Tải bản đầy đủ (.docx) (30 trang)

THỰC TRẠNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (133.92 KB, 30 trang )

MỤC LỤC

1


Mở Đầu
1. Lý do chọn đề tài
Doanh nghiệp lớn hay nhỏ, sở hữu nhà nước hay tư nhân, trong nước
hay có vốn đầu tư nước ngoài, đều phải đối mặt với bài toán hợp tác giữa các
cá nhân và giữa cá nhân với tập thể. Trong mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là
những doanh nghiệp quy mô lớn, là tập hợp những con người khác nhau về
trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa, mức độ nhận thức, quan hệ xã hội, tư
tưởng văn hóa…, chính sự khác biệt này tạo ra một môi trường đa dạng và
phức tạp thậm chí có những điều trái ngược nhau. Cùng với sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt của nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, buộc
các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển phải liên tục tìm tòi những cái mới,
sáng tạo và thay đổi cho phù hợp với thực tế. Trong khi doanh nghiệp nỗ lực
để tối đa hóa lợi nhuận, cá nhân có thể có mối quan tâm khác và sẵn sàng hy
sinh quyền lợi tập thể để theo đuổi mục đích riêng. Làm thế nào để doanh
nghiệp trở thành nơi tập hợp, phát huy mọi nguồn lực con người, tác động
(tích cực hay tiêu cực) đối với tất cả các yếu tố chủ quan, khách quan khác
nhau, làm gia tăng nhiều lần giá trị của từng nguồn lực con người con người
đơn lẻ, nhằm góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Những
giá trị, niềm tin mà mọi người làm việc trong doanh nghiệp cùng công nhận
và tin tưởng chính là Văn hóa doanh nghiệp. Có thể nói Văn hóa doanh
nghiệp đóng một vai trò then chốt trong việc giải quyết tận gốc rễ vấn đề
xung đột quyền lợi giữa cá nhân và tập thể. Bên cạnh vốn, chiến lược kinh
doanh thì sức mạnh của Văn hóa doanh nghiệp đã bám sâu vào trong từng
nhân viên, làm nên sự khác biệt giữa doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh.
Khi đó, chính Văn hóa doanh nghiệp làm nên sự khác biệt và là một lợi thế
cạnh tranh, những thành công của doanh nghiệp có bền vững hay không


chính là nhờ vào nền Văn hóa doanh nghiệp đặc trưng của mình.

2


2. Lịch sử nghiên cứu
+ Đề tài được phân tích dựa trên số liệu thực tế và không trùng lặp với
những bài báo cáo hay tiểu luận nào khác.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi giới hạn nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Các doanh nghiệp trên toàn lãnh thổ Việt
Nam.
+ Giới hạn nghiên cứu: Số liệu nghiên cứu được thu thập trong
khoảng thời gian năm 2013, năm 2014.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích: Phân tích thực trạng về Văn hóa doanh nghiệp ở Việt
Nam nhằm đưa ra các giải pháp phát triển tính Văn hóa doanh nghiệp cho các
công ty ở Việt Nam.
+ Nhiệm vụ:
- Phân tích thực trạng Văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng Văn hóa doanh nghiệp
- Đề ra những giải pháp phát triển Văn hóa doanh nghiệp cho các công
ty ở Việt Nam.
5. Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
+ Để đạt được những thông tin trong đề tài chủ yếu sử dụng phương
pháp thu thập thông tin, dữ liệu thứ cấp từ nhiều nguồn như: Internet, sách,
báo…
+ Sử dụng phương pháp thống kê mô tả là tập hợp tất cả các phương
pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu; đánh giá, so sánh, tổng hợp để
phân tích số liệu.


3


6. Giả thuyết khoa học
+ Một nền văn hóa tốt giúp Doanh nghiệp thu hút nhân tài và củng cố
lòng trung thành của nhân viên đối với Doanh nghiệp.
+ Việc các doanh nghiệp phải trở thành doanh nghiệp tự chủ để phù
hợp với kinh tế thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh chóng hình thành
quan niệm thị trường linh động, sát với thực tiễn.
7. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
+ Lý luận: có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định tạo ra những
lợi thế cạnh tranh như chất lượng sản phẩm, thời gian giao hàng, tác động đến
hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp
phụ thuộc rất lớn vào yếu tố văn hoá doanh nghiệp.
+ Thực tiễn: Ảnh hưởng trực tiếp to lớn đến việc hình thành mục tiêu,
chiến lược và chính sách, nó tạo ra tính định hướng có tính chất chiến lược
cho bản thân doanh nghiệp, đồng thời cũng tạo thuận lợi cho việc thực hiện
thành công chiến lược đã lựa chọn của doanh nghiệp.
8. Cấu trúc của đề tài.
- Chương 1: Cơ sở lý luận của Văn hóa doanh nghiệp.
- Chương 2: Thực trạng Văn hóa doanh nghiệp ở nước ta hiện nay.
- Chương 3: Giải pháp tăng cường Văn hóa doanh nghiệp hiện nay.

4


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Văn hoá
Văn hoá là một lĩnh vực tồn tại và phát triển gắn liền với đời sống của

nhân loại, là đặc trưng riêng có của con người, trên thế giới có rất nhiều định
nghĩa khác nhau về văn hoá. Năm 1952, Kroeber và Kluckolm đã sưu tầm
được 164 định nghĩa khác nhau về văn hoá. Cho đến nay, con số định nghĩa
chắc đã tiếp tục tăng lên. Định nghĩa văn hoá đầu tiên được chấp nhận rộng
rãi trên thế giới là định nghĩa do nhà nhân chủng học E.B Tylor đưa ra: “văn
hoá là một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật,
đạo đức, luật lệ, phong tục và toàn bộ những kỹ năng, thói quen mà con
người đạt được với tư cách là thành viên của một xã hội Còn Edward Hall
hiểu văn hoá là “Một hệ thống nhằm sáng tạo, chuyển giao, lưu trữ và chế
biến thông tin. Sợi chỉ xuyên suốt tất cả các nền văn hoá là truyền thông và
giao tiếp”. Văn hoá hiểu như vậy là văn hoá theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả
những gì con người đã tạo và văn hóa là một bản sắc của mỗi cá nhân, mỗi
dân tộc, mỗi quốc gia không ai có thể dễ dàng quên được.
Theo UNESCO có một định nghĩa khác về văn hoá: “Văn hoá phản
ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của
mỗi cá nhân và của mỗi cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang
diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ nó đã cấu thành một hệ
thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống và dựa trên đó từng dân
tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”. Như vậy văn hóa có nghĩa là truyền
thống lâu đời.
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương
thức sinh hoạt cùng với mọi biểu hiện của nó loài người sinh ra nhằm thích
ứng nhưng nhu cầu đời sống và sự đòi hỏi của sự sinh tồn”.
5


Văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ, là một bộ phận trong đời sống con
người, văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà bao gồm tất
cả vật chất. Ngoài các yếu tố phi vật chất như giá trị, tiêu chuẩn,… nền văn
hóa còn bao gồm cả những sáng tạo hữu hình của con người như những đền

đài, di tích lịch sử…
1.1.2. Văn hoá doanh nghiệp
Trong một doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp quy mô lớn,
là một tập hợp những con người khác nhau về trình độ chuyên môn, trình độ
văn hóa, mức độ nhận thức, quan hệ xã hội, vùng miền địa lý, tư tưởng văn
hóa,... chính sự khác nhau này tạo ra một môi trường làm việc đa dạng và
phức tạp thậm chí có những điều trái ngược nhau. Bên cạnh đó, với sự cạnh
tranh ngày càng gay gắt của nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa,
buộc các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển phải liên tục tìm tòi những cái
mới, sáng tạo và thay đổi cho phù hợp với thực tế. Làm thế nào để doanh
nghiệp trở thành nơi tập hợp, phát huy mọi nguồn lực con người, là nơi làm
gạch nối, nơi có thể tạo ra lực điều tiết, tác động (tích cực hay tiêu cực) đối
với tất cả các yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau, làm gia tăng nhiều lần
giá trị của từng nguồn lực con người đơn lẻ, nhằm góp phần vào sự phát triển
bền vững của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng và
duy trì một nề nếp văn hoá đặc thù phát huy được năng lực và thúc đẩy sự
đóng góp của toàn thể nhân viên vào việc đạt được các mục tiêu chung của tổ
chức. Vì vậy có thể khẳng định Văn hóa doanh nghiệp là tài sản vô hình của
mỗi doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp có thể được hiểu là toàn bộ các giá trị văn hoá
được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh
nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu
vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và
hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực
hiện các mục đích chung. Marvin Bower - Tổng giám đốc, McKinsey Co. đã
6


nói “Văn hóa doanh nghiệp là tất cả các thành tố mà chúng ta đang thực hiện
trong quá trình kinh doanh và di sản để lại cho thế hệ kế tiếp.”

Còn nhà xã hội học người Mỹ E.N.Schein đưa ra định nghĩa Văn hóa
doanh nghiệp như sau: "Văn hóa doanh nghiệp là tổng thể những thủ pháp và
quy tắc giải quyết vấn đề thích ứng bên ngoài và thống nhất bên trong các
nhân viên, những quy tắc đã tỏ ra hữu hiệu trong quá khứ và vẫn cấp thiết
trong hiện tại. Những quy tắc và những thủ pháp này là yếu tố khởi nguồn
trong việc các nhân viên lựa chọn phương thức hành động, phân tích và ra
quyết định thích hợp. Các thành viên của tổ chức doanh nghiệp không đắn đo
suy nghĩ về ý nghĩa của những quy tắc và thủ pháp ấy, mà coi chúng là đúng
đắn ngay từ đầu".
1.2.Vai trò của Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp có vị trí và vai trò rất quan trọng trong sự phát
triển của mỗi doanh nghiệp.
* Đối với bên ngoài:
- Tạo sự khác biệt với doanh nghiệp khác.
- Tạo sự hấp dẫn nhân tài.
- Tạo sự tin cậy của đối tác.
- Tạo được hình ảnh và thương hiệu của doanh nghiệp.
- Tạo được niềm tin của cộng động.
- Bảo vệ doanh nghiệp trước sự công phá từ bên ngoài.
* Đối với bên trong:
- Tạo sự đoàn kết, gắn bó bên trong doanh nghiệp.
- Xây dựng được những truyền thống tốt đẹp.
- Phát hiện những tài năng tiềm ẩn thông qua các hoạt động văn hóa.
7


- Xây dựng được niềm tự hào của nhân viên về công ty mình.
Văn hóa đươc tao ra như một cơ chế khẳng định mục tiêu của doanh
nghiệp, hướng dẫn và uốn nắn những hành vi và ứng xử của các thành viên
trong doanh nghiệp. Bất cứ một tổ chức nào cũng có một số hiểu biết ngầm,

những nguyên tắc vô hình tác động tới cách ứng xử hàng ngày tại nơi làm
việc… Điều đó được biểu hiện rõ nét khi những thành viên mới gia nhập tổ
chức, ngay từ đầu họ không được chấp nhận như những thành viên cũ, họ
phải học những nguyên tắc vô hình này của cán bộ quản lý, hay nhân viên cũ,
họ phải học những nguyên tắc của tổ chức đó. Sự vi phạm những nguyên tắc
vô hình này của cán bộ quản lý, hay nhân viên thực thi sẽ dẫn đến kết quả
khó được mọi người chấp nhận và thậm chí sẽ dẫn đến kết quả khó được mọi
người chấp nhận và thấm chí còn bị loại bỏ ra khỏi tổ chức. Sự tuân thủ
những nguyên tắc đó đóng vai trò là những căn cứ đầu tiên để được khen
thưởng, thăng tiến. Những người phù hợp, hay có một ảnh hưởng mạnh với
tổ chức cũng như các thành viên của tổ chức, có nghĩa họ phải là những
người có hành vi và cách ứng xử phù hợp với văn hóa đó. Không phải là một
sự trùng lặp mà tất cả các nhân viên của Công viên Disney trông rất hấp dẫn,
sạch sẽ, luôn nở một nụ cười tươi tắn. Đó chính là hình ảnh mà Disney muốn
mang lại cho mọi người. Văn hóa đó được thể hiện bằng những luật lệ và
nguyên tắc chính thống để đảm bảo rằng tất cả các nhân viên của Disney sẽ
hành động thống nhất và tuân thủ theo những hình ảnh đó.
Mặc dù tác động của Văn hóa doanh nghiệp đối với hoạt động của
doanh nghiệp có cả yếu tố tính cực và yếu tố cản trở, rất nhiều chức năng của
nó là có giá trị đối với doanh nghiệp cũng như các thành viên trong doanh
nghiệp. Văn hóa khuyến khích tính cam kết trong một doanh nghiệp, sự kiên
định trong cách ứng xử của các thành viên. Điều này rõ ràng là có lợi cho
một doanh nghiệp. Văn hóa cũng rất có giá trị đối với các thành viên trong
doanh nghiệp, bởi vì nó làm giảm sự mơ hồ của họ, nó nói với họ mọi việc
nên được làm như thế nào và điều gì là quan trọng.
8


