Tải bản đầy đủ (.doc) (37 trang)

Đề cương ôn thi thủ tục hành chính

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (205.46 KB, 37 trang )

THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Lăng Thị Hương_QLNN14A

Câu 1: Phân tích khái niệm TTHC?
Nói đến thủ tục là nói đến quy trình và cách thức giải quyết công việc. Thực tế,
để thực hiện có hiệu quả một công việc nhất định cần tiến hành một loạt các hoạt
động theo thứ tự trước sau và cách thức thực hiện từng bước theo những quy định
chặt chẽ, thống nhất.
Theo nghĩa chung nhất, thủ tục là phương thức, cách thức giải quyết công
việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất, gồm một loạt nhiệm vụ liên
quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được kết quả mong muốn.
Hoạt động của các cơ quan nhà nước cần phải tuân theo pháp luật, trong đó
có những quy định về trình tự, cách thức sử dụng thẩm quyền của từng cơ quan để
giải quyết công việc theo chức năng nhiệm vụ được giao. Khoa học pháp lý gọi đó
là những quy phạm thủ tục. Quy phạm này quy định về các loại thủ tục trong hoạt
động quản lý nhà nước như: thủ tục lập pháp, thủ tục tố tụng tư pháp, thủ tục hành
chính.
Về mặt nguyên tắc, để tiến hành quản lý hành chính nhà nước có hiệu quả,
cơ quan hành chính phải đảm bảo tuân thủ một cách nghiêm túc những quy tắc,
chế độ, phép tắc được pháp luật quy định. Những quy tắc, chế độ, phép tắc đó
chính là những quy định về trình tự, cách thức sử dụng thẩm quyền của cơ quan
hành chính khi thực hiện chức năng quản lý hành chính công. Những quy định trên
còn được gọi là thủ tục hành chính.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thủ tục hành chính:
Thủ tục hành chính xét trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân là
quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền được NN giao phó khi thực hiện trách
nhiệm của mình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân đồng thời đòi hỏi
công dân làm tròn nghĩa vụ của mình. Thủ tục hành chính có vai trò quan trọng
trong đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp và đời sống nhân dân. Thông qua thủ tục hành chính, các cá nhân, tổ
chức thực hiện được quyền lợi, nghĩa vụ của mình đồng thời các cơ quan hành


chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
Xét trong nội bộ của bộ máy hành chính nhà nước: Là trình tự thực hiện
thẩm quyền của các cơ quan NN trong quá trình giải quyết công việc cụ thể theo


chức năng, nhiệm vụ được giao. Là cách thức giải quyết công việc trong nội bộ cơ
quan. Ví dụ: trình tự thành lập các công sở; trình tự bổ nhiệm, bãi nhiệm, điều
động, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức….
Xét trong quan hệ với thể chế hành chính nhà nước: Là một bộ phận của thể
chế hành chính nhà nước, là quy phạm có tính thủ tục đưa pháp luật vào đời sống
thực tế.
Vậy, “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện hồ sơ, yêu cầu
điều kiện do cơ quan Nhà nước người có thẩm quyền quy định để giải quyết một
công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”.
Theo khái niệm trên:
Chủ thể giải quyết TTHC là cơ quan, người có thẩm quyền được xác định
trong các VBQPPL có quy định về TTHC. Đây là các chủ thể bắt buộc trong quan
hệ thủ tục hành chính. Có thể chia các chủ thể giải quyết TTHC thành 3 nhóm sau
đây:
+ Cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước.
Cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước là chủ thể chủ
yếu có thẩm quyền trực tiếp giải quyết TTHC thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị
định số 63/2010/NĐ-CP. Các chủ thể này chiếm số lượng lớn và mang tính phổ
biến trong các quan hệ TTHC.
Ví dụ: hầu hết các thủ tục phê duyệt, đăng ký, xác nhận đều thuộc thẩm
quyền giải quyết trực tiếp của các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước.
+ Các tổ chức, người có thẩm quyền được pháp luật cho phép hoặc được
Nhà nước trao quyền nhằm cung cấp một hoặc một số dịch vụ hành chính công.
Ví dụ: thủ tục công chứng (do các Văn phòng công chứng, công chứng viên
thực hiện); thủ tục cấp chứng chỉ công bố hợp quy, hợp chuẩn (do doanh nghiệp

hoặc đơn vị hành chính sự nghiệp công lập thực hiện); thủ tục tuyển sinh đại học,
cao đẳng (do các trường thực hiện)…
Đối tượng tham gia TTHC, bao gồm các cá nhân, tổ chức:
+ Cá nhân: có thể là công dân Việt Nam; công dân nước ngoài...
+ Tổ chức: Cơ quan nhà nước; các tổ chức không phải là cơ quan nhà nước
được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam; các tổ chức nước
ngoài được thành lập hợp pháp tại nước ngoài…


Cơ quan nhà nước là chủ thể tham gia TTHC trong trường hợp phải quyết
các công việc liên quan đến quyền chủ thể, nghĩa vụ pháp lý như các tổ chức pháp
nhân khác, ví dụ: thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thủ tục
đăng ký, đăng kiểm xe ô tô…
Câu 2: Phân tích đặc điểm của TTHC?
- Là quy phạm có tính thủ tục để đưa pháp luật vào đời sống thực tế
Thủ tục hành chính là một bộ phận cấu thành của hệ thống quy phạm thủ
tục. Hệ thống quy phạm thủ tục là toàn bộ các quy tắc pháp lý quy định về trình tự,
trật tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết công
việc công việc nhà nước và thực hiện nghĩa vụ hành chính đối với các cơ quan nhà
nước, tổ chức và công dân. Đó cũng chính là các hệ thống các nguyên tắc quản lý
và điều hành bắt buộc các cơ quan nhà nước cũng như các công chức phải tuân
theo trong giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của mình.
Là quy phạm thủ tục, thủ tục hành chính có chức năng làm cho các quy
phạm nội dung của luật pháp được thực hiện thuận lợi. Thiếu thủ tục hành chính
việc thực thi luật pháp sẽ gặp khó khăn, thậm chí không có khả năng đi vào đời
sống thực tế.
Ví dụ: Nhà nước muốn thu thuế thì cần có thủ tục để người dân thực hiện
việc nộp thuế. Còn muốn quản lý an toàn giao thông thì cần có thủ tục để hướng
dẫn người dân tham gia giao thông tuân theo, v.v.
Hoạt động quản lý chủ yếu là hoạt động áp dụng pháp luật mà ở đó, hành vi

áp dụng pháp luật liên quan chủ yếu đến việc xác định tình trạng thực tế của vụ
việc, lựa chọn quy phạm pháp luật tương ứng và ra quyết định về vụ việc đó. Các
hành vi áp dụng pháp luật này được tiến hành theo những thủ tục hành chinh nhất
định. Như vậy nếu thiếu các thủ tục cần thiết thì quyền và nghĩa vụ của các bên
tham gia trọng hoạt động quản lý sẽ không được đảm bảo thực hiện. Thủ tục hành
chính là một nhân tố bảo đảm cho sự hoạt động chặt chẽ, thuận lợi và đúng chức
năng quản lý của cơ quan nhà nước, vì nó là chuẩn mực hành vi cho công dân và
công chức nhà nước để họ tuân theo và thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà
nước. Dựa vào các thủ tục hành chính các công việc hành chính sẽ được xử lý và
đạt được những hiệu quả pháp luật đúng như dự định
Ví dụ như quy định trong xử phạt vi phạm giao thông, đăng ký khai sinh, đăng
ký kết hôn theo trình tự thủ tục hợp lí…
- Do cơ quan Nhà nước và người có thẩm quyền quy định


