Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

Hoàn cảnh ra đời triết học Trung hoa cổ, trung đại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (88.69 KB, 18 trang )

Hoàn cảnh ra đời triết học Trung hoa cổ, trung đại
Thời Tam đại có các triều đại nhà Hạ, Thương và Tây Chu
Căn cứ vào các văn bản cổ và các di vật khảo cổ được tìm thấy thì triều đại nhà Hạ ra đời
vào khoảng thế kỷ XXI tr.CN. Đây là nhà nước đầu tiên của thời kỳ xã hội cổ đại ở Trung
Hoa.
Về tình hình kinh tế - xã hội, thời đại này người Hạ đạ biết chế tạo, sử dụng những công
cụ, vũ khí bằng đồng và có dấu hiệu xuất hiện văn tự.
Khoảng nữa đầu thế kỷ XVII tr.CN, Thành Thang - người đứng đầu bộ tộc Thương đã lật
đổ vua Kiệt nhà Hạ, lập nên nhà Thương đặt đô ở đất Bạc (thuộc tỉnh Hà Nam bây giờ).
Đến thế kỷ XIV tr.CN, Bàn Canh dời đô về đất Ân (thuộc huyện An Dương, Hà Nam
ngày nay). Vì vậy nhà Thương còn gọi là nhà Ân.
Vào thời nhà Thương, trình độ sản xuất còn thấp, công cụ sản xuất còn lạc hậu (đồ sắt
chưa phổ biến). Về văn hoá đã phát minh ra chữ viết, đã quan sát được sự vận hành của
Mặt Trăng, các vì sao, tính chu kỳ lên xuống của nước sông, làm ra âm lịch, lịch mùa dựa
trên "can" và "chi". Về tư tưởng, con người ở thời nhà Thương đã bước vào giai đoạn thờ
tổ tiên thay cho tín ngưỡng Tô tem giáo.
Khoảng thế kỷ XI tr.CN, Chu Vũ Vương – con trai Chu Văn Vương đã diệt vua Trụ nhà
Thương, lập nên nhà Chu, đóng đô ở Thiểm Tây ngày nay, phía tây nước Chu, gọi là Tây
Chu, đưa chế độ nô lệ ở Trung Hoa lên đỉnh cao. Hình thái kinh tế - xã hội thời Tây Chu
có những đặc điểm cơ bản sau:


Nhà Chu thực hiện chế độ quốc hữu về tư liệu sản xuất (ruộng đất) và sức lao
động. Về nguyên tắc, ruộng đất và mọi thành viên đều thuộc quyền quản lý của vua
nhà Chu.



Trong xã hội có sự phân chia thành hai hạng người, đó là quân tử (quý tộc) và tiểu
nhân (kẻ hèn).




Sự phân công lao động, chia tách xã hội lần thứ nhất chưa triệt để.



Về tư tưởng có sự gắn chặt giữa thần quyền và thế quyền.


Thời Xuân Thu - Chiến Quốc
Đây là thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến, còn gọi là
thời Đông Chu, do Chu Bình Vương dời đô về phía Đông (Lạc Dương, Hà Nam ngày
nay).


Thời Xuân Thu (khoảng 770 – 475 tr.CN).



Thời Chiến Quốc (475 – 221 tr.CN):



Về lực lượng sản xuất: Đồ sắt phát triển khá phổ biến, kỹ thuật canh tác phát triển.
Nền sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ. Sự phân công
lao động và chuyên môn hoá sản xuất ngày càng cao. Sự phát triển của lực lượng sản
xuất, của kinh tế đã có tác động mạnh đến hình thức sở hữu ruộng đất, kết cấu và địa
vị kinh tế của các giai tầng trong xã hội.




Về chính trị: Thời Xuân Thu, mệnh lệnh của Thiên tử nhà Chu không còn được
tuân thủ, trật tự lễ nghĩa, kỷ cương xã hội bị đảo lộn, đạo đức suy đồi. Sự tranh giành
địa vị xã hội của các thế lực cátcứ đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào tình trạng
chiến tranh khốc liệt liên miên. Đây chính là điều kiện lịch sử đòi hỏi giải thể chế độ
thị tộc nhà Chu, hình thành xã hội phong kiến; đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độ
gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, mở
đường cho xã hội phát triển. Sự biến chuyển sôi động đó của thời đại đã đặt ra và làm
xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm các "kẻ sĩ" luôn tranh luận về trật tự xã hội
cũ và đề ra những hình mẫu của một xã hội tương lai. Lịch sử gọi thời kỳ này là thời
kỳ "Bách gia chư tử" (trăm nhà trăm thầy), "Bách gia minh tranh" (trăm nhà đua
tiếng). Chính trong quá trình ấy đã sản sinh các tư tưởng lớn và hình thành nên các
trường phái triết học khá hoàn chỉnh.

