I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện về
đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mỹ, nghề nghiệp và hình thành nhân cách, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa.
Trong những năm gần đây, ngoài quan tâm vấn đề giáo dục các môn văn
hóa, Bộ GD-ĐT đã đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống tích hợp vào các môn
học ở bậc tiểu học. Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn.
Ở bậc tiểu học là bậc tạo nền tảng cho học sinh phát triển, việc giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh là một nội dung cũng đang được xã hội và các nhà giáo
dục chú trọng. Bởi đây là một chương trình giáo dục hết sức cần thiết đối với
học sinh và phù hợp với mục tiêu giáo dục hiện nay. Vì vậy, ngoài việc trang bị
cho học sinh vốn kiến thức cơ bản trong học tập, lao động còn phải giáo dục học
sinh có kỹ năng sống, kỹ năng làm người để học sinh có thêm kinh nghiệm thích
ứng với môi trường, xã hội mới.
Tuy nhiên, việc giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường
đang gặp không ít khó khăn. Trước hết, do chưa có bộ giáo trình
chuẩn về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, nên nhiều GV
không hiểu và không biết bắt đầu giảng dạy kỹ năng sống cho
học sinh như thế nào? Hơn nữa, một số bậc phụ huynh vẫn còn
quá coi nặng thành tích học tập của học sinh, của con em mình
mà bỏ quên giáo dục kỹ năng sống, coi đó là điều chưa thực sự
cần thiết. Vì vậy việc đưa ra các biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho HS lớp
5 là vấn đề cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài: “Áp dụng một số biện pháp giáo
dục kỹ năng sống thông qua các môn học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp tại lớp 5A - trường Tiểu học An Khang”, để nâng cao chất lượng giáo dục
học sinh.
2. Mục đích nghiên cứu:
1
Kỹ năng sống là điều hết sức quan trọng với tất cả mọi người. Vì vậy việc
giáo dục kĩ năng sống là điều hết sức cần thiết cho tương lai các em và cần được
bắt đầu rèn luyện từ nhỏ, từ từng hành vi cá nhân đơn giản nhất, theo đó hình
thành tính cách và nhân cách. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thức
rõ tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Việc giáo dục kĩ
năng sống nhằm giúp các em học sinh:
- Tự tin trong giao tiếp, biết chia sẻ với mọi người về nỗi buồn, niềm vui,
những khó khăn trong học tập và cuộc sống.
- Biết tự phục vụ cho sinh hoạt của bản thân và trong học tập.
- Biết tìm kiếm sự giúp đỡ của mọi người xung quanh. Tích cực tham gia
các hoạt động tập thể, có hứng thú tìm hiểu về lịch sử, truyền thống địa phương.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống thông qua các môn học và hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp; tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh
Tiểu học
4. Kế hoạch nghiên cứu:
T
T
1
2
Thời gian
từ 01/10/2016
Nội dung công việc
đến 15/5/2017
Từ 01/10 đến Chọn đề tài, viết đề cương nghiên Bản đề cương chi
01/11/2016
cứu
tiết
- Đọc tài liệu lý thuyết về cơ sở lý - Tập tài liệu lý
Từ 01/11 đến luận
01/12/2016
thuyết
- Khảo sát thực trạng, tổng hợp số - Số liệu khảo sát đã
liệu thực tế
3
4
Sản phẩm
Từ 01/12 đến
01/04/2017
- Trao đổi với đồng nghiệp đề xuất
các biện pháp, các sáng kiến
- Áp dụng thử nghiệm
Từ 01/04 đến - Hệ thống hóa tài liệu, viết báo cáo
30/4/2017
- Xin ý kiến của đồng nghiệp
2
xử lý
- Tập hợp ý kiến
đóng góp của đồng
nghiệp
- Hoạt động cụ thể
Bản nháp báo cáo
5
Từ
01/5
15/5/2017
đến Hoàn thiện báo cáo, nộp Hội đồng Bản báo cáo chính
Sáng kiến cấp cơ sở
thức
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Các phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Đọc, phân tích,
tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Các phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Phương
pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp vấn đáp, và phương pháp
thực nghiệm.