Chỉ những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền mới được ban hành quy định thủ
tục hành chính nhất định.
VD: Quốc hội ban hành HP, luật
UBTVQH ban hành pháp lệnh
Chính phủ ban hành Nghị định
TTg chính phủ ban hành Quyết định
- Thủ tục hành chính được thực hiện một cách thống nhất:
Thống nhất về cách thức thực hiện: mọi nơi, mọi cơ quan đều thực hiện như
nhau
Thống nhất về mọi yếu tố từ tên, hồ sơ, thời gian... trong 63 tỉnh thành khác
nhau.
Trình tự, hồ sơ, thu phí, lệ phí.
Thẩm quyền ban hành của các cơ quan
Thống nhất giữa bộ thủ tục hành chính ở TW và địa phương.
- Thủ tục hành chính có tính đa dạng, phức tạp

Xuất phát từ đặc điểm quản lý hành chính nhà nước là hoạt động diễn ra trên
nhiều lĩnh vực, đối tượng quản lý đa dạng, nội dung công việc phong phú vì vậy
mà thủ tục hành chính cũng rất đa dạng và phức tạp. chẳng hạn trong mỗi lĩnh vực
quản lý nhà nước khác nhau chúng ta đều có thủ tục hành chính để giải quyết công
việc trong lĩnh vực đó. Ví dụ thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan, nhà
đất, TTATGT…và trong từng lĩnh vực chúng ta lại có thủ tục khác nhau để giải
quyết từng công việc cụ thể khác nhau, ví dụ: thủ tục ban hành VBQPPL, thủ tục
ban hành VBADQPPL, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính,….
Gắn liền với bản chất của thủ tục hành chính, bản thân thủ tục hành chính có
sự đa dạng, phức tạp. Tính đa dạng phức tạp được biểu hiện như sau:
+ Do nhiều cơ quan và đội ngũ công chức nhà nước thực hiện. Cơ quan thực
hiện thủ tục hành chính: các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các cấp, các sở, phòng,
công chức tư pháp-hộ tịch….
+ Quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia mối quan hệ hành
chính, trong đó bao gồm cả công việc của Nhà nước và công dân;
+ Việc quy định thủ tục hành chính phải kết hợp với những khuôn mẫu ổn
định tương đối và chặt chẽ với các biện pháp thích ứng cho từng loại công việc và
từng loại đối tượng;
+ Nền hành chính nhà nước hiện nay đang chuyển từ hành chính cai quản
sang hành chính phục vụ đã tác động mạnh mẽ vào thủ tục hành chính;
+ Thực hiện chủ yếu ở công sở nhà nước, gắn liền với công tác văn thư và
tổ chức ban hành, quản lý văn bản, giấy tờ;


+ Do chủ thể cơ quan hành chính nhà nước xây dựng để giải quyết công việc
nên phụ thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quan của chủ thể ban hành.
+ Trong bối cảnh của quá trình hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, các
thủ tục hành chính có yếu tố nước ngoài cần phải phù hợp với thông lệ quốc tế
- Thủ tục hành chính có sự linh hoạt theo yêu cầu triển khai pháp luật
vào đời sống.

Thủ tục hành chính có tính năng động hơn so với các quy phạm nội dung
của luật hành chính, đòi hỏi phải thay đổi nhanh hơn để thích ứng và phù hợp với
nhu cầu thực tế của đời sống xã hội. Đây chính là yếu tố cần nhận thức đúng đắn
giúp cho các nhà ban hành các quy định thủ tục hành chính ban hành các quy định
phù hợp với thực tế khách quan và tiến trình phát triển kinh tế xã hội.
VD: nước VN ra đời từ năm 1946 nến nay về quyền đăng ký khai sinh cho
trẻ em vẫn không thay đổi nhưng có sự linh hoạt hơn trong cách thức thực hiện
quyền này.
Và đăng ký kết hôn thì bỏ việc xác nhận tình trạng hôn nhân => linh hoạt,
sáng tạo
Câu 3: Phân tích ý nghĩa của thủ tục hành chính:
Thủ tục hành chính với tư cách là bộ phận của thể chế hành chính ngày càng
có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Điều này
không những có ý nghĩa vai trò to lớn trong hoạt động lập pháp, lập quy mà còn
hết sức cần thiết để có nhận thức đúng đắn trong hoạt động quản lý nhà nước đặc
biệt là trong tiến trình cải cách nền hành chính.
Thủ tục hành chính được quy định nhằm tạo ra trật tự trong hoạt động quản
lý của các cơ quan Nhà nước khi tiến hành các hoạt động quản lý của mình. Có thể
nói thủ tục hành chính là các quy phạm thủ tục của luật hành chính quy định cách
thức tiến hành các hoạt động quản lý hành chính nên chúng tạo ra cơ sở và điều
kiện cần thiết để các cơ quan quản lý nhà nước giải quyết các công việc của người
dân theo luật định, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân.
Thủ tục hành chính có vai trò quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước.
Nếu không có thủ tục hành chính thì mọi chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà
nước ban hành sẽ khó được thực thi. Có thể nói thủ tục hành chính là công cụ và
phương tiện để đưa pháp luật vào đời sống.
=>Ý nghĩa của thủ tục hành chính đươc biểu hiện qua những khía cạnh cơ bản:
- Là những tiêu chuẩn hành vi cho công dân và cán bộ, công chức, viên chức
hành chính thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, bảo đảm sự hoạt động chặt chẽ,
thuận lợi, đúng chức năng của bộ máy hành chính

- Đảm bảo các quyết định hành chính được đưa vào thực tế của đời sống xã
hội;


- Đảm bảo cho các quyết định hành chính được thi hành thống nhất và có thể
kiểm tra được tính hợp pháp và hợp lý của quyết định hành chính thông qua thủ tục
hành chính;
- Là công cụ điều hành cần thiết của tổ chức hành chính;
- Xây dựng thủ tục hành chính khoa học góp phần vào quá trình xây dựng và
triển khai luật pháp;
- Giúp cho việc thực hiện nguyên tắc dân chủ trong quản lý; thể hiện trách
nhiệm của nhà nước đối với nhân dân;
- Là sự biểu hiện trình độ văn hoá, mức độ văn minh của nền hành chính.
Nếu thiếu quy phạm thủ tục, các quy phạm vật chất khó được thực hiện. Ví dụ:
+ Một văn bản pháp luật sẽ không được thực thi khi không thực hiện thủ tục
công bố.
+ Một quyết định sẽ không hợp pháp khi ký không đúng thẩm quyền.
+ Không đủ hồ sơ giấy tờ vẫn giải quyết là vi phạm thủ tục văn thư.v.v.
Tóm lại, thủ tục hành chính là chiếc cầu nối quan trọng giữa cơ quan nhà
nước với người dân và các tổ chức, khả năng làm bền chặt các mối quan hệ trong
quá trình quản lý, làm cho nhà nước ta thực sự là “Nhà nước của dân, do dân và vì
dân”. Chính vì lẽ đó, cải cách thủ tục hành chính không chỉ đơn thuần liên quan
đến pháp luật, pháp chế mà còn là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chung của
đất nước về chính trị, văn hóa, giáo dục và mở rộng giao lưu với các nước trên thế
giới, nhất là trong giai đoạn hiện nay, nước ta đã trở thành thành viên chính thức
của tổ chức WTO, để hội nhập vào nền kinh tế thế giới, việc cải cách hành chính
nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng là một đòi hỏi tất yếu để hội
nhập quốc tế thành công và phát triển đất nước.
Câu 4: Phân loại thủ tục hành chính? (đọc thêm)
Về phân loại thủ tục hành chính hiện nay theo nhiều tiêu chí khác nhau có thể phân

thành các loại thủ tục hành chính như sau:
Thủ tục hành chính nội bộ :là trình tự thực hiện các công việc nội bộ cơ quan nhà
nước, bao gồm: Thủ tục ban hành quyết định; thủ tục khen thưởng - kỷ luật; thủ tục
thành lập các tổ chức, thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ, công chức nhà nước.
Thủ tục hành chính liên hệ: là trình tự các cơ quan hành chính, công chức,công
chức nhà nước có thẩm quyền thực hiện hoạt động áp dụng phápluật.
Thủ tục hành chính liên hệ rất đa dạng, thủ tục này bao gồm:
+ Thủ tục giải quyết các yêu cầu, đề nghị của công dân, tổ chức.
Đó là thủ tục kiến nghị, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; thủ tục giải
quyết các yêu cầu của các cơ quan tổ chức khác của nhà nước.


+ Thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính, việc áp dụng các biện
pháp cưỡng chế hành chính pảhi được pháp luật quy định chặt chẽ để tránh lạm
quyền, xâm phạm đến các quyền, lợi ích hợp pháp của côngdân, tổ chức. Đó là thủ
tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính;thủ tục xử phạt vi phạm hành
chính; thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác;
- Thủ tục văn thư: là trình tự tiến hành các hoạt động lưu trữ, xử lý, cungcấp công
văn giấy tờ và đưa ra các quyết định dưới các hình thức văn bản.
Thủ tục văn thư mang nhiều tính chất kỹ thuật nghiệp vụ hành chính, đò ihỏi quá
trình thực hiện phải tỉ mỉ, đúng thể thức, trình tự các bước tiến hành.
Tóm lại, việc phân nhóm các thủ tục hành chính căn cứ vào tính chất hoạt động
của các cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình giải quyết công việc của nhà
nước và của công dân như trên chỉ có tính chất tương đối.
Câu 5: Phân tích nguyên tắc quy định thủ tục hành chính?
Các nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính được quy định tại Điều 12 Nghị
định 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính. Cụ thể bao gồm:
1. Đơn giản dễ hiểu, dễ thực hiện:
- Những quy định thủ tục hành chính không thừa, không thiếu có thể lược
bớt những thủ tục hành chính không cần thiết.

- Dễ hiểu là từ ngữ được sử dụng đơn nghĩa, tường minh có quy định cụ
thể rõ ràng về nội dung, trình tự và phạm vi áp dụng thủ tục hành chính.
- Quy định thủ tục hành chính phải có khả năng thực hiện trong thực tế.
2. Phù hợp với mục tiêu trong quản lí hành chính
- Mục tiêu trong quản lí hành chính nhà nước hiện nay:
+ Bảo vệ và lợi ích hợp pháp của nhân dân, buộc nhân dân thực hiện
quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế thị
trường
- Kịp thời sửa đổi hoặc bãi bỏ những thủ tục xét thấy lỗi thời để tạo điều
kiện tốt cho các hoạt động của nền kinh tế thị trường phát triển đúng
hướng.
- Ngăn ngừa hạn chế được mặt tiêu cực của nó
- Nền kinh tế mở đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại.
3. Đảm bảo quyền bình đẳng của các đối tượng thực hiện thủ tục hành
chính
- Đối với chủ thể quốc gia, là cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải quyết công
việc phải đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục do pháp luật quy
định.


- Đối với các chủ thể thực hiện thủ tục hành chính phải giải quyết yêu cầu
đòi hỏi của công dân, tổ chức khiyêu cầu của họ có đủ điềukiện theo yêu
cầu của luật định.
- Quy định về thủ tục hành chính phải rõ ràng, cụ thể, quy định rõ về trách
nhiệm, nội dung, thời hạn giải quyết công việc của cơ quan nahf nước,
cán bộ có thẩm quyền.
VD: khi đủ 18 tuổi thì đều có thể tham gia thi tuyển công chức, viên
chức...
4. Tiết kiệm thời gian và chi phí của cá nhân, tổ chức và cơ quan hành

chính Nhà nước.
- Thu nộp hộ tiền xử phạt và chuyển trả giấy tờ tạm giữ trong lĩnh vực giao
thông.
- Tiếp nhận hồ sơ chuyển trả giấy phép lái xe cấp đổ trả qua bưu điện.
- Chuyển phát hồ sơ thi tuyển đại học, cao đẳng
- Chi trả lương hưu, chi trả trợ cấp xã hội , chi trả trợ cấp cho người có
công
- Thu thuế
5. Đảm bảo tính hợp hiến hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả các
quy định của thủ tục hành chính.
Về tính hợp hiến.
Đây là nhân tố hàng đầu đảm bảo sự thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp
luật. Tính hợp hiến đòi hỏi tất cả các quy định về thủ tục hành chính thuộc bất kỳ
một ngành luật nào trong hệ thống pháp luật cũng không được trái hoặc mâu thuẫn
với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc chặt chẽ, hiệu lực pháp lý của các
quy định tạo thành một thể thống nhất về tên gọi với thứ bậc cao thấp khác nhau
theo quy định của Hiến pháp. Những quy định liên quan đến thủ tục hành chính
trái với Hiến pháp sẽ bị đình chỉ, bãi bỏ. Tính hợp hiến không chỉ được xác định
trên cơ sở những lời văn, những quy định cụ thể mà còn trên cơ sở tinh thần, tư
tưởng, nguyên tác của Hiến pháp.
Ví dụ: Luật tố tụng hành chính 2015 khi ban hành phải dựa vào các quy định và
nguyên tắc trong Hiến pháp để ban hành
Về tính hợp pháp.
Thuật ngữ này khi được sử dụng cùng với thuật ngữ “tính hợp hiến” không
bao hàm ý nghĩa về sự phù hợp với các quy định của pháp luật nói chung (trong đó
có Hiến pháp) mà chỉ đề cập đến sự phù hợp với các đạo luật và văn bản dưới luật.


Theo nghĩa như vậy, để đảm bảo tính hợp pháp, thủ tục hành chính phải được ban
hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định.

Ví dụ: Thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn, đăng ký khai tử do Ủy
ban nhân dân cấp có thẩm quyền ban hành được áp dụng đúng theo quy định của
Luật Hộ tịch.
Thủ tục hành chính với tư cách là bộ phận của thể chế hành chính ngày càng
có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Điều này
không những có ý nghĩa vai trò to lớn trong hoạt động lập pháp, lập quy mà còn
hết sức cần thiết để có nhận thức đúng đắn trong hoạt động quản lý nhà nước đặc
biệt là trong tiến trình cải cách nền hành chính. Thủ tục hành chính được quy định
nhằm tạo ra trật tự trong hoạt động quản lý của các cơ quan Nhà nước khi tiến
hành các hoạt động quản lý của mình. Có thể nói thủ tục hành chính là các quy
phạm thủ tục của luật hành chính quy định cách thức tiến hành các hoạt động quản
lý hành chính nên chúng tạo ra cơ sở và điều kiện cần thiết để các cơ quan quản lý
nhà nước giải quyết các công việc của người dân theo luật định, đảm bảo quyền,
lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân. Thủ tục hành chính có vai trò quan
trọng trong quản lý hành chính nhà nước. Nếu không có thủ tục hành chính thì mọi
chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước ban hành sẽ khó được thực thi. Có
thể nói thủ tục hành chính là công cụ và phương tiện để đưa pháp luật vào đời
sống.
Tính thống nhất đồng bộ của quy định về thủ tục hành chính
Trong bất cứ nền hành chính nào thủ tục hành chính là công cụ không thể
thiếu để điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước với công dân, tổ chức được đưa
vào trật tự cần thiết
Thủ tục hành chính là cơ sở và là điều kiện để cơ quan nhà nước giải
quyết công việc của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật nhằm
bảo đảm quền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Thủ tục theo nghĩa tiếng Việt là cách thức tiến hành công việc theo một
trình tự hay một luật lệ đã quen (Theo từ điển từ ngữ và hán việt, nhà xuất bản
TPHCM). Thủ tục hành chính theo cuốn đại từ điển tiếng việt của nxb văn hoá
thông tin năm 1998 là cách thức tiến hành một công việc với nội dung, trình tự
nhất định, theo quy định của cơ quan nhà nước. Có thể nhân thấy rõ hai yếu tố cấu

thành khái niệm thủ tục: thứ nhất, thủ tục trước hết là cách thức hoạt động cách
thức hành động hay cách thức thực hiện hành vi và thứ hai thủ tục là hoạt động
được tiến hành theo một trình tự, hệ thống nhất định và đồng bộ.
Mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước Việt Nam là nhà nước đơn nhất, với
bộ máy các cơ quan nhà nước thống nhất, đồng bộ từ trung ương đến tận cơ sở.
Điều này đồng nghĩa với việc các thủ tục hành chính (TTHC) đều được áp dụng
thống nhất trên phạm vi cả nước. Chỉ trừ một số vấn đề rất nhỏ được giao, ủy
quyền về cho các địa phương, dù vậy vẫn phải căn cứ vào quy định khung, quy
định mẫu của trung ương. Theo số liệu thống kê của các cơ quan chức năng thì


