dầu khí.
Nó cũng giúp duy trì nguồn cung cấp dầu khí ổn định và thường xuyên ra thị
trường; mở rộng vai trò của tổ chức trên trường quốc tế; giúp tăng cường và xây
dựng mối quan hệ hợp tác và đối thoại giữa các nhà sản xuất và người tiêu dùng,
và tạo ra một cơ sở đê Quỹ OPEC về Phát triển quốc tế viện trợ cho các quốc gia
đang phát triển.
II.3. PHÁT TRIỀN BỀN VỮNG.

-

-

-

Ngay từ khi khởi đầu, các nước OPEC, mà chủ yếu thành viên đến từ các nước
đang phát triển, đã đặt ưu tiên cao cho hỗ trợ các quốc gia có điều kiện khó khăn,
đặc biệt bằng cách giúp họ theo đuổi các mục tiêu phát triển bền vững. Tại Hội
nghị thượng đỉnh đầu tiên tại Algiers vào năm 1975, trong một tuyên bố long
trọng, các nước thành viên đã khẳng định sẽ đoàn kết với các quốc gia khác để tạo
ra một tương lai tốt đẹp hơn.
Điều này cũng đã kéo theo việc thành lập nhiều tổ chức tài trợ song phương và đa
phương hoạt động rất hiệu quả, trong đó có Quỹ OPEC về Phát triển quốc tế
(OFID), Đó là một kết quả trực tiếp của Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên. Quỹ đã

được bắt đầu vào năm sau để thúc đẩy tình đoàn kết thông qua hợp tác giữa các
nước thành viên OPEC và các nước đang phát triển khác.
Đến cuối tháng Giêng năm 2010, hơn 120 quốc gia từ các nước đang phát triển Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ Latin, vùng Caribbean, Trung Đông và châu Âu - đã
được hưởng lợi từ sự hỗ trợ OFID, với mức hỗ trợ phát triển tích lũy mở rộng
OFID đứng ở Mỹ $ 11,682 triệu.
6


-

-

Hơn nữa, Quỹ OPEC chỉ là một trong nhiều tổ chức đa phương và song phương
được hỗ trợ bởi các nước thành viên OPEC, như một phương tiện để cung cấp
viện trợ cho các nước đang phát triển. Đó là một phần của cam kết \ OPEC để
giúp đáp ứng nhu cầu bức xúc của các quốc gia đang phát triển khác.
Trong thực tế, các nước thành viên OPEC đã làm nhiều hơn nữa để xóa đói giảm
nghèo ở các nước đang phát triển, có đời sống kém hơn so với các quốc gia giàu
có trên thế giới. Ví dụ, Saudi Arabia đã luôn dành gần 4% của ngân sách hàng
năm của mình với mục đích viện trợ.
II.4. OPEC VÀ MÔI TRƯỜNG.

-

-

-

-


-

Tổ chức đã nhận ra tác động của biến đổi khí hậu, và cũng đã hỗ trợ các nỗ lực để
giảm thiểu tác động của việc sử dụng năng lượng hóa thách đến môi
trường. OPEC và các nước thành viên của mình đã tham gia tích cực vào các cuộc
đàm phán của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu kể từ năm 1992.
OPEC cũng đã tham gia vào vô số các hội nghị và hội thảo khác về chủ đề này,
cũng như tổ chức một số sự kiện của riêng mình, đồng thời tiến hành các nghiên
cứu sâu rộng về biến đổi khí hậu và các lĩnh vực năng lượng.
Tại hội nghị thượng đỉnh của OPEC tổ chức tại Riyadh, Saudi Arabia, trong tháng
11 năm 2007, biến đổi khí hậu đã trở thành một trong ba chủ đề cốt lõi của hội
nghị. Hội nghị đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy hợp tác trong
nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực dầu khí giữa các trung tâm khoa học và
công nghệ của OPEC, cũng như hợp tác với các trung tâm quốc tế khác. Điều này
đã được nhấn mạnh bởi một số quốc gia thành viên công bố tại Hội nghị thành lập
một quỹ đặc biệt trị giá $ 750,000,000 đầu tư vào công nghệ sạch.
Trong những năm tới, thế giới sẽ đòi hỏi nguồn năng lượgn thậm chí còn sạch hơn,
an toàn hơn, thân thiện với môi trường hơn nữa. OPEC nhận thấy tầm quan trọng
của việc tiếp tục thúc đẩy sự phát triển và triển khai các công nghệ khai thác, sử
dụng nhiên liệu hóa thạch sạch hơn.
Khi nhìn vào câu hỏi hóc búa về môi trường, nên nhớ rằng đối với các nước đang
phát triển, xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội là những ưu
tiên trọng và rõ ràng là người dân ở các quốc gia này sẽ cần nhiều năng lượng
hơn.
II.5. KHUYẾN KHÍCH ĐỐI THOẠI VÀ HỢP TÁC.

