Tải bản đầy đủ (.docx) (19 trang)

Chuyên đề công tác lãnh đạo các đoàn thể quần chúng của chi bộ, đảng bộ cơ sở ở đảng bộ khối các cơ quan trung ương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (116.8 KB, 19 trang )

Chuyên đề 6:
CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO CÁC ĐOÀN THỂ QUẦN CHÚNG
CỦA CÁC CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
Ở ĐẢNG BỘ KHỐI CÁC CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG
I. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÁC ĐOÀN THỂ CHÍNH TRỊ - XÃ H ỘI
TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH CÁC
ĐOÀN THỂ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRONG CÁC CƠ QUAN TRUNG
ƯƠNG
1. Vị trí, vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội trong
hệ thống chính trị
a. Vị trí của các đoàn thể chính trị - xã hội trong hệ th ống
chính trị
Trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức quần chúng do Đảng ta
thành lập và lãnh đạo luôn giữ một vị trí hết sức quan tr ọng. Ở
mỗi giai đoạn cách mạng, kể cả lúc thăng trầm hay cao trào, lúc
chưa có chính quyền và trong điều kiện đã giành được chính
quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội luôn là các thành viên chi ến
lược trong hệ thống chính trị.
Về cả lý luận lẫn thực tiễn, nếu hệ thống chính trị không có
các đoàn thể chính trị - xã hội thì nó không còn là t ổng th ể các l ực
lượng chính trị được vận hành trong cơ cấu ổn định và cũng có
nghĩa là không còn tổng thể các quan hệ chính tr ị để đảm bảo c ơ
chế vận hành của hệ thống chính trị nhằm phát huy quyền l ực
của nhân dân.
Vị trí của các đoàn thể chính trị - xã hội trong hệ thống
chính trị là vị trí mang tầm chiến lược, bởi nó là hình thức t ập
hợp lực lượng, là trung tâm đại đoàn kết dân tộc. Đặc trưng c ơ
bản của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là mang bản chất



giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân t ộc sâu sắc. M ọi
mục tiêu, cương lĩnh, nguyên tắc hoạt động của các đoàn thể
chính trị - xã hội đều thể hiện đậm nét đặc trưng này. Do đó, n ếu
thiếu vắng các đoàn thể chính trị - xã hội thì đặc trưng c ủa hệ
thống chính trị chỉ tồn tại trên danh nghĩa, hoặc sẽ bị méo mó.
b. Vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội trong hệ th ống
chính trị
- Vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội đối với việc phát
huy sức mạnh bộ máy tổ chức và hoạt động của Đảng.
Trong thực tế lãnh đạo, do nhiều nguyên nhân khác nhau
sức mạnh của Đảng nhiều khi chưa phát huy ngang tầm với đòi
hỏi của thực tiễn, “Đảng chưa đáp ứng được nhu cầu trong việc
giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, trong phong cách lãnh
đạo và cả trong rèn luyện phẩm chất cán bộ đảng viên” . (Đảng
Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.123).
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên cơ sở khắc phục
những hạn chế, khuyết điểm trong tổ chức và hoạt động của
Đảng là yêu cầu cấp bách, khách quan trong tình hình hiện nay.
Sức mạnh của Đảng chỉ có thể phát huy cao nhất thông qua tăng
cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Bởi vì, thông qua
thực tiễn mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân, Đảng
mới xây dựng được đường lối chính trị đúng đắn làm định hướng
cho mọi quá trình phát triển tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, Đảng mới phát hiện những khiếm khuyết trong lãnh đạo và
chỉ đạo thực tiễn, trong tổ chức và cán bộ của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “mỗi công việc của Đảng
phải giữ nguyên tắc và phải liên hệ chặt chẽ với quần chúng” và
“giữ chặt mối liên hệ với quần chúng, đó là nền tảng lực lượng
của Đảng mà nhờ đó Đảng thắng lợi”. Vai trò của các đoàn thể