Đặc điểm của triết học Trung Hoa cổ, trung đại


Thứ nhất là nền triết học nhấn mạnh tinh thần nhân văn. Trong tư tưởng triết học Trung
Hoa cổ, trung đại, tư tưởng liên quan đến con người như triết học nhân sinh, triết học đạo
đức, triết học chính trị, triết học lịch sử phát triển, còn triết học tự nhiên có phần mờ nhạt.
Thứ hai là chính trị đạo đức, các triết gia Trung Hoa đều tập trung vào lĩnh vực luân lý
đạo đức, xem việc thực hành đạo đức như là hoạt động thực tiễn căn bản nhất của một
đời người, đặt lên vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội.
Thứ ba là nhấn mạnh sự hài hoà, thống nhất giữa tự nhiên và xã hội. Các nhà triết học
nhấn mạnh sự hài hoà, thống nhất giữa các mặt đối lập, coi trọng tính đồng nhất của các
mối liên hệ tương hỗ của các khái niệm, coi việc điều hoà các mâu thuẫn là mục tiêu cuối
cùng để giải quyết các vấn đề.
Thứ tư là tư duy trực giác. Đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy triết học cổ, trung
đại Trung Hoa là nhận thức trực giác, tức là có trong sự cảm nhận hay thể nghiệm. Cảm
nhận tức là đặt mình giữa đối tượng, tiến hành giao tiếp lý trí, ta và vật ăn khớp, khơi vậy

linh cảm, quán xuyến nhiều chiều trong chốc lát, từ đó mà nắm bản thể trừu tượng.
Phương thức tư duy trực giác đặc biệt coi trọng tác dụng của cái tâm, coi tâm là gốc rễ
của nhận thức, "lấy tâm để bao quát vật".


1.Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm.
Trung Quốc là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Trung Quốc đất
đai rộng lớn, có hai con sông lớn Hoàng Hà và Trường Giang, là một trong những
nước có nền văn minh hình thành sớm nhất và rực rỡ nhất trong lịch sử.
Triết học Trung Quốc suy cho cùng là sự phản ánh xã hội Trung Quốc. Triết học
Trung Quốc có mầm mống từ lâu, nhưng thực sự nở rộ vào khoảng thế kỷ VI đến
thế kỷ III tr.CN. Đây là thời kỳ biến đổi dữ dội, chuyển biến từ chế độ chiếm hữu
nô lệ sang chế độ phong kiến kiểu phương Đông – thời kỳ Đông Chu liệt quốc hay
Xuân Thu chiến quốc với chiến tranh liên miên, tàn khốc, trật tự xã hội cũng như
luân lý đạo đức sụp đổ, cái cũ đã qua, cái mới chưa đến, lòng người chao đảo
không biết đi về đâu.
Thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc là thời kỳ hai chế độ xã hội chuyển giao, đấu tranh
giai cấp gay gắt, chiến tranh liên miên. Đó là thời kỳ “Bá đạo lấn át vương đạo”,
thời kỳ: Vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, cha không phải đạo cha,
con không phải đạo con. Đạo đế vương mờ tối, người đời say đắm đường danh lợi,
không ai muốn làm điều nghĩa nữa. Để góp phần cứu vãn tình thế đó, “Bách gia
chư tử” ra đời. Nhiều nhà tư tưởng muốn trình bày quan điểm của mình, phê phán
trật tự xã hội cũ, đề ra mẫu hình xã hội tương lai.
Phải nói lịch sử Trung Quốc, đây là thời kỳ có một không hai về tự do học thuật,
bởi vậy, các trường phái triết học mọc lên như nấm gặp mưa rào. Nền văn minh
Hoa Hạ rộng lớn đặc sắc đã được đặt nền móng từ đấy với các tư tưởng phong phú
và đa dạng, phức tạp. Nó cũng chứa đựng những mâu thuẫn nhiều khi rất gay gắt.
Khái quát lại có 9 hệ thống triết họcchính xuất hiện: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia,
Pháp gia, Âm Dương gia, Danh gia, Nông gia, Tung hoành gia, Tạp gia (có thuyết



