VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM NGỌC HÀ NY
CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ THỊ THANH HÀ
Phản biện 1: .............................................................
Phản biện 2: ..............................................................
Luận văn sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ họp tại Học viện khoa học xã hội ....... giờ ...... ngày ......
tháng ..... năm 2017.
Có thể tìm hiểu luận văn tại
Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biển và đại dương được các nhà khoa học công nhận là cội
nguồn của sự sống trên Trái đất. Không có biển và đại dương, cuộc
sống như được biết hôm nay có thể không tồn tại (Seibol và Berger,
1989). Bởi lẽ, biển và đại dương có nhiều chức năng quan trọng liên
quan tới sự sống của Trái đất. Nó hoạt động với tư cách là một "cỗ
máy điều hoà nhiệt độ" và "cỗ lò sưởi" khổng lồ có tác dụng điều chỉnh
cân bằng các cực trị nhiệt độ thịnh hành trên Trái đất và làm dịu các
ảnh hưởng khốc liệt của thời tiết như mưa bão, lũ, lụt, khô hạn,... Thiếu
biển và đại dương, các đại lục sẽ trở thành các sa mạc khô cằn, môi
trường sống của loài người trên Trái đất sẽ khắc nghiệt hơn.Trong bối
cảnh loài người đang phải đối mặt và nỗ lực ứng phó với những tác
động khôn lường của biến đổi khí hậu, thì biển và đại dương một lần
nữa lại chứng tỏ vai trò quan trọng toàn cầu của nó.
Theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 thì
nước Việt Nam ngày nay không chỉ có phần lục địa "hình chữ S" mà
còn có cả vùng biển rộng trên 1 triệu km2, chiếm khoảng 30% diện
tích Biển Đông, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền.Biển Việt Nam nằm ở
vị trí có nhiều tuyến đường biển quan trọng của khu vực cũng như của
thế giới. Từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển
Malắcca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi;
qua eo biển Ba-si có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của
Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Philippin,
Inđônêxia, Singapo đến Ôxtrâylia và Niu Di Lân... Đây là điều kiện
rất thuận lợi để ngành giao thông vận tải biển nước ta phát triển, thúc
đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá giữa nước ta với các nước khác trong
khu vực và trên thế giới. Dọc bờ biển có trên l00 địa điểm có thể xây
1
dựng cảng, trong đó, một số nơi có khả năng xây dựng cảng quy mô
tương đối lớn, kể cả cấp trung chuyển quốc tế. Tiềm năng tài nguyên
biển của nước ta tuy không được coi là vào loại giàu có của thế giới,
nhưng cũng rất đáng kể và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự
phát triển của đất nước.
Biển, đảo Việt Nam là địa bàn quan trọng trong phát triển kinh
tế đất nước. Hiện nay có trên 31% dân số cả nước sinh sống ở 28 tỉnh,
thành phố ven biển. Đa số các thành phố, thị xã đều nằm ở ven sông,
cách biển không xa, nhất là các thành phố, thị xã ở Trung Bộ nằm sát
ven biển, có đường quốc lộ 1A chạy qua. Khu vực ven biển cũng là
nơi tập trung các trung tâm công nghiệp lớn. Các tỉnh, thành phố ven
biển có các cảng, cơ sở sữa chữa, đóng tàu, đánh bắt hoặc chế biến hải
sản, làm muối… thu hút hơn 13 triệu lao động, giải quyết công ăn việc
làm, góp phần to lớn vào việc ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã
hội và an ninh quốc phòng.
Ý thức rõ vai trò to lớn của biển đối với sự sống cũng như phát
triển kinh tế - xã hội của nước ta, trong những năm đổi mới, Ðảng và
Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp quan
trọng nhằm quản lý, khai thác biển, phát triển kinh tế từ biển, đảo và
bảo vệ môi trường biển. Ngày 06-5-1993, Bộ Chính trị đã ra Nghị
quyết 03-NQ/TW về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển. Chỉ thị
399, ngày 05-8-1993, về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong
những năm trước mắt; Chỉ thị 171/TTg năm 1995 triển khai Nghị
quyết 03-NQ/TW. Ngày 22-9-1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số
20-CT/TW về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, một loạt
kế hoạch về phát triển kinh tế biển đã được thông qua, như: Chiến lược
phát triển thủy sản 2010; Chiến lược phát triển du lịch 2010; Chiến
lược phát triển giao thông vận tải 2010…Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp
2
hành Trung ương Đảng Khóa X đã thông qua Nghị quyết về Chiến
lược biển Việt Nam đến năm 2020 (Nghị quyết 09-NQ/TW, ngày 0902-2007)...
Tuy nhiên, thời gian gần đây, trước sức ép của tốc độ gia tăng
dân số ngày càng nhanh, nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng cao trong
bối cảnh các nguồn tài nguyên đất liền ngày càng cạn kiệt, càng đẩy
mạnh khuynh hướng tiến ra biển, khai thác biển, làm giàu từ biển.
Nhưng đi kèm với việc tăng cường khai thác tài nguyên biển lại là các
phương thức thiếu tính bền vững. Các hoạt động khai thác chủ yếu chỉ
tập trung vào các mục tiêu phát triển kinh tế để đạt được lợi nhuận tối
đa, trong khi xem nhẹ công tác bảo vệ môi trường. Đặc biệt trong bối
cảnh tác động của biến đổi khí hậu với các biểu hiện chính là sự gia
tăng mực nước biển và nhiệt độ của trái đất tăng cao đang làm cho
nhiều nguồn tài nguyên biển bị khai thác cạn kiệt, hệ sinh thái biển bị
đe dọa nghiêm trọng, môi trường biển nhiều nơi trở nên ô nhiễm đến
mức báo động.
