Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN CỦA LUẬT PHÁ SẢN 2014 SO VỚI LUẬT PHÁ SẢN 2004

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (242.06 KB, 26 trang )

NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN CỦA
LUẬT PHÁ SẢN 2014 SO VỚI LUẬT
PHÁ SẢN 2004

A. GIỚI THIỆU CHUNG
Ngày 19/6/2014 Quốc hội đã thông qua LPS năm 2014. Luật này có hiệu lực từ ngày
1/1/2015, thay thế cho LPS 2004. Theo đó, LPS 2014 gồm 14 chương, 133 điều, có nhiều
nội dung mới so với LPS 2004 trong đó có 3 điểm mới cơ bản sau đây:
1.Xác định DN, HTX mất khả năng thanh toán:


LPS 2004
Khoản 3 quy định:

LPS 2014
Khoản 1 Điều 4:

“Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng
năng thanh toán được các khoản nợ đến thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã
hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản
vào tình trạng phá sản.”
nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến
hạn thanh toán”
Theo đó:
+ Tiêu chí xác định DN, HTX mất khả năng thanh toán là “không thực hiện nghĩa vụ
thanh toán” chứ không phải “không có khả năng thanh toán” như LPS 2004 nữa.
+Tiêu chí mất khả năng thanh toán không phụ thuộc vào số lượng khoản nợ nhiều hay ít
mà chỉ cần 1 khoản nợ. Quy định này khác so với LPS 2004 khi luật này yêu cầu phải là
“các khoản nợ”, tức phải có từ 2 khoản nợ trở nên.
- Thời điểm được xác định trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán mà
không phải là “khi chủ nợ có yêu cầu” như quy định tại LPS 2004.


2.Quy định mới về vai trò và điều kiện của Quản tài viên, Doanh nghiệp quản lý, thanh
lý tài sản:
LPS 2014 đã thay thế chế định tổ quản lý, thanh lý tài sản bằng một chế định hoàn toàn
mới là Quản tài viên và Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản:
+ LPS 2004 quy định việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản do Tổ quản lý, thanh lý tài sản thực hiện
+Thay thế quy định cũ, LPS 2014 quy định về hoạt động của Quản tài viên và Doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Theo đó, quản lý, thanh lý tài sản là một nghành nghề
kinh doanh có điều kiện.
3. Tuyên bố phá sản theo thủ tục rút gọn:
Trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định tại Khoản 3, Khoản
4, Điều 5 LPS 2014 mà DN, HTX mất khả năng thanh toán, không còn tiền, tài sản khác
để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản thì nộp đơn ghi rõ yêu cầu Tòa án giải
quyết phá sản theo thủ tục rút gọn.
KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TRONG LUẬT PHÁ SẢN 2014 SO VỚI


LUẬT PHÁ SẢN 2004
*Về cơ bản, trình tự tiến hành phá sản một doanh nghiệp, hợp tác xã bao gồm các
bước:
Luật PS 2004

Luật PS 2014

Nộp và thụ lý đơn yêu cầu

Nộp và thụ lý đơn yêu cầu

mở thủ tục phá sản


mở thủ tục phá

Mở thủ tực phá sản

Mở thủ tực phá sản

Thủ tục phục hồi

Thủ tục phục hồi

hoạt động kinh doanh

hoạt động kinh doanh

Thanh lý tài sản và các khoản nợ

Tuyên bố DN, HTX phá sản và tổ chức
thực hiện quyết định tuyên bố phá sản

Tuyên bố DN, HTX phá sản
Khác với cách tiếp cận của LPS năm 2004, thủ tục phá trong Luật 2014 quy định: Thanh
lý tài sản được thực hiện sau khi có quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản chứ
không còn là một thủ tục riêng biệt được tiến hành trước khi ra quyết định tuyên bố phá
sản như trước nữa.

SƠ ĐỒ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC PHÁ SẢN THEO LUẬT PHÁ SẢN 2014
Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản DN, HTX



Tòa án nhận đơn, xem xét đơn

Chuyển TA có thẩm
quyền

Trả lại đơn

Thông báo nộp lệ phí
phá sản, tạm ứng phí
phá sản

Thụ lý đơn kể từ ngày
Tuyên bố DN, HTX phá sản
nộp lệ phí, tạm ứng
trong trường hợp đặc biệt
phí phá sản

Thương
lượng
trước khi
thụ lý

Tòa án quyết định mở/không
mở thủ tục phá sản
Quyết định mở thủ tục phá
sản

Yêu cầu sửa đổi, bổ
sung đơn/ Trả lại đơn


Quyết định công
nhận sự thỏa
thuận của các
Thông báo quyết
định
mở
hoặc
không mở thủ tục
phá sản

Kiểm kê tài sản

Tuyên bố DN, HTX
phá sản trong trường
hợp không còn tài sản

Lập danh sách chủ nợ
Lập danh sách người mắc
nợ
Hội nghị chủ nợ

Ra quyết định tuyên bố phá
Đình chỉ thủ tục
sản
phục hồi
Thi hành quyết định tuyên bố
phá sảnLUẬT PHÁ SẢN 2004
SƠ ĐỒ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC PHÁ SẢN THEO
Thủ tục phục hồi


Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản DN, HTX
Thñ tôc phôc håi (tõThñ tôc thanh lý [§iÒu
§iÒu 68 ®Õn §iÒu79; §iÒu 80 (K1, K2)]


Tòa án nhận đơn, xem xét đơn

Chuyển TA có thẩm
quyền

Trả lại đơn

Tuyên bố DN, HTX phá sản
trong trường hợp đặc biệt

Thông báo nộp lệ phí
phá sản, tạm ứng phí
phá sản

Yêu cầu sửa đổi, bổ
sung đơn/ Trả lại đơn

Thụ lý đơn kể từ ngày
nộp lệ phí, tạm ứng
phí phá sản
Tòa án quyết định mở/không
mở thủ tục phá sản