- Các phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Thống kê, xử lí các số liệu thu
thập được qua khảo sát, qua các nguồn cung cấp.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận của sáng kiến
1.1. Những kiến thức về kỹ năng sống cần cung cấp cho học sinh lớp 5
Kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng
xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực
trước các tình huống của cuộc sống.
Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm và thực trạng giáo dục kĩ năng sống
ở nước ta, ngành Giáo dục và Đào tạo đề xuất những nội dung giáo dục kĩ năng
sống cơ bản mà người giáo viên cần giáo dục cho học sinh. Đó là:
- Nhóm kĩ năng nhận thức: Nhận thức bản thân; xây dựng kế hoạch; kĩ
năng học và tự học, tư duy tích cực và tư duy sáng tạo; giải quyết vấn đề
- Nhóm kĩ năng quản lý bản thân: Kĩ năng làm chủ; quản lý thời gian; giải
trí lành mạnh
- Nhóm kĩ năng xã hội: Kĩ năng quan sát; kĩ năng làm việc nhóm; kĩ năng
lãnh đạo.
- Nhóm kĩ năng giao tiếp: Xác định đối tượng giao tiếp; xác định nội dung
và hình thức giao tiếp; kĩ năng thuyết trình và nói trước đám đông; kĩ năng diễn
đạt cảm xúc và phản hồi.
3
- Nhóm kĩ năng phòng chống bạo lực: Phòng chống xâm hại thân thể;
phòng chống bạo lực học đường; phòng chống bạo lực gia đình; tránh tác động
xấu từ bạn bè
Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường tiểu học tập
trung vào các kĩ năng tâm lý – xã hội là những kĩ năng được vận dụng trong
những tình huống hàng ngày để tương tác với người khác và giải quyết hiệu quả
những vấn đề, những tình huống của cuộc sống. Việc hình thành những kĩ năng
này không loại bỏ mà ngược lại phải gắn kết và song hành với việc hình thành
các kĩ năng học tập như: đọc, viết, tính toán, máy tính,… Nội dung giáo dục kĩ
năng sống cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng môn học, hoạt động giáo
dục và điều kiện cụ thể.
1.2 Nội dung tích hợp kĩ năng sống trong chương trình sách giáo khoa
lớp 5.
* Môn Tiếng Việt: Môn Tiếng Việt là một trong những môn học ở cấp tiểu
học có khả năng giáo dục kĩ năng sống khá cao, hầu hết các bài học đều có thể
tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở những mức độ nhất định. Môn
Tiếng Việt giúp học sinh bước đầu hình thànhvà rèn luyện cho các em kĩ năng
sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi, giúp các em nhận biết được những giá trị
tốt đẹp trong cuộc sống, biết nhìn nhận đánh giá đúng về bản thân để tự tin, tự
trọng và không ngừng vươn lên trong cuộc sống. Biết ứng xử phù hợp trong các
mối quan hệ với người thân, với cộng đồng và với môi trường tự nhiên. Biết
sống tích cực, chủ động trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh. Như bài: Luyện tập
làm báo cáo thống kê, Con gái…
* Môn Đạo đức: Bước đầu trang bị cho các em những kĩ năng sống cần
thiết và ứng xử phù hợp với các mối quan hệ. Bước đầu giúp các em biết sống
tích cực, chủ động, có mục đích, có kế hoạch, tự trọng, tự tin, có kỉ luật, biết hợp
tác, giản dị, tiết kiệm,... để trở thành con ngoan trong gia đình, học sinh tích cực
của nhà trường và công dân tốt của xã hội. Như bài: Em là học sinh lớp 5, Kính
già yêu trẻ, …
4
* Môn Khoa học: Trang bị cho học sinh các kiến thức của môn học về con
người và sức khỏe, về các hiện tượng tự nhiên. Giúp hình thành và phát triển các
kĩ năng. Như bài: Thực hành nói “Không” với các chất gây nghiện, Phòng
tránh bị xâm hại....