Tỉnh Quảng Nam có 125 km bờ biển với nhiều bãi tắm đẹp lý
tưởng như: Hà My, An Bàng, Cửa Đại, Bình Minh, Tam Thanh, Biển
Rạng ... nơi đâu cũng hoang sơ, tràn đầy gió và ánh nắng mặt trời. Các
bãi tắm ở Quảng Nam đều có bãi cát trắng, mực nước nông, có độ mặn
vừa phải và quanh năm trong xanh. Thống kê của Sở TN&MT tỉnh
Quảng Nam, lượng nước thải từ các khu công nghiệp (KCN), cụm
công nghiệp (CCN) ước khoảng 23.600m3/ngày đêm, nhưng chỉ có
KCN Điện Nam – Điện Ngọc, Bắc Chu Lai và CCN Trường Xuân có
hệ thống xử lý nước thải tập trung với tổng công suất thiết kế khoảng
7.100m3/ngày đêm. Lượng nước thải còn lại chưa qua xử lý đổ xuống
sông suối, môi trường xung quanh.Vùng biển Cửa Đại, ngoài hiện
tượng nước biển dâng cao, xâm thực đất liền, còn tiếp nhận nguồn
nước ô nhiễm từ sông Vu Gia - Thu Bồn. Hoạt động khai thác, chế
3
biến khoáng sản sử dụng kim loại nặng và các hóa chất độc hại trên
thượng nguồn và một lượng nước thải không nhỏ xả ra từ các nhà máy
ở khu, cụm công nghiệp… là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường biển
rất cao. Nguồn nước phía hạ lưu Thu Bồn bị đe dọa bởi tốc độ phát
triển công nghiệp, đô thị. Sông Vĩnh Điện có nồng độ dầu mỡ ở mức
cao, sông Hoài chảy qua Hội An, qua kết quả quan trắc các năm cho
thấy, ngoài chất rắn lơ lửng còn có nhiều thông số dầu mỡ, hàm lượng
Sắt, Amoni Photphat và vi sinh Coliform bị ô nhiễm từ sự phân bố dân
cư đông đúc cùng hệ thống nhà hàng, khách sạn ven sông dày đặc.
Nước biển khu vực cảng Cửa Đại, Cửa Lở có hàm lượng sắt đều vượt
giới hạn bình thường...
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam thuộc Bộ TN&MT kiểm
kê tải lượng thải từ đất liền ra vùng biển ven bờ Quảng Nam - Đà Nẵng
cho thấy tổng lượng ô nhiễm hàng năm khoảng 92,6 nghìn tấn COD,
22,4 nghìn tấn BOD (Biochemical oxygen Demand- nhu cầu oxy sinh
hoá) là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật oxy hoá các chất hữu cơ ),
hơn 428 nghìn tấn tổng chất rắn lơ lửng, gần 83 tấn hóa chất bảo vệ
thực vật và khoảng 430 tấn kim loại nặng các loại. Theo dự báo, nước
biển ven bờ sẽ chịu sự tác động nặng nề hơn do thu hút đầu tư xây
dựng và đưa vào khai thác các dự án du lịch ven biển.
Nguyên nhân dẫn tới ô nhiễm môi trường biển cả nước nói
chung và biển Quảng Nam nói riêng có nhiều. Nhưng một trong
những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường biển tại Quảng
Nam là do việc thiếu chính sách bảo vệ môi trường biển, việc thực
hiện chính sách bảo vệ môi trường biển chưa nghiêm, chính sách khi
triển khai thực hiện còn nhiều bất cập chưa phù hợp với thực tiễn... Vì
vậy, học viên chọn đề tài “Chính sách bảo vệ môi trường biển từ thực
tiễn tỉnh Quảng Nam” làm luận văn chính sách công.
4
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Trong những năm qua, có rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài
nước đã nghiên cứu về bảo vệ môi trường (BVMT) biển và chính sách
bảo vệ môi trường biển. Tiêu biểu có các công trình sau:
2.1. Các công trình nghiên cứu về bảo vệ môi trường biển
2.2. Các công trình nghiên cứu về bảo vệ môi trường biển ở
Quảng Nam và việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển ở
Quảng Nam
Nhìn chung các công trình đề cập đến việc bảo vệ môi trường
biển, một số chính sách bảo vệ môi trường biển và đây là nguồn tài
liệu quý giá để học viên kế thừa và phát triển. Việc nghiên cứu chính
sách bảo vệ môi trường biển qua thực tế tỉnh Quảng Nam sẽ làm phong
phú thê nguồn tài liệu tham khảo và góp phần vào bức tranh chung bảo
vệ môi trường biển - vấn đề đang gây nhức nhối ở nước ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận
về chính sách bảo vệ môi trường và khảo sát, đánh giá thực trạng thực
hiện chính sách bảo vệ môi trường biển ở tỉnh Quảng Nam, trên cơ sở
đó luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm thực hiện hiệu quả
chính sách bảo vệ môi trường biển ở tỉnh Quảng Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của chính sách bảo vệ môi trường.
- Phân tích thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
ở tỉnh Quảng Nam trong những năm gần đây.
- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính
sách bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
5
- Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường ở tỉnh Quảng Nam hiện nay dưới góc độ chính sách công.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường của
tỉnh Quảng Nam từ năm 2010 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý
luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
đường lối của Đảng và chính sách pháp luật bảo vệ môi trường biển
của Nhà nước Việt Nam, của tỉnh Quảng Nam hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp: được sử dụng để phân
tích thực trạng và đánh giá kết quả thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường;
+ Phương pháp thống kê: được sử dụng để tập hợp thành các
chuỗi số liệu phản ảnh thực trạng, phục vụ cho việc phân tích và đánh
giá kết quả thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển.
+ Phương pháp quan sát thực địa: được sử dụng nhằm kiểm
nghiệm thực tế môi trường Biển ở địa bàn để nghiên cứu như một
chứng cứ về kết quả thực hiện chính sách ở địa bàn.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu và
biết vận dụng các kiến thức về đánh giá chính sách công để đánh giá
thực hiện chính sách bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển
nói riêng.
- Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng lý
luận về đánh giá chính sách công trong quá trình triển khai thực hiện
6
nhằm phát hiện các vấn đề bảo vệ môi trường biển và định hướng cho
việc giải quyết.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Các phân tích, đánh giá về thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường tại vùng biển Quảng Nam giúp nhìn nhận rõ hơn những kết
quả, những tồn tại và qua đó gợi ý, kiến nghị những giải pháp thúc đẩy
cũng như khác phục tồn tại.
- Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp những luận cứ từ thực tiễn ở
vùng Biển Quảng Nam liên quan đến các giải pháp quản lý môi trường,
thực hiện chính sách bảo vệ môi trường Biển.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn kết cấu 3 chương, 6 tiết
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách bảo vệ môi
trường biển.
Chương 2. Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển ở
Quảng Nam hiện nay – Thực trạng và nguyên nhân.
Chương 3. Một số giải pháp thực hiện hiệu quả chính sách bảo
vệ môi trường biển ở tỉnh Quảng Nam hiện nay.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm bảo vệ môi trường
Vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường chưa bao giờ nhân loại
nhắc đến nhiều như hiện này bởi nhân loại đang phải chứng kiến nhiều
thảm họa môi trường, sự cố môi trường, biến đổi khí hậu và những tác
7
hại của ô nhiễm môi trường gây ra cho con người trong thời gian gần
đây. Trước tình hình đó on người buộc phải bảo vệ môi trường.
Ở Việt Nam thuật ngữ bảo vệ môi trường được sử dụng lần đầu
tiên trong Pháp lệnh Bảo vệ rừng năm 1972. Nhưng do Việt Nam là
nước phải khắc phục nhiều ảnh hưởng của chiến tranh, là nước có nền
kinh tế chậm phát triển nên thời kỳ đó vấn đề bảo vệ môi trường chưa
đặt ra và ưu tiên giải quyết như những vấn đề khác. Đến năm 1998,
trước tình hình đất nước bị ô nhiễm môi trường do tác động của quá
trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Đảng ta đã ra Chỉ thị số
36/CT-TW ngày 25/6/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường
trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.. Nhưng do Việt
Nam là nước phải khắc phục nhiều ảnh hưởng của chiến tranh, là nước
có nền kinh tế chậm phát triển nên thời kỳ đó vấn đề BVMT chưa đặt
ra và ưu tiên giải quyết như những vấn đề khác. Đến năm 1998, trước
tình hình đất nước bị ô nhiễm môi trường do tác động của quá trình
CNH, HĐH đất nước Đảng ta đã ra Chỉ thị số 36/CT-TW ngày
25/6/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Chỉ thị khẳng định “Bảo vệ
môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; là
nhiệm vụ có tính chất xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa
đói giảm nghèo của mỗi nước với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến
bộ trên phạm vi thế giới”.
1.1.2. Khái niệm chính sách bảo vệ môi trường biển
1.1.2.1. Chính sách bảo vệ môi trường
1.1.2.2. Chính sách bảo vệ môi trường biển
1.2. Yêu cầu và các yếu tố bảo đảm chính sách bảo vệ môi trường
biển
1.2.1. Yêu cầu chính sách bảo vệ môi trường biển
Chính sách bảo vệ môi trường biển của nước ta hiện nay phải
8
đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:
Một là, chính sách bảo vệ môi trường biển phải là sự thể chế
hóa chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng về công tác bảo vệ môi
trường.
Hai là, chính sách bảo vệ môi trường biển phải bám sát thực
trạng môi trường của đất nước.
Ba là, chính sách bảo vệ môi trường biển đóng vai trò quyết
định cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
1.2.2. Các yếu tố đảm bảo xây dựng chính sách bảo vệ môi
trường biển
Một là, hệ thống pháp luật, chính sách bảo vệ môi trường biển
Hai là, ý thức, nhận thức của người dân và các chủ cơ sở sản
xuất gây ô nhiễm môi trường biển.
Ba là, bộ máy tổ chức quản lý năng lực và trình độ của đội ngũ
cán bộ thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển.
Bốn là, sự phối hợp của các bên liên quan.
1.3. Các bước thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển
Quá trình tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển
diễn ra trong thời gian dài và có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân
vì thế, để chính sách bảo vệ môi trường biển mang lại kết quả và hiệu
quả như mong muốn thì quá trình tổ chức thực hiện cần phải được thực
hiện thoe một quy trình khoa học, hợp lý và phù hợp với những điều
kiện khách quan của chính sách. Cụ thể các bước như sau:
Bước 1: Xây dựng chính sách bảo vệ môi trường biển trên cơ
sở chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn của địa
phương
Bước 2: Lập kế hoạch về quản lý môi trường biển
Bước 3. Phổ biến, tuyên truyền chính sáchbảo vệ môi trường biển
Bước 4, Thực hiện và điều hành chính sách bảo vệ môi trường
9
biển
Bước 5: Kiểm tra và hành động khắc phục
Bước 6: Tổng kết việc thực hiện chính sách và rút bài học kinh
nghiệm
CHƯƠNG 2
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở
QUẢNG NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ
NGUYÊN NHÂN
2.1. Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội Quảng
Nam tác động tới môi trường biển
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển
ở tỉnh Quảng Nam hiện nay
2.2.1. Định hướng chính sách bảo vệ môi trường biển Quảng
Nam
Trên cơ sở định hướng chính sách bảo vệ môi trường biển
Quảng Nam dự kiến sẽ thực hiện như sau: Gắn kết, lồng ghép phát
triển kinh tế, quy hoạch xây dựng, các quy hoạch ngành và quy hoạch
môi trường, thực hiện quản lý chất thải rắn tổng hợp, xây dựng các
đầu mối xử lý chất thải các cụm động lực, các đô thị, vùng sản xuất;
Xây dựng hệ thống quan trắc toàn vùng, tại các khu vực nhậy cảm, các
lưu vực sông. Định kỳ quan trắc, phân tích, đánh giá kết quả tổng hợp,
lập bản đồ môi trường toàn vùng. Quản lý, giám sát, cảnh báo và xây
dựng chương trình bảo vệ môi trường; Lập báo cáo đánh giá tác động
môi trường, quản lý môi trường các dự án, các khu vực nhạy cảm nhằm
giảm thiểu hoặc không xây dựng các dự án ảnh hưởng tới vùng sinh
thái đặc thù, vùng bảo tồn thiên nhiên.