Thông báo quyết

định mở thủ tục phá
sản

Quyết định mở thủ tục phá
sản
Kiểm kê tài sản
Lập danh sách chủ nợ
Lập danh sách người mắc
Hội nghị chủ nợ

Thủ tục phục hồi

Thủ tục thanh lý

Đình chỉ thủ tục
phục hồi

Thủ tục thanh lý

Một trong những điểm mới của LPS
Ra 2014
quyếtso
định
vớituyên
2004bố
là:phá
trong khoảng thời gian kể từ
sảnkhi Tòa án ra quyết định mở hay không
khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho đến
mở thủ tục phá sản thì doanh nghiệp vẫn có khả năng, cơ hội đạt sự thỏa thuận với chủ

Thñ tôc phôc håi (tõThñ tôc thanh lý [§iÒu
§iÒu 68 ®Õn §iÒu79; §iÒu 80 (K1, K2)]


nợ về việc rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 37).

B. PHÂN TÍCH ĐIỂM MỚI VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN LUẬT PHÁ SẢN 2014
SO VỚI LUẬT PHÁ SẢN 2004
I.THỦ TỤC NỘP ĐƠN VÀ THỤ LÝ ĐƠN YÊU CẦU MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN:
1. Chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
1.1. Chủ thể có quyền nộp đơn mở thủ tục phá sản:
a) Về chủ nợ:
LPS 2014 đã có thay đổi về điều kiện để chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản:
LPS 2004
Khoản 1 Điều 13 quy định:
“Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản thì các chủ nợ
không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một
phần đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác
xã đó.”

LPS 2014
Khoản 1 Điều 5 quy định:
“Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo
đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03
tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà
doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện

nghĩa vụ thanh toán”

->Chủ nợ có khoản nợ không có bảo đảm ->Chỉ cần chủ nợ có khoản nợ không có
hoặc có bảo đảm một phần phải chứng bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đã đến
minh được DN, HTX lâm vào tình trạng hạn 3 tháng mà không được DN, HTX
phá sản mới có quyền nộp đơn yêu cầu mở thanh toán là có quyền nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản
thủ tục phá sản
->Hướng thay đổi của LPS 2014 làm cho việc nhìn nhận thủ tục phá sản nhẹ nhàng hơn,
không tạo áp lực nặng nề của việc “khai tử” môt DN, HTX; đồng thời khắc phục tình
trạng lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ.
b) Người lao động:
LPS 2004
Khoản 1 Điều 14 quy định:
“Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác
xã không trả được lương, các khoản nợ
khác cho người lao động và nhận thấy
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình

LPS 2014
Khoản 2 Điều 5 quy định:
“Người lao động, công đoàn cơ sở, công
đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi
chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết


trạng phá sản thì người lao động cử người
đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với

doanh nghiệp, hợp tác xã đó.”

thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện
nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến
hạn đối với người lao động mà doanh
nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa
vụ thanh toán.”
Theo đó, so với LPS 2004, quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người lao
động ở LPS 2014 có nhiều điểm khác biệt:
+ Thứ nhất, căn cứ nộp đơn: của người lao động quy định khá rõ ràng – hết thời hạn 3
tháng kể từ ngày phải thanh toán tiền lương, các khoản nợ khác mà không được thanh
toán. Còn LPS 2004 không quy định, không đặt ra yêu cầu về thời gian nợ tiền lương, các
khoản nợ khác của DN, HTX.
+ Thứ hai, về các thức nộp đơn: LPS 2014 không còn bắt buộc người lao động phải nộp
thông qua cơ chế đại diện như trước đây mà có thể nộp trực tiếp khi chính người lao động
đó bị nợ lương.
->Hướng quy định mang tính mập mờ này có lẽ chưa thực sự hợp lý bởi vì người lao
động trong DN, HTX thường có số lượng lớn và việc nợ lương thường là nợ mang tính
tập thể. Vì vậy, nếu để cho cá nhân người lao động bất kì ai khi nợ lương đều được nộp
đơn thì có thể tạo ra sự tùy tiện trong việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ảnh hưởng
đến uy tín của DN, HTX bị nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. 1

c) Cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp tác xã:
LPS 2004
Khoản 1 Điều 17 quy định:
“1. Khi nhận thấy công ty cổ phần lâm vào
tình trạng phá sản thì cổ đông hoặc nhóm
cổ đông có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản theo quy định của điều lệ công
ty…. thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở

hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong
thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với
1 Trường

LPS 2014
Khoản 5 Điều 5 quy định:
“ Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ
20% số cổ phần phổ thông trở lên trong
thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá…. Cổ
đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20%
số cổ phần phổ thông trong thời gian liên
tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần

Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình pháp luật về chủ thể kinh doanh,
Nxb. Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, tái bản lần 1 có sửa đổi và bổ sung, năm 2016, tr.479.


công ty cổ phần đó.”

mất khả năng thanh toán trong trường hợp
Điều lệ công ty quy định.”
Khoản 6 Điều 5 quy định:
“Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện
theo pháp luật của hợp tác xã thành viên
của liên hiệp hợp tác xã có quyền nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hợp tác xã,
liên hiệp hợp tác xã mất khả năng thanh

toán.”