1.3 Đặc điểm lứa tuổi học sinh tiểu học:
Khi đến trường, các em học sinh tiểu học bước vào những mối quan hệ mới
và phức tạp hơn: Quan hệ với thầy cô giáo, với bạn bè. Trong môi trường hoạt
động mới sẽ tạo ra cho các em một thế giới nội tâm phong phú. Hoạt động học
tập là hoạt động chủ đạo của học sinh. Thời kỳ này ở trẻ phát triển mạnh về nhận
thức, tình cảm - ý chí - ý thức - nhân cách.
- Về tính cách: Các em dễ bị kích động, hay bướng bỉnh, tính khí thất
thường. Hồn nhiên trong các mối quan hệ, rất cả tin và mang nặng cảm tính.
Hay bắt chước một cách cảm tính, chưa có khả năng phân biệt được tốt, xấu.
Đáng từng bước hình thành một số nét tính cách tốt như: ham hiểu biết, lòng vị
tha, tính chân thực, lòng thương người, ham thích lao động…
- Về hoạt động học tập: Các em cũng rất dễ hào hứng để cho cuốn theo các
ý tưởng, các kiến thức lý thú mới lạ, để không ngừng đặt ra các câu hỏi tò mò,
thắc mắc. Dù vậy, các em chưa thể tập trung tư tưởng lâu để kịp phân tích vấn
đề và quan sát một cách kiên nhẫn, các em cũng chưa thể tự mình biết cách học
hỏi sao cho đúng mức nếu không được người lớn hướng dẫn dưới dạng “học mà
chơi” đầy hấp dẫn. Các em rất hãnh diện thấm thía khi được người lớn khéo léo
góp ý khích lệ hơn là phê bình chê trách hay nổi cáu. Nếu các em được người
lớn tin cậy giao phó một trách nhiệm quan trọng nào đó, với lời giải thích kỹ
lưỡng và căn dặn chi tiết, các em sẽ hết sức ý thức về công việc, cảm thấy vinh
dự và hãnh diện để cố gắng chu toàn hơn cả mong đợi của người lớn.
- Về tình cảm: Xúc cảm và tình cảm thường gắn với các đặc điểm trực
quan, sinh động, cụ thể. Dễ xúc động, khó kiềm chế xúc cảm. Thường bộc lộ
một cách hồn nhiên và chân thật. Tình cảm chưa bền vững, chưa sâu sắc và ổn
định.
5
- Nhu cầu nhận thức: Đã hình thành khá rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu
thế giới xung quanh, nó được phát triển dần từ nhu cầu tìm hiểu “đó là cái gì?”
đến nhu cầu trả lời “tại sao?” và “như thế nào?”. Nhu cầu nhận thức được hình
thành trong các hoạt động và sẽ phát triển thuận lợi khi trẻ đạt được những thành
tích nhỏ, nhất là trong hoạt động học – chính nó sẽ tạo cho trẻ niềm vui và niềm
tin vào năng lực của chính mình.
- Khả năng tự đánh giá chưa cao, chưa biết dựa vào chuẩn để đánh giá. Các
em thường tự đánh giá mình cao hơn cái mình thực có. Ngoài ra, trẻ thường
đánh giá người khác theo suy nghĩ chủ quan mang nặng cảm tính và thường dựa
vào cảm xúc của mình.
- Về hoạt động vui chơi: Các em luôn tay luôn chân, chạy nhảy, leo trèo, nô
đùa và hò hét thỏa thích, hoặc im lặng ngồi táy máy, hì hục nghịch phá một trò
nào đó, hay làm một việc gì đó vừa sức mình. Các em rất thích các trò chơi đối
kháng, mang tính giao chiến và đua tranh giữa hai phe. Các em sẵn sàng chơi
hăng say hết mình, bởi đối với các em, chuyện thắng thua rất là quan trọng, nó
nhằm mục đích tự khẳng định cá tính cho dù các em chưa đủ lý luận cao về bản
thân.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến:
Trong năm học 2016 - 2017, tôi được ban giám hiệu tin tưởng giao cho chủ
nhiệm lớp 5A. Tổng số học sinh: 22 em
Trong đó: Nữ: 7 em;
Dân tộc: 3 em;
Con hộ nghèo: 1 em.