10
2.2.2. Thực trạng chính sách bảo vệ môi trường biển của
tỉnh Quảng Nam
Một là, thực trạng xây dựng chính sách BVMT biển ở Quảng
Nam.
Thời gian qua, Quảng Nam đã có một số chính sách nhằm bảo
vệ môi trường của tỉnh nói chung và môi trường biển nói riêng. Được
thể hiện trong một số văn bản sau:
Bảng 2.1. Các Văn bản chủ trương chính sách bảo vệ môi trường
biển của tỉnh Quảng Nam
STT
1
2
3
4
5
6
7
Ký hiệu, thời điểm
ban hành
Số 4510/QĐUBND
ngày 24/11/2015
Số 1571/QĐUBND
ngày 17/5/2010
Số 2302/QĐUBND
ngày 23/7/2010
Văn bản
Phê duyệt quy hoạch mạng lưới quan trắc
môi trường tỉnh quảng nam giai đoạn 2016
-2020
Quyết định về việc Phê duyệt Chiến lược
BVMT tỉnh Quảng Nam đến năm 2015 và
định hướng đến năm 2020.
Quyết định về ban hành kế hoạch hành động
kiểm soát ô nhiễm môi trường trên địa bàn
tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2010-2015
Quyết định về việc phê duyệt Quy hoạch
Số 154 /QĐ-UBND
chất thải rắn tỉnh Quảng Nam giai đoạn
ngày 12/01/2011
2011-2020.
Chỉ thị v/v tăng cuờng công tác bảo vệ môi
Số 30/CT-UBND
trường tại các khu dân cư tập trung, các
ngày 28/9/2011
vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh
Quyết định phê duyệt kế hạch hành động Đa
Số 3603/QĐdạng sinh học tỉnh Quảng Nam đến năm
UBND
2015 và định hướng đến năm 2020
ngày 09/11/2011
Quyết định ban hành kế hoạch thực hiện
Số 3260/QĐNghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về
UBND
một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực
ngày 26/10/2014
BVMT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Cơ quan
ban hành
UBND
tỉnh
UBND
tỉnh
UBND
tỉnh
UBND
tỉnh
UBND
tỉnh
UBND
tỉnh
UBND
tỉnh
(Nguồn tổng hợp của tác giả)
Quyết định số 1571/QĐ-UBND ngày 17/5/2010 của UBND
tỉnh Quảng Nam về việc Phê duyệt Chiến lược BVMT tỉnh Quảng
11
Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
Quyết định số 4510/QĐ-UBND ngày 24/11/2015 của UBND
tỉnh Quảng Nam về việc Phê duyệt quy hoạch mạng lưới quan trắc
môi trường tỉnh quảng nam giai đoạn 2016.
Quyết định số 3603/QĐ-UBND ngày 09 tháng 11 năm 2011của
UBND tỉnh Quảng Nam về việc phê duyệt kế hoạch hành động Đa dạng
sinh học tỉnh Quảng Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
2.3. Thành tựu trong BVMT biển tỉnh Quảng Nam hiện nay
Một là, nhận thức về bảo vệ môi trường của các cấp ủy, tổ chức
đảng và trong hệ thống chính trị được nâng lên rõ rệt
Hai là, ngăn ngừa, hạn chế tác động xấu đến môi trường nói
chung và môi trường biển nói riêng.
Ba là, cải thiện môi trường các khu công nghiệp, cụm công
nghiệp
Bốn là, bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên đa dạng sinh
học
Năm là, nâng cao năng lực quản lý môi trường
Từng bước kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi
trường cấp tỉnh, huyện, thành phố và xã, phường, thị trấn
Sáu là, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng
2.4. Một số hạn chế trong việc thực hiện chính sách bảo vệ
môi trường biển ở Quảng Nam hiện nay
- Hạn chế trong xây dựng chính sách bảo vệ môi trường biển.
Một số văn bản pháp luật về bảo vệ môi trườngvẫn còn thiếu và bất
cập, có sự chồng chéo giữa các văn bản pháp lý của Trung ương và
địa phương, gây khó khăn trong triển khai thực hiện. Vấn đề bảo vệ
môi trường trong khu công nghiệp đã được đề cập nhiều trong các văn
bản pháp luật nhưng đến nay nhiều nội dung vẫn chưa cụ thể, chưa phân
định rõ quyền hạn, trách nhiệm đối với các cơ quan chức năng liên quan.
12
Luật Đa dạng sinh học đã có hiệu lực từ năm 2009, nhưng đến nay các
văn bản quy định hướng dẫn thi hành Luật chưa ban hành. Chương trình
Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Nam đến năm 2010
và định hướng đến năm 2020 (ban hành theo Quyết định số
79/2005/QĐ-UBND ngày 25-11-2005) chưa triển khai thực hiện được,
cùng với việc khai thác quá mức, sự tác động bất lợi của tự nhiên và con
người đã dẫn đến nguồn lợi thủy sản của tỉnh bị suy giảm đáng kể.