TTHC do địa phương tự mình ban hành TTHC không đáng kể, đa số là quy định
lại, thể chế hóa của trung ương.
Theo quy định hiện hành thì việc thống kê, rà soát, công bố các TTHC
được thống nhất từ trung ương đến địa phương. Theo đó, ở trung ương các bộ,
ngành sẽ thống kê, rà soát và công bố các TTHC thuộc các cơ quan trung ương như
Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Nước, Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ, Bộ, ngành... ban hành và giải quyết. Đối với địa phương (cấp tỉnh) thì
thống kê, rà soát và công bố TTHC do cả trung ương và địa phương ban hành
thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương. Chính vì vậy khi quy định về thủ tục
hành chính cần quan tâm đến sự thống nhât và đồng đều để dễ dàng thuận lợi trong
việc thực hiện thủ tục hành chính .
Ví dụ: Thủ tục đăng kí kết hôn trên 63 tỉnh thành đều giống nhau.
Hay: Chính phủ đã ban hành nghị định về giao dịch có bảo đảm và thực hiện đăng
ký giao dịch có bảo đảm tại một hệ thống cơ quan thống nhất trong phạm vi toàn
quốc.
Ví dụ: 2 cơ quan cùng có trách nhiệm trong việc xét duyệt một dự án đầu tư nếu
thủ tục không thống nhất thì dự án có khả năng không được thông qua mặc dù đã
đủ điều kiện và yêu cầu rõ rệt.
Câu 6: Thẩm quyền quy định thủ tục hành chính?( đọc thêm)

- Thẩm quyền của QH( Hiến pháp, Luật)
- Thẩm quyền của UBTVQH (Pháp lệnh, Nghị quyết,nghị quyết liên tịch
giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)
- Thẩm quyền của CP (Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa
Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.)
- Thẩm quyền của Thủ tướng chính phủ( Quyết định)
- Thẩm quyền của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ: (Quy định
mẫu tờ khai trong lĩnh vực )
- Thẩm quyền của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW: (Ban hành quyết
định ban hành và công bố)
Câu 7:Các bộ phận cấu thành của thủ tục hành chính?( đọc thêm)
- Việc quy định một thủ tục hành chính cụ thể chỉ hoàn thành khi đáp ứng
đầy đủ các bộ phận tạo thành cơ bản sau đây:
a) Tên thủ tục hành chính;


b) Trình tự thực hiện;
c) Cách thức thực hiện;
d) Hồ sơ;
đ) Thời hạn giải quyết;
e) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính;
g) Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính;
h) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính;
i) Trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính;
mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí thì mẫu
đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu,
điều kiện; phí, lệ phí là bộ phận tạo thành của thủ tục hành chính.
k, Cơ sở pháp lý: Các văn bản áp dụng khi thực hiện thủ tục hành chính

Câu 8: Công bố thủ tục hành chính( đọc thêm)
- Thẩm quyền công bố thủ tục hành chính: Điều 13 nghị định 63
1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ công bố thủ tục hành chính
được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về ngành, lĩnh vực thuộc
phạm vi chức năng quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố
thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các cấp chính quyền
trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
3. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị được cơ quan nhà nước cấp trên giao
nhiệm vụ hoặc ủy quyền ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện thủ tục giải
quyết công việc cho cá nhân, tổ chức công bố thủ tục thuộc thẩm quyền giải
quyết của cơ quan, đơn vị.
- Phạm vi công bố thủ tục hành chính: Điều 13 nghị định 63
1. Tất cả các thủ tục hành chính sau khi ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế,
hủy bỏ hoặc bãi bỏ phải được công bố công khai.
2. Việc công bố công khai thủ tục hành chính, bao gồm: công bố thủ tục
hành chính mới ban hành; công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung
hoặc thay thế và công bố thủ tục hành chính bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ.


a) Công bố thủ tục hành chính mới ban hành là việc cung cấp các thông tin
về thủ tục hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Nghị định này;
b) Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế là việc
cung cấp các thông tin liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung, thay thế của thủ
tục hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 15 của Nghị định này;
c) Công bố thủ tục hành chính bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ là việc xóa bỏ nội dung
thông tin về thủ tục hành chính đã được đưa vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về
thủ tục hành chính theo quy định khoản 3 Điều 15 của Nghị định này.
- Quy định công bố thủ tục hành chính:
Quyết định công bố thủ tục hành chính phải được ban hành chậm nhất trước

10 (mười) ngày làm việc tính đến ngày văn bản quy phạm pháp luật có quy
định về thủ tục hành chính có hiệu lực thi hành.
Nội dung quyết định công bố thủ tục hành chính theo quy định sau đây:
1. Đối với quyết định công bố thủ tục hành chính mới ban hành, nội dung
quyết định bao gồm:
a) Các bộ phận tạo thành thủ tục hành chính quy định tại khoản 2 Điều 8 của
Nghị định này;
b) Văn bản quy phạm pháp luật quy định về thủ tục hành chính;
c) Địa điểm, thời gian thực hiện thủ tục hành chính.
2. Đối với quyết định công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung
hoặc thay thế, ngoài việc chứa đựng thông tin quy định tại khoản 1 Điều này,
nội dung quyết định phải xác định rõ bộ phận nào của thủ tục hành chính
được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế; văn bảnquy phạm pháp luật có quy định
việc sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thủ tục hành chính.
3. Đối với quyết định công bố thủ tục hành chính bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ, nội
dung quyết định phải xác định rõ tên thủ tục hành chính bị hủy bỏ hoặc bãi
bỏ; trường hợp thủ tục hành chính đã được đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc
gia về thủ tục hành chính, quyết định phải ghi rõ số, ký hiệu của hồ sơ thủ
tục hành chính; văn bản quy phạm pháp luật có quy định việc hủy bỏ hoặc
bãi bỏ thủ tục hành chính.
Câu 9: Phân tích nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính?


Các nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính được quy định tại Điều 12 Nghị
định 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính. Cụ thể bao gồm:
1. Bảo đảm công khai, minh bạch các thủ tục hành chính đang được
thực hiện.
- Công khai , minh bạch là việc người dân được thông tin đầy đủ, kịp
thời, chính xác về pháp luật và tất cả các thông tin liên quan đế quá trình
thực thi công vụ cán bộ, công chức nhà nước.