chính trị - xã hội đối với việc phát huy sức mạnh của Đảng thể
hiện ở nhiều phương diện khác nhau. Với tư cách là cơ sở quần
chúng của Đảng, các đoàn thể chính trị - xã hội thông qua ho ạt
động của mình đã góp phần phát huy sức mạnh bộ máy tổ chức
Đảng, thể hiện ở các mặt sau:
+ Thực hiện tốt chủ trương, nghị quyết của Đảng về công
tác xây dựng Đảng nói chung, xây dựng bộ máy, tổ chức Đảng nói
riêng. Vận động toàn thể đoàn viên, hội viên phát huy tinh thần
làm chủ của mình trong việc xây dựng và bảo vệ Đảng; giám sát
hoạt động của cấp ủy cùng cấp để kịp thời phát hiện những sai
sót, khiếm khuyết của cấp ủy đảng trong công tác lãnh đạo trong
đơn vị.
+ Tuyên truyền vận động đoàn viên, hội viên thực hiện các
cuộc vận động lớn của Đảng nhằm xây dựng Đảng vững mạnh,
nâng cao uy tín của Đảng trong đời sống chính trị - xã hội. Thông
qua việc giáo dục chính trị - tư tưởng cho đoàn viên, hội viên các
đoàn thể đã phát hiện và bồi dưỡng những quần chúng ưu tú, tích
cực, có năng lực giới thiệu cho Đảng tiến hành kết nạp để đẩy
nhanh tốc độ, hiệu quả, chất lượng công tác phát triển đảng viên
mới của Đảng.
+ Các đoàn thể chính trị - xã hội phản ánh ý kiến của nhân
dân về các vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội cho Đảng để
Đảng kịp thời đề ra những chủ trương, chính sách hợp lý trong
quá trình lãnh đạo nhằm giải quyết, điều chỉnh cho phù h ợp v ới
thực tiễn.
- Vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội đối với việc phát
huy sức mạnh tổ chức và hoạt động của Nhà nước của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân.



+ Các đoàn thể chính trị - xã hội vận động đoàn viên, hội
viên thực hiện tốt quyền làm chủ, tham gia xây dựng bộ máy Nhà
nước.
+ Các đoàn thể chính trị - xã hội thực hiện tốt quyền làm
chủ, tham gia xây dựng chính sách, pháp luật.
+ Các đoàn thể chính trị - xã hội thực hiện tốt quyền làm
chủ, tham gia giám sát Nhà nước.
+ Các đoàn thể chính trị - xã hội tham gia các phong trào
quần chúng cùng Nhà nước thực hiện các chương trình kinh tế xã hội, phát huy hiệu quả quản lý Nhà nước.
2. Đặc điểm tình hình các đoàn thể chính trị - xã hội
trong các cơ quan Trung ương
a. Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Khối các cơ quan Trung ương được
tổ chức theo hệ thống dọc 3 cấp: Đoàn Khối (Đoàn cấp tỉnh), tổ
chức đoàn của các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương (Đoàn
cấp huyện) và cấp cơ sở.
Mô hình này đảm bảo đúng với quy định của Điều lệ Đoàn,
phù hợp với tình hình thực tiễn về hệ thống hành chính và mô
hình tổ chức đảng trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương.
Qua thực tiễn cho thấy, mô hình Đoàn Khối đảm bảo thực
hiện sự lãnh đạo của cấp ủy đảng cùng cấp, sự chỉ đạo của tổ
chức đoàn cấp trên, phát huy tốt vai trò, vị trí, chức năng, nhi ệm
vụ và hoạt động có hiệu quả.
Tính đến tháng 12/2012, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Khối các
cơ quan Trung ương có 57 tổ chức đoàn trực thuộc, trong đó: Có
29 đoàn cấp huyện, 21 đoàn cơ sở, 07 chi đoàn c ơ s ở. Có 1.022
đoàn cơ sở, chi đoàn cơ sở, chi đoàn trực thuộc các cấp bộ đoàn
trực thuộc Đoàn Khối.