- Hạn chế trong phổ biến, tuyên truyền chính sách. Công tác
phối hợp tuyên truyền về Luật Bảo vệ Môi trường và các văn bản liên
quan chưa được thường xuyên, hiệu quả. Các chương trình phối hợp
về bảo vệ môi trường mới dừng lại mức tuyên truyền, chưa trở thành
phong trào quần chúng mạnh mẽ. Nhiều cấp ủy nhất là cấp xã chưa
thấy hết vai trò, trách nhiệm, tư tưởng xem nhẹ công tác bảo vệ môi
trường còn khá phổ biến. Ý thức, trách nhiệm về bảo vệ môi trường
của một bộ phận nhân dân và nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh
doanh còn hạn chế.
- Hạn chế trong thực hiện và điều hành chính sách. Hệ thống
tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường cấp huyện, xã
còn bất cập. Cấp huyện, định mức cán bộ còn thấp, đa số chưa được
đào tạo đúng chuyên ngành. Cấp xã, hầu hết phân công cán bộ địa
chính, xây dựng kiêm nhiệm. Nhiều xã, chưa thể hiện rõ việc phân
công, theo dõi đôn đốc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Đa số
các cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ chưa có cán bộ chuyên trách
bảo vệ môi trường, chỉ phân công cán bộ kiêm nhiệm, không đúng
chuyên môn và thường không ổn định. Cán bộ kiêm nhiệm bảo vệ môi
trường chưa dành thời gian đúng mức cho công việc.
- Hạn chế trong kiểm tra và hành động khắc phục:Công tác
quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của nhiều đơn vị chưa chặt
chẽ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao(Còn thiếu dữ liệu về quản lý khai thác
13
bền vững tài nguyên nước, thiếu thông tin và dữ liệu về tài nguyên,
môi trường biển và một số lĩnh vực liên quan. Công tác đo, vẽ, thành
lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/10.000 đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh
kết quả đạt thấp có ảnh hưởng nhất định đến công tác quản lý và phát
triển rừng. Đến nay, mới thực hiện xong được 38 xã, phường, thị trấn
tại 04 huyện, thành phố là: Tam Kỳ, Núi Thành, vùng Đông huyện
Thăng Bình và Duy Xuyên; còn lại 14 huyện, thành phố khác chưa
được triển kha). Việc quản lý, theo dõi các doanh nghiệp bị ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh chưa chặt chẽ. Công tác lưu
trữ hồ sơ, văn bản chỉ đạo về bảo vệ môi trường ở cấp cơ sở còn hạn
chế. Lực lượng thanh tra, kiểm tra, kể cả Chi cục bảo vệ môi trường,
Thanh tra Môi trường và Cảnh sát Môi trường còn quá mỏng(Theo
Luật Thanh tra thì thanh tra chuyên ngành chỉ có ở cấp Bộ và cấp Sở).
Chưa có sự phối chặt chẽ giữa các lực lượng Thanh tra Môi trường,
Cảnh sát Môi trườngvà các sở, ban, ngành, đơn vị liên quan. Chưa phát
huy được sự tham gia củacác tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư trong
việc theo dõi, giám sát và tố giác các tội phạm về lĩnh vực bảo vệ môi
trường. Hệ thống kiểm soát bảo vệ môi trường một thời gian dài thiếu
những trang bị kỹ thuật thiết yếu; việc cam kết bảo vệ môi trường trong
nhân dân, doanh nghiệp nhìn chung hiệu quả chưa cao.
Toàn tỉnh còn 25% rác thải sinh hoạt, 8% rác thải y tế, 31% chất
thải công nghiệp nguy hại (tương ứng với 53% cơ sở sản xuất) chưa
được thu gom, xử lý. Nhiều nơi chưa thực hiện tốt việc xử lý ô nhiễm
môi trường tại các làng nghề, cơ sở giết mổ, các chợ,... Việc khai thác
khoáng sản, lâm sản trái phép diễn biến phức tạp. Nhiều doanh nghiệp
còn vi phạm về quy định xử lý chất thải, ảnh hưởng nghiêm trọng đến
môi trường, gây bức xúc trong nhân dân. Công tác xử lý vi phạm pháp
luật về bảo vệ môi trường còn chậm, thiếu kiên quyết, còn xảy ra tình
trạng đổ lỗi, không nhận trách nhiệm giữa đơn vị quản lý môi trường
14
và các doanh nghiệp.
- Hạn chế trong tổng kết kinh nghiệm bảo vệ môi trường biển.
Nguồn kinh phí đầu tư lĩnh vực bảo vệ môi trường cấp tỉnh đã đạt 1%
trong tổng chi ngân sách nhưng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Công
tác xã hội hóa về bảo vệ môi trường chưa được mạnh mẽ, mới phát
triển trong hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải; trong khi
mô hình tự quản về bảo vệ môi trường trong nhân dân nhìn chung chưa
nhiều. Còn ít các dự án bảo vệ môi trường có nguồn vốn nước ngoài.
Nguồn vốn đầu tư bảo vệ môi trường hiện nay chủ yếu từ ngân sách
nhà nước. Một số địa phương sử dụng kinh phí bảo vệ môi trường chưa
hợp lý, mới giải quyết được những việc cụ thể, trước mắt, chưa tập
trung cho việc xây dựng các công trình xử lý, cải tạo môi trường, tuyên
tuyền, phổ biến pháp luật. Tiến độ thi công, thanh toán các công trình
được cấp kinh phí theo dự án bảo vệ môi trường còn chậm so với yêu
cầu. Cấp huyện thiếu trang thiết bịcần thiết phục vụ quan trắc, giám
sát, kiểm tra môi trường.