còn cho có thêm trường phái Tiểu thuyết gia). Có thể khái quát một số đặc điểm
của lịch sử xã hội Trung Quốc như sau:
Một là, công xã nông thôn được bảo tồn lâu dài trong suốt thời kỳ lịch sử cổ - trung
đại, với hạt nhân của nó là chế độ đại gia đình phụ quyền (tông pháp) được xác lập
vững chắc. Địa vị của người con trưởng quan trọng nhất trong nhà, trách nhiệm
cũng lớn nhất, được hưởng gia tài, giữ việc hương khói.
Hai là, ở Trung Quốc, nhà nước ra đời trên cơ sở trình độ kỹ thuật còn non kém (đồ
sắt chưa được sử dụng phổ biến); trong xã hội, mức độ phân hóa giai cấp chưa sâu
sắc. Hình thức bóc lột là hình thức cống nạp; tô và thuế nhập làm một. Mối quan
hệ của các thành viên trong xã hội đối với nhà nước là quan hệ của thần dân đối
với vua chứ không phải là mối quan hệ của công dân đối với nhà nước.
Ba là, ruộng đất công, trên nguyên tắc, toàn bộ đất đai trong toàn quốc là thuộc
quyền sở hữu của nhà vua, mọi người dân chỉ có quyền sử dụng đất. Chỉ bằng một
quyết định, nhà nước có thể tịch thu ruộng đất của bất cứ ai.
Bốn là, cho đến trước khi bị chủ nghĩa thực dân tư bản phương Tây xâm lược, trên
đất nước Trung Quốc chưa hề có một cuộc cách mạng xã hội theo đúng nghĩa.
Trong lòng xã hội, các kết cấu mới – cũ đan xen lẫn nhau, cùng cộng sinh bên nhau
trong suốt quá trình lịch sử. Thế kỷ VIII tr.CN phân tầng xã hội đã bắt đầu biến đổi
sâu sắc, kết cấu giai tầng phức tạp, xung đột đã gay gắt.
Năm là, Trung Quốc được gọi là một trong những nước có nền văn minh sớm nhất
và rực rỡ nhất trong lịch sử, cho đến năm 1911, lịch sử Trung Quốc trải qua ba thời
kỳ kế tiếp nhau: thời kỳ thượng cổ, cổ đại, trung cổ. Tuy nhiên, tư tưởng triết
học Trung Quốc chỉ nở rộ ở nửa cuối thời kỳ cổ đại (vào thời Đông Chu) và được
duy trì phát triển ít nhiều ở thời kỳ Trung cổ.
Xuất hiện và phát triển trong điều kiện như vậy, triết học Trung Quốc có một
số đặc điểm cơ bản sau:


1. Thứ nhất, triết học Trung Quốc nhấn mạnh mặt thống nhất trong mối quan hệ

giữa con người và vũ trụ. Đây là tư tưởng xuyên suốt nhiều trường phái, học thuyết
khác nhau. Trong những kinh điển chủ yếu của Nho giáo (Kinh dịch, Đại học,
Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử...) đều nhất quán tư tưởng “biết đến cùng cái tính
của con người thì cũng có thể biết đến cùng cái tính của vạt vật trời đất”. Ngoài ra,
các trường phái, học thuyết khác cũng thể hiện rõ quan điểm này, Trang Chu cho
rằng, trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một...
2. Thứ hai, triết học Trung Quốc xuất phát từ con người, lấy con người làm vấn đề
trung tâm. Nghiên cứu thế giới cũng chỉ nhằm làm rõ vấn đề con người. Tuy nhiên
con người không được chú ý trên tất cả các mặt mà chỉ chú ý trên khía cạnh luân
lý, đạo đức. Vấn đề bản thể luận trong triết học Trung Quốc rất mờ nhạt, còn
trong triết học phương Tây lại đặt trọng tâm vào nghiên cứu thế giới, vấn đề con
người cũng chỉ được bàn tới nhằm giải thích thế giới. Do đó, khác với triết học
Trung Quốc, trong triết học phương Tây, vấn đề bản thể luận rất đậm nét.
Về bản chất con người (tính người, Khổng Tử cho gần nhau (giống nhau), nhưng
do tập quán, phong tục mà xa nhau (khác nhau) (“Tính tương cận, tập tương
viễn”); Mạnh Tự cho tính người (nhân tính) vốn thiện; Tuân Tử cho tính người vốn
ác; Cáo Tử cho tính không thiện cũng không bất thiện. Đổng Trọng Thư đưa ra tính
tam phẩm, còn Hàn Dũ đưa ra có tính ba bậc.
Về số phận con người, Nho giáo quy tất cả là do mệnh trời; Tuân Tử cho rằng con
người có thể thắng được trời. Từ đó triết học Trung Quốc hướng đến mẫu người lý
tưởng như sĩ, quân tử, đại trượng phu, thánh nhân.
3. Thứ ba, triết học Trung Quốc ít tồn tại dưới dạng triết học thuần túy mà thường
được trình bày xen kẽ hoặc ẩn giấu đằng sau với những vấn đề cấu trúc xã hội, đạo
đức, tôn giáo, nghệ thuật. Vì vậy, ở Trung Quốc ít khi có triết gia và các phần triết
học độc lập. Cho nên, nếu ở phương Đông nói chung, Trung Quốc nói riêng triết