Khi nhận lớp tôi đã nhận thấy kỹ năng sống của các em còn có những điểm
hạn chế như sau:
- Học sinh chưa mạnh dạn khi giao tiếp; trình bày chưa rõ ràng, ngắn gọn;
chưa biết chia sẻ với mọi người;
- Một số học sinh thực hiện chưa tốt một số việc phục vụ cho sinh hoạt của
bản thân như vệ sinh thân thể, ăn, mặc và một số việc phục vụ cho học tập như
chuẩn bị đồ dùng học tập ở lớp.
6
- Nhiều học sinh chưa biết chia sẻ kết quả học tập với bạn, với cả nhóm;
những học sinh có khó khăn trong học tập chưa biết tìm kiếm sự trợ giúp kịp
thời của bạn, giáo viên hoặc người khác..
- Một số em chưa tích cực tham gia hoạt động tập thể, xây dựng trường,
lớp, giữ gìn và bảo vệ môi trường.
- Các em chưa có hứng thú tìm hiểu về lịch sử, truyền thống địa phương.
Hiện nay việc rèn kỹ năng sống của học sinh tiểu học còn nhiều hạn chế.
Nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên là do:
- Trong nhà trường một bộ phận giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh mà chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức ở
sách giáo khoa nên chưa chịu khó tìm tòi các hình thức và phương pháp tổ chức
cho các hoạt động này nên làm mất sự hứng thú của học sinh.
- Đa số học sinh sống trong hai môi trường có hoàn cảnh khác nhau: một là
các em được sự quan tâm chăm sóc quá sức chu đáo của phụ huynh vì sống
trong gia đình ít con, hoàn cảnh kinh tế ổn định; hai là những em sống trong gia
đình với nhiều lo toan cho cuộc mưu sinh, phụ huynh bỏ mặc con cái. Môi
trường hoàn cảnh khác nhau ấy lại thường cùng mang đến cho các em một thiếu
sót lớn trong từng bước trưởng thành, đó là kĩ năng sống.
- Một số học sinh là con em nông thôn, là người dân tộc thiểu số di dân từ
Na Hang về các em ít được giao tiếp và tham gia vào các hoạt động tập thể nên
ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng giao tiếp của các em. Đa số, các em còn rụt
rè, chưa mạnh dạn, thiếu tự tin trong giao tiếp. Khi có khách lạ đến trường các
em còn sợ sệt, không dám tiếp xúc, chào hỏi.
- Học sinh học tập thụ động, chủ yếu chỉ nghe và làm theo thầy cô giáo, ít
sáng tạo, tính tự giác chưa cao, lười hoạt động.
3. Các sáng kiến đã được sử dụng để giải quyết vấn đề:
Để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả đòi hỏi người giáo viên
cần thực hiện:
3.1 Thông qua các môn học:
7
- Qua từng tiết dạy, tôi hướng dẫn học sinh kĩ năng làm việc theo nhóm:
biết cách phân công công việc, lắng nghe ý kiến người khác, tranh luận, biết
chấp nhận đúng sai, thống nhất ý kiến, thực hiện đúng ý kiến đã thống nhất…
Đây là kĩ năng hết sức cần thiết khi các em trưởng thành, làm việc trong tập thể.
+ Trong môn Tiếng Việt, tôi hướng dẫn các em tìm kiếm số liệu, thông tin
khi học bài Tập làm văn: Luyện tập làm báo cáo thống kê. Kết thúc bài học, các
em đã biết cách tìm kiếm những thông tin cần thiết và trình bày các thông tin đó
dưới dạng bảng thống kê. Từ đó học sinh được nâng cao kĩ năng thu thập, xử lí
thông tin.
Qua bài tập đọc Con gái, các em nhận thức được sự bình đẳng nam nữ. Các
em biết ứng xử, giao tiếp phù hợp với giới tính của mình. Các em nam đã biết
trân trọng các bạn nữ hơn,... Thông qua đó, các em có thêm kĩ năng tự nhận thức
về bản thân, kĩ năng giao tiếp...