Hiện nay, một số vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường còn
nhiều khó khăn, bất cập: Ứng phó với biến đổi khí hậu là lĩnh vực mới,
còn thiếu kinh nghiệm và nguồn lực; năng lực cảnh báo, dự báo thiên
tai còn hạn chế. Mạch nước ngầm nhiều nơi bị khai thác quá mức phục
vụ phát triển công nghiệp, nuôi trồng thủy sản đã bị cạn kiệt và ô
nhiễm.Tình trạng khai thác lâm, khoáng sản trái phép đã làm mất rừng,
là nguyên nhân của sạt lở núi, lũ quét. Việc xử lý các hóa chất độc hại
trong khâu chế biến quặng cùng việc tồn dư và tích tụ các hóa chất độc
hại dùng trong sản xuất nông nghiệp đã và đang làm ô nhiễm nghiêm
trọng môi trường đất và nước. Thói quen sinh hoạt chưa hợp vệ sinh,
việc chăn thả gia súc, gia cầm, vứt rác, xả nước, xử lý rác thải chưa
đúng quy định đã góp phần gây nên ô nhiễm môi trường tại các địa
bàn dân cư.
15
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN THỰC HIỆN
HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở
TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY
3.1. Quan điểm thực hiện hiệu quả chính sách bảo vệ môi
trường biển ở Quảng Nam hiện nay
3.1.1. Quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường biển ven bờ
Vấn đề Bảo vệ môi trường nói chung và Bảo vệ môi trường
biển, nói riêng được Đảng ta đặc biệt quan tâm, được thể hiện qua
nhiều giai đoạn và ở một số điểm trong chỉ thị, nghị quyết của Đảng
với một số nội dung quan trọng .
Các quan điểm của Đảng về BVMT biển, là cơ sở Nhà nước cụ
thể hóa thành công cụ pháp luật để hạn chế dần, tiến tới kiểm soát tốt
ô nhiễm môi trường. Những quan điểm của Đảng đặt ra đã được thực
hiện và cho thấy tính đúng đắn phù hợp với thực tiễn từng giai đoạn
phát triển của đất nước.
3.1.2. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với
mục tiêu bảo vệ môi trường biển ở tỉnh Quảng Nam hiện nay
Giữa môi trường tự nhiên và phát triển kinh tế có mối quan hệ
hết sức chặt chẽ: môi trường tự nhiên là điều kiện cho kinh tế phát
triển và kinh tế phát triển là cơ sở tạo nên các biến đổi của môi trường
tự nhiên theo hướng ngày càng tốt hơn. Ở những thời kỳ đầu của sự
phát triển nền văn minh loài người, các lực lượng tự nhiên gần như
thống trị hoàn toàn cuộc sống của con người, quyết định tính chất và
nội dung mối quan hệ qua lại giữa con người với giới tự nhiên. Dần
dần, do sự phát triển của lao động và hoạt động nhận thức, con người
học được cách chế ngự tự nhiên, thiết lập sự thống trị của mình với
16
giới tự nhiên nhằm phục vụ cho mục đích mà yêu cầu cuộc sống của
con người đòi hỏi. Tự nhiên, ở bất kỳ giai đoạn nào trong sự phát triển
của xã hội loài người, cũng đều cung cấp cho con người những sản
phẩm vật chất để con người sinh sống, như nguồn nước tinh khiết,
không khí trong lành. Cũng chính vì sự “tự nhiên” ấy, trong quá trình
thúc đẩy kinh tế tăng trưởng con người đã phải lấy đi của tự nhiên rất
nhiều những bộ phận thân thể của nó như động, thực vật, đất đai,
khoáng chất... chính trong quá trình đó con người đã làm thay đổi giới
tự nhiên. Có thể nói rằng, những biến đổi dù to hay nhỏ trong môi
trường tự nhiên đều do quá trình tăng trưởng kinh tế đem lại. Vì mục
đích phát triển kinh tế ấy, con người đã tác động đến môi trường tự
nhiên theo hai hướng có lợi hoặc có hại.Nếu hành động đúng quy luật,
con người sẽ tạo ra hướng có lợi cho môi trường tự nhiên. Trong quá
trình thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, con người đã tác động vào tự nhiên,
ít nhiều cũng đã cải tạo môi trường tự nhiên, nâng cao sự hiểu biết sâu
hơn về giới tự nhiên và đặc biệt là có thể tạo ra điều kiện vật chất để
cải tạo, tái tạo môi trường tự nhiên.Sự tăng trưởng kinh tế trên cơ sở
áp dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào
sản xuất đã phần nào đó loại trừ được những hậu quả không mong
muốn do sự tác động không kiểm soát được của con người gây ra cho
tự nhiên. Chẳng hạn, việc dùng lưới chuyên biệt để khai thác thủy hải
sản đã loại trừ ra được những loại nhỏ để bảo đảm cân bằng môi trường
biển và tạo vốn cho lần đánh bắt sau. Hơn nữa, chính sự tăng trưởng
kinh tế sẽ tạo tiền đề vật chất để xử lý các sự cố môi trường, đảm bảo
cho môi trường trong sạch. Ở chiều ngược lại, con người tác động vào
tự nhiên không theo quy luật như khai thác tài nguyên thiên nhiên,
khoáng sản quá mức sẽ làm cho môi trường tự nhiên mất cân bằng,
ngày càng nghèo nàn, kiệt quệ, sự cân bằng sinh thái sẽ bị phá vỡ và
tự nhiên sẽ “trả thù” con người. Như vậy, giữa tăng trưởng kinh tế và
17
bảo vệ môi trường tự nhiên vừa có sự thống nhất, vừa có sự mâu thuẫn.
Sự thống nhất và mâu thuẫn đó đều thể hiện ở nền sản xuất xã hội.
Con người không ngừng sản xuất ra của cải vật chất. Mọi của cải vật
chất mà con người sản xuất ra xét đến cùng bằng cách này hay cách
khác đều lấy vật liệu từ tự nhiên. Trong quá trình tăng trưởng kinh tế,
một mặt chúng ta phải đảm bảo cho sự phát triển, gia tăng đầu tư cho
tăng trưởng kinh tế nhưng, đồng thời, cũng phải chi phí cho vấn đề
bảo vệ môi trường. Nếu không bảo vệ môi trường thì không thể đảm
bảo cho sự tăng trưởng kinh tế vì một phần đầu vào cho tăng trưởng
kinh tế được lấy từ môi trường.