- Vai trò:
+ Để nhân dân biết và được tiến hành công khai theo luật định
+ Tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhân dân kiểm
tra và giám sát
+ Giải pháp góp phần giảm phiền hà, nhũng nhiễu với người dân
- Hình thức công khai:
+ Niêm yết công khai
+ Cổng thông tin điện tử
+ Sách báo
- HIện trạng:
+ Chúng ta đã và đang tiếp tục sử dụng phương thức công khai một cách
truyền thống như đến trực tiếp nơi cơ quan thực hiện thủ tục hành chính
để tìm và đọc được các thủ tục ....
+ Một số tỉnh hiện nay đã sử dụng hiệu quả các công nghệ truyền thông
tiên tiến và phương tiện hiện đại: tra thông tin, lấy số, không chen lẫn xô
đẩy.
- Tồn tại và hạn chế:
+ Công khai , minh bạch chỉ mang tính hình thức, căn cứ vào khả năng
thức của người dân không tính đến hiệu quả
+ Hiệu lực pháp lí không còn.
+ Không đáp ứng kịp thời mong muốn của người dân.
2. Bảo đảm khách quan, công bằng trong thực hiện thủ tục hành chính.
Tính chính xác, khách quan khi thực hiện thủ tục hành chính thể hiện
ở việc cơ quan tiến hành thủ tục phải có đủ tài liệu, chứng cứ khi xem xét
giải quyết công việc, đảm bảo thực hiện đúng các yêu cầu của thủ tục
nhằm giải quyết một cách đúng đắn nhất các công việc của nhà nước, các
kiến nghị, yêu cầu hợp pháp của công dân, tổ chức. Khi thực hiện thủ tục
hành chính phải bảo đảm tính khách quan, không vì vụ lợi mà gây thiệt
hại cho nhà nước, tập thể và cá nhân. Để thực hiện tốt nguyên tắc này đòi
hỏi:

Thứ nhất, các cơ quan nhà nước phải có quyền được yêu cầu cung cấp
thông tin, và các cơ quan, tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ cung cấp
một cách chính xác, đầy đủ các thông tin khi được yêu cầu. Ngoài ra các


cơ quan nhà nước phải có một chế độ công vụ rõ ràng và khoa học, có sự
phân công trách nhiệm rõ ràng, rành mạch.
Thứ hai, các cơ quan cần có đủ cán bộ có trình độ nghiệp vụ để thực
thi công vụ, có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn và có trách
nhiệm cao với công việc được giao và đảm bảo được trang bị những
phương tiện vật chất phù hợp, cần thiết phục vụ cho việc bảo quản, xử lý,
lưu trữ và tìm kiếm thông tin như hệ thống sổ sách, các thiết bị CNTT…
Chính vì vậy, các cơ quan phải có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cán bộ,
giáo dục đạo đức chính trị tư tưởng, có chế độ đãi ngộ hợp lý và trang bị
những phương tiện vật chất đầy đủ
3. Bảo đảm tính liên thông, kịp thời, chính xác, không gây phiền hà
trong thực hiện thủ tục hành chính.
Tính liên thông:
Việc giải quyết thực hiện liên thông các thủ tục hành chính đã đi vào
nề nếp và đạt được nhiều kết quả đáng kể. Công tác tuyên truyền, phổ
biến nội dung và ý nghĩa của việc thực hiện liên thông thủ tục hành chính
được triển khai rộng khắp đến mọi đối tượng, bằng nhiều hình thức đa
dạng như: tổ chức hội nghị; tập huấn; kết hợp với các buổi tuyên truyền
phổ biến pháp luật; thông tin trong các buổi tiếp dân, cuộc họp Tổ, khối
phố, các buổi sinh hoạt đoàn thể; niêm yết công khai quy trình thực hiện
liên thông tại UBND cấp huyện, cấp xã, cơ quan Công an, Bảo hiểm xã
hội… giúp người dân hiểu được những tiện ích từ việc thực hiện mô hình
liên thông các thủ tục hành chính, ủng hộ và tích cực hợp tác với cơ quan
thẩm quyền triển khai thực hiện liên thông đạt hiệu quả. Công tác phối
hợp giữa UBND các cấp với cơ quan công an và bảo hiểm xã hội trong

quá trình thực hiện giải quyết liên thông các thủ tục hành chính khá chặt
chẽ, có địa phương thực hiện chuyển gửi hồ sơ qua e-mail.
Việc thực hiện quy trình liên thông các thủ tục hành chính đã giúp
giảm thiểu được giấy tờ, rút ngắn thời gian giải quyết, tiết kiệm chi phí,
tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân, đồng thời, giúp nâng cao
tinh thần trách nhiệm, tính chủ động, tích cực của cán bộ, công chức;
đảm bảo kịp thời, chính xác, thống nhất của các thông tin về nhân thân
của cá nhân, phục vụ tốt cho công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực hộ
tịch, cư trú và bảo hiểm y tế; khắc phục được tình trạng trẻ em đã được
đăng ký khai sinh nhưng chưa được nhập hộ khẩu, cấp thẻ bảo hiểm y tế.
Có địa phương còn chủ động rút ngằn thời gian giải quyết so với quy
định hoặc mở rộng phạm vi liên thông các thủ tục hành chính: đăng ký


khai tử- xóa đăng ký thường trú; thay đổi, cải chính hộ tịch- điều chỉnh
thông tin trong sổ hộ khẩu, Thẻ BHYT
Tuy nhiên, do đây là công việc còn khá mới mẻ nên những khó khăn,
vướng mắc trong quá trình thực hiện liên thông vẫn còn nhiều. Sự phối
hợp giữa các cơ quan trong việc triển khai các thủ tục hành chính đôi lúc
còn lúng túng, chưa nhịp nhàng, đồng bộ nên vẫn còn một số ít hồ sơ có
thời gian trả kết quả chậm so với quy định. Cơ sở vật chất, trang thiết bị
phục vụ cho việc giải quyết liên thông các thủ tục hành chính chưa được
quan tâm đúng mức. Khối lượng công việc của cán bộ Tư pháp hộ tịch
cấp xã tăng cao, trong khi đó, kinh phí hỗ trợ cho công chức thực hiện
giải quyết liên thông các thủ tục hành chính còn hạn chế, có nơi chưa
thực hiện việc hỗ trợ. Ngoài ra thì người dân còn phàn nàn nhiều về việc
phải ghi cả 03 loại biểu mẫu khi thực hiện liên thông các thủ tục hành
chính: Đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú và cấp thẻ Bảo hiểm y tế;
chưa kể các thông tin nhân thân trong 03 biểu mẫu trên được ghi không
thống nhất, sai sót nhiều, gây khó khăn cho cán bộ thực hiện giải quyết

các thủ tục hành chính.
- Tính kịp thời:
4. Bảo đảm quyền được phản ánh, kiến nghị của các cá nhân, tổ chức
đối với các thủ tục hành chính
- Khái niệm:
+ Phản ánh là việc tổ chức, cá nhân có ý kiến với cơ quan hành chính nhà
nước về vấn đề liên quan đến quy định hành chính.
+ Kiến nghị là việc các cá nhân, tổ chức có phản ánh với các cơ quan
hành chính nhà nước và đề xuất phương án xử lí hoặc có sáng kiến ban
hành mới quy định hành chính.
- Nội dung:
+ CB, CC chậm trễ, gây phiền hà, hoặc không thực hiện, thực hiện không
đúng quy định hành chính
+ CB, CC nhà nước tổ chức thực hiện, kéo dài thời gian thực hiện thủ tục
hành chính, tự ý yêu cầu, bổ sung đặt thêm hồ sơ.
- Thực trạng:
+ Văn bản tiếp nhận nhiều
+ Cổng thông tin hay đường dây nóng không được sử dụng nhiều hay áp
dụng 1 cách hợp lí (tâm lí dân, không hiểu rõ thủ tục hành chính, ngại va
chạm...
- Hạn chế:
+ Phản ánh, kiến nghị của người dân không được thực hiện
+ Góp ý, phản ánh xong không có hiệu quả
+ Các cơ quan Nhà nước không mong muốn đóng góp của dân


+ Phía nhân dân thì thái độ không quan tâm đến công việc của chính
quyền.
5.Đề cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong giải quyết công việc
cho cá nhân, tổ chức.