Tổng số 767 cán bộ đoàn, trong đó chuyên trách 30 đồng chí.
Tổng số gần 60.000 đoàn viên đang công tác, học tập và lao động
trong nước và nước ngoài.
Các cấp bộ Đoàn trong Khối chú trọng công tác giáo dục
chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống, đạo đức lối sống, ý thức
pháp luật và bảo vệ Tổ quốc cho đoàn viên, thanh niên.
Cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời
Bác”, biểu dương, tôn vinh “thanh niên tiên tiến làm theo l ời Bác”
được triển khai sâu rộng khắp các tổ chức đoàn trong Khối.
Phong trào “5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo v ệ T ổ
quốc” và phong trào “4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập
nghiệp” được duy trì thường xuyên và rộng khắp trong các cấp bộ
đoàn.
Công tác chăm sóc, giáo dục thiếu niên được các cấp bộ
đoàn trong Khối quan tâm với nhiều hoạt động thiết thực, phong
phú. Các cấp bộ đoàn luôn chú trọng công tác xây dựng tổ chức
đoàn vững mạnh; tích cực tham gia xây dựng Đảng và cơ quan,
đơn vị. Trong 03 năm trở lại đây, toàn Khối đã giới thiệu được
9.450 đoàn viên ưu tú cho Đảng và có 6.765 đoàn viên ưu tú vinh
dự được kết nạp.
b. Tổ chức Hội Cựu chiến binh
Tính đến tháng 12/2012, trong số 62 cơ quan có đảng bộ
trực thuộc Đảng uỷ Khối đã có 29 cơ quan thành lập Hội C ựu
chiến binh. Trong đó, có 04 tổ chức cấp trên cơ sở và 25 tổ ch ức
cơ sở. Các cơ quan có tổ chức Hội Cựu chiến binh cấp trên c ơ s ở
gồm: cơ quan Bộ Tài nguyên và Môi trường với 10 tổ chức hội cơ
sở; cơ quan Bộ Tài chính với 18 tổ chức hội cơ sở; c ơ quan Bộ
Khoa học và Công nghệ với 12 tổ chức hội cơ sở; cơ quan Văn

phòng Trung ương Đảng với 09 tổ chức hội cơ sở. Tổng số tổ


chức Hội cơ sở hiện có là 74; số chi hội trực thuộc là 228 v ới tổng
số hội viên là 5363.
Các tổ chức Hội ở các cơ quan Trung ương hiện nay đều trực
thuộc Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam và chưa có cán
bộ chuyên trách.
Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, thủ trưởng
cơ quan và tổ chức Hội cấp trên, các Hội Cựu chiến binh của các
cơ quan Trung ương đã chủ động phối hợp với các tổ chức đoàn
thể khác trong cơ quan vận động hội viên thực hiện nhiệm vụ
chính trị của cơ quan, đơn vị; tích cực hưởng ứng và gương mẫu
thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh”.
Công tác giáo dục truyền thống, đền ơn đáp nghĩa đ ược các
cấp hội quan tâm thực hiện tốt nhằm động viên h ội viên gi ữ
vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, ghi nhớ công ơn của các anh
hùng, liệt sỹ, tổ chức thăm hỏi, động viên, t ặng quà gia đình h ội
viên có hoàn cảnh khó khăn, quyên góp ủng h ộ đ ồng bào b ị thiên
tai.
c. Tổ chức Công đoàn
Các tổ chức công đoàn ở các cơ quan Trung ương đang trực
thuộc các công đoàn ngành Trung ương, Công đoàn viên chức Việt
Nam và Liên đoàn lao động quận (ở 63 tỉnh, thành phố tr ực thuộc
Trung ương, tổ chức công đoàn ở cấp này chỉ duy nhất có một tổ
chức, đó là Liên đoàn lao động tỉnh hoặc thành phố).
- Công đoàn ngành Trung ương hiện có 07 tổ chức: Công
đoàn ngành Giáo dục, Công đoàn ngành Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, Công đoàn ngành Công Thương, Công đoàn ngành Xây

dựng, Công đoàn ngành Y tế, Công đoàn ngành Giao thông v ận t ải,
Công đoàn ngành Ngân hàng. Đây là 07 tổ chức cấp trên trực tiếp
của của 07 công đoàn cơ quan Trung ương. Các công đoàn ngành