học ẩn giấu đằng sau các khoa học khác thì ở phương Tây ngay từ đầu, triết học đã
là một khoc học độc lập, các khoa học khác lại ẩn giấu ở đằng sau triết học ở vào
buổi bình minh của nó.

4. Thứ tư, về mặt nhận thức, triết học Trung Quốc bàn nhiều về vấn đề trực giác
tâm linh, những vấn đề phi lý tính. Phương pháp nhận thức này, xét về góc độ nào
đó nó phù hợp với đối tượng mà nó đặt ra để nghiên cứu. Nó thường không được
trình bày dưới dạng hình thức hệ thống lý luận lôgic như các tác phẩm triết học
hiện đại. Nhìn chung, lý luận nhận thức trong triết học Trung Quốc là phiến diện,
không xem giới tự nhiên là đối tượng nhận thức, mà chỉ nhận thức chủ yếu về mặt
luân lý đạo đức.
5. Thứ năm, triết học Trung Quốc vừa thống nhất vừa đa dạng. Thống nhất ở chỗ
nó đều nhằm mục đích ổn định xã hội, chấm dứt chiến tranh, chẳng hạn, Nho gia
đưa ra đường lối chính danh, đức trị; Pháp gia đưa ra đường lối pháp trị; Mặc gia
đưa ra đường lối kiêm ái; Đạo gia đường lối vô vi... Nó đa dạng ở chỗ có rất nhiều
trường phái, khuynh hướng tư tưởng, với 9 trường phái và đặc biệt nổi bật hơn cả
là 6 trường phái lớn có ảnh hưởng mạnh mẽ trong đời sống, trong lịch sử xã hội là:
Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia, Âm Dương gia, Danh gia. Mỗi nhà đều có
chủ trương, đường lối riêng của mình.
Trong các trào lưu triết học Trung Quốc cổ đại, thường đan xen các yếu tố duy vật
và duy tâm, biện chứng và siêu hình. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ
nghĩa duy tâm không gay gắt quyết liệt như ở phương Tây. Chẳng hạn như:
- Nho giáo về cơ bản là duy tâm, nhưng vẫn có những luận điểm duy vật, nhất là ở
thời kỳ đầu.
- Đạo gia, Mặc gia, Âm Dương ngũ hành gia bên cạnh những luận điểm duy vật lại
có cả những luận điểm duy tâm


Trong suốt chiều dài hơn 2.000 năm phong kiến Trung Hoa, các học thuyết cổ đại
thường được các nhà tư tưởng phong kiến kế thừa, tự nhận thuộc về trường phái đã
có nào đó từ thời cổ đại mà không lập ra học thuyết mới cho nên sự phát triển của
triết học Trung Quốc chủ yếu theo hướng từ từ thay đổi về lượng mà ít thấy có sự
nhảy vọt về chất.
6. Phép biện chứng trong triết học Trung Quốc thể hiện trong học thuyết biến

dịch (Kinh dịch); sự tương tác giữa âm dương, ngũ hành; trong học thuyết Lão Tử.
Nhìn chung, biện chứng trong triết học Trung Quốc vẫn còn thô sơ, đơn giản, biện
chứng vòng tròn, tuần hoàn khép kín.
Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo là ba dòng chủ đạo, kiến tạo nên hệ tư tưởng
phong kiến Trung Quốc, song trên thực tế, Nho giáo vẫn là dòng chủ đạo, đóng vai
trò Trung Quốc.