1.3. Vai trò của Văn hóa doanh nghiệp trong hoạt động quản lý
Quản trị là tổng hợp các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo

hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực thực hiện của người khác. Hay nói
cách khác, quản trị chính là việc làm thế nào để sai khiến được những người
dưới quyền mình thực hiện công việc một cách hiệu quảm nhất để đạt được
mục tiêu chung. Mà muốn điều hành (sai khiến) được nhân viên thì nhà quản
trị nhất thiết phải nắm vững hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ
đaoh, nhận thức và phương pháp tư duy được họ đồng thuận, ảnh hưởng đến
cách thức hành động của họ (chính là Văn hóa doanh nghiệp). Vậy Văn hóa
doanh nghiệp chính là công cụ, phương tiện mà qua đó nhà quản trị thực hiện
công việc quản lý của mình. Song Văn hóa doanh nghiệp cũng có những ảnh
hưởng nhất định đến quyết định đến quyết định của người quản lý cũng như
định hình phong cách lãnh đạo của họ. Với những công ty có đặc trưng văn
hóa không chú trọng đến việc xây dựng niềm tin với người lao động, người
quản lý thường được sử dụng các biện pháp tập quyền, độc đoán, thay cho
các biện pháp phân quyền và dân chủ. Khi đã có được Văn hóa doanh nghiệp
thì sức ép về quản lý của ban lãnh đạo sẽ được giảm đi nhờ sự chia sẻ của cấp
dưới. Các nhân viên sẽ được quyền tự biết điều hành và cần phải làm gì trong
những tình huống khó khăn. Trong một môi trường tổ chức mà mọi người
đều tham gia chia sẻ thực sự thì vai trò của các giám đốc trong quản lý theo
văn hóa và quản lý bằng văn hóa.
Văn hóa doanh nghiệp ảnh hưởng tới hoạt động quản trị nói chung và
do đó ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động thuộc chức năng quản trị: quản trị
chiến lược, quản trị nhân lực, quản trị sản xuất, quản trị tài chính,
Marketing…
Mỗi tổ chức đều phải xây dựng những kế hoạch chiến lược để xây
dựng lộ trình và những chương trình hành động để tiến tới tương lai và hoàn
thành sứ mệnh (mục tiêu tổng quát) của tổ chức trong môi trường kinh doanh
đầy biến động như ngay nay. Đó chính là quản trị chiến lược mà sản phẩm
9



của nó chính là chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Thực vậy,chiến
lược kinh doanh giúp công ty thích nghi và nắm bắt các cơ hội thị trường
mục tiêu trong phạm vi khả năng và nguồn lực hiện hữu lẫn tiềm năng của
minh trong bối cảnh thường xuyên biến động của các yếu tố ngoại lai. Một tổ
chức có nền văn hóa mạnh sẽ tăng thêm sự quyết tâm của các thành viên,
phấn đấu vì giá trị và chiến lược chung của doanh nghiệp. Trái lại, một nền
văn hóa “yếu” dẫn tới tình trạng mơ hồ, quyết tâm và nhiệt tình của nhân viên
giảm sút, mâu thuẫn, hỗn độn, mất phương hướng. Hơn nữa, để soạn thảo
chiến lược (chuỗi quyết định nhằm định hướng phát triển và tạo ra sự thay
đổi về chất bên trong doanh nghiệp) thì cần phải thu thập thông tin. Cách
thức thu thập thông tin về môi trường hoạt động có ảnh hưởng rất lớn đến
việc định hướng chiến lược. Khi tiến hành thu thập thông tin và phân tích môi
trường kinh doanh, những người khảo sát và phân tích đều dựa trên những
giả thiết hay mô hình, cách thức sàng lọc nhất định làm cho tư liệu thu thập
mất đi một phần hiện thực, khách quan và tính toàn diện. Những tư liệu thu
thập được lại được diễn đạt theo những cách thức, ngôn ngữ thịnh hành trong
tổ chức, chúng đã chịu ảnh hưởng của đặc trưng văn hóa tổ chức. Có thể
khẳng định, Văn hóa doanh nghiệp luôn được thể hiện trong chiến lược kinh
doanh, và chiến lược kinh doanh cũng là bản kế hoạch lớn, “chương trình
hoạt động tổng quát” để triển khai Văn hóa doanh nghiệp.
1.4. Vai trò của Văn hóa doanh nghiệp đối với hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp có tác động toàn diện lên hoạt động của doanh
nghiệp:
* Tạo ra nhận dạng riêng cho doanh nghiệp đó, để nhận biết sự khác
nhau giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, giúp doanh nghiệp xây
dựng tên tuổi của mình. Sự khác biệt đó được thể hiện ra ở những tài sản vô
hình như: sự trung thành của nhân viên, bầu không khí của doanh nghiệp như
một gia đình nhỏ, đẩy nhanh tiến độ trong quá trình thảo luận và ra các quyết
10



định quản lý, sự tin tưởng của nhân viên vào các quyết định và chính sách
của doanh nghiệp, tinh thần đồng đội trong mọi công việc của doanh nghiệp

* Truyền tải ý thức, giá trị của doanh nghiệp tới các thành viên trong
doanh nghiệp đó.
* Văn hóa tạo nên một cam kết chung vì mục tiêu và giá trị của doanh
nghiệp, nó lớn hơn lợi ích của từng cá nhân trong doanh nghiệp đó. Giúp giải
quyết những mâu thuẫn thường nhật trong quá trình hoạt động của doanh
nghiệp.
* Văn hóa tạo nên sự ổn định trong doanh nghiệp: chính vì vậy mà có
thể nói rằng văn hóa như một chất kết dính các thành viên trong doanh
nghiệp, để giúp việc quản lý doanh nghiệp bằng cách đưa ra những chuẩn
mực để hướng các thành viên nên nói gì và làm gì.
Qua đó, Văn hóa doanh nghiệp thực hiện các vai trò của mình đối với
hoạt động của doanh nghiệp:
Văn hóa góp phần làm giảm mâu thuẫn, xây dựng khối đại đoàn kết:
Phần lớn các nhà nghiên cứu về văn hóa nhấn mạnh vai trò quan trọng
của văn hóa trong việc khuyến khích sự gắn kết xã hội trong doanh
nghiệp.Văn hóa được miêu tả như “chất keo” hay “xi măng” để kết nối các
thành viên của doanh nghiệp với nhau. Việc tạo ra một văn hóa chung sẽ tạo
ra sự thống nhất trong quan điểm nhìn nhận, đánh giá, lựa chọn và lợi ích
chung cho hành động của các nhân viên. Điều này rất có ý nghĩa đối với các
doanh nghiệp có mâu thuẫn và thiếu sự thống nhất về nội bộ. Hơn nữa, để tồn
tại và đáp ứng được sự thay đổi của môi trường, những vấn đề quan trọng mà
hầu hết các doanh nghiệp đều phải đối mặt đó là tạo ra sự thống nhất cao
trong việc thực hiện chức năng, chiến lược, mục tiêu đặt ra của doanh nghiệp.