3.1.3. Bảo vệ môi trường biển là mục tiêu, nhiệm vụ của cả
hệ thống chính trị và mọi người dân Quảng Nam
Quan điểm chỉ đạo của Đảng Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của
Đảng nhấn mạnh: Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội; Kết hợp chặt chẽ giữa ngăn ngừa, khắc phục
ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái; Phát triển “năng
lượng sạch”, “sản xuất sạch” và “tiêu dùng sạch”; Coi trọng nghiên
cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi
khí hậu; Bảo vệ và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia;
Đặc biệt chú trọng phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững,
phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược... Trong
bài học kinh nghiệm về phát triển nhanh và bền vững, Đảng ta chỉ rõ:
phát triển nhanh phải đi đôi với nâng cao tính bền vững, hai mặt tác
động lẫn nhau, được thể hiện ở cả tầm vĩ mô và vi mô, ở cả tầm ngắn
hạn và dài hạn; Tăng trưởng về số lượng phải đi liền với nâng cao chất
lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong khi khai thác
các yếu tố phát triển theo chiều rộng, phải đặc biệt coi trọng các yếu
tố phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức; Phải gắn tăng
trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người,
18
thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải
thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói,
giảm nghèo; Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng;
Phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước
phát triển... Với chiến lược phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền
vững, Đảng ta đề ra các quyết sách gắn nhiệm vụ bảo vệ môi trường
với phát triển kinh tế-xã hội; Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và
bảo vệ môi trường; Thực hiện nghiêm lộ trình xử lý các cơ sở gây ô
nhiễm môi trường. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi
trường; xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, xử lý các hành vi vi
phạm. Khắc phục suy thoái, khôi phục và nâng cao chất lượng môi
trường; Thực hiện tốt chương trình trồng rừng, ngăn chặn có hiệu quả
nạn phá rừng, cháy rừng; tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên;
Khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm môi trường và
cân bằng sinh thái; Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với
môi trường; Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo, đánh giá tác động
để triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng, chống thiên
tai và Chương trình quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là
nước biển dâng; Tăng cường hợp tác quốc tế để phối hợp hành động
và tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế cho công tác bảo vệ tài
nguyên và môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhà nước tăng
đầu tư đồng thời có các cơ chế, chính sách ưu đãi để đẩy mạnh xã hội
hóa, huy động các nguồn lực bảo vệ môi trường. Đảng ta đề ra mục
tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong
nước (GDP) đạt bình quân 7-8%/năm. GDP bình quân đầu người đạt
khoảng 3000-3200 USD. Đến năm 2020, có một số lĩnh vực khoa học,
công nghệ, giáo dục, y tế đạt trình độ tiên tiến, hiện đại; cải thiện chất
lượng môi trường; chủ động ứng phó có hiệu quả với thiên tai, biến
19
đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng… Tốc độ tăng trưởng cao là
cần thiết, nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, đưa đất
nước phát triển hòa nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Tuy nhiên,
với nhịp độ phát triển kinh tế cao, dân số tăng nhanh sẽ kéo theo một
lượng lớn tài nguyên thiên nhiên được khai thác và chất thải từ sản
xuất, tiêu dùng ngày càng tăng. Điều này cho thấy, chúng ta phải chú
trọng kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và cải
thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững.
3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm thực hiện hiệu quả chính
sách bảo vệ môi trường ở tỉnh Quảng Nam hiện nay
3.2.1. Giải pháp về đổi mới, hoàn thiện thể chế chính sách
về bảo vệ môi trường biển Quảng Nam hiện nay
Đẩy mạnh điều tra, khảo sát, quan trắc, nghiên cứu về tài
nguyên, môi trường biển để sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ
môi trường biển
Tại địa phương, việc điều tra cơ bản biển vẫn chưa được xem
trọng. Sắp tới sẽ kiến nghị cấp có thẩm quyền quan tâm và phê duyệt
các chương trình khảo sát, thu thập số liệu về tài nguyên môi trường
biển trên địa bàn tỉnh. Các số liệu điều tra cơ bản này đã cung cấp
những thông tin quan trọng, giúp công tác họach định chính sách biển
có hiệu quả cao, đồng thời cung cấp cơ sở thông tin khoa học để bố trí
không gian và phát triển các vùng biển phù hợp với sinh thái của từng
vùng, hướng tới mục tiêu sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi
trường biển.
3.2.2. Nâng cao chất lượng chính sách bảo vệ môi trường biển
Quảng Nam hiện nay
Chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách baoe vệ môi trường
biển phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ CBCC (cán bộ công chức)
tham gia thực hiện chính sách. Nói cách khác, năng lực thực hiện chính
20
sách của đội ngũ CBCC tham gia thực hiện chính sách quyết định chất
lượng, hiệu quả của việc thực hiện chính sách. Do đó, muốn nâng cao
hiệu quả, chất lượng thực hiện chính sách bảo vệ môi trường cần phải
có các giải pháp đồng bộ nâng cao năng lực thực hiện chính sách của
đội ngũ CBCC tham gia thực hiện chính sách.
Năng lực, khả năng làm việc của CBCC được hội tụ bởi ba yếu
tố là: kiến thức, kỹ năng và thái độ của CBCC trong thực thi công vụ.
Kiến thức là sự hiểu biết, là những thông tin hữu ích công chức cần
hiểu và ghi nhớ để phục vụ tốt cho công việc.Kỹ năng là khả năng
chuyển kiến thức thành hành động để kết quả đạt được như mong
muốn.Thái độ là ý thức, thái độ đối với công việc và trong các mối
quan hệ với con người.Nói một cách ngắn gọn, năng lực là khả năng
làm việc tốt nhờ phẩm chất và trình độ chuyên môn.