Trung ương còn là cấp trên trực tiếp của các công đoàn ngành đ ịa
phương, có ngành xuống đến cấp huyện như ngành Ngân hàng.
- Công đoàn viên chức Việt Nam là tổ chức công đoàn cấp
trên trực tiếp của 63 tổ chức công đoàn. Các tổ chức công đoàn
trực thuộc này có quy mô, tổ chức không đồng nhất, trong đó
ngoài 51 tổ chức công đoàn có cấp ủy cùng cấp là những đảng ủy
trực thuộc Đảng uỷ Khối, còn có 11 tổ chức công đoàn có cấp ủy
cùng cấp là những cấp ủy cấp dưới của các đảng ủy cơ quan
Trung ương và 01 tổ chức Công đoàn cơ quan Đảng ủy Khối
doanh nghiệp Trung ương, số tổ chức công đoàn cơ sở chiếm trên
một nửa tổng số tổ chức công đoàn.
- Tổ chức công đoàn các cơ quan bộ, ban, ngành, đoàn thể
Trung ương có cấp ủy cùng cấp trực thuộc Đảng uỷ Khối: tất cả
59/62 cơ quan Trung ương có tổ chức đảng trực thuộc Đảng u ỷ
Khối đều có tổ chức công đoàn cùng cấp. Các tổ chức công đoàn
này trực thuộc một trong ba tổ chức công đoàn cấp trên trực tiếp.
Cụ thể: 07 tổ chức trực thuộc Công đoàn của 07 ngành, 51 t ổ
chức trực thuộc Công đoàn viên chức Việt Nam, 01 tổ chức tr ực
thuộc Liên đoàn lao động quận Hoàn Kiếm.
- Về quy mô: trong số 59 tổ chức công đoàn ở cấp này, có 34
tổ chức công đoàn cấp trên cơ sở, còn lại là cấp cơ sở.
Ngoài các tổ chức công đoàn trực thuộc Công đoàn các cơ
quan bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương còn một số công đoàn
cơ quan, đơn vị có cấp ủy cùng cấp trực thuộc đảng ủy cơ quan
Trung ương nhưng công đoàn không trực thuộc Công đoàn cơ

quan Trung ương, mà trực thuộc Công đoàn viên chức Việt Nam
hoặc các liên đoàn lao động quận, huyện. Cá biệt có c ơ quan
Trung ương có 12 đơn vị trực thuộc, nhưng công đoàn c ơ quan
này chỉ có 04 tổ chức công đoàn trực thuộc, 08 tổ chức công đoàn


còn lại trực thuộc liên đoàn lao động quận (Liên hiệp các H ội văn
học nghệ thuật Việt Nam).
Dưới các tổ chức công đoàn cơ sở là các công đoàn bộ phận,
tổ công đoàn.
Tất cả các tổ chức công đoàn thuộc Khối các cơ quan Trung
ương đều chịu sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ cùng cấp.
Tổng số tổ chức công đoàn và đoàn viên Khối các cơ quan
Trung ương:
Số tổ chức công đoàn trong Khối các cơ quan Trung ương
hiện có: 34 tổ chức cấp trên cơ sở, 247 công đoàn c ơ sở và 1.289
công đoàn bộ phận, tổ công đoàn trực thuộc các tổ chức công
đoàn bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương.
Tổng số đoàn viên công đoàn có hơn 97.000 người trên t ổng
số hơn 103.000 công chức, viên chức và người lao đ ộng. Cán b ộ
làm công tác công đoàn gần 4.000 đồng chí, trong đó cán bộ
chuyên trách có trên 100 đồng chí.
Cán bộ chuyên trách công tác công đoàn hầu hết hưởng
lương theo quỹ lương của các cơ quan, đơn vị và chịu sự quản lý
của cấp uỷ cùng cấp (sinh hoạt tại cơ quan chuyên trách công tác
đảng và đoàn thể).
Về kinh phí hoạt động của các tổ chức công đoàn trong hệ
thống 04 cấp đều được sử dụng từ 02% tổng quỹ lương của các
cơ quan, đơn vị và nguồn công đoàn phí (01% tổng lương của mỗi
đoàn viên công đoàn).