11



1.5 Cấu trúc của Văn hóa doanh nghiệp
Trước đây, chúng ta thường cho rằng Văn hóa doanh nghiệp có hai
hình thức biểu hiện (hay 2 tầng) là trực quan và phi trực quan. Nhưng kể từ
năm 2010, khi đề xuất của Edgar H. Schein (người Mỹ) trong cuốn sách Văn
hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo của ông được dịch, xuất bản và sau đó tái
bản nhiều lần bằng tiếng Việt, đa số doanh nghiệp trong nước tán đồng với ý
tưởng cấu trúc Văn hóa doanh nghiệp gồm ba tầng: phần trực quan là tầng bề
mặt, hữu hình; phần phi trực quan được chia thành hai tầng là những giá trị
được thể hiện - tầng giữa, và những giá trị ngầm định - tầng lõi.
Sau nhiều năm nghiên cứu và tham gia xây dựng Văn hóa doanh
nghiệp cho các doanh nghiệp, người viết bài này đồng thuận cao với ý kiến
đề xuất của Edgar H. Schein, nhưng có vài điều chỉnh nhỏ ở tầng giữa và
tầng sâu (phần trình bày bên dưới) để nhấn mạnh ý tưởng cốt lõi, tạo thuận
lợi cho doanh nghiệp dễ dàng xây dựng và phát triển Văn hóa doanh nghiệp.
Tầng bề mặt gồm các sự vật, hiện tượng có thể nhìn, nghe, thấy khi
tiếp xúc. Đó là kiến trúc, cách bài trí nhà xưởng, trụ sở, nơi làm việc, sản
phẩm; các biểu tượng, logo, khẩu hiệu, ấn phẩm, tài liệu năng lực, quảng bá
của doanh nghiệp; đồng phục; lễ nghi, lễ hội hàng năm; những giai thoại của
doanh nghiệp... Đặc điểm chung của tầng bề mặt là chịu ảnh hưởng nhiều của
tính chất công việc kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, quan điểm của người
lãnh đạo... nên dễ thay đổi và chỉ thể hiện được bề nổi của Văn hóa doanh
nghiệp.
Tầng giữa gồm các giá trị được thể hiện, được tuyên bố. Đó là sứ
mệnh, tầm nhìn, chiến lược kinh doanh, mục tiêu kinh doanh, hệ thống các
quy tắc ứng xử, tổ chức bộ máy, các quy trình, quy định, hướng dẫn hoạt
động tại doanh nghiệp. Các nội dung của tầng giữa thể hiện chức năng hướng
dẫn cho các thành viên trong doanh nghiệp cách thức giải quyết những vấn đề
cơ bản và giúp cho các thành viên mới tiếp cận nhanh công việc tại doanh

nghiệp.
12


Tầng sâu hay tầng lõi của Văn hóa doanh nghiệp bao gồm triết lý kinh
doanh, các giá trị cốt lõi của doanh nghiệp và các ngầm định như niềm tin,
nhận thức, suy nghĩ và tình cảm có tính vô thức, mặc nhiên được công nhận
trong doanh nghiệp.
Nếu ví Văn hóa doanh nghiệp như là tòa nhà, thì bề ngoài là diện mạo
khoe màu sắc, phần giữa là khung sườn cho ngôi nhà vững chắc để thực hiện
các công năng của mình, còn phần lõi là nền móng quyết định chiều cao phát
triển của tòa nhà.
Tiểu kết
Như vậy, nội dung của Văn hóa doanh nghiệp không phải là một cái gì
đó tự nghĩ ra một cách ngẫu nhiên, nó được hình thành trong quá trình hoạt
động kinh doanh thực tiễn, trong quá trình liên hệ, tác động qua lại và quan
hệ, như một giải pháp cho những vấn đề mà môi trường bên trong và bên
ngoài đặt ra cho doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp thể hiện được những
nhu cầu, mục đích và phương hướng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
N.Demetr - nhà xã hội học người Pháp cũng cho rằng, Văn hóa doanh
nghiệp - đó là hệ thống những quan niệm, những biểu tượng, những giá trị, và
những khuôn mẫu hành vi được tất cả các thành viên trong doanh nghiệp
nhận thức và thực hiện theo. Điều đó có nghĩa là trong doanh nghiệp tất cả
các thành viên đều gắn bó với nhau bởi những tiêu chí chung trong hoạt động
kinh doanh. Chức năng chủ yếu của Văn hóa doanh nghiệp là tạo nên sự
thống nhất của mọi thành viên, trong doanh nghiệp. Ngoài ra, Văn hóa doanh
nghiệp còn đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích tập thể với lợi ích cá nhân và giúp
cho mỗi cá nhân thực hiện vai trò của mình theo đúng định hướng chung của
doanh nghiệp. Nhìn chung, Văn hóa doanh nghiệp động viên nghị lực và ý
chí của các thành viên trong doanh nghiệp và hướng tinh thần đó vào việc

phấn đấu cho mục đích của doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp còn góp
phần tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống
của riêng mỗi doanh nghiệp.
13


Chương 2: THỰC TRẠNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. Thực trạng văn hóa Việt Nam qua các thời kỳ
2.1.1. Trước thời kinh tế đổi mới
Trong những năm đất nước bị đô hộ, nhiều doanh nhân đã khởi xướng
những ý tưởng rất mới trong việc phát triển công thương nghiệp, hình thành
những nền móng đầu tiên của văn hoá doanh nghiệp nước ta. Đó là tinh thần
dân tộc trong kinh doanh, dũng cảm cạnh tranh với tư bản Pháp, Hoa lúc bấy
giờ đang thâu tóm thị trường. Lịch sử đã ghi lại tên tuổi những danh nhân
thời bấy giờ như: vua vận tải Bắc Việt – Bạch Thái Bưởi, chủ hãng sơn
Resistanco – Nguyễn Sơn Hà, chủ hãng xà phòng Cô Ba – Trương Văn Bền.
Đặc trưng nổi bật của xã hội Việt Nam trước thời kỳ đổi mới là một
xã hội làm ruộng và làm vườn, nền văn hoá truyền thống có sự phát triển ưu
tiên của các quan hệ đạo đức, dư luận xã hội trọng thị người làm ruộng và
người làm quan, nghề kinh doanh chỉ được đứng thứ hạng cuối cùng trong xã
hội. Trong cơ cấu xã hội truyền thống ấy, cả nhà doanh nghiệp và tầng lớp trí
thức đều bị coi nhẹ. Hậu quả của nó là không những khoa học tự nhiên không
được phát triển, các năng lực cá nhân không được giải phóng, mà cả hành lang
pháp lý cũng chưa sâu; chủ nghĩa kinh nghiệm, sự tuỳ tiện ăn rất sâu vào hệ
thống quản lý xã hội.
Thời kỳ thực hiện thể chế kế hoạch hoá tập trung, mọi việc trong
doanh nghiệp đều được thực hiện theo chỉ tiêu, pháp lệnh nên việc xây dựng
văn hoá doanh nghiệp không được xem xét tới; tác phong làm việc của các
cấp trên thì quan liêu, cửa quyền; còn nhân viên thì ỷ lại; hạn chế tính sáng