-

OPEC được thành lập vào tháng 9 năm 1960 trên tiền đề của sự hợp tác, với một
cam kết để bảo vệ lợi ích của các nước thành viên và đảm bảo trật tự và ổn định

trong thị trường dầu quốc tế. Điều này đã được khẳng định nhiều lần trong các báo
cáo, quyết định và hành động của OPEC từ đó.

7


-

-

OPEC, cùng với các bên liên quan khác, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc
thành lập và phát triển của IEF. Và ngày hôm nay, các tổ chức và các nước thành
viên của tổ chức cũng là người tham gia tích cực để giúp tăng cường sự minh
bạch, chất lượng, kịp thời và dòng chảy của dữ liệu thị trường dầu, được lưu trữ
tại Ban Thư ký IEF tại Riyadh.
OPEC cũng đã đặt nhiều nỗ lực vào việc mở rộng đối thoại về một loạt các vấn đề
giữa tổ chức và các bên liên quan. Trong những năm gần đây, việc đối thoại bao
gồm Cơ quan quốc tế Năng lượng, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Nga, và một
số nhà sản xuất không thuộc OPEC khác. Sự hợp tác với các tổ chức quốc tế dự
kiến sẽ tăng hơn nữa.

III. TRỮ LƯỢNG, SẢN LƯỢNG DẦU MỎ CỦA CÁC NƯỚC OPEC.
III.1. TRỮ LƯỢNG:
-

TRữ lượng dầu thô của các nước OPEC chiếm khoảng 80% trữ lượng dầu thô của
thế giới, với lượng dầu dự trữ chủ yếu ở Trung Đông chiếm 60% tổng trữ lượng
của OPEC. Hiện tại Trữ lượng của OPEC vào khoảng 1,2-1,3 tỷ thùng.

8



III.2. SẢN LƯỢNG
Sản lượng của OPEC từ năm 2003-2015:
( Nguồn: Organization of Petroleum Exporting Countries)

Sản lượng dầu thô của OPEC chiếm 60% sản lượng dầu thô thế giới. Trong đó, Ả
Rập Saudi 9,9 triệu thùng/ngày (13% SLTG); Iran 4,23 triệu thùng/ngày (4%
SLTG); Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất 163 triệu thùng/ngày
(4%SLTG), Venezuela 3,02 triệu thùng/ngày (4% SLTG),Kuwait 2,68 triệu
thùng/ngày (4% SLTG) và Iraq 3,4 triệu thùng/ngày (4%SLTG).

9


Theo đó thì mức giá một thùng dầu của OPEC theo biểu đồ dưới:

( Nguồn: Organization of Petroleum Exporting Countries)

IV. CÁC CHÍNH SÁCH VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA OPEC ĐẾN THỊ
TRƯỜNG DÂU MỎ THẾ GIỚI.
- Do nắm giữ đến 80% trữ lượng dầu mỏ trên toàn thế giới, các chính sách của
OPEC có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế toàn cầu. Chỉ một thay đổi nhỏ cũng
làm cho tình hình thế giới biến động.
- Các nước OPEC luôn đưa ra các chính sách để đem lại nguồn lợi cho mình và
triệt tiêu các đối thủ của mình:
+ Năm 1973: Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất: Trước dự báo trữ lượng dầu
mỏ trên thế giới có nguy cơ cạn kiệt, OPEC đã lợi dụng tình hình đó để tăng giá
dầu từ 2,89 lên thành 11,65 USD/ thùng. Kinh tế thế giới bị ảnh hưởng nghiêm
trọng, các ngành công nghiệp, dịch vụ,… đều bị giảm sút.