->Theo đó, LPS 2014 đã quy định thêm trường hợp:
+ “Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông liên tục ít nhất
6 tháng thì cũng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty mất khả năng
thanh toán nếu điều lệ công ty quy định.”
+ Trường hợp thành viên HTX hoặc người đại diện theo pháp luật của HTX thành viên
của liên hiệp HTX cũng có quyền nộp đơn.
->LPS 2014 đã mở rộng phạm vi và tạo điều kiện cho chủ thể cổ đông công ty cổ phần
thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu để bảo đảm quyền lợi của mình.
- Bên cạnh đó, ta thấy LPS 2014 đã bỏ trường hợp chủ thể “ Chủ sở hữu doanh nghiệp
nhà nước và thành viên hợp danh của công ty hơp danh có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản”. -> LPS 2014 đã chuyển quyền đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của thành
viên hợp danh của công ty hơp danh thành nghĩa vụ.
1.2. Chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
LPS 2004
Theo Điều 15 thì việc nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản là nghĩa vụ của:
-Chủ DN;
-Người đại diện hợp pháp của DN, HTX.
(chỉ quy định người đại diện nói chung->
có thể là người đại diện theo pháp luật và
đại diện theo ủy quyền)

LPS 2014
Theo Điều 5 thì việc nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản là nghĩa vụ của:
*Nhóm thứ nhất:
- Người đại diện theo pháp luật của DN,
HTX; (chỉ là người đại diện teo pháp luật)

*Nhóm thứ hai:
- Chủ doanh nghiệp tư nhân;
- Chủ tịch HĐQT của công ty cổ phần;
- Chủ tịch HĐTV của công ty TNHH hai


thành viên
- Chủ sở hữu công ty TNHH một thành
viên;
- Thành viên hợp danh của công ty hợp
danh. (trước kia LPS 2004 quy định việc
nộp đơn của chủ thể này là quyền chứ
không phải là nghĩa vụ)
=>Theo LPS 2014 thì các chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mở
rộng phạm vi hơn trong LPS 2004 ->Giúp đảm bảo cho việc chịu trách nhiệm của các
chủ thể này và bảo đảm quyền lợi của các chủ nợ.
- Một điểm mới nổi bật của LPS 2014 là: việc Khoản 5 Điều 28 Luật này quy định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản: “Những người theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 5 của Luật này không nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán
thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trường hợp có thiệt hại phát sinh sau thời
điểm doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán do việc không nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản gây ra thì phải bồi thường.”
->Quy định này tạo áp lực thúc đẩy các chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ nộp
đơn để giảm thiểu khả năng thất thoát thêm tài sản của DN, HTX mất khả năng thanh
toán, gây thiệt hại cho các chủ thể có liên quan.

Lưu ý:
Ngoài các điểm mới của LPS 2014 như đã trình bày ở trên thì tại Điều 6 của Luật này
còn có quy định mới về việc :

+ Thứ nhất, bất kì cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khi phát hiện DN, HTX mất khả năng
thanh toán đều có trách nhiệm thông báo cho những người có quyền và nghĩa vụ nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
+ Thứ hai, khi thông báo sai DN, HTX mất khả năng thanh toán mà gây thiệt hại cho
DN, HTX thì phải bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
2. Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
a) Thương lượng giuwac chủ nợ và DN, HTX trước khi Tòa án thụ lý đơn:
- Một điểm mới nổi bật trong LPS 2014 đó là việc tạo điều kiện cho chủ nợ và DN,
HTX bị nộp đơn thương lượng với nhau trước khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu phá
sản đối với DN, HTX được quy định tại Điều 37.Theo đó:
+ Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân nhận đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản hợp lệ, DN, HTX mất khả năng thanh toán và chủ nợ nộp đơn yêu cầu


mở thủ tục phá sản có quyền đề nghị bằng văn bản gửi Tòa án nhân dân để các bên
thương lượng việc rút đơn.
+ Thời gian thương lượng do Tòa ấn định nhưng không quá 20 ngày kể từ ngày nhận
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ
(Lưu

ý: Thủ tục thương lượng chỉ thực hiện trong trường hợp người nộp đơn chính

là chủ nợ chứ chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn khác)
->Quy định mới này nhằm hợp pháp hóa thực tiễn thực hiện thủ tục phá sản tại các Tòa
nhân dân, khi mà thực tế DN, HTX khi bị nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thường
thương lượng với người yêu cầu.
b) Tạm đình chỉ hực hiện hợp đồng đang có hiệu lực và đang thực hiện hoặc chưa được
thực hiện của DN, HTX:
- Theo Điều 61 LPS 2014: trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày Tòa nhân dân thụ
lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì nếu xét thấy việc thực hiện hợp đồng đang có hiệu

lực và đang thực hiện hoặc chưa được thực hiện sẽ có khả năng gây bất lợi cho DN,
HTX thì hợp đồng đó có thể bị tạm đình chỉ thực hiện. Người yêu cầu phải chứng minh
được khả năng gây bất lợi cho DN, HTX nếu hợp đồng tiếp tục thực hiện.
->Đây là quyết định quan trọng vì việc tạm đình chỉ (sau đó có thể là đình chỉ nếu DN,
HTX bị ra quyết định mở thủ tục phá sản) hợp đồng có thể dẫn đến việc DN, HTX phải
bồi thường thiệt hại cho bên kia, vì vậy làm tăng thêm nghĩa vụ tài chính mà DN, HTX
phải thực hiện.2
c) Thông báo quyết định không mở thủ tục phá sản:
- LPS 2014 còn quy định thêm về việc thông báo quyết định không mở thủ tục phá sản tại
Điều 43:
+ Quyết định không mở thủ tục phá sản của Tòa án nhân dân phải được gửi cho người
nộp đơn, doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản và Viện kiểm sát nhân
dân cùng cấp.
2 Trường

Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình pháp luật về chủ thể kinh doanh,
Nxb. Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, tái bản lần 1 có sửa đổi và bổ sung, năm 2016, tr.491.


LPS 2004 chỉ quy định về việc thông báo quyết định mở thủ tục phá sản mà không quy
định về việc thông báo quyết định không mở thủ tục phá sản.

d) Đăng ký giao dịch bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán:
- LPS 2014 còn quy định thêm về việc đăng ký giao dịch bảo đảm của doanh nghiệp,
hợp tác xã mất khả năng thanh toán tại Điều 69:
+Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán cho người khác vay tài sản mà
theo quy định của pháp luật phải đăng ký giao dịch bảo đảm nhưng chưa đăng ký thì
doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện ngay việc đăng ký.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện thì Quản tài viên, doanh nghiệp
quản lý, thanh lý tài sản phải thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm.