3.2.2.1. Năng lực xây dựng chính sách bảo vệ môi trường biển
3.2.2.2. Năng lực phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ môi
trường biển
3.2.2.3. Năng lực phân công, phối hợp thực hiện chính sách
BVMT biển
3.2.2.4. Năng lực duy trì chính sách bảo vệ môi trường biển
3.2.2.5. Năng lực điều chỉnh chính sách bảo vệ môi trường biển
3.2.2.6. Năng lực theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện
chính sách bảo vệ môi trường biển
3.2.2.7. Năng lực đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực
hiện chính sách bảo vệ môi trường biển
3.2.3 Khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường
biển nghiêm trọng và tăng cường kiểm soát, ngăn ngừa các nguồn
ô nhiễm biển
Để giải quyết vấn đề ô nhiễm biển có nguồn gốc từ biển và từ
đất liền, nhiều chương trình hành động nhằm khắc phục tình trạng ô
21
nhiễm và suy thoái môi trường nghiêm trọng với các điểm, khu vực,
vùng bị ô nhiễm và suy thoái nặng đã được triển khai; việc ứng phó,
khắc phục sự cố môi trường, thiên tai trên biển và vùng ven biển, bảo
vệ và cải thiện môi trường các khu vực trọng điểm tại các vùng biển
cũng tích cực được tiến hành; công tác phòng ngừa và kiểm soát ô
nhiễm đối với các hoạt động du lịch, hàng hải; khoan, thăm dò, khai
thác, vận chuyển dầu khí; khai thác khoáng sản; đánh bắt, nuôi trồng
thuỷ sản; thải đổ bùn nạo vét luồng giao thông thủy, công trình
biển…cũng được ưu tiên chú trọng ở tỉnh.
Bên cạnh xây dựng các công trình kĩ thuật, cơ sở hạ tầng như
xây tường bảo vệ bờ biển, đê, kè sông, kè biển, xây dựng kênh mương
để kiểm soát lũ lụt…để phòng tránh, giảm thiệt hại do thiên tai, thảm
họa gây ra, các giải pháp sinh học, phi công trình như tăng cường bảo
vệ đa dạng sinh học, các hệ sinh thái tự nhiên ven biển nhằm tạo vùng
đệm vững chắc, giúp giảm nhẹ thiệt hại, nâng cao khả năng ứng phó
với biến đổi khí hậu cho người dân ven biển cũng được chú trọng triển
khai, áp dụng tại nhiều quốc gia và được đánh giá như là một phương
thức giảm nhẹ thiệt hại, ứng phó với BĐKH hiệu quả trong bối cảnh
BĐKH ngày càng diễn biến phức tạp. Tại địa phương đang tiến hành
trồng phục hồi rừng ngập mặn tai khu vực vũng An Hòa và khu vực
thành phố Hội An nhằm khôi phục nơi cư trú tự nhiên ven biển thông
qua các hoạt động trồng RNM và các cây trồng ven biển đã được triển
khai và thu được nhiều kết quả tích cực giúp bảo vệ cộng đồng dân cư
trước tác động của biến đổi khí hậu bao gồm bão, lũ, lụt, xâm nhập
mặn và xói mòn...
3.2.4. Bảo đảm sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư ven
biển và nâng cao nhận thức cho người dân ven biển về tầm quan
trọng của việc bảo vệ môi trường biển
Thực tế cho thấy lâu nay đa số dân cư ở vùng ven biển thường
22
nghèo và sống phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn lợi biển. Để giảm thiểu
áp lực đối với nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, việc chú
trọng tăng cường áp dụng các giải pháp dựa vào thị trường trong quản
lý tài nguyên đồng thời chú trọng các giải pháp chuyển đổi nghề
nghiệp, đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư ven biển
cũng được tỉnh hết sức quan tâm. Đến nay, tại địa phương đã có nhiều
họat động, chương trình đa dạng sinh kế bền vững cho cư dân ven biển
được triển khai như đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ; hỗ trợ nuôi trồng
thủy sản bền vững, xây dựng chương trình du lịch sinh thái gắn với
các khu bảo tồn biển, đào tạo nghề hướng dẫn viên du lịch cho cộng
đồng dân cư… và đã thu được những kết quả đáng khích lệ, ví dụ như
tại Cù Lao Chàm, số liệu thống kê cho thấy các loại hải sản trên đảo
đã được dán nhãn và chỉ khai thác khi đạt kích thước cho phép, nguồn
lợi thủy sản đang được phục hồi, việc thành lập khu bảo tồn biển Cù
Lao Chàm đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm trong lĩnh vực du lịch cho
cư dân ven biển, đồng thời ý thức của người dân đã được tăng cao góp
phần bảo vệ môi trường và hệ sinh thái khu vực.
KẾT LUẬN
Tỉnh Quảng Nam là một tỉnh có 125 km bờ biển với nhiều bãi
tắm đẹp lý tưởng như: Hà My, An Bàng, Cửa Đại, Bình Minh, Tam
Thanh, Biển Rạng và các địa điểm du lịch nổi tiếng như Hội An, Tháp
Chàm Mỹ Sơn hiện nay tỉnh đang tập trung ưu tiên phát triển các làng
nghề du lịch cộng đồng hiện trạng nơi đâu ở Quảng Nam cũng có các
bãi biển dài hoang sơ, tràn đầy gió và ánh nắng mặt trời, các bãi tắm
ở Quảng Nam đều có bãi cát trắng, mực nước nông, có độ mặn vừa
phải và quanh năm trong xanh trong. Hiện nay tỉnh Quảng Nam ưu
tiên phát triển ngành du lịch do vậy việc kiểm soát ô nhiễm môi trường
23