II .HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH
1.học thuyết âm dương
1. 1 Nguồn gốc của thế giới
Thái cực là nguồn gốc của thế giới đó là nguyên khí,một thứ khí tiên thiên,một thứ
khí linh căn bất diệt vô cùng huyền diệu.
Thái cực bao chứa trong mình nó 2 thế lực là âm và dương.Âm ko thuần âm,dương
ko thuần dương.Trong âm có dương,trong dương có âm.Âm dương ôm ngoàm lẫn
nhau, ko tách rời nhau.Âm là điều kiện của dương,dương là điều kiện cuả âm.
Âm dương tuy 2 mà 1,tuy 1 mà 2.Là 1 lẽ bất nhị vì cùng được bao chứa trong thái
cực.
Thái cực bao chứa trong nó âm dương nên nó là đầu mối của âm và dương,âm và
dương cùng hiện hữu đồng đẳng trong thái cực.Mỗi chúng đều chứa mầm mống
chủng tử của nhau,ko có cái nào có trước ,cái nào có sau,ko có cái nào sinh ra cái
nào.Dương chủ về sinh,âm chủ về dưỡng,dương sinh âm dưỡng ,dương trưởng âm
tiêu,âm trưởng dương tiêu.Âm tụ dương tán ,dương tụ âm tán.
Âm trưởng lấn át dương nên là âm.Dương trưởng lấn át âm nên là dương.Âm
dương tương phản nhưng ko tương khắc.
1.2 sự vận động của thế giới
Thái cực tạo ra lưỡng nghi,là âm và dương,lưỡng nghi vận động tạo ra tứ tượng là :
thiếu dương,thái dương,thiếu âm,thái âm.
Tứ trượng vận động tạo ra bát quái.Đó là kiền
(càn),đoài,ly,chấn,tốn,khảm,cấn,khôn.



Nghi dương là thanh khí biểu đạt các thế lực như trời,mặt trời,ánh sáng ,đi lên ,màu
trắng,đàn ông,con trai,cứng ,nóng,nhẹ.
Nghi âm là trọc khí biểu đạt các thế lực như trái đất,mặt trăng,bóng tối,đàn ba
̀,mềm,màu đen,nặng.
Thiếu dương là giai đoạn khí dương đi ra từ khí âm,là giai đoạn hình thành; thái
dương là giai đoạn khí dương phát triển cực độ là giai đoạn thịnh vượng.
Thiếu âm là giaai đoạn khí âm từ thái dương đi ra là giai đoạn suy;thái âm là giai
đoạn khí âm phát triển cực độ lấn át khí dương là giai đoạn huỷ diệt.
Bát quái hay 8 quẻ biểu đạt các thế lực căn bản vũ trụ là: kiền (càn)-biểu đạt trời;
đoài – ao,hồ;ly- lửa;chấn – sấm ; tốn – gió;khảm – nước; cấn –núi; khôn-đất
Vẽ biểu đồ các thế lực âm dương tứ tượng,bát quái,trùng quái và sự biến hoá của
chúng:


Người xưa đặt tên cho các yếu tố thứ cấp Bát quái như sau:
Thái thái dương: CÀN
Thiếu thái dương : ĐOÀI
Thái thái âm: KHÔN
Thiếu thái âm: CẤN
Thái thiếu dương: CHẤN
Thiếu thiếu dương: LY
Thái thiếu âm: TỐN
Thiếu thiếu âm: KHẢM
Bản thể của âm dương vừa tĩnh vừa động,vừa động vừa tĩnh,tĩnh động ,động
tĩnh,tĩnh mà động động mà tĩnh,tĩnh ở trong động động ở trong tĩnh,tĩnh trong cái
động động trong cái tĩnh.Động tĩnh liên lặpđi liền nhau,sáp nhập nhau,ko tách rời
nhau.Trong động có tĩnh trong tĩnh có động,bản tính của dương là hiếu động hơn
tĩnh,bản tính của âm là hiếu tĩnh hơn động.

Âm dương động khi chúng tương giao, tương thành ,tương cầu,tương ứng ,tương
xứng,tương ma,động ko tuyệt đối mà tĩnh ko tuyệt đối,mà động tĩnh tĩnh động.
Âm dương tương giao,tương thành ,tương cầu ,tương ứng,tương xứng ,tương ma
làm ra biến hoá và biến hoá mãi mãi không cùng.
Âm dương biến hoá nhưng biến hoá có trình tự có trật tự,có tôn ti có chứng mực
theo lẽ tự nhiên ,theo tuần tự có lớp,ko pải bỗng dưng đột biến .Có động thì có biến
,có biến thì có hoá,có hoá thì có thông,có thông thì có lâu bền; biến là biến dần đần