- Trước đây LPS 2004: Không có quy định này.

II. MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN:
1. Về việc lập danh sách chủ nợ:
LPS 2004
Khoản 1 Điều 51:
“Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày
cuối cùng đăng báo về quyết định của Toà
án mở thủ tục phá sản, các chủ nợ phải gửi
giấy đòi nợ cho Toà án, ….”

LPS 2014
Khoản 1 Điều 66:
“Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án
nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản,
chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ cho Quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản.”
->LPS 2014 chưa thực sự hợp lý khi quy định thời hạn 30 ngày tính từ khi ra quyết định
mở thủ tục phá sản bởi vì: các chủ nợ chỉ có thể biết được thông tin về quyết định mở thủ
tục phá sản khi họ nhận được thông báo của Tòa án, hoặc ít nhất là khi quyết định ngày
đã được đăng trên phương tiện thông tin đại chúng…Trong khi đó, thời hạn để Tòa án gửi
cho chủ nợ hoặc thực hiện công bố thông tin về quyết định này là 3 ngày từ ngày ra quyết
định. Như thế việc quy định thời hạn 30 ngày này là quá ngắn, không đảm bảo cho việc
thực hiện và không đảm bảo được quyền lợi của chủ nợ.


2. Về hội nghị chủ nợ:
- Thứ nhất, về điều kiện hợp lệ của hội nghị chủ nợ:
LPS 2004

LPS 2014
Khoản 1 Điều 65:
Khoản 1 Điều 79:
“ Quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại “Có số chủ nợ tham gia đại diện cho ít nhất
diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không 51% tổng số nợ không có bảo đảm.”
có bảo đảm trở lên tham gia;”
->Thay đổi của LPS 2014 theo hướng số chủ nợ tham gia hội nghị không phải là điều
kiện để hội nghị chủ nợ hợp lệ mà phải căn cứ trên số nợ và chỉ tính đến sự có mặt của
các chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần vì những chủ nợ này mới đảm
bảo cho khoản nợ không có bảo đảm.

- Thứ hai, vấn đề thông qua nghị quyết của hội nghị chủ nợ:
LPS 2004
Điểm d Khoản 1 Điều 64:
“ Hội nghị chủ nợ thông qua Nghị quyết.
Nghị quyết được lập thành văn bản và phải
được quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm
có mặt tại Hội nghị đại diện cho từ hai
phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở
lên thông qua….;”

LPS 2014
Khoản 2 Điều 81:
“Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ được
thông qua khi có quá nửa tổng số chủ nợ
không có bảo đảm có mặt và đại diện cho
từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở
lên biểu quyết tán thành….”

->Quy định về điều kiện thông qua nghị quyết như trên trong LPS 2014 áp dụng vào

thực tế sẽ nảy sinh một số vướng mắc. Về mặt lý thuyết, có thể xảy ra trường hợp ngay cả
tất cả các chủ nợ không có bảo đảm tham gia hội nghị không thể đại diện cho 65% tổng
số nợ không có bảo đảm được vì về nguyên tắc, tổng khoản nợ không có bảo đảm bao
gồm cả khoản nợ không có bảo đảm của chủ nợ có bảo đảm một phần. Đồng thời, việc
không tính đến sự biểu quyết của chủ nợ có bảo đảm một phần là không công bằng với
họ vì những chủ nợ này cũng có khoản nợ không được bảo đảm, thậm chí có thể lớn hơn


cả khoản nợ của chủ nợ không có bảo đảm.3
3. Quy định mới về vai trò và điều kiện của Quản tài viên, Doanh nghiệp quản lý, thanh
lý tài sản:
LPS 2014 đã thay thế chế định tổ quản lý, thanh lý tài sản bằng một chế định hoàn toàn
mới là Quản tài viên và Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản:
+ LPS 2004 quy định việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản do Tổ quản lý, thanh lý tài sản thực hiện được thành lập bởi quyết định
của Thẩm phán đồng thời với quyết định mở thủ tục phá sản theo Điều 9: “Thẩm phán ra
quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài
sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.”
+Thay thế quy định cũ, LPS 2014 quy định về hoạt động của Quản tài viên và Doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Theo đó, quản lý, thanh lý tài sản là một nghành nghề
kinh doanh có điều kiện (Điều 12, 13) có các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều
16.

4. Xác định tiền lãi đối với khoản nợ:
- Theo Điều 52 LPS 2014:
+Kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, các khoản nợ được tiếp tục tính lãi theo
thỏa thuận nhưng được tạm dừng việc trả lãi.
Trường hợp Thẩm phán ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản theo quy định tại
Điều 86 của Luật này, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh khi doanh nghiệp,
hợp tác xã đã thực hiện xong phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì việc tạm

dừng trả lãi chấm dứt, các bên tiếp tục thực hiện việc trả lãi theo thỏa thuận.
+Đối với khoản nợ mới phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản đến thời điểm tuyên bố
doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì tiền lãi của khoản nợ đó được xác định theo thỏa
thuận nhưng không trái với quy định của pháp luật.
+Kể từ ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì khoản
nợ không được tiếp tục tính lãi.
- Trước đây theo LPS 2004: Chưa có quy định cụ thể về vấn đề này, do vậy chưa có sự
thống nhất trong việc tính lãi đối với các khoản nợ, nên không bảo đảm quyền, nghĩa vụ
của các bên trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản.
3 Trường

Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình pháp luật về chủ thể kinh doanh,
Nxb. Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, tái bản lần 1 có sửa đổi và bổ sung, năm 2016, tr.509.