+ Giai đoạn 1979-1980: Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần 2: Năm 1979, tại Iran - một
trong các thành viên lớn của OPEC diễn ra cuộc cách mạng Hồi giáo, dẫn đến
nguồn cung dầu mỏ trên thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Lợi dụng tình hình
này, các nước OPEC đã đẩy giá dầu từ 15,5 lên thành 24 USD/ thùng. Đặc biệt
Libya, Angiêri, Irap còn đòi đến 30 USD/ thùng. Chính sách này đã ảnh hưởng vô
cùng lớn tới nền kinh tế của các nước trên thế giới. Các nền kinh tế đồng loạt phải
giảm sản xuất để hạn chế sự ảnh hưởng của giá dầu.
 Năm 1980, do các nước đều đồng loạt giảm nhập khẩu dầu, lượng cầu trên thế
giới đã giảm đến 13%. Giá dầu tụt thê thảm, từ 35 xuống còn 10USD/thùng. Điều
này đã ảnh hưởng lớn đến OPEC, một số nước như Mexico, Nigiêria, Venexuela
đứng bên bờ vực phá sản. OPEC đã mất đi sự đoàn kết.
+ Sức mạnh của giá dầu và sự sụp đổ của Liên Xô: Vào thập niên 80 của thế kỉ
trước, dầu mỏ là thứ duy nhất mà thế giới muốn mua của người Liên – Xô. Biết
được điều này, Mỹ đã cùng với Arap Saudi và một số thành viên khác của OPEC
đã nhất trí tăng sản lượng dầu mỏ lên làm cho giá dầu giảm xuống, nền kinh tế của

10


Liên – Xô bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Do không thể cạnh tranh được với các nước
này trong thời gian dài, đến năm 1991, liên bang Xô Viết chính thức tan rã.
+ Cuộc khủng hoảng dầu mỏ 2007 – 2008: Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới
năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ làm cho kinh tế thế giới suy giảm nghiêm trọng, giá cả
leo thang, lại cộng them việc giảm cung từ một số nước OPEC làm cho giá dầu
tăng phi mã, đạt đỉnh là 147,27 USD/ thùng tháng 4/2008.
+ Năm 2015, Nga tham gia vào các cuộc khủng hoảng Ukraina, Syria. Với mục
đích dìm chết nền kinh tế Nga, và đập bẹp các nhà sản xuất dầu đá phiến Mỹ . Các
nước OPEC, đứng đầu là Ả Rập Saudi đã gia tăng sản lượng làm cho giá dầu giảm
xuống mức thấp kỉ lục kể từ năm 2001.
Nhìn vào lịch sử, ta thấy rằng mục tiêu của OPEC thật ra là một chính sách điều

hành sản xuất dầu chung nhằm giữ giá, theo đó OPEC dựa vào việc phân bổ hạn
ngạch cho các thành viên để điều chỉnh lượng khai thác dầu, tạo ra khan hiếm hoặc
dư dầu ảo và thông qua đó có thể tăng, giảm hoặc giữ giá dầu ổn định.
Như vậy, có thể coi OPEC như là một liên minh độc quyền luôn tìm cách giữ giá
dầu ở mức có lợi nhất cho các thành viên.

V. OPEC – HIỆU QUẢ HAY KHÔNG HIỆU QUẢ:
-

-

OPEC là một cartel - tổ chức của các nước xuất khẩu dầu mỏ lớn trên thế giới, hoạt
động theo những nguyên tắc chung để mang lại lợi ích cho các thành viên.Tuy
nhiên hoạt động của tổ chức này vẫn có một số điểm chưa hiệu quả.
Mặc có các quy tắc chung nhưng hầu hết không có tính rang buộc nên hầu như các
nước đều vi phạm, không thực hiện.
Các chính sách của OPEC thường chỉ nhằm phục vụ mục đích của một số nước
nên thường ko được các nước thành viên tuân theo.
Vd: Giá dầu đang giảm kỉ lục nhưng các nước OPEC không chọn cách giảm sản
lượng mà vẫn tiếp tục chính sách bơm, bơm, và bơm thêm dầu cho tới khi nào các
đối thủ ngoài khối như Nga và các nhà sản xuất dầu đá phiến của Mỹ, cũng như
11


-

các đối thủ trong nội bộ khối, bị vắt kiệt thị phần. Chính sách này do Saudi
Arabia, “anh cả” của OPEC, đi đầu trong hơn 1 năm qua.
Chính sách này đã bị các nước như Venexuela, Nigiêria,.. phản đối nhưng vẫn
phải tăng sản lượng theo để giữ thị phần.

Một số người nói OPEC đã chết, nội bộ của khối đang bị chia rẽ sâu sắc do các
chính sách về giá dầu.

12



×