- Khái niệm: đó là CB, CC tự ý thức trách nhiệm và nhiệm vụ của mình
được phân công, cũng như bổ phận phải thực hiện quyền và nghĩa vụ.
- Trách nhiệm:
+ Thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ, công việc được giao.
+ Linh hoạt, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức thực hiện thủ tục hành
chính, có tác phong, thái độ lịch sự, khiêm tốn hướng dẫn đầy đủ, rõ
ràng, chính xác.
+ Chấp hành nghiêm túc các quy định về thủ tục hành chính
+ Chủ động tham mưu, đề xuất cải tiến việc thực hiện thủ tục hành
chính.
+ Kịp thời phát hiện và kiến nghị các quy định về thủ tục hành chính
không phủ hợp, thiếu tính khả thi.
- Kết quả:
+ Tạo ra được đội ngũ CB,CC thực hiện thủ tục hành chính chuyên
nghiệp
+ Bộ phận CC đã ý thức được trong việc phục vụ nhân dân.
- Tồn tại, hạn chế:
+ Đặt nặng vai trò của người cung cấp dịch vụ
+ Năng lực còn hạn chế nhất là ở các cơ quan quản lí hành chính.
Câu 10: Trách nhiệm của cơ quan thực hiện thủ tục hành chính?(đọc thêm)
Trách nhiệm của cơ quan thực hiện thủ tục hành chính được quy định tại
Điều 18 Nghị định 63/2010/NĐ-CP:
1. Sử dụng, bố trí cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt, văn hóa giao tiếp
chuẩn mực, đủ trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực phù hợp để thực
hiện thủ tục hành chính.
2. Hướng dẫn, giải thích, cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời về thủ tục
hành chính cho cá nhân, tổ chức có liên quan.
3. Cấp giấy biên nhận hồ sơ, tài liệu theo quy định.
4. Bảo quản và giữ bí mật về hồ sơ tài liệu và các thông tin liên quan đến bí mật cá
nhân trong quá trình giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp phải

thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức nhà nước
có thẩm quyền.


5. Nêu rõ lý do bằng văn bản trong trường hợp từ chối thực hiện hoặc có yêu cầu
bổ sung giấy tờ trong thời hạn giải quyết theo quy định.
6. Không tự đặt ra thủ tục hành chính, hồ sơ, giấy tờ ngoài quy định của pháp luật.
7. Phối hợp và chia sẻ thông tin trong quá trình giải quyết công việc của cá nhân, tổ
chức.
8. Hỗ trợ người có công, người cao tuổi, người tàn tật, người nghèo, phụ nữ mang
thai, trẻ mồ côi và người thuộc diện bảo trợ xã hội khác trong thực hiện thủ tục
hành chính.
9. Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong thực hiện thủ tục hành
chính.
10. Tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức trong thực hiện
thủ tục hành chính.
11. Ứng dụng công nghệ thông tin và các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong thực hiện
thủ tục hành chính.
12. Thực hiện quy định khác của pháp luật.
Câu 11: Trách nhiệm của cán bộ, công chức được phân công thực hiện thủ tục
hành chính?(đọc thêm)
Trách nhiệm của cán bộ, công chức được phân công thực hiện thủ tục hành
chính được quy định tại Điều 20 Nghị định 63/2010/NĐ-CP:
1. Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ nhiệm vụ được giao trong quá trình thực hiện thủ
tục hành chính.
2. Phải tạo thuận lợi cho đối tượng thực hiện thủ tục hành chính; có tác phong, thái
độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng,
mạch lạc trong thực hiện thủ tục hành chính.
3. Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ của cá nhân, tổ chức theo quy định.
4. Hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện trình tự, hồ sơ hành chính đầy đủ, rõ ràng,

chính xác không để tổ chức, cá nhân phải đi lại bổ sung hồ sơ quá hai lần cho một
vụ việc, trừ trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện không đúng theo hướng dẫn của
cán bộ, công chức được phân công thực hiện thủ tục hành chính.


5. Chấp hành nghiêm túc các quy định của cấp có thẩm quyền về thủ tục hành
chính đã được người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương công bố.
6. Chủ động tham mưu, đề xuất, sáng kiến cải tiến việc thực hiện thủ tục hành
chính; kịp thời phát hiện, kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền để sửa đổi,
bổ sung, thay đổi hoặc hủy bỏ, bãi bỏ các quy định về thủ tục hành chính không
phù hợp, thiếu khả thi.
7. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc thực hiện thủ tục hành
chính.
8. Thực hiện quy định khác của pháp luật.
Câu 12: Phân tích khái niệm và ý nghĩa của kiểm soát thủ tục hành chính?
( đọc thêm)
- Khái niệm:
“Kiểm soát thủ tục hành chính” là việc xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm bảo đảm
tính khả thi của quy định về thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu công khai, minh
bạch trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính
- Ý nghĩa:
+ Nâng cao chất lượng hệ thống các quyết định hành chính
+ Công khai hóa và thường xuyên sửa đổi, bổ sung.
Cụ thể:
Có thể nhận thấy rất rõ, việc kiểm soát TTHC để nâng cao chất lượng hệ
thống các quy định hành chính không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị
kiểm soát TTHC mà đòi hỏi sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống hành chính, từ cơ
quan, đơn vị chịu trách nhiệm dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có các quy định
về TTHC tới các bộ phận trực tiếp thực hiện TTHC; từ trách nhiệm của cán bộ,

công chức đến trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, các đối tượng tham gia vào
TTHC.
Kiểm soát TTHC có hiệu quả là hoạt động mang lại lợi ích trực tiếp cho các cá
nhân, tổ chức nhưng đồng thời không để sơ hở trong công tác quản lý nhà nước.
Đây là một quy trình bắt đầu từ việc đánh giá tác động các quy định về trong quá
trình dự thảo do các cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật thực
hiện; gửi lấy ý kiến của cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC; công khai, minh bạch
TTHC sau khi ban hành; kiểm soát việc thực thi TTHC trong thực tiễn. Cuối cùng
là tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định
hành chính nhằm phát hiện và giải quyết những bất cập của các quy định hành


chính, cũng như giám sát việc thực thi TTHC của đội ngũ cán bộ, công chức.
Thông qua việc kiểm soát TTHC, mọi TTHC sẽ được công khai hóa và thường
xuyên sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế, tránh tình trạng tùy tiện, thiếu
công khai, minh bạch trong việc ban hành và thực hiện TTHC tại nhiều cơ quan
hành chính như thời gian qua.
Thực tế đã chỉ ra rằng, nếu không làm tốt công tác giám sát, kiểm soát TTHC
thì các hoạt động nhằm cải cách thủ tục hành chính đôi khi chỉ mang tính hình
thức. Sẽ có nhiều thủ tục được “cải cách” trên giấy tờ, không có tính thực thi trong
thực tế. Do vậy, để bảo đảm tính khả thi của TTHC thì bước đầu tiên của quy trình
kiểm soát chính là việc tổ chức đánh giá tác động của quy định về TTHC. Việc làm
này có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng cường “trách nhiệm giải trình” trước
nhân dân của các ban soạn thảo về sự cần thiết, tính hợp lý, tính hợp pháp và tính
hiệu quả của quy định về thủ tục hành chính dự kiến ban hành. Đây là một việc
làm cần thiết vì mỗi giờ lao động dành cho việc đánh giá tác động sẽ giúp cắt giảm
hàng ngàn, hàng vạn giờ không cần thiết của cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện
TTHC sau này, nhưng đây cũng là một việc làm khó, đòi hỏi các cán bộ, cơ quan,
đơn vị soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật phải đầu tư thời gian, công sức để
đưa ra các phương án tối ưu.