5. Về giao dịch bị coi là vô hiệu:
- Theo Điều 43 LPS 2004 thì: “Các giao dịch sau đây của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản được thực hiện trong khoảng thời gian ba tháng trước ngày Toà án
thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu:…”
- Còn theo Điều 59 LPS 2014 thì: “ Giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả
năng thanh toán được thực hiện trong thời gian 06 tháng trước ngày Tòa án nhân dân ra
quyết định mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu nếu thuộc một trong các trường hợp: …”

III. THỦ TỤC PHỤC HỒI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH:
Khái quát chung Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh LPS 2004 và LPS 2014
LPS 2004:
Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất

Ra Nghị quyết đồng ý


Thực hiện phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh

Thẩm phán ra quyết định công nhận
Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ


tổ chức lại HĐKD
DN, HTX, chủ thể khác xây dựng
phương án phục hồi HĐKD (30
ngày)

Hội nghị chủ nợ lần tiếp theo

Đưa cho TP xem xét
(15 ngày)

Thẩm phán đưa ra 1 trong 2 quyết
định

Đưa phương án phục hồi ra hội nghị
chủ nợ xem xét, quyết định

Đề nghị sửa đổi, bổ sung phương án
phục hồi

LPS 2014:
Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất

DN, HTX chính thức thực hiện

các phương án phục hồi HĐKD

Ra Nghị quyết đồng ý phục hồi HĐKD
DN, HTX xây dựng phương án
phục hồi kinh doanh (thời hạn
30 ngày).

Thẩm phán ra quyết định công
nhận nghị quyết của hội nghị
chủ nợ


Thông qua
Thẩm phán xem xét phương án
phục hồi (thời hạn 15 ngày)

Phương án phục hồi
Triệu tập

Hội nghị chủ nợ lần tiếp theo

=>Ta thấy rằng về cơ bản thì LPS 2014 đã có những điểm khác so với LPS 2004 về thủ
tục phục hồi HĐKD.
+ Ở LPS 2004 thì sau khi đưa cho Thẩm phán xem xét phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh thì TP sẽ có quyền đưa ra một trong 2 quyêt định: Có thể là đưa phương án
ra Hội nghị chủ nợ xem xét hoặc có thể đề nghị sửa đổi phương án phục hồi. Còn LPS
2014 thì không có quy định này (chi tiết sẽ phân tích ở phần sau).
+ Và thay đổi lớn thứ hai là về chủ thể xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh: LPS 2004 quy định bất cứ chủ thể nào cũng có quyền này. Tuy nhiên đến LPS
2014 thỉ chỉ quy định cho DN, HTX phá sản là chủ thể duy nhất.

Sau đây là phần trình bày chi tiết về những thay đổi của LPS 2014 so với LPS 2004 về
thủ tục phục hồi HĐKD.

1.

Về xây dựng phương án phục hồi:
LPS 2004

LPS 2014


Khoản 2 Điều 68 quy định:
“Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Hội
nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua Nghị
quyết, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản phải xây dựng phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh của
mình và nộp cho Toà án; nếu thấy cần
phải có thời gian dài hơn thì phải có văn
bản đề nghị Thẩm phán gia hạn. Thời hạn
gia hạn không quá ba mươi ngày
Trong thời hạn nói trên, bất kỳ chủ nợ
hoặc người nào nhận nghĩa vụ phục hồi
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
hợp tác xã đều có quyền xây dựng dự thảo
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
cho doanh nghiệp, hợp tác xã và nộp cho
Toà án.

Khoản 1 Điều 87 quy định:

“Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Hội
nghị chủ nợ thông qua nghị quyết có nội
dung áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động
kinh doanh thì doanh nghiệp, hợp tác xã
mất khả năng thanh toán phải xây dựng
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
và gửi cho Thẩm phán, chủ nợ, Quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản cho ý kiến”.

Ta thấy về việc xây dựng phương án phục hồi có 2 điểm mới là:
• Thứ nhất, LPS 2004 quy định: “doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản”.
LPS 2014 quy định: “doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán”.
=>Việc thay đổi này là hợp lý và giúp thống nhất các quy định khi LPS đã có quy định
khác về việc như thế nào được xem là DN, HTX mất khả năng thanh toán như đã trình
bày ở phần giới thiệc chung.
• Thứ hai, về chủ thể xây dựng phương án phục hồi HĐKD:
+ LPS 2004 thì quy định về những chủ thể có khả năng thanh toán là bất kỳ chủ nợ
hoặc người nào nhận nghĩa vụ phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp
tác xã đều có quyền xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh. + LPS 2014
đã bỏ quy định này chỉ quy định là sau khi mà DN, HXT xây dựng phương án phục
hồi hoạt động kinh doanh thì gửi cho những chủ thể là Thẩm phán, chủ nợ, Quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản để họ cho ý kiến của mình.
=> Quy định ở LPS 2014 vẫn đề cao việc xây dựng phương án phục hồi của DN, HTX là
duy nhất, việc quy định này giống với quy định của LPS 1993. Bởi vì, xét cho cùng, việc
phục hồi HĐKD là việc của các DN, HTX mất nghĩa vụ thanh toán nên thiết nghĩ chỉ có
họcó quyền trong việc xây dựng phương án phục hồi HĐKD. Tuy nhiên, trong LPS 2014
đã có cân bằng hơn về lợi ích là quyền của các chủ nợ thông qua việc DN, HTX phải gửi
phương án phục hồi HĐKD cho chủ nợ, chủ nợ có quyền được cho ý kiến trong vòng 10



ngày và DN, HTX tiếp thu ý kiến và hoàn thiện các phương án phục hồi HĐKD.
2. Thông qua phương án phục hồi:
*Thứ nhất:
LPS 2004

LPS 2014

Điều 70 quy định:
“Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ
ngày nhận được phương án phục hồi
hoạt động kinh doanh, Thẩm phán phải
xem xét phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh để ra một trong các quyết
định:
1. Đưa phương án ra Hội nghị chủ nợ
xem xét, quyết định;
2. Đề nghị sửa đổi, bổ sung phương án
phục hồi hoạt động kinh doanh nếu
thấy phương án đó chưa bảo đảm các
nội dung quy định tại Điều 69 của Luật
này”.