Được sự quan tâm, lãnh đạo của cấp ủy, sự chỉ đạo của tổ
chức công đoàn cấp trên, tổ chức công đoàn các cấp trong Khối các
cơ quan Trung ương những năm qua đã thu được nhiều kết quả
tốt trong các hoạt động tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với đoàn viên công đoàn
và người lao động. Tích cực hưởng ứng và triển khai các phong


trào thi đua do công đoàn cấp trên phát động, thu hút đông đảo
công nhân viên chức, người lao động tham gia, góp phần quan
trọng vào giữ vững ổn định chính trị, thực hiện thắng lợi các
nhiệm vụ chính trị của ngành, cơ quan, đơn vị. Tham gia xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh đã được công đoàn các cấp xác định
là trách nhiệm thường xuyên của tổ chức mình.
Công tác giáo dục, bồi dưỡng đoàn viên công đoàn ưu tú để
giới thiệu cho Đảng xem xét kết nạp được các cấp công đoàn chú
trọng tiến hành thường xuyên, có nền nếp. Công đoàn tham gia và
tổ chức vận động công nhân, viên chức, người lao động tham gia
kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan, đơn vị. Cử đại diện
tham gia các hội đồng xét và giải quyết quyền lợi của đoàn viên.
Phối hợp với thủ trưởng cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện quy
chế dân chủ, tổ chức hội nghị cán bộ, công chức trong đơn vị, chăm
lo bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của người lao
động.
II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, NHIỆM VỤ CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO
CÁC ĐOÀN THỂ QUẦN CHÚNG CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ Ở
ĐẢNG BỘ KHỐI CÁC CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG
1. Quan điểm chỉ đạo công tác vận động quần chúng
của Đảng
a. Quan điểm và tư tưởng chỉ đạo của Đảng về xây dựng giai

cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam
Quan điểm thống nhất và xuyên suốt trong quá trình h ơn 80
năm lãnh đạo cách mạng của Đảng về giai cấp công nhân là: Giai
cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội ti ền
phong là Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời là lực lượng nòng
cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.


Công đoàn là tổ chức trực tiếp vận động công nhân hăng hái
tham gia cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Công đoàn
muốn mạnh cần có cán bộ công đoàn tốt. Xây dựng giai c ấp công
nhân lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Đảng trong sạch, vững
mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng tổ chức công
đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức
chính trị - xã hội khác trong giai cấp công nhân vững mạnh.
Một trong 05 nhiệm vụ và giải pháp xây dựng giai cấp công
nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước được Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/01/2008 c ủa
Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) xác định là “ Tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ chức công đoàn và các
tổ chức chính trị - xã hội khác trong xây dựng giai cấp công nhân”.
Các quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng giai cấp
công nhân và tổ chức Công đoàn đã được Nhà nước từng bước thể
chế hoá với nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó văn
bản quan trọng nhất là Luật Công đoàn được Quốc hội thông qua
năm 1990, Luật này quy định những điều cơ bản nhất về v ị trí,
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức công đoàn và các
điều kiện bảo đảm hoạt động cho công đoàn. Trên cơ sở Luật
này, các cơ quan chức năng đã ban hành nhiều văn bản quy định

và hướng dẫn cụ thể tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức công đoàn
hoạt động.
b. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây
dựng hệ thống Cựu chiến binh Việt Nam
Quan điểm của Đảng về cựu chiến binh và Hội Cựu chiến
binh được thể hiện tập trung trong Nghị quyết số 09-NQ/TW
ngày 08/01/2002 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác cựu chiến binh Việt Nam trong giai đoạn
cách mạng mới:


Cựu chiến binh Việt Nam đã chiến đấu, trưởng thành trong
các lực lượng vũ trang nhân dân do Đảng thành lập, tổ chức và
lãnh đạo, được rèn luyện qua các cuộc kháng chiến oanh liệt, có
những cống hiến rất to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là lực lượng cách mạng tuyệt đối
trung thành với Đảng; có kinh nghiệm trong đấu tranh cách mạng
và xây dựng đất nước.
Công tác cựu chiến binh là một trong những công tác vận
động quần chúng quan trọng của Đảng.
Hội Cựu chiến binh Việt Nam là một tổ chức chính tr ị - xã
hội, đại diện ý chí và quyền lợi của cựu chiến binh, là thành viên
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là một cơ sở chính trị của chính
quyền nhân dân, một tổ chức trong hệ thống chính tr ị do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng về thành lập và
hoạt động của Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Nhà nước đã thể
chế hóa bằng Pháp lệnh Cựu Chiến binh, số 27/2005PLUBTVQH11, tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Hội
Cựu chiến binh Việt Nam.
c. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về thanh niên và tổ

chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Vị trí, vai trò và nhiệm vụ của thanh niên và Đoàn Thanh
niên luôn được Đảng khẳng định và chỉ rõ trong từng bước đi c ủa
cách mạng. Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, quan điểm của Đảng về thanh niên và công tác vận động thanh
niên được Đảng xác định trong Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày
25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) như sau:
Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai
của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo v ệ Tổ
quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự


nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế
và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đảng lãnh đạo công tác thanh niên và trực tiếp lãnh đạo
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Xây dựng Đoàn vững
mạnh là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, là
xây dựng Đảng trước một bước.
Quốc hội đã ban hành Luật Thanh niên (2005) là đạo luật
quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền, nghĩa vụ
của thanh niên, tăng cường giáo dục, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ
trưởng thành, phát triển và phát huy vai trò xung kích, sáng tạo
của thanh niên, xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và
xã hội trong việc đảm bảo việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của
thanh niên.
Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng về thanh
niên và công tác thanh niên, như: Chiến lược phát triển thanh
niên Việt Nam đến năm 2010 (ban hành năm 2003), chương trình
phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2004-2005 (ban hành
năm 2004)…Bên cạnh các chính sách trực tiếp tác động điều

chỉnh đối với thanh niên như trên, nhiều chính sách thuộc các lĩnh
vực giáo dục và đào tạo, dạy nghề, lao động, việc làm…mà thanh
niên là đối tượng thụ hưởng chủ yếu cũng đã được ban hành và
triển khai thực hiện.
d. Quan điểm của Đảng về đổi mới tổ chức bộ máy các đoàn
thể chính trị - xã hội
Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa X đã nêu 04 quan điểm của Đảng về đổi mới, kiện
toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, định hướng về đổi m ới bộ
máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội
như sau:


- Việc đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy phải phù hợp với
đặc điểm của hệ thống chính trị nước ta vận hành theo cơ chế
"Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" do m ột
đảng duy nhất lãnh đạo; phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế
và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giữ vững và
tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy phải nhằm bảo đảm các cơ quan
trong hệ thống chính trị hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, tinh g ọn,
khắc phục tình trạng quan liêu, trùng lặp, chồng chéo về chức
năng, nhiệm vụ hoặc tổ chức không phù hợp với chức năng, nhiệm
vụ. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của mỗi tổ
chức, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống
chính trị.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan đảng và cơ quan nhà
nước phải bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống, bảo đảm sự lãnh đạo
của Đảng trong hệ thống chính trị nước ta. Vừa xây dựng các cơ

quan của Đảng vững mạnh, đủ sức thực hiện chức năng, nhiệm
vụ, vừa phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng
viên trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể
chính trị - xã hội làm tham mưu cho Đảng.
- Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy phải vừa kế thừa
những thành quả, kinh nghiệm đã đạt được, vừa đáp ứng yêu c ầu
của tiến trình đổi mới đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Nhiệm vụ lãnh đạo công tác vận động quần chúng
của các chi bộ, đảng bộ cơ sở ở Đảng bộ Khối
a. Lãnh đạo các đoàn thể chính trị - xã hội là một nhiệm v ụ
của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Điều lệ Đảng khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với
các đoàn thể chính trị - xã hội trong Chương IX “Đảng lãnh đạo