tạo và tinh thần kinh doanh của người quản lý doanh nghiệp; cả xã hội dường
như mất đi sự tích cực trong sản xuất.
Tuy nhiên trong thời kỳ này, có nhiều cán bộ quản lý doanh nghiệp đã
mạnh dạn tìm tòi, phát huy sáng tạo hình thành một số mô hình kinh doanh
14


có hiệu quả. Những mô hình này đã nêu lên một số nét văn hoá doanh nghiệp
thời kỳ đó: tinh thần dám nghĩ dám làm, năng động sáng tạo, vươn lên khắc
phục khó khăn thiếu thốn.
2.1.2. Hiện nay
Nhìn chung,văn hoá doanh nghiệp của nước ta còn có những mặt hạn
chế nhất định. Đó là một nền văn hóa được xây dựng trên nền tảng dân trí
thấp, môi trường làm việc có nhiều bất cập, dẫn đến có những cái nhìn ngắn
hạn, chưa có quan niệm đúng đắn về cạnh tranh và hợp tác, chưa có tính
chuyên nghiệp, còn bị ảnh hưởng bởi các tàn dư của nền kinh tế bao cấp,
chưa có cơ chế dùng người thỏa đáng vời từng vị trí làm việc, có sự bất cập
trong giáo dục và đào tạo. Mặt khác, Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam còn có
các yếu tố khác chi phối.
Thời phong kiến, đế quốc, lịch sử đã ghi lại tên tuổi của những doanh
nhân như Bạch Thái Bưởi được coi là “vua vận tải đầu thế kỷ XX”, Nguyễn
Sơn Hà chủ hãng sơn Resistanco đã dùng thương hiệu của mình đánh bại
nhiều hãng sơn đương thời. Trần Chánh Chiếu đã chủ trì nhiều cơ sở kinh
doanh, Trương Văn Bền với nhãn hiệu xà phòng Cô Ba nổi tiếng. Thời đó,
với phong trào canh tân đất nước đã kích thích nhiều người Việt lập ra những
hãng buôn lớn, đề cao tinh thần dân tộc trong kinh doanh. Qua đó có thể
khẳng định, trên khắp đất nước ta trong những năm bị đế quốc thống trị, đã
có nhiều doanh nhân thấu hiểu được nỗi đau mất nước, thân phận nô lệ, nên
quyết tâm đề cao tinh thần dân tộc trong kinh doanh - đó là một nội dung cơ
bản của Văn hóa doanh nghiệp thời đó.

Thời kỳ thực hiện thể chế kế hoạch hóa tập trung, văn hóa trong các
doanh nghiệp không thể hiện rõ nhưng trong thời kỳ này cũng xuất hiện một
số mô hình kinh doanh có hiệu quả, đã nêu lên một số nét đặc trưng của Văn
hóa doanh nghiệp thời kỳ đó, tinh thần dám nghĩ dám làm, năng động sáng
tạo vươn lên khắc phục khó khăn, thiếu thốn và là tiền đề Văn hóa doanh
nghiệp cho thế hệ doanh nhân, doanh nghiệp ngày nay kế thừa và phát triển.
15


Từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12 – 1986) và thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được chấp nhận mở ra cho các doanh
nghiệp, doanh nhân nước ta những điều kiện mới có ý nghĩa quyết định để
từng bước hình thành Văn hóa doanh nghiệp phù hợp với đặc điểm KT-XH ở
nước ta, đó là Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam và là động lực để phát huy
sức mạnh dân tộc cho công cuộc chấn hưng đất nước. Mọi người được tự do
phát huy tài năng, trí tuệ trong kinh doanh, làm giàu chính đáng cho mình và
cho đất nước. Công cuộc đổi mới đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển
dân doanh, đội ngũ doanh nhân mới, hình thành và phát triển văn hóa doanh
nhân mới, mở đường cho sự hình thành và phát triển của Văn hóa doanh
nghiệp Việt Nam.
Có thể khái quát lại: Văn hóa doanh nghiệp thể hiện trên hai mặt:
mục đích kinh doanh và phương pháp quản trị kinh doanh. Trong đó, mục
đích kinh doanh là quyết định toàn bộ hoạt động của mỗi doanh nhân và
doanh nghiệp.
Về mục đích kinh doanh:
1- Đạt hiệu quả và lợi nhuận cao cho cá nhân, cộng đồng.
2- Có tính nhân văn đối với con người trong xã hội và môi trường sinh
thái.
Về phương pháp quản trị kinh doanh, trong thực tế có những điểm
chung sau: Tuân thủ pháp luật quốc gia, quốc tế, bảo đảm tính minh bạch,

công khai trong sản xuất, kinh doanh; quan tâm, tuân theo các nguyên lý
quản lý khoa học và phải biết dựa vào khoa học mà tổ chức bộ máy quản lý,
thực hiện các phương pháp kinh doanh; biết áp dụng các công nghệ tiên tiến
trong điều hành sản xuất, kinh doanh; chú trọng sử dụng hợp lý các vị trí làm
việc của đội ngũ cán bộ, người lao động và phát huy tổng hợp các tiềm năng,
thực hiện sự cố kết của các nhân tố đó vì mục tiêu chung.
16