+ Ở môn Kĩ thuật, thông qua các bài dạy về đính khuy, nấu cơm, luộc rau,
rửa dụng cụ nấu ăn và ăn uống, bày dọn bữa ăn. chăm sóc gà… Các em đã biết
làm một số việc phục vụ bản thân như ăn mặc gọn gàng, giữ gìn quần áo sạch
sẽ, không còn học sinh mặc quần áo đứt cúc hay tuột chỉ đến lớp. Ngoài ra các
em có thể phụ giúp cha mẹ những việc nhỏ trong gia đình như: biết nấu cơm,
rửa bát, cho gà ăn... Qua môn học, tôi rèn cho các em kĩ năng tự phục vụ bản
thân và chăm sóc gia đình
+ Khi học bài Khoa học: Thực hành nói “Không” với các chất gây nghiện,
tôi giúp các em hiểu vì sao phải nói không với thuốc lá, ma túy, rượu… Sau khi
học xong bài, các em đã biết nói không với những lời dụ dỗ, lôi kéo vào những
thói hư tật xấu. Từ đó, các em hình thành kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên
định.
Khi học bài: Phòng tránh bị xâm hại, tôi giúp các em đã biết xác định các
tình huống và cách phòng tránh các nguy cơ bị xâm hại... Tôi nhận thấy các em
đã chia sẻ với giáo viên và các bạn về những tình huống khó xử trong cuộc sống.
Có phụ huynh tâm sự rằng con gái họ đã biết nhờ mẹ đi cùng khi ra đường vào
8
ban đêm... Từ đó, kĩ năng tự bảo vệ, kĩ năng ứng phó, kĩ năng tìm kiếm sự giúp
đỡ của các em được nâng cao hơn.
+ Qua môn Đạo đức, các em nhận thức mình là học sinh lớp 5 nên luôn có
những hành động phù hợp để làm gương cho các học sinh lớp dưới noi theo. Các
em biết phê phán những hành vi, quan niệm sai và tán thành những cách ứng xử
phù hợp trong các tình huống cụ thể... Từ đó, các em được rèn luyện kĩ năng tự
nhận thức; kĩ năng ra quyết định, kĩ năng tư duy phê phán...
- Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh không chỉ là lồng ghép, tích hợp
thêm kĩ năng sống vào nội dung các môn học và hoạt động giáo dục mà còn theo
cách tiếp cận mới, đó là sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để
tạo điều kiện, cơ hội cho học sinh được thực hành, trải nghiệm kĩ năng sống
trong quá trình học tập. Với cách tiếp cận này sẽ không làm nặng nề, quá tải
thêm nội dung các môn học và hoạt động giáo dục trở nên nhẹ nhàng, thiết thực
và bổ ích hơn đối với học sinh.
3.2 Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp:
Kĩ năng sống của học sinh được hình thành qua hai con đường cơ bản: Con
đường học trên lớp và con đường hoạt động ngoài giờ lên lớp. Hoạt động ngoài
giờ lên lớp là một trong những con đường giáo dục có hiệu quả trong việc giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh.
- Hoạt động văn hóa nghệ thuật: Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các em
tích cực sưu tầm, tham gia thi kể các câu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh. Khi liên đội phát động hội thi múa dân vũ, các em đã sôi nổi lên kế hoạch
tập luyện bài múa dân vũ “Nối vòng tay lớn” và phân công nhau chuẩn bị trang
phục, đạo cụ để tham gia vào hội thi. Để chuẩn bị cho buổi chào cờ đầu tuần,
các em chuẩn bị tiết mục văn nghệ, những câu chuyện, những câu đố vui…
Thông qua các hoạt động này, tất cả các em tự tin khi tham gia các phong trào
văn nghệ. Các em biết tìm kiếm, lựa chọn các bài hát, câu chuyện mang tính
giáo dục; biết phân công các bạn thực hiện... Nhiều học sinh còn xung phong kể
chuyện trước toàn trường hay giúp đỡ các bạn thực hiện các động tác múa chưa
đẹp. Các hoạt động này góp phần hình thành cho các em kĩ năng thuyết trình và
9
nói trước đám đông; kĩ năng xây dựng kế hoạch... Đây là những kĩ năng quan
trọng trong xu thế toàn cầu hóa.