Khoản 4 Điều 87 quy định:
“Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh của Quản tài viên,
doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản,
Thẩm phán xem xét trước khi đưa
phương án ra Hội nghị chủ nợ xem xét

thông qua”.
Khoản 7 Điều 91 quy định:
“Trường hợp không tổ chức lại được
Hội nghị chủ nợ hoặc Hội nghị chủ nợ
không thông qua được Nghị quyết theo
khoản 5 Điều này thì Tòa án nhân dân
tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá
sản”.

Điểm mới của LPS 2014 so với LPS 2004:
- LPS 2004: Sau khi nhận được phương án phục hồi kinh doanh thì Thẩm phán xét xét đề
đưa ra 1 trong 2 quyết định: 1. Đưa phương án ra Hội nghị chủ nợ xem xét, quyết định;
2. Đề nghị sửa đổi, bổ sung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh nếu thấy
phương án đó chưa bảo đảm các nội dung quy định tại Điều 69 của Luật này”. LPS
2014 đã bỏ đi quyền thứ hai này của Thẩm phán, Thẩm phán trong Luật 2014 chỉ có
quyền xem xét.
=>Đối với LPS 2014, việc xem xét của Thẩm phán đối với phương án phục hồi do DN,
HTX xây dựng trước khi đưa ra hội nghị chủ nợ chỉ mang tính chất là việc thẩm định,
cho thêm ý kiến để phương án đó có tính thuyết phục hơn chứ không bắt buộc. Người có
quyền quyết định về việc phương án có được thông qua hay không là của các chủ nợ chứ
không phải thẩm phán. Xuất phát từ việc các phương án phục hồi kinh doanh đã được
gửi cho Thẩm phán, chủ nợ, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản cho ý
kiến (Khoản 2, 3 Điều 87 LPS 2014) thì phương án phục hồi hoạt động kinh doanh lúc
này đã được hoàn chỉnh rồi nên không cần thiết qua bước thẩm phán đưa ra quyết định


về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh như LPS 2004 nữa.
- LPS 2014 có quy định thêm về trường hợp hội nghị chủ nợ thông qua thông qua phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh không đủ điều kiện hợp lệ hoặc không thông qua
được nghị quyết thì DN, HTX sẽ bị ra quyết định tuyên bố phá sản.

*Thứ hai: Điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã

LPS 2004

LPS 2014

Khoản 2 Điều 71 quy định:

Khoản 5 Điều 91 quy định:

“2. Hội nghị chủ nợ xem xét, thảo luận “5. Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh. qua phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh khi được quá nửa tổng số chủ nợ
Nghị quyết về phương án phục hồi hoạt không có bảo đảm có mặt và đại diện cho
động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở
xã được thông qua khi có quá nửa số chủ lên biểu quyết tán thành.”
nợ không có bảo đảm có mặt đại diện cho
từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo
đảm trở lên biểu quyết tán thành.”

3. Thực hiện phương án phục hồi:
3.1. Thời hạn thực hiện phương án phục hồi:
LPS 2004
Điều 74 quy định:
“Thời hạn tối đa để thực hiện phương án
phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản là ba năm, kể từ ngày cuối cùng đăng
báo về quyết định của Toà án công nhận

Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, hợp tác xã.”

LPS 2014
Điều 89 quy định:
“Thời hạn để thực hiện phương án phục
hồi hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh
toán theo Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ
thông qua phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh.
2. Trường hợp Hội nghị chủ nợ không xác
định được thời hạn thực hiện phương án
phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh


nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh
toán thì thời hạn thực hiện phương án
phục hồi hoạt động kinh doanh là không
quá 03 năm kể từ ngày Hội nghị chủ nợ
thông qua phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh”.

 So với LPS 2004 thì LPS 2014 có linh động hơn về thời hạn thực hiện phục hồi.
Nó cho phép hội nghị chủ nợ được làm chủ hơn khi được quyết định thời hạn, bởi
vì đây là những việc liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ. Theo quy
định LPS 2014 thì thời hạn thực hiện phương án phục hồi trước hết được xác định
theo Nghị quyết của hội nghị chủ nợ sau đó nếu không xác định được thời hạn
trong hội nghị chủ nợ thì mới lấy thời hạn là 3 năm kể từ ngày hội nghị chủ nợ

thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh. Đây là một quy định mới
hoàn toàn so với LPS 2004.
3.2. Giám sát, thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh:
LPS 2004
Điều 73 quy định:
“….
2. Sáu tháng một lần, doanh nghiệp, hợp
tác xã phải gửi cho Toà án báo cáo về tình
hình thực hiện phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh ở doanh nghiệp, hợp tác
xã.
3. Chủ nợ có nghĩa vụ giám sát việc thực
hiện phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã

LPS 2014
Điều 93 quy định:
“….
2. Sáu tháng một lần, doanh nghiệp, hợp
tác xã phải lập báo cáo về tình hình thực
hiện phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã cho
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý,
thanh lý tài sản. Quản tài viên, doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách
nhiệm báo cáo Thẩm phán và thông báo
cho chủ nợ.

Ta có thể thấy trong vấn đề này thì LPS 2014 có một số điểm mới:
- Thứ nhất, LPS 2014 có quy định thêm là DN, HTX phải lập báo cáo gửi cho Quản tài

viên, doanh nghiệp quản lý, thành lý tài sản.
- Thứ hai, LPS 2014 quy định thêm việc quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản có trách nhiệm báo cáo Thẩm phán so với LPS 2004.
- Thứ ba, nếu như trong LPS 2004 thì chủ nợ phải có nghĩa vụ giám sát việc thực hiện
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã thì LPS 2014


không còn là nghĩa vụ của chủ nợ nữa mà Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý
tài sản có trách nhiệm báo cáo Thẩm phán và thông báo cho chủ nợ.
3.3. Đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh.
3.3.1 Căn cứ đình chỉ thủ tục phục hồi:
LPS 2004
Khoản 1 Điều 76:
“1. Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ
tục phục hồi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản nếu có một trong các trường
hợp sau đây:
…..
b) Được quá nửa số phiếu của các chủ nợ
không có bảo đảm đại diện cho từ hai
phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở
lên chưa thanh toán đồng ý đình chỉ”.