Nhà nước và đoàn thể chính trị - xã hội” và Chương X “Đảng lãnh
đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh”.
- Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ
nghĩa xã hội bổ sung, phát triển năm 2011 đã tuyên bố vị trí cầm
quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội (...) là một bộ
phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quy ền
nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là
người lãnh đạo Mặt trận.”
Như vậy, lãnh đạo các đoàn thể chính trị - xã hội vừa là
nhiệm vụ vừa là quyền và nguyên tắc lãnh đạo của Đảng C ộng
sản Việt Nam, một đảng cầm quyền. Các cấp ủy, các tổ chức đảng
thuộc Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương phải trực tiếp lãnh
đạo các đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp trong đơn vị.

b. Các đoàn thể chính trị - xã hội hoạt động dưới sự lãnh đạo
của Đảng
- Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các đoàn thể.
“Đảng Cộng sản Việt Nam (...) là lực lượng lãnh đạo Nhà
nước và xã hội (Điều 4). “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân”
(Điều 9). “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công
nhân và của người lao động” (Điều 10)
- Luật Công đoàn và Điều lệ Công đoàn đều xác định tổ chức
Công đoàn hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Luật Công đoàn (1990), tại Chương I, Điều 1, khoản 1 viết
“Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng l ớn c ủa giai c ấp công
nhân và của người lao động Việt Nam (gọi chung là người lao


động) tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt
Nam;”
Điều lệ Công đoàn Việt Nam thông qua tại Đại hội Công
đoàn toàn quốc lần thứ X xác định: “Tổng Liên đoàn Lao động
Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo”.
- Pháp lệnh Cựu Chiến binh và Điều lệ Hội Cựu chiến binh
đều xác định tổ chức Hội Cựu chiến binh hoạt động dưới sự lãnh
đạo của Đảng.
Pháp lệnh Cựu chiến binh Việt Nam, tại Điều 3 quy định:
“Hội Cựu chiến binh Việt Nam là tổ chức chính tr ị - xã hội
trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.”
Điều lệ Hội Cựu chiến binh Việt Nam quy định:
“Hội Cựu chiến binh Việt Nam là một đoàn thể chính trị - xã

hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là một c ơ s ở
chính trị của chính quyền nhân dân, một tổ chức trong hệ thống
chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo ,” (Điều 1). “Hội
Cựu chiến binh mỗi cấp đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành
Đảng Cộng sản Việt Nam cùng cấp,” và “Hội được tổ chức dựa
theo hệ thống tổ chức của Đảng; tổ chức đảng của đơn vị tr ực
thuộc cấp ủy nào thì tổ chức Hội của đơn vị cũng trực thuộc tổ
chức Hội cấp tương ứng.” (Điều 9)
- Luật Thanh niên và Điều lệ Đoàn đều xác định hoạt động
dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Luật Thanh niên tại Điều 32 quy định: “Tổ chức thanh niên
bao gồm Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp
Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam và các t ổ chức khác
của thanh niên được tổ chức và hoạt động theo điều lệ của tổ
chức và trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật.”


Điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh: “Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính tr ị - xã h ội c ủa
thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch H ồ
Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện.” (phần mở đầu)
Do đó các đoàn thể chính trị - xã hội chịu sự lãnh đạo của
cấp ủy, tổ chức đảng cùng cấp.
III. NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CÁC ĐOÀN THỂ
QUẦN CHÚNG CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ Ở ĐẢNG BỘ KHỐI
1. Nội dung công tác lãnh đạo các đoàn thể quần chúng
của các chi bộ, đảng bộ cơ sở ở Đảng bộ Khối
- Tuyên truyền, vận động, giải thích cán bộ, đảng viên, công
chức, viên chức, người lao động, đoàn viên, hội viên các đoàn thể
nhân dân trong cơ quan, đơn vị thực hiện tốt các chủ trương, ngh ị

quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng sự
đoàn kết, nhất trí, đồng thuận trong cơ quan, phấn đấu hoàn
thành tốt nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, tham gia xây
dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh.
- Tổ chức phổ biến, học tập, triển khai thực hiện và chỉ đạo,
hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các
chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quyết định…của Trung ương và
cấp ủy đảng các cấp về công tác dân vận.
- Lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc
triển khai, tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị,
quyết định, hướng dẫn của Trung ương về công tác dân vận.
- Tổ chức cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn
viên, hội viên các đoàn thể nhân dân và người lao động tham gia,
đóng góp ý kiến xây dựng các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị,
quyết định của Đảng, Nhà nước có liên quan đến công tác dân
vận.