Sau năm 1986, chúng ta bắt đầu đổi mới tư duy và trước hết là tư duy
kinh tế, chế độ hai thị trường chuyển thành phát triển kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhân cách nhà
doanh nghiệp bắt đầu được coi trọng và việc kinh doanh, sự nghiệp đổi mới
đất nước là mốc thực sự quan trọng trong việcgiải phóng nhân cách các nhà
doanh nghiệp, xây dựng văn hoá doanh nghiệp lành mạnh. Trong một cuộc
điều tra xã hội học về nhận thức và thái độ xã hội đối với kinh doanh và
doanh nhân, 94% số người được hỏi cho rằng “ kinh doanh là một nghề có
ích cho xã hội” và vị thế của doanh nhân đang ngày càng được coi trọng.
Trước hết, phải nói rằng về mặt yếu tố, năng lực kinh doanh của người
Việt còn rất nhiều tiềm ẩn bởi sự thông minh, nhanh nhẹn, cần cù, dũng cảm
do nền văn hoá truyền thống tạo nên. Song về mặt cơ chế, nền văn hoá không
coi trọng thương nghiệp, không có khả năng giải phóng cá nhân, cố gắng giữ
gìn tính thống nhất của cộng đồng, do dó các yếu tố doanh nghiệp tiềm ẩn
không phát triển được. Khi bước vào nền kinh tế thị trường, trước bối cảnh
cạnh tranh gay gắt, để có thể đứng vững và vươn cao trong xã hội thì mỗi
doanh nghiệp phải tự mình xây dựng một nét đặc trưng riêng - đó chính là
văn hoá doanh nghiệp. Kinh tế và kinh doanh ở Việt Nam tuy còn chưa phát
triển mạnh, nhưng điều đó không có nghĩa là không cần hoặc chưa cần thiết
quan tâm tới văn hoá doanh nghiệp.Trái lại, các doanh nghiệp Việt Nam cần
tạo dựng sắc thái văn hoá trong hoạt động kinh doanh của mình. Nếu có định

hướng cùng với việc thực hiện tốt và sớm, đây sẽ là lợi thế của nước đi sau để
bắt kịp cũng như hội nhập với xu thế tiến vào xã hội thông tin và nền kinh tế
tri thức trong bối cảnh toàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới hiện nay.
Đất nước và con người Việt Nam cũng như các nước Châu á và
phương Đông khác giầu truyền thống văn hoá, trong nhận thức và phương
thức quan hệ, ứng xử hàng ngày đều thắm đượm sắc thái văn hoá - nhân văn,
do đó khi xây dựng văn hoá trong doanh nghiệp không phải là một điều quá
xa lạ, không cần tới sự tuyên truyền quá mức.
17


Đảng và Nhà nước ta cũng rất chú ý tới phát triển văn hoá trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội, coi phát triển văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân.
Đây là một trong nhiều động lực quan trọng giúp doanh nghiệp xây dựng văn
hoá của mình. Nhiều phương tiện thông tin đại chúng, diễn đàn khoa học,
trên các tạp chí đã đề cập tới vấn đề văn hoá doanh nghiệp giúp cho các
doanh nghiệp có thêm thông tin và một sự định hướng đúng đắn. Hơn nữa,
văn hoá doanh nghiệp chịu ảnh hưởng tích cực của văn hoá truyền thống thể
hiện rõ trong thái độ đối xử giữa người với người trong một doanh nghiệp,
các hoạt động nghi lễ, các phong tục của từng doanh nghiệp, cánh ứng xử đối
với đối tác, … Ngày nay các doanh nghiệp đã thể hiện được nhiều nét đẹp
trong văn hoá doanh nghiệp như: tài trợ, quà tết, giúp đỡ những gia đình khó
khăn, các hoạt động giao lưu, lễ hội, tổ chức sinh nhật, đám cưới, phục dưỡng
gia đình cách mạng. Cho đến nay, do vẫn còn đang phải cố gắng để trụ được
trong cạnh tranh nên trừ các liên doanh, nhìn chung các doanh nghiệp Việt
Nam vẫn còn chưa tạo dựng cho mình triết lý kinh doanh chung. Những hiện
tượng như hàng giả, hàng nhái, thái độ hách dịch, tác phong lề lối cũ còn phổ
biến của nhiều doanh nghiệp.Đi vào thị trường thế giới và khu vực mà không
có sắc thái kinh doanh riêng của mình sẽ không thể tồn tại lâu dài, bền vững

được.
2.2. Thực trạng văn hoá doanh nghiệp Việt Nam qua kết quả điều
tra xã hội học
Để có cái nhìn khách quan hơn trong việc đánh giá thực trạng văn
hoá doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, em đã tiến hành một cuộc điều tra xã
hội học về văn hoá doanh nghiệp trong các doanh nghiệp Việt Nam. Với
phương pháp điều tra chọn mẫu, cuộc điều tra diễn ra với quy mô nhỏ, số
phiếu phát ra là 100 phiếu, số phiếu thu về 88 phiếu, 85% số phiếu đạt yêu
cầu. Thời điểm tiến hành điều tra tháng 3 năm 2014, đối tượng điều tra tập

18


trung vào nhân viên trong các doanh nghiệp nhà nước, công ty TNHH, liên
doanh, doanh nghiệp tư nhân,…
Để có thể xây dựng và phát triển văn hoá doanh nghiệp thì bản thân
người lãnh đạo và nhân viên trước hết phải am hiểu đúng và có định hướng rõ
ràng. Đó sẽ là nền móng đầu tiên để xây dựng một văn hoá doanh nghiệp
vững chắc. Tuy nhiên trong số những người được hỏi chỉ có 18.5% hiểu kĩ về
văn hoá doanh nghiệp, 63% có hiểu biết bình thường về văn hoá doanh
nghiệp còn lại họ không hề biết hoặc hiểu rất ít. Đây là một khó khăn lớn
trong quá trình xây dựng văn hoá doanh nghiệp ở nước ta.
Các doanh nghiệp hiện nay đang phải cạnh tranh hết sức khốc liệt
và theo dự đoán thế kỷ XXI này sẽ là thế kỷ của thế hệ cạnh tranh thứ ba –
cạnh tranh về văn hoá doanh nghiệp, từ đó thấy được vai trò quan trọng của
văn hoá doanh nghiệp. Khi được hỏi về mức độ quan trọng của văn hoá
doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay 48% cho rằng văn hoá doanh nghiệp có
vai trò quan trọng, 22% đánh giá vai trò rất quan trọng của văn hoá doanh
nghiệp. Các phương tiện thông tin nhằm truyền bá văn hoá doanh nghiệp đến
với người lao động chưa rộng chỉ tập trung ở báo chí (63%), truyền hình