từ từ lần lần tiệm biến và biến đến cùng cực thì biến đổi ngược lại,quay trở lại cái
trước đó.
Âm dương biến dịch biến hoá nhưng cũng là bất dịch bất biến ,âm dương biến
nhưng biến trong vòng trật tự nên bản dạng bản thể của âm dương là biến mà
chẳng biến ,chẳng biến mà biến là lực thường hằng của vạn vật vạn sự làm cho vạn
vật vạn sự đang trở nên trở thành vạn vật luôn chưa xong chưa thành và tiếp diễn
sự trở nên ,trở thành ,chưa xong ,chưa thành ,vĩnh viễn mãi mãi.
2. Học thuyết ngũ hành
2.1 ngũ hành
Thuỷ ,hoả ,mộc ,kim ,thổ là 5 thế lực vật chất liên hệ mật thiết với nhau ,ràng buộc
lẫn nhau ,quy định ,tác dộng qua lại và chuyển hoá lẫn nhau theo luật tương sinhtương khắc.Ngũ hành tương sinh là quá trình các hành liên hệ tương tác tạo nên
q.hệ sản sinh :
-thuỷ sinh mộc,mộc sinh hoả,hoả sinh thổ,thổ sinh kim,kim sinh thuỷ.
Ngũ hành tương khắc là quá trình các hành tương tác tạo nên q.hệ khắc chế :
-thuỷ khắc hoả,hoả khắc kim,kim khắc mộc,mộc khắc thổ,thổ khắc thuỷ.
Các hành vừa tương sinh vừa tương khắc.Sinh cho hành này khắc cho hành kia nên
sinh mà khắc,khắc mà sinh ,sinh khắc khắc sinh.
2.2. Quan hệ của Ngũ hành
Những lực lượng trong sự vật quan hệ với nhau trong sự tương tác thống nhất và
mâu thuẫn. Các quan hệ được tổng hợp thành 2 quan hệ cơ bản là tương sinh và
tương khắc.

quan hệ tương sinh: A sinh B, ký hiệu A -> B. Trong quan hệ này, các yếu tố của
lực lượng A hỗ trợ cho lực lượng B phát triển hoặc chuyển từ A sang B. Bản chất


của quan hệ này là ở chỗ, tác động của A trong tương tác với các lực lượng khác
làm cho B thu được nhiều giá trị mới, kết quả của tương tác âm dương, hơn.
Quan hệ tương khắc: A khắc B, ký hiệu A --- > B. Trong quan hệ này, những yếu tố
của lực lượng A trong quá trình tương tác với các yếu tố khác trong Vạn tượng gây
nên những hiệu ứng làm cho B không thu được nhiều giá trị mới, được tạo ra trong
quá trình tương tác âm dương, làm cản trở sự phát triển của B.
Người ta quan sát và phát hiện ra rằng, trong quan hệ tương sinh A sinh B, nếu A
quá vượng (mạnh), thì B không những không phát triển tốt hơn lên, không thu
thêm được nhiều giá trị mới hơn mà còn bị suy giảm đi, thu được ít giá trị mới hơn.
Lúc này, quan hệ tương sinh chuyển thành quan hệ được gọi là tương thừa, một
thái quá của tương sinh: A tương thừa B.
Trong quan hệ tương khắc, nếu A khắc B, nếu A quá yếu, B quá vượng thì A không
những không thể khắc B mà còn bị B triệt. Quan hệ tương khắc chuyển thành quan
hệ tương vũ, một trường hợp bất cập của tương khắc: A tương vũ B.
Tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ là những quan hệ cơ bản của các
yếu tố trong sự vật. Quan hệ tương sinh, tương khắc phổ biến trong sự phát triển ổn
định của sự vật, thời kỳ Hậu thiên. Quan hệ tương thừa, tương vũ sảy ra khi sự vật
trở nên thái quá hay bất cập, có những yếu tố quá vượng hay quá yếu.
Dưới đây ta xét quan hệ 5 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ trong trạng thái phát
triển ổn định của Vạn tượng, tức là chỉ bao gồm các quan hệ tương sinh và tương
khắc.
Như trên đã chứng minh, quan hệ Tam tài như sau:
Dương khắc Âm: Dương --- > Âm
m sinh Chung: Âm ->Chung
Chung khắc Dương: Chung --- > Dương
Mặt khác, như đã thấy, Hoả là bản chất ban đầu của Âm , Thuỷ là bản chất của