Câu 13: Phân tích nguyên tắc kiểm soát thủ tục hành chính?( đọc thêm)
Nguyên tắc kiểm soát thủ tục hành chính được quy định tại Điều 4 Nghị định
63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính. Cụ thể bao gồm:
1. Kiểm soát thủ tục hành chính phải bảo đảm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cải
cách thủ tục hành chính, cải cách hành chính; bảo đảm điều phối, huy động sự
tham gia tích cực, rộng rãi của tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân vào quá trình
kiểm soát thủ tục hành chính.
2. Kịp thời phát hiện để loại bỏ hoặc chỉnh sửa thủ tục hành chính không phù hợp,
phức tạp, phiền hà; bổ sung thủ tục hành chính cần thiết, đáp ứng nhu cầu thực tế;
bảo đảm quy định thủ tục hành chính đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời
gian, chi phí, công sức của đối tượng và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính.
3. Kiểm soát thủ tục hành chính được thực hiện ngay khi dự thảo quy định về thủ
tục hành chính và được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình tổ chức
thực hiện thủ tục hành chính.
Câu 14: Các cơ quan, đơn vị, kiểm soát thủ tục hành chính?( đọc thêm)
1. Cơ quan kiểm soát thủ tục hành chính trực thuộc Văn phòng Chính phủ có trách
nhiệm tổ chức thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính và quản lý Cơ sở dữ liệu


quốc gia về thủ tục hành chính trong phạm vi cả nước theo quy định tại Nghị định
này.
Thủ trưởng Cơ quan kiểm soát thủ tục hành chính do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn
phòng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm.
2. Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm tổ chức thực hiện kiểm soát
thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan
ngang Bộ theo quy định tại Nghị định này.
3. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách
nhiệm tổ chức thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương theo quy định tại Nghị định này.
4. Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu

tổ chức của Cơ quan kiểm soát thủ tục hành chính.
5. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ
Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, biên chế của bộ phận kiểm soát thủ tục
hành chính thuộc Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ, Văn phòng Ủy ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Câu 15. Cải cách thủ tục hành chính:
KN: Cải cách thủ tục hành chính là quá trình liên tục thực hiện theo định
hướng nhất định thay đổi làm tiến bộ nhằm giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa
nhà nước với nhân dân trong việc thực hiện thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục
tiêu nhất định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cải cách hành
chính không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính, mà chỉ làm cho hệ
thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn; các thể chế quản
lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống hơn; cơ chế hoạt động, chức năng,
nhiệm vụ của bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính hiệu quả,
hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế – xã hội của một quốc gia.
Hoặc : Cải cách thủ tục hành chính là điều kiện cần thiết để tăng cường
củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý
Nhà nước của nhân dân. Cải cách thủ tục được coi là khâu đột phá trong cải cách
nền hành chính Nhà nước, nghĩa là để tạo sự chuyển động của toàn bộ hệ thống
nền hành chính quốc gia; thủ tục hành chính là khâu được chọn đầu tiên, cải cách
thủ tục hành chính sẽ gây ra sự chuyển động của toàn bộ hệ thống khi bị tác động.
Sự cần thiết cải cách thủ tục hành chính ở VN hiện nay:
- Khách quan:
+ Xu hướng chung của các nước là thu hẹp , làm gọn tổ chức bộ máy


+ Môi trường kinh tế quốc tế và kinh nghiệm CCHC của các quốc gia trên
thế giới
+ Sự phát triển mạnh mẽ của KHCN

+ Trình độ dân trí ngày càng cao
+ Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ tạo điều kiện, cơ
hội hơn để họ tham gia vào các hoạt động cùng với nhà nước.
- Chủ quan
+ Nền hành chính đã bộ lộ nhiều yếu kém
+ Hệ thống thể chế hành chính chậm đổi mới
+ Tổ chức bộ máy chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ
Bộ máy cồng kềnh, chồng chéo về chức năng (Vấn đề về chất thải: Bộ Xây
dựng chịu trách nhiệm về chất thải đô thị, Bộ Công thương chịu trách nhiệm về
chất thải công nghiệp, Bộ Y tế chịu trách nhiệm về chất thải Y tế, chất thải nông
thôn do Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý), tuy nhiên hiện tượng chất thải
được vứt bừa bãi vẫn phổ biến.
Triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông vẫn còn thiếu đồng
bộ, thủ tục giải quyết một số loại hồ sơ hành chính còn bị cắt khúc theo cấp hành
chính, chưa tạo thành quy trình giải quyết thống nhất từ Trung ương đến địa
phương nên vẫn còn gây phiền hà cho tổ chức, công dân khi thực hiện các giao
dịch hành chính. Quan hệ phối hợp trong giải quyết hồ sơ giữa các cấp, các ngành
tuy có tiến bộ, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót, ý thức cộng đồng trách nhiệm
giữa các bên chưa cao, còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm
+ Đội ngũ CBCC bộc lộ nhiều yếu kém
Ý thức trách nhiệm thi hành công vụ, thái độ phục vụ nhân dân của đa số
cán bộ, công chức tuy đã có chuyển biến nhưng còn chậm. Một bộ phận cán bộ,
công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả còn thiếu trách nhiệm,
chưa thạo việc, hạn chế về năng lực, giải thích, tiếp nhận hồ sơ của người dân
không được thoả đáng, đầy đủ dẫn đến người dân phải đi lại nhiều lần.
Đội ngũ công chức được đánh giá là thừa, thiếu, yếu. Một bộ phận công
chức suy thoái phẩm chất, đạo đức, tham nhũng, cửa quyền, thiếu ý thức trách
nhiệm và tinh thần phục vụ, vô cảm trước yêu cầu của nhân dân, của xã hội.
Yếu kém lớn nhất là chất lượng của đội ngũ công chức vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu quản lý nhà nước trong cơ chế mới. Có đến 33% công chức đến công

sở mà không làm việc hoặc chỉ làm việc “riêng”.
Từ những tồn tại yếu kém trên cho thấy rằng đội ngũ công chức là yếu tố
tiên quyết dẫn đến thành công của công cuộc cải cách hành chính ớ nước ta. Do đó,
thiết nghĩ trong thời gian tới Chính phủ cần có những giải pháp để nâng cao chất
lượng đội ngũ công chức về nhận thức, trình độ, năng lực, tiền lương . . .


+ Nguồn tài chính công, đầu tư trong việc giải quyết công việc cho người
dân còn hạn chế.
Cải cách thủ tục hành chính là nhiệm vụ trọng tâm của cải cách hành
chính bởi các lý do sau đây:
– Thứ nhất, cải cách thủ tục hành chính là một nội dung của cải cách hành
chính, nhưng là nội dung phản ánh rõ nhất mối quan hệ giữa nhà nước và công
dân, đồng thời là nội dung có nhiều bức xúc nhất của người dân, doanh nghiệp,
cũng như có nhiều yêu cầu đổi mới trong quá trình hội nhập kinh tế.
– Thứ hai, trong điều kiện nguồn lực còn nhiều khó khăn nên chưa thể cùng
một lúc thực hiện được nhiều nội dung cải cách như: cải cách tài chính công, cải
cách tiền lương, cải cách tổ chức bộ máy… thì việc lựa chọn khâu cải cách thủ tục
hành chính sẽ mang lại hiệu quả thiết thực nhất.
– Thứ ba, thông qua cải cách thủ tục hành chính, chúng ta có thể xác định
căn bản các công việc của cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp; qua đó
chúng ta có thể xây dựng bộ máy phù hợp và từ đó có thể lựa chọn đội ngũ cán bộ,
công chức hợp lý, đáp ứng được yêu cầu công việc.
– Thứ tư, cải cách thủ tục hành chính là tiền đề để thực hiện các nội dung cải
cách khác như: nâng cao chất lượng thể chế; nâng cao trình độ, thay đổi thói quen,
cách làm, nếp nghĩ của cán bộ, công chức; phân công, phân cấp thực hiện nhiệm
vụ giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp của bộ máy hành chính; thực
hiện chính phủ điện tử, …
– Thứ năm, cải cách thủ tục hành chính có tác động to lớn đối với việc thúc
đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Thông qua việc cải cách thủ tục hành chính sẽ gỡ