- Phát huy dân chủ, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công
chức, viên chức, người lao động, đoàn viên, hội viên các đoàn thể
nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng tổ
chức đảng, cơ quan, đoàn thể vững mạnh.
- Nắm bắt và giải quyết kịp thời tình hình tư tưởng, quan
tâm quyền và lợi ích chính đáng, chăm lo đời sống vật chất, tinh
thần, sự trưởng thành, tiến bộ, giải quyết bức xúc, vướng mắc,
khó khăn của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao
động, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân.
- Lãnh đạo, định hướng, tạo điều kiện cho các đoàn thể hoạt
động, tổ chức xây dựng thực hiện tốt hơn tôn chỉ, mục đính của
các tổ chức.

- Chăm lo, củng cố ban dân vận, phân công cán bộ làm công
tác dân vận, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, đảng viên về công
tác dân vận.
2. Phương thức lãnh đạo các đoàn thể quần chúng của
các chi bộ, đảng bộ cơ sở ở Đảng bộ Khối
- Cấp ủy, tổ chức đảng phải ban hành được nghị quyết
chuyên đề về công tác dân vận, chương trình công tác dân vận 6
tháng, hàng năm, quy chế công tác dân vận.
- Xây dựng cơ chế, nền nếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân
vận (giao ban, đối thoại, gặp gỡ, tiếp xúc, kiểm tra, đánh giá về
công tác dân vận…)
- Xây dựng các quy chế, quy định để phát huy dân chủ,
nguyên tắc, trách nhiệm cho cán bộ, công nhân viên chức, người
lao động trong xây dựng cơ quan, xây dựng đảng, thực hiện
nhiệm vụ chính trị.
- Cử cán bộ, đảng viên làm công tác dân vận, huy động đoàn
viên tham gia phong trào của quần chúng, đảng viên phải nêu


gương, vận động, cảm hóa, thuyết phục công nhân viên chức,
người lao động.
- Chỉ đạo, tổ chức các phong trào thi đua trong cơ quan, đơn
vị, lôi cuốn cán bộ, công nhân viên chức, người lao động tham gia.
- Thường xuyên thông tin các vấn đề liên quan đến công tác
dân vận, giới thiệu các điển hình tốt về công tác dân vận, cách
làm năng động, sáng tạo, hiệu quả cao về công tác dân vận,
gương sáng trong công tác dân vận.
- Động viên, khen thưởng kịp thời những điển hình tập thể,
cá nhân có thành tích trong công tác dân vận.
- Xây dựng mối quan hệ phối hợp cấp ủy - lãnh đạo - ban

cán sự đảng (hoặc đảng đoàn) trong công tác dân vận.
3. Đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu quả
công tác vận động quần chúng của các đoàn thể chính trị - xã
hội trong Đảng bộ Khối
- Đổi mới công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục
đoàn viên, hội viên nhận thức đầy đủ, đúng đắn về vị trí, vai trò,
chức năng, nhiệm vụ của các đoàn thể chính trị - xã hội.
- Nâng cao chất lượng các cuộc vận động, các phong trào thi
đua yêu nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; chăm lo và
bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên.
- Đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng và tập
trung hướng mạnh các hoạt động về cơ sở; phát huy tính năng
động sáng tạo trong công tác vận động quần chúng phù hợp v ới
đặc điểm của từng đơn vị.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy, đổi mới chính sách cán bộ của
các đoàn thể chính trị - xã hội đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung,
phương thức hoạt động.


- Tăng cường công tác quần chúng của chính quyền; thể chế
hóa cơ chế phối hợp giữa chính quyền với các đoàn thể trong đ ổi
mới nội dung, phương thức hoạt động.
- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy với việc đổi mới
nội dung, phương thức hoạt động của các đoàn thể trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập
quốc tế.




×