Dương và Thổ chính là Chung trong Tam tài khi mô tả sự vật bằng cấu trúc ngũ
hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Do đó:
Thuỷ khắc Hoả: Thuỷ --- > Hoả
Hoả sinh Thổ: Hoả -> Thổ


Thổ khắc Thuỷ: Thổ --- > Thuỷ
Ở đây ta thấy một cấu trúc quan hệ cơ bản sau:
Nếu : A sinh B.
C khắc A.
Thì B khắc C.
Điều này được lý giải như sau: Mọi sự vật phát triển, tương tác với các sự vật khác
luôn có xu hướng giành lấy nhiều nhất có thể được lợi ích cao nhất hay giá trị mới
nhiều nhất. Khi A sinh B mà C khắc A thì, để bảo vệ lợi ích của mình, B phải khắc
C.
Quan hệ này có thể coi như một quan hệ cơ bản, dùng để xác định các quan hệ của
các đối tượng trong sự vật, gọi là quan hệ cơ bản 1.
Như ở trên ta đã xác định được quan hệ của Kim – Thuỷ và Mộc – Hoả như sau:
Kim sinh Thuỷ: Kim -> Thuỷ
Mộc sinh Hoả: Mộc -> Hoả
Mặt khác, ta cũng đã xác định rằng, Kim và Mộc đóng vai trỏ Dương, Âm trong sự
vật mới được sinh ra khi sự vật cũ mất đi. Do Dương khắc Âm nên quan hệ Kim –
Mộc là:
Kim khắc Mộc: Kim --- > Mộc.
Do Kim sinh Thuỷ mà Thuỷ khắc Hoả nên, theo cấu trúc quan hệ cơ bản 1 đã xem
xét ở trên ta được:
Hoả khắc Kim: Hoả --- > Kim.
Như trên ta cũng thấy, do Thuỷ khắc Hoả làm cho Hoả không thể quá động nên
mới nảy sinh Mộc để kìm bớt tính động của Hoả. Có nghĩa là, sự tác động của
Thuỷ tới Hoả là nguyên nhân sinh ra của Mộc, Do đó quan hệ của Thuỷ và Mộc

phải là:
Thuỷ sinh Mộc: Thuỷ -> Mộc
Áp dụng quan hệ cơ bản 1 cho Thổ, Thuỷ, Mộc ta thấy: Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ sinh
Mộc nên:
Mộc khắc Thổ: Mộc --- > Thổ.


Lại Áp dụng quan hệ cơ bản 1 cho Thổ, Mộc, Kim ta thấy: Kim khắc Mộc, Mộc
khắc Thổ nên:
hổ sinh Kim: Thổ -> Kim
Như vậy, 10 quan hệ tương tác lẫn nhau giữa 5 hành Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ đã
được xác định như sau
Thuỷ khắc Hoả: Thuỷ --- > Hoả.
Hoả sinh Thổ: Hoả Thổ.
Thổ khắc Thuỷ: Thổ --- > Thuỷ.
Kim sinh Thuỷ: Kim -> Thuỷ.
Mộc sinh Hoả: Mộc -> Hoả.
Kim khắc Mộc: Kim --- > Mộc.
Hoả khắc Kim: Hoả --- > Kim.
Thuỷ sinh Mộc: Thuỷ -> Mộc.
Thuỷ sinh Mộc: Thuỷ -> Mộc.
Thổ sinh Kim: Thổ -> Kim.
Sơ đồ ký hiệu quan hệ ngũ hành như sau:
Qua sơ đồ ta thấy có 2 vòng quan hệ tương sinh và tương khắc như sau:
Quan hệ tương sinh:
Kim -> Thuỷ -> Mộc -> Hoả -> Thổ -> Kim
Quan hệ tương khắc:
Thuỷ --- > Hoả --- > Kim --- > Mộc --- > Thổ --- > Thuỷ.
Nhận xét trên sơ đồ ta thấy quan hệ cơ bản thứ 2 như sau:
Nếu : A sinh B.