(33%), còn lại để có hiểu biết về văn hoá doanh nghiệp người lao động
thường thông qua doanh nghiệp mình, qua bạn bè và đồng nghiệp. Điều này
cho thấy Nhà nước chưa có một chính sách hợp lý trong việc truyền bá và
định hướng xây dựng văn hoá doanh nghiệp.
Trên là những đáng giá khái quát về văn hoá doanh nghiệp chung
trong toàn xã hội, còn với mỗi doanh nghiệp thì văn hoá doanh nghiệp của
mình được đánh giá như thế nào? 11% người được hỏi đánh giá văn hoá
doanh nghiệp mình rất tốt, 59% đánh giá tốt nhưng vẫn còn khoảng 5% đánh
giá văn hoá doanh nghiệp mình rất kém. Trong các doanh nghiệp Việt Nam
hiện nay việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp thường được xây dựng theo
cách: doanh nghiệp đưa ra các quy định về quan hệ, tiêu chuẩn làm việc,
khẩu hiệu hành động năm,… và sau đó quán triệt xuống nhân viên. Văn hoá
19


doanh nghiệp hiện nay thường được biểu hiện thông qua các mặt như: khẩu
hiệu hành động năm (63%), bài hát truyền thống (15%), đồng phục (48%),
giao lưu đối thoại (63%), picnic (37%),…Như vậy có thể thấy những biểu
hiện văn hoá doanh nghiệp còn chưa mạnh và chỉ thực sự tích cực ở một số
doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần phải xây dựng cho mình một sắc thái
riêng theo cách của mình nhưng không xa rời văn hoá truyền thống.
Tiểu kết
Như vậy, văn hoá doanh nghiệp nước ta đang trong quá trình xây dựng
và phát triển, bên cạnh những biểu hiện tích cực còn có những mặt tiêu cực.
Chính sự hạn chế này sẽ cản trở sự phát triển của doanh nghiệp, của quốc gia
trong nền kinh tế thị trường đặc biệt khi gia nhập AFTA và tiến tới gia nhập
WTO. Những mặt tích cực của văn hoá doanh nghiệp trong một số doanh
nghiệp điển hình sẽ là một bài học quý báu cho các doanh nghiệp Việt Nam
hiện nay, chúng ta cần phải học hỏi kinh nghiệm không những chỉ trong nước
mà phải cả những doanh nghiệp phát triển trên thế giới. Việc xây dựng văn

hoá doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn đang còn ở giai đoạn đầu nên còn
nhiều bất cập cần giải quyết. So với Nhật Bản và Hoa Kỳ chúng ta còn có rất
nhiều điều cần học hỏi.
Có thể chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng văn hoa doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay còn thấp:
• Nguyên nhân chủ quan: do chính doanh nghiệp không xây dựng văn
hoá doanh nghiệp dù họ hiểu được tầm quan trọng của nó, người lao động
chưa tự mình thực hiện văn hoá doanh nghiệp trong tổ chức của mình.
• Nguyên nhân khách quan:
+ Xã hội chưa hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc xây dựng văn hoá
doanh nghiệp.
+ Các chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước chỉ chú ý tới khía
cạnh kinh tế, môi trường…ít quan tâm tới khía cạnh văn hoá.
+ Còn thiếu định hướng xã hội nhằm tạo dựng văn hoá doanh nghiệp
và văn hoá kinh doanh.
20


+ Chưa thoát khỏi nền sản xuất nhỏ, mang nặng tính bao cấp.
+ Người lãnh đạo và nhân viên còn thiếu kiến thức sản xuất, chưa lĩnh
hội được vai trò của văn hoá doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp chỉ chạy
theo mục đích lợi nhuận mà không quan tâm phát triển văn hoá doanh nghiệp.

21


Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VĂN HÓA DOANH
NGHIỆP HIỆN NAY
Với tầm quan trọng của văn hoá doanh nghiệp và thực trạng văn hoá
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay thì việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp

Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI là một đòi hỏi mang tính cấp
thiết.Tháng 12/2002 Liên Hiệp Quốc đã thành lập uỷ ban thế giới về văn hoá
và phát triển, trong đó không thể không nói tới văn hoá doanh nghiệp.Tại
Việt Nam, VCCI đã tiến hành chương trình Diễn đàn doanh nghiệp trong đó
nội dung văn hoá doanh nghiệp được đề cập khá rõ.
3.1. Yêu cầu khi xây dựng văn hoá doanh nghiệp Việt Nam
Để xây dựng văn hoá doanh nghiệp Việt Nam, cần quan tâm tới các
vấn đề sau:
Một là, xây dựng văn hoá doanh nghiệp Việt Nam là một bộ phận của
việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Vấn
đề này đã được nói rõ trong Nghị quyết Hội Nghị Ban Chấp hành Trung ương
lần thứ năm (khoá VIII), đó là quan điểm cơ bản của Đảng trong suốt thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, cần đem
khí phách “phục hưng dân tộc” trong đấu tranh giải phóng đất nước thành ý
chí “phục hưng dân tộc” bằng tinh thần doanh nghiệp để tấn công vào nghèo
nàn, lạc hậu. Đồng thời khắc phục sự hạn chế của con người truyền thống,
phát huy cái hay vốn có và bổ sung những phẩm chất mới của thời đại. Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã nêu “Nâng cao tính văn hoá
trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân”
Hai là, xây dựng văn hoá doanh nghiệp Việt Nam nhằm mục tiêu đẩy
mạnh sản xuất-kinh doanh, là cơ sở phát triển nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa có tốc độ phát triển cao và bền vững. Sự phát huy
những thành công của Việt Nam sẽ góp phần xây dựng con người Việt Nam
22


về trí tuệ, đạo đức, tình cảm, có nhân cách tốt đẹp, có bản lĩnh vững vàng,
đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ba là, cần xây dựng thể chế xã hội trong kinh doanh, ở đó Luật Doanh
nghiệp làm trọng tâm, nhằm phát huy nội lực dân tộc phục vụ đất nước và