LPS 2014
Khoản 1 Điều 95:
“1. Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ
tục phục hồi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng
thanh toán nếu thuộc một trong các trường

hợp sau:
….
b) Doanh nghiệp, hợp tác xã không thực
hiện được phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh;
c) Hết thời hạn thực hiện phương án phục
hồi hoạt động kinh doanh nhưng doanh
nghiệp, hợp tác xã vẫn mất khả năng
thanh toán”.

=>So với LPS 2004, LPS 2014 có quy định khác biệt về căn cứ đình chỉ thủ tục phục hồi.
Theo quy định tại Điều 76 LPS 2004 thì việc đình chỉ thủ tục phục hồi được nhìn nhận ở
góc độ hoàn toàn tích cực, khi có quyêt định này, DN, HTX được coi là đã thành công
trong việc thực hiện thủ tục phục hồi. Bởi vậy, căn cứ để ra quyết định đình chỉ thủ tục
phục hồi chỉ bao gồm những căn cứ thể hiện thủ tục này DN, HTX đã thực hiện xong
hoặc dù chưa xong nhứng được sự đồng ý đình chỉ của chủ nợ chưa được thanh toán. Và
do vậy, quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi cũng dẫn đến một hệ quả pháp lý là DN,
HTX thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán và trở lại hoạt động bình thường.
IV.THỦ TỤC TUYÊN BỐ PHÁ SẢN:
Nếu như LPS 2004 quy định thủ tục thanh lý tài sản được thực hiện trước thủ tục tuyên
bố thì với LPS 2014, thủ tục tuyên bố phá sản lại được thực hiện trước so với thủ tục
thanh lý tài sản.
 Quy định việc tuyên bố phá sản của Tòa án được thực hiện trước thủ tục thanh lý tài sản

sẽ có tác động tích cực:


-

Thứ nhất, giúp cho Tòa án giải quyết nhanh thủ tục tuyên bố DN, HTX bị phá sản, tạo

điều kiện cho DN, HTX mất khả năng thanh toán được rút khỏi thị trường một cách hợp
pháp, qua đó, góp phần làm bình ổn nền kinh tế thị trường. Qua tổng kết thi hành Luật
phá sản năm 2004 của 63 Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì có 49. Tòa án có nhận đơn và giải
quyết tổng số 336 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản. Trong tổng số 336 đơn yêu cầu tuyên
bố phá sản, Tòa án đã ra 236 Quyết định mở thủ tục phá sản và trong đó ra 83 Quyết
định tuyên bố phá sản. Đây là một con số được xem là khá “khiêm tốn”, vì thực tế có
hàng nghìn DN, HTCX đã mất khả năng thanh toán nhưng Tòa án không thể ra quyết
định tuyên bố phá sản (vì các DN, HTX này vẫn còn tài sản nhưng không bán được hoặc
còn khoản nợ phải thu nhưng chưa thu hồi được nên phương án phân chia tài sản chưa
được thực hiện xong nên chưa thể ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản để từ đó
ra quyết định tuyên bố phá sản).

- Thứ hai, tạo sự tương thích với thông lệ quốc tế. Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế
giới khi giải quyết vụ việc phá sản đều tuân theo quy trình Tòa án tuyên bố phá sản rồi
mới tiến hành thanh lý tài sản, các khoản nợ. Việc đảo ngược trình tự như Luật phá
sản năm 2004 vừa không phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa gây khó khăn cho các doanh
nghiêp. Bởi lẽ khi tiến hành thủ tục thanh lý tài sản có nghĩa là doanh nghiệp lúc này
không còn khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh nữa, đồng thời lúc này chỉ còn các
khoản nợ khó đòi và tài sản không còn giá trị thương mại. Do đó, làm kéo dài thời gian
thanh lý khiến việc ra quyết định tuyên bố phá sản khó thực hiện.
1. Các trường hợp ra quyết định tuyên bố DN, HTX phá sản.
LPS 2004
Chỉ quy định các trường hợp ra quyết định
tuyên bố phá sản là 2 trường hợp được
quy định tại Điều 87:
1. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ
ngày hết thời hạn nộp tiền tạm ứng phí
phá sản do Tòa án ấn định, chủ doanh
nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh
nghiệp, hợp tác xã nộp đơn yêu cầu mở

thủ tục phá sản không còn tiền và tài sản
khác để nộp tiền tạm ứng phí phá sản thì
Toà án ra quyết định tuyên bố doanh
nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.
2. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản và nhận các tài liệu, giấy tờ do các
bên có liên quan gửi đến, Toà án ra quyết
định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị
phá sản, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản không còn tài sản

LPS 2014
Quy định rõ các trường hợp ra quyết định
tuyên bố phá sản:
1. Tuyên bố phá sản thoe thủ tục rút gọn:
Điều 105
2. Quyết định tuyên bố phá sản sau khi
chủ nợ không thành: Điều 106.
3. Quyết định tuyên bố phá sản sau khi có
nghị quyết của Hội nghị chủ nợ: Điều 107
4. Tuyên bố phá sản đối với các tổ chức
tín dụng: Điều 104.


hoặc còn nhưng không đủ để thanh toán
phí phá sản.
Thay đổi LPS 2014 so với LPS 2004 về các trường hợp ra quyết định tuyên bố phá sản:
 Quy định thêm:
- Quyết định tuyên bố tài sản sau khi hội nghị chủ nợ không thành.
- Quyết định tuyên bố phá sản sau khi có nghị quyết của HNCN:

+ Nghị quyết của HNCN có nội dung đề nghị tuyên bố phá sản đối với DN, HTX mất
khả năng thanh toán.
=> Đây là một quy định mới của LPS 2014 và là quy định hợp lý, thể hiện vai trò và
ý chí rất cao của chủ nợ trong thủ tục phá sản. Thực chất cho phép DN, HTX có cơ hội
được phục hồi hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ nợ thông qua hội nghị
chủ nợ. Bởi vậy, ngay từ hội nghị chủ nợ lần thứ nhất, nếu các chủ nợ không nhận thây
khả năng DN, HTX có thể phục hồi thì việc DN, HTX bị tuyên bố phá sản là điều chắc
chắn. Bởi vậy, để chủ nợ chủ động đề nghị tuyên bố phá sản đối với DN, HTX sẽ giảm
bớt thời gian kéo dài thủ tục không cần thiết.
- Tuyên bố phá sản đối với tổ chức tín dụng: LPS 2014 đã quy định thêm nguyên một
chương (Điều 97-104) về tổ chức tín dụng, trong đó có quy định về tuyên bố phá sản về
tổ chức tín dụng.

2. Thi hành quyết định tuyên bố phá sản:
a)Xác định các nghĩa vụ về tài sản của DN< HTX mất khả năng thanh toán:
LPS 2004
Điều 33 quy định:
“Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
được xác định bằng:
1. Các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác
xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản được xác
lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản mà nghĩa vụ này
không có bảo đảm;
2. Các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác
xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản có bảo
đảm được xác lập trước khi Toà án thụ lý

LPS 2014

Điều 51 quy định:
“1. Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp,
hợp tác xã được xác lập trước khi Tòa án
nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản
được xác định vào thời điểm ra quyết định
mở thủ tục phá sản.
2. Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp,
hợp tác xã được xác lập sau khi Tòa án
nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản
được xác định vào thời điểm ra quyết định
tuyên bố phá sản.
3. Trường hợp nghĩa vụ về tài sản quy


đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này
quyền ưu tiên thanh toán đã bị huỷ bỏ”
không phải là tiền thì Tòa án nhân dân xác
định giá trị nghĩa vụ về tài sản đó bằng
tiền”.

 LPS 2014 khi xác định các nghĩa vụ về tài sản của DN, HTX có những điểm mới so với
LPS 2004. Cụ thể, LPS 2004 căn cứ vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản, còn Luật 2014 thì căn cứ vào thời điểm Tòa án quyết định mở thủ tục phá
sản.
b)Hoàn trả khoản vay đặc biệt:
LPS 2004
Không quy định

LPS 2014
Điều 100: “Tổ chức tín dụng được vay đặc

biệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
tổ chức tín dụng khác theo quy định của
Luật các tổ chức tín dụng mà bị tuyên bố
phá sản thì phải hoàn trả khoản vay đặc
biệt này cho Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam, tổ chức tín dụng khác trước khi thực
hiện việc phân chia tài sản theo quy định
tại Điều 101 của Luật này.”,

Đây là một điểm mới của LPS 2014 so với LPS 2004. Việc hoàn trả khoản vay đặc biệt
này được áp dụng đối với tổ chức tín dụng bị tuyên bố phá sản trong trường hợp Ngân
hàng nhà nước Việt Nam tổ chức tín dụng khác cho vay để tiến hành việc phục hồi đặc
biệt trước khi tổ chức tín dụng bị thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Khoản vay này
là do Ngân hàng nhà nước phải tự cho vay hoặc chỉ định một tổ chức tín dụng khác cho
tổ chức tín dụng có nguy cơ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán để cứu tổ chức
này mà không phải là khoản vay xuất phát trên cơ sở tự nguyện như tất cả các khoản nợ
khác. Với tính chất và mục đích như vậy, khoản vay này đươc ưu tiên trả là hoàn toàn
hợp lý.
Quy định mới này là hoàn toàn phù hợp và khắc phục thiếu sót của luật cũ.
c) Thời hạn để đề nghị xem xét lại hoặc kháng nghị:

- Thời hạn để đề nghị xem xét lại hoặc kháng nghị ở LPS 2014 là 15 ngày kể từ ngày
nhận được quyết định quy định tại Điều 111. Ở LPS 2004 thời hạn này là 20 ngày.


- Ngoài ra LPS 2014 còn quy định trình tự Xem xét đơn đề nghị, kiến nghị theo thủ tục
đặc biệt tại Điều 113.
3. Đình chỉ thi hành quyết định tuyên bố phá sản:
LPS 2014 đã bổ sung thêm quy định về việc đình chỉ thi hành quyết định tuyên bố phá
sản so với LPS 2004 tại Điều 126. Theo đó:

“Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự quyết định đình chỉ thi hành quyết định tuyên bố
phá sản trong các trường hợp sau:
1. Doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản không có tài sản để thanh lý, phân chia;
2. Hoàn thành việc phân chia tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản;
3. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo Tòa án nhân dân đã giải quyết phá sản
và thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan về việc đình chỉ thi hành quyết
định tuyên bố phá sản.”

C. KẾT LUẬN

LPS 2014 đã có nhiều điểm mới về thủ tục phá sản so với LPS 2004, đặc biệt là việc
thanh lý tài sản được thực hiện sau khi có quyết định tuyên bố DN, HTX phá sản chứ
không còn là một thủ tục riêng biệt được tiến hành trước khi ra quyết định tuyên bố DN,
HTX phá sản như LPS 2004 nữa. Bên cạnh đó, có nhiều điểm mới nổi bật khác như: đã
thay thế Tổ quản lý, thanh lý tài sản bằng Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý
tài sản; đã quy định thủ tục phá sản rút gọn, thủ tục phá sản của tổ chức tín dụng và nghĩa
vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người quản lý doanh nghiệp; đã có sự phân
rạch rồi về mặt quyền hạn và nghĩa vụ,…
->Ta thấy rằng LPS 2014 đã khắc phục được nhiều hạn chế, bất cập của LPS 2004 trong
vấn đề về thủ tục phá sản: có những quy định phù hợp với thực tế và cũng có nhiều quy


×