B sinh C.
Thì A khắc C.
Âm dương là bản thể của ngũ hành là sự biến hoá của âm dương ngũ hành tạo ra
vạn vật vạn sự trật tự và tạo ra mối quan hệ của chúng.
Hiện
tượng

Ngũ hành
Mộc

Hoả

Thổ

Kim

Thuỷ


Vật chất

Gỗ, cây

Lửa

Đất

Kim loại

Nước


Máu sắc

Xanh

Đỏ

Vàng

Trắng

Đen

Vị

Chua

Đắng

Ngọt

Cay

Mặn

Mùa

Xuân

Hạ


Cuối hạ

Thu

Đông

Phương

Đông

Nam

Trung ương

Tây

Bắc

Tạng

Can

Tâm

Tỳ

Phế

Thận


Phủ

Đởm

Tiểu trưởng

Vị

Đại trường

Bàng quang

Ngũ thể

Cân

Mạch

Thịt

Da lông

Xương, tuỷ

Ngũ quan

Mắt

Lưỡi


Miệng

Mũi

Tai

Tình chí

Giận

Mừng

Lo

Buồn

Sợ

Âm dương ngũ hành của thiên can địa chi:
Giáp,bính,mậu,canh,nhâm thuộc dương
Ất,đinh,kỷ,tân,quý thuộc âm
Trong đó:
. giáp,ất thuộc mộc ( giáp là dương mộc ,ất là âm mộc )
.bính,đinh thuộc hoả ( bính + hoả,đinh – hoả)
.mậu ,kỷ thuộc thổ ( mậu + thổ,kỷ – thổ)
.canh,tân thuộc kim ( canh + kim,tân – kim)
.nhâm ,quý thuộc thuỷ (nhâm + thuỷ,quý – thuỷ)

*** đánh giá của bản thân về 2 học thuyết này:( chọn 1 trong 2)

1. Thuyết Ngũ hành cho chúng ta một cái nhìn động về sự vận động và phát triển.
Mọi sự phát triển đều có điểm gốc là tích Kim. Hành Kim tích được càng nhiều,


càng bền vững thì các bước phát triển tiếp theo càng bền vững. Đặc biệt khi đã đạt
đến trạng thái Hỏa thì nhất định phải tìm kế để tích Kim các vòng mới. Vì nếu
không sẽ lâm vào trạng thái Thổ.
.2 Học thuyết âm dương đã nói rõ sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách
quan với hai mặt đối lập thống nhất đó là âm dương. Âm dương là quy luật chung
của vũ trụ, là kỉ cương của vạn vật, là khởi đầu của sự sinh trưởng, biến hóa.
Nhưng nó sẽ gặp khó khăn khi lý giải sự biến hóa, phức tạp của vật chất. Khi đó nó
phải dùng thuyết ngũ hành để giải thích. Vì vậy có kết hợp học thuyết âm dương
với học thuyết ngũ hành mới có thể giải thích mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội
một cách hợp lý.
Hai học thuyết này luôn luôn phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau, không thể tách
rời. Muốn nhìn nhận con người một cách chỉnh thể, đòi hỏi phải vận dụng kết hợp
cả hai học thuyết âm dương và ngũ hành. Vì học thuyết âm dương mang tính tổng
hợp có thể nói lên được tính đối lập thống nhất, tính thiên lệch và cân bằng của các
bộ phận trong cơ thể con người, còn học thuyết ngũ hành nói lên mối quan hệ phức
tạp, nhiều vẻ giữa các yếu tố, các bộ phận của cơ thể con người và giữa con người
với tự nhiên. Có thể khẳng định, trên cơ bản, âm dương ngũ hành là một khâu hoàn
chỉnh, giữa âm dương và ngũ hành có mối quan hệ không thể tách rời.
Âm dương ngũ hành là những phạm trù cơ bản trong tư tưởng của người Trung
Quốc cổ đại. Đó cũng là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa để
giải thích sụ sinh thành, biến hóa của vũ trụ. Đến thời Chiến quốc, học thuyết âm
dương ngũ hành đã phát triển đến một trình độ khá cao và trở thành phổ biến trong
các lĩnh vực khoa học tự nhiên. Song học thuyết âm dương ngũ hành cũng như các
học thuyết triết học Trung Quốc cổ đại là thế giới quan của người Trung Hoa ở vào
một thời kỳ lịch sử đã lùi vào dĩ vãng, lúc đó lực lượng sản xuất và khoa học còn ở
trình độ thấp, cho nên không khỏi có những hạn chế do những điều kiện lịch sử

đương thời quy định Đặc biệt, sự phát triển của nó chưa gắn với những thành tựu
của khoa học tự nhiên cận hiện đại, nó còn mang dấu ấn của tính trực giác và


tính kinh nghiệm. Song học thuyết đó đã trang bị cho con người tư tưởng duy vật
khá sâu sắc và độc đáo nên đã trở thành lý luận cho một số ngành khoa học cụ thể.



×