bỏ những rào cản về thủ tục hành chính đối với môi trường kinh doanh và đời sống
của người dân, giúp cắt giảm chi phí và rủi ro của người dân và doanh nghiệp trong
việc thực hiện thủ tục hành chính.
– Thứ sáu, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính sẽ góp phần nâng cao hình
ảnh của Việt Nam nói chung và các bộ, ngành, địa phương nói riêng trước cộng
đồng trong nước và quốc tế, nâng cao vị trí xếp hạng của Việt Nam cũng như của
các địa phương về tính minh bạch, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh.
Đây là những giá trị vô hình nhưng có tác động to lớn đến việc phát triển kinh tế –
xã hội của đất nước cụ thể là có ảnh hưởng tích cực đến việc đầu tư trong và ngoài
nước, xuất nhập khẩu, việc làm, an sinh xã hội…
Hoặc Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001 – 2010 đã
kết thúc, đã có một số kết quả đáng khích lệ như là Đề án 30 về đơn giản hóa thủ
tục hành chính trong giai đoạn 2007-2010. Kết thúc giai đoạn 1 của Đề án, đã
thống kê và công khai được trên 5.700 thủ tục hành chính, trên 9.000 văn bản quy
định và trên 100.000 biểu mẫu thống kê thủ tục hành chính trong phạm vi cả nước.
Giai đoạn 2, các bộ, ngành và địa phương đã tiến hành tự rà soát thủ tục hành
chính và hoàn thành đúng tiến độ, đạt chỉ tiêu đơn giản hoá tối thiểu 30% thủ tục
theo chỉ đạo của Thủ tướng. Đến nay, đã có trên 5.500 thủ tục hành chính được rà
soát; có 453 thủ tục hành chính được kiến nghị bãi bỏ, hủy bỏ; có 3749 thủ tục


hành chính được kiến nghị sửa đổi, bổ sung; có 288 thủ tục hành chính được kiến
nghị thay thế, đạt tỉ lệ đơn giản hóa 81%... đã tạo thuận lợi hơn cho người dân và
doanh nghiệp trong giao dịch hành chính.

- Nội dung cải cách thủ tục hành chính:
Thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều biện pháp cụ thể để đẩy nhanh tiến
trình cải cách thủ tục hành chính như: thành lập Tổ liên ngành giải quyết vướng
mắc cho doanh nghiệp; quy định việc tiếp nhận, xử lý các vướng mắc của cá nhân,
tổ chức về thủ tục hành chính; áp dụng cơ chế một cửa, một cửa liên thông, áp

dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000; đẩy
mạnh tin học hóa một số dịch vụ hành chính công...
Hiện nay, nhìn tổng thể nền hành chính, đã có những chuyển biến tích cực,
từng bước tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
Tuy nhiên, vẫn còn những thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp, thiếu công
khai, minh bạch và còn là rào cản đối với sản xuất, kinh doanh, tạo kẻ hở cho
nhũng nhiễu, tiêu cực. Để công cuộc cải cách hành chính đạt hiệu quả cần thực
hiện có hiệu quả các mục tiêu được đề ra trong Chương trình cải cách tổng thể nền
hành chính nhà nước từ 2011 - 2020.
Cụ thể là:
- Cắt giảm và nâng cao chất lượng thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh
vực quản lý nhà nước, nhất là thủ tục hành chính liên quan tới người dân, doanh
nghiệp;
- Trong giai đoạn 2011 - 2015, thực hiện cải cách thủ tục hành chính để tiếp
tục cải thiện môi trường kinh doanh, giải phóng mọi nguồn lực của xã hội và nâng
cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm điều kiện cho nền kinh tế của đất nước
phát triển nhanh, bền vững. Một số lĩnh vực trọng tâm cần tập trung là: Đầu tư; đất
đai; xây dựng; sở hữu nhà ở; thuế; hải quan; xuất khẩu, nhập khẩu; y tế; giáo dục;
lao động; bảo hiểm; khoa học, công nghệ và một số lĩnh vực khác do Thủ tướng
Chính phủ quyết định theo yêu cầu cải cách trong từng giai đoạn;
- Cải cách thủ tục hành chính giữa các cơ quan hành chính nhà nước, các
ngành, các cấp và trong nội bộ từng cơ quan hành chính nhà nước;
- Kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới các thủ tục hành chính theo quy
định của pháp luật;


- Công khai, minh bạch tất cả các thủ tục hành chính bằng các hình thức
thiết thực và thích hợp; thực hiện thống nhất cách tính chi phí mà cá nhân, tổ chức
phải bỏ ra khi giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước; duy
trì và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính

- Đặt yêu cầu cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng thể
chế, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tăng cường đối thoại giữa Nhà nước với
doanh nghiệp và nhân dân; mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của các tổ chức và
chuyên gia tư vấn độc lập trong việc xây dựng thể chế, chuẩn mực quốc gia về thủ
tục hành chính; giảm mạnh các thủ tục hành chính hiện hành; công khai các chuẩn
mực, các quy định hành chính để nhân dân giám sát việc thực hiện;
- Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định
hành chính để hỗ trợ việc nâng cao chất lượng các quy định hành chính và giám sát
việc thực hiện thủ tục hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp.
Những định hướng đó, có thể cụ thể hóa bới các nhiệm vụ cụ thể:
- Tiếp tục rà soát đơn giản hóa thủ tục hành chính để loại bỏ thủ tục phức
tạp, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp;
- Thực hiện có hiệu quả những quy định về kiểm soát thủ tục hành chính;
- Thực hiện công khai thủ tục hành chính;
- Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của cơ quan hành chính:
- Xây dựng, triển khai kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt
động cơ quan hành chính nhà nước;
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong quy trình xử lý công việc;
- Công khai dịch vụ hành chính công trên mạng;
- Thống nhất biểu mẫu giao dịch điện tử;
- Từng bước cung cấp các dịch vụ hành chính công trên mạng.
Những việc làm trên nhằm đạt mục tiêu: xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành
chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân;
hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận
tiện cho đối tượng phụ vụ. Thực tế cho thấy, cải cách thủ tục hành chính vừa có
liên quan đến nhiều mặt phải giải quyết đồng bộ, vừa là công việc thực tế phức tạp,
đụng chạm tới lợi ích cục bộ, cá nhân.


Đây không chỉ là công việc của hệ thống hành chính nhà nước, mà phải có

sự lãnh đạo của Đảng; phải có vai trò tích cực, gương mẫu của cán bộ, đảng viên
trong các cơ quan hành chính; phải có sự tham gia tích cực của nhân dân. Thực tế
đòi hỏi phải bổ sung thủ tục, tổ chức tốt thực hiện thủ tục, cũng như kiểm tra các
cơ quan, công chức chấp hành thủ tục và quy chế công vụ một cách thường xuyên,
nghiêm túc thì thủ tục hành chính mới có thể phát huy được tác dụng của mình.
Nội dung cải cách thủ tục hành chính là:
 Đơn giản hóa thủ tục hành chính
Đơn giản về phương thức nộp hồ sơ và trả kết quả
Quy định rõ thành phần hồ sơ
Thời gian giải quyết thủ tục hành chính phải được rút ngắn
Quy định rõ về vấn đề lệ phí
Phân cấp thực hiện thủ tục hành chính
 Thực hiện đánh giá tác động và tham gia ý kiến đối với các dự án, dự
thảo có quy định về thủ tục hành chính
Là nghiên cứu, xem xét về:
+ Tính cần thiết ( quan trọng nhất)
+ Tính hợp lý
+ Tính hợp pháp của tthc đó
+ Tính các chi phí mà cá nhân, tổ chức phải bỏ ra trong việc thực hiện thủ
tục hành chính khi dự kiến ban hành, cân nhắc lựa chọn phương án tối ưu
cho việc ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung.
 Công bố công khai và cập nhật, vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về
thủ tục hành chính
 Rà soát quy định thủ tục hành chính
Cơ quan có thẩm quyền rà soát thủ tục hành chính: QH, UBTVQH, CP, TTg
CP.
 Tiếp nhận, xử lý, phản ánh ý kiến của cá nhân,tổ chức và quy định
hành chính
II. MỘT SỐ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
THỦ TỤC ĐĂNG KÝ CÔNG TY CỔ PHẦN

1. Tên thủ thục hành chính
Thủ tục đăng ký thành lập công ty cổ phần
2. Trình tự thực hiện
-Bước 1: Doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ đầy đủ theo quy định.
-Bước 2: Doanh nghiệp đến nộp hồ sơ tại Phòng Đăng ký kinh doanh
-Bước 3: Phòng Đăng ký kinh doanh kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và giải quyết
hồ sơ của doanh nghiệp.
-Bước 4: Căn cứ theo ngày hẹn trên giấy Biên nhận, doanh nghiệp đến Phòng


×