tăng cường sự quản lý của nhà nước với các hoạt động của doanh nghiệp.
Bốn là, cần xây dựng mạng lưới thiết chế kinh doanh nhằm quảng bá
các sản phẩm của văn hoá doanh nghiệp.Sản phẩm của văn hoá doanh nghiệp
là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực như đã nói ở trên. ở nước ta hiện
nay, các tổ chức như Phòng Thương Mại và Công Nghiệp, Hội doanh nghiệp
Việt Nam và các tổ chức xã hội- nghề nghiệp của các thành phần kinh tế khác
có vai trò rất to lớn trong việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp Việt Nam. Tại
Việt Nam, ngoài một số ít các hiệp hội doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả,
phần đông chưa đáp ứng được các yêu cầu của hội viên. Trong một cuộc khảo
sát gần đây, 32% số doanh nghiệp được hỏi không hài lòng với vai trò “đại
diện quyền lợi” của hiệp hội (phụ lục 5,6). Vì vậy để xây dựng văn hoá doanh
nghiệp Việt Nam cần phải nâng cao nhận thức và thống nhất quan niệm, bản
chất và vai trò của hiệp hội doanh nghiệp.
Năm là, cần coi trọng tổ chức xây dựng đời sống văn hoá kinh doanh
của từng hộ gia đình, tổ hợp tác, trang trại, doanh nghiệp cho đến các tập
đoàn kinh tế, đặc biệt phải xây dựng đời sống văn hoá của mọi thành viên
trong từng doanh nghiệp. Bởi vì, văn hoá của từng hộ gia đình, tổ hợp tác,
trang trại, doanh nghiệp cho đến các tập đoàn kinh tế là toàn bộ những giá trị
tinh thần có tác động đến tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên
trong tổ chức đó.
Xây dựng văn hoá doanh nghiệp Việt Nam cần được nhận thức là
công việc của toàn xã hội chứ không của riêng giới doanh nhân. Xã hội hoá
được coi là giải pháp quan trọng để tạo ra nguồn lực tinh thần của văn hoá
doanh nghiệp nói riêng và văn hoá kinh doanh nói chung.
3.2. Định hướng cho việc phát triển văn hoá doanh nghiệp Việt
Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI
23


Thách thức lớn nhất đối với quản lý trong thế kỷ XXI không phải là

vấn đề tài chính hay công nghệ mà là vấn đề phát triển nguồn nhân lực. Thực
chất đây là vấn đề quan hệ bên trong doanh nghiệp, nó bị chi phối bởi những
giá trị nền tảng của tổ chức và tác động trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. Để giải quyết những thách thức này các nhà quản trị cần phải
có sự thấu hiểu những giá trị gốc rễ nằm trong doanh nghiệp, đó chính là văn
hoá doanh nghiệp.
Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của sự toàn cầu hoá và cạnh tranh trở thành
động lực cho phát triển của doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế. Văn hoá
doanh nghiệp sẽ đóng vai trò then chốt trong việc giúp cho doanh nghiệp đạt
được các mục tiêu. TS Ngô Quý Nhâm đã đưa ra những định hướng cho phát
triển văn hoá doanh nghiệp Việt Nam thế kỷ XXI:
Thứ nhất, doanh nghiệp phải tạo dựng khả năng và thói quen tư duy
chiến lược. Chiến lược của doanh nghiệp phải xác định được những ưu tiên
về hoạt động của doanh nghiệp, năng lực và nguồn lực cần phát triển, khách
hàng mục tiêu và sản phẩm dịch vụ doanh nghiệp sẽ cung cấp cho khách
hàng đó, trên cơ sở đó tạo dựng vị thế cạnh tranh thành công trong ngành và
thực hiện mục tiêu đã xác định. Để đảm bảo khả năng thực hiện thành công
các chiến lược, từng đơn vị, bộ phận trực thuộc cũng như từng thành viên
trong doanh nghiệp phải hiểu rõ họ cần phải làm gì để đóng góp vào việc
thực hiện chiến lược đó.
Thứ hai, các giá trị văn hoá doanh nghiệp phải giúp doanh nghiệp tạo
dựng một khả năng thích ứng tốt với những thay đổi của môi trường kinh
doanh. Khả năng thích ứng của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc trước hết vào
khả năng sáng tạo và đổi mới - bao gồm cả việc áp dụng những cải tiến và
loại trừ những cản trở đối với sự phát triển. Học hỏi lẫn nhau và học hỏi từ
bên ngoài cùng tạo ra khả năng thích ứng của tổ chức. Sự biến động của môi
trường kinh doanh, công nghệ và phương pháp thực hiện công việc là rất
nhanh, đa dạng và phức tạp, do đó học hỏi sẽ giúp cho doanh nghiệp duy trì
được khả năng đổi mới. Muốn vậy, bên trong mỗi doanh nghiệp các thành
24



viên phải coi học tập là một mục tiêu quan trọng hàng ngày, tinh thần chấp
nhận rủi ro được khuyến khích, kiến thức thông tin được chia sẻ. Bên cạnh
đó, các hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có hoạt động đổi mới phải luôn
luôn hướng theo khách hàng. Tất cả các thành viên, từ lãnh đạo đến nhân
viên đều phải thấu hiểu rõ nhu cầu của khách hàng. Đó là cơ sở để đảm bảo
cho doanh nghiệp bám sát và phản ứng nhanh chóng với sự thay đổi của
khách hàng.
Thứ ba, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực con người và thực hiện chia
sẻ quyền hạn và trách nhiệm xuống các cấp quản lý thấp nhất trong tổ chức;
nhằm tăng cường khả năng giải quyết tốt hơn các vấn đề nội bộ của doanh
nghiệp, khơi nguồn các ý tưởng sáng tạo nội bộ và tăng cường năng lực đổi
mới của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nhà lãnh đạo cấp cao phải khuyến khích
cấp dưới tham gia vào quá trình ra các quyết định chiến lược và tiến hành uỷ
quyền mạnh mẽ và triệt để cho các cấp quản lý.Phát triển nguồn nhân lực và
uỷ quyền là hai hoạt động bổ trợ cho nhau.
Nhà kinh tế học nổi tiếng Peter F.Drucker đã từng nói: “Sự đóng góp
quan trọng nhất đối với quản lý trong thế kỷ XX là việc năng suất lao động
đã tăng 50 lần trong các hoạt động sản xuất. Nhưng đối với thế kỷ XXI thì đó
là sự tăng năng suất trí thức và nguồn nhân lực có trí thức. Nếu như tài sản có
giá trị nhất đối với mỗi công ty trong thế kỷ XX là công cụ sản xuất, thiết bị
và công nghệ thì trong thế kỷ XXI, sẽ là nguồn nhân lực có trí thức và năng
suất của nguồn nhân lực đó”.
Các doanh nghiệp phải tạo ra sự thay đổi trong phong cách quản lý
của mình nhằm tận dụng tối đa nguồn tri thức doanh nghiệp. Thực tế thì đây
là thách thức lớn của mỗi doanh nghiệp trong quá trình phát triển vì tri thức là
do nguồn nhân lực của tổ chức nắm giữ. Do vậy, sự thành công của mỗi
doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn nhân lực của mình và cách thức phát huy
sức mạnh tri thức nội bộ.

Sử dụng và phát huy tri thức doanh nghiệp cần phải trở thành một
điều kiện tiên quyết đối với mỗi tổ chức. Điều này nằm ở chỗ xây dựng một
25


×