- Hoạt động vui chơi, giải trí, thể dục thể thao: Trong giờ nghỉ giải lao, tôi
hướng dẫn các em chơi các trò chơi như: ô ăn quan, nhảy dây, cầu lông, cờ vua,
cá ngựa,.. Vì được tập luyện hàng ngày nên các em rất hào hứng tham gia các
buổi ngoại khóa với các trò chơi dân gian, trò chơi vận động, trò chơi đối kháng,
trò chơi trí tuệ,… Hoạt động này nhằm làm thỏa mãn về tinh thần cho các em
sau những giờ học căng thẳng, góp phần hình thành và rèn luyện kĩ năng giao
tiếp, kĩ năng làm việc nhóm, rèn luyện sự tự tin, tính tổ chức, kĩ luật, nâng cao
tinh thần trách nhiệm, tình đoàn kết…
- Hoạt động xã hội: Tôi đã tổ chức các em tham quan khu di tích lịch sử
chùa Hương nghiêm tự, tham quan thành nhà Bầu, chăm sóc nhà truyền thống
của xã An Khang, giúp đỡ các gia đình chính sách,… Khi đi tham quan, các em
tìm hiểu và viết lại những điều mình quan sát. Khi về, các em trong nhóm đã
cùng nhau tổng kết và phân công nhau báo cáo trước cả lớp những hiểu biết
mình thu nhận được. Đây là một hoạt động tuy khó nhưng nó mang ý nghĩa vô
cùng lớn. Bước đầu học sinh tham gia các hoạt động xã hội để nâng cao hiểu
biết về lịch sử địa phương, bồi dưỡng lòng yêu nước, lòng biết ơn đối với những
người đã ngã xuống vì đất nước... Ngoài ra, các em còn được rèn luyện kĩ năng
quan sát; kĩ năng làm việc nhóm.
- Hoạt động lao động: Hàng ngày, tôi hướng dẫn các em trực nhật, vệ sinh
lớp học, sân trường, chăm sóc bồn hoa cây cảnh, làm đẹp trường lớp, dọn dẹp
bát sau khi ăn bán trú… Khi tham gia các hoạt động này, các em rất vui và biết
thêm được nhiều điều. Các em biết chăm sóc bản thân như tự sắp xếp góc học
tập ngăn nắp, tự giặt quần áo cho mình. Ngoài ra, các em còn giúp bố mẹ nhiều
việc nhà như rửa ấm chén, bát đũa, chăm sóc cây cảnh, trông em,…
- Hoạt động tiếp cận với khoa học – kĩ thuật: Nhằm kích thích sự sáng tạo,
tôi đã phát động cuộc thi “Nhà khoa học nhỏ tuổi”. Các em rất hào hứng tham
gia. Các em tập trung thành từng nhóm tìm ý tưởng sáng tạo, phân công nhau
chuẩn bị mô hình sản phẩm và người thuyết trình ý tưởng... Nhiều ý tưởng sáng
10
tạo về bảo vệ môi trường, về đồ dùng học tập, cả những ý tưởng sáng tạo về
những máy móc hiện đại như những chiếc tàu chiến hiện đại được trang bị
những vũ khí tối tân để bảo vệ chủ quyền biển đông của Việt Nam... Thông qua
cuộc thi, các em được nâng cao kĩ năng tư duy tích cực và tư duy sáng tạo; kĩ
năng quan sát; kĩ năng làm việc nhóm; kĩ năng lãnh đạo; kĩ năng thuyết trình.
- Hoạt động trải nghiệm thực tế: Với mục đích để các em học hỏi được lối
sống, cách ăn, ở tác phong của các chú bộ đội. Trong tháng 12/2016, Nhà trường
tổ chức cho các em tham quan trung đoàn 148 đóng quân tại xã Lưỡng Vượng.
Tới đây, các em được tham quan các phòng ở của bộ đội, mô hình tăng gia sản
xuất của đơn vị, và đặc biệt hơn các em còn được hướng dẫn về cách gấp chăn
màn, được quan sát các chú bộ đội biểu diễn võ thuật,… Điều này là rất cần thiết
giúp các em học tập lối sống gọn gàng, ngăn nắp và tác phong nhanh nhẹn, tính
kỉ luật.
4. Hiệu quả của sáng kiến đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng
nghiệp và nhà trường.
Qua một năm học thực hiện chuyên đề, bằng sự cố gắng của giáo viên, học
sinh và phụ huynh, tôi nhận thấy:
- Học sinh lớp 5A tự tin trong giao tiếp; biết thực hiện các việc phục vụ
bản thân; tích cực vệ sinh trường lớp, chăm sóc bồn hoa, cây cảnh; biết chia sẻ,
giúp đỡ khó khăn với các bạn,... Nhiều phụ huynh chia sẻ niềm vui khi con mình
đã biết tự phục vụ những việc của bản thân, biết làm một số việc giúp đỡ gia
đình,… Các em nam đã biết tổ chức chúc mừng các bạn nữ nhân ngày 8/3. Cả
lớp biết bảo nhau góp đồ dùng học tập, sách giáo khoa và quần áo ủng hộ em
Lộc Đức Văn là học sinh con hộ nghèo. Trong các phong trào, các em biết lên kế
hoạch, phân công công việc cụ thể cho từng thành viên, biết đoàn kết, hợp tác
với nhau, thi đấu hết sức mình… và đem lại thành tích cao cho lớp. Cụ thể như
sau:
+ Lớp luôn đạt lớp xuất sắc trong các đợt thi đua.
+ Lớp đạt giải Nhất Hội thi Tiếng hát mừng thầy cô
+ Lớp đạt giải Nhì trong Hội thi Thiếu nhi vui khỏe – Tiến bước lên Đoàn.
11
+ 1 học sinh đạt giải Ba Giao lưu “Nét chữ nết người” cấp Tỉnh
- Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục kĩ năng sống của đội ngũ giáo
viên và phụ huynh được nâng cao.
- Nhà trường đã huy động được sự tham gia của phụ huynh, của các tổ
chức, các lực lượng xã hội trong việc giáo dục văn hóa, truyền thống cho học
sinh, đồng thời đây là những cơ hội dạy trẻ kỹ năng sống.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Qua quá trình thực hiện sáng kiến, tôi nhận thấy người giáo viên cần thực
hiện tốt nội dung giáo dục kĩ năng sống thông qua các môn học. Thường xuyên
gần gũi, trò chuyện, trả lời các thắc mắc của học sinh; giải quyết công bằng mọi
tình huống xảy ra giữa các em. Trong giảng dạy, khuyến khích học sinh phát
biểu ý kiến, tổ chức hoạt động nhóm nhiều hơn, quan tâm đến tất cả các đối
tượng học sinh, tăng cường hoạt động thực tế… Thường xuyên liên hệ với phụ
huynh để kịp thời nắm tình hình của các em, trao đổi những nội dung và biện
pháp giáo dục, bàn bạc cách giải quyết những khó khăn gặp phải.
Với kết quả đạt được như vậy, tôi nhận thấy sáng kiến của tôi có khả năng
tiếp tục áp dụng vào công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong toàn
trường ở những năm học tới để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh.
2. Kiến nghị:
Để công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả, tôi mong
muốn:
- Đối với Sở - Phòng Giáo dục và đào tạo: Tổ chức tập huấn cho đội ngũ giáo
viên nâng cao ý thức, sự hiểu biết, trình độ về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
Phối hợp với Hội Đồng Đội tỉnh, thành phố đưa hoạt động giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh trở thành một nội dung cơ bản của chương trình sinh hoạt
Đoàn - Đội.
- Đối với Nhà trường: Triển khai nội dung giáo dục kĩ năng sống, luôn kiểm
tra, theo dõi, giúp đỡ giáo viên trong công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
12
Ưu tiên hỗ trợ kinh phí cho việc tổ chức các buổi ngoại khóa, trải nghiệm thực tế,
…
- Đối với giáo viên: Cần tăng cường học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ, đặc biệt là kiến thức về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
Trên đây là báo cáo sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi trong công tác
rèn kĩ năng sống cho học sinh và đã được áp dụng tại trường Tiểu học An Khang
trong năm học 2016 - 2017. Tôi rất mong nhận được sự nhận xét, góp ý của các
đồng chí, đồng nghiệp để sáng kiến của tôi hoàn chỉnh, đạt hiệu quả cao.
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí!
13