Tải bản đầy đủ (.docx) (9 trang)

Bi kịch của cuộc đời nhà văn hoàng phủ ngọc tường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (44.58 KB, 9 trang )

Bi kịch của cuộc đời nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường
Từ rất nhiều năm nay tôi rất muốn bày tỏ đôi điều về những bi kịch cuộc đời mà
nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) từng chịu đựng và trăn trở, từng nén vào
lòng để sống và sáng tác.
Bi kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường
Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Trọng Tạo năm 1986
Những nỗi buồn nhân thế đêm ngày gặm nhấm lòng anh. Vì tôi gần gũi vợ chồng
Hoàng Phủ Ngọc Tường - Lâm Thị Mỹ Dạ hàng ngày, nên tôi được nghe kể nhiều
lần từng sự việc một. Sau Tết Mậu Tý, kỷ niệm 40 năm Mậu Thân vừa qua, một
lần nữa Hoàng Phủ lại rất bức xúc, khi nhà báo Thanh Tùng (báo Tiền Phong) tìm
đến phỏng vấn anh về những chuyện buồn Mậu Thân ấy. Bài phỏng vấn đó có tựa
đề là: “Cái hoạ của người nổi tiếng”. Anh kể về cuộc phỏng vấn cho tôi nghe. Vậy
bi kịch của Hoàng Phủ là gì? Đó là chuyện một số hoạt động của anh trong chiến
dịch Mậu Thân bị một số người cố tình hiểu sai, vu khống tàn tệ trên báo, trên
mạng, trong dư luận cộng đồng người Việt hải ngoại. Thêm nữa, từ nhiều năm qua,
chính quyền cũng không mấy mặn mà với anh, một nhà văn đã sống hết mình, viết
hết mình vì nhân dân, đất nước.
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong số ít nhà văn nổi tiếng và có uy tín và được
người đọc mến mộ nhất hiện nay ở Việt . Văn chương Hoàng Phủ thấm đẫm tình
thương yêu và trí tuệ, là thứ văn chương tri âm tri kỷ, làm nhiều thế hệ độc giả say
mê, tìm đọc. Được người đọc mến mộ vì văn chương HPNT không phải là thứ văn
chương “phải đạo” (chữ của Hoàng Ngọc Hiến), xưng tụng một chiều, “ta thắng
địch thua”, mà đó là thứ văn chương thật, có chính kiến rạch ròi, mạnh mẽ, là sự
dấn thân để xây dựng một nền dân chủ và nhân văn cao cả. Không giống một số
nhà văn xu thời nghĩ khác, viết khác, sống khác, viết khác, luôn đeo mặt nạ ngăn
cách mình với xã hội, HPNT sống như viết, nói như viết, nghĩ như viết. Anh viết


đến tận cùng của vấn đề mà không sợ sự suy diễn, quy chụp, vì anh viết và nói
bằng trái tim đỏ thắm tình người và tình yêu Tổ Quốc. Chỉ đọc những bài nhàn
đàm bàn chuyện thế sự hàng ngày hay đọc bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông hay


Rừng hồi, ai cũng nhận ra chân dung Hoàng Phủ. Đó là một cây bút luôn dấn thân
vì lẽ phải, vì quê hương xứ sở. Từ sau 30 - 4 - 1975 đến nay, HPNT đã in trên 16
đầu sách bút ký, nhàn đàm, thơ, trong đó có Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường
gồm 4 tập với 2000 trang in, là những trang viết làm nao lòng người đọc cả nước.
Có lẽ HPNT là nhà văn đông đảo người hâm mộ nhất trong nước từ mấy chục năm
nay. Không chỉ văn chương mà trong cuộc sống ngày thường, Hoàng Phủ luôn đau
đáu nỗi người. HPNT bị trọng bệnh nằm một chỗ, xem ti vi thấy cảnh nghèo đói,
bần cùng của người dân nghèo, nhiều lần anh rưng rưng nước mắt. Càng sắc sảo tài
hoa trong văn chương bao nhiêu, anh càng quên mất bản thân mình trong cuộc
sống đời thường bấy nhiêu. Anh sống hồn nhiên như một đứa trẻ, không hề biết
đến, không hề bận tâm đến những giả trá lọc lừa chung quanh mình… Văn là
người. Một người như thế, một nhà văn đồng hành cùng nhân dân như thế không
thể có chuyện cầm súng giết người, phản nhân dân, hay phản Tổ Quốc được. Thế
mà bi kịch vẫn cứ xảy ra…
Năm 1966, hoạt động trong phong trào học sinh sinh viên chống chế độ Mỹ Thiệu, bị chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế truy lùng, HPNT đã lên “rừng” theo
kháng chiến. Đó là sự lựa chọn của anh theo tiếng gọi của trái tim yêu nước, trước
tình cảnh quân Mỹ ngập tràn miền . Lúc này Hoàng Phủ là giáo sư dạy môn siêu
hình học ở Trường Quốc Học Huế. Anh có viết báo làm thơ và làm chủ bút một số
tờ báo của lực lượng học sinh sinh viên đấu tranh, nhưng về văn học thì chưa có
tác phẩm nào nổi tiếng. Cùng tham gia “xuống đường” đấu tranh với HPNT lúc đó
có Hoàng Phủ Ngọc Phan (em trai), Nguyễn Đắc Xuân, Trần Vàng Sao, Ngô Kha,
Trần Quang Long, giáo sư Lê Văn Hảo, Phương Thảo v.v. Năm 1966, HPNT “lên
xanh” làm cán bộ, rồi viết báo ở Ban Tuyến Huấn Thành uỷ Huế, chẳng có chức vụ


gì cả. Trong “Tổng tấn công” Tết Mậu Thân 1968, trong khi chiến trận đang hồi ác
liệt tại Huế, thì một tổ chức mới ra đời gọi là Liên Minh các lực lượng Dân tộc Dân
chủ và Hoà bình Thành phố Huế (gọi tắt là Liên Minh Huế) ra đời. Hoàng Phủ
Ngọc Tường, là Tổng thư ký, giáo sư Lê Văn Hảo, chủ tịch, bà Nguyễn Đình Chi
và Hoà thượng Thích Đôn Hậu là phó chủ tịch. Đây là tổ chức mặt trận trên danh

nghĩa để kêu gọi tập hợp quần chúng đứng lên “chống Mỹ”, chứ không có bất cứ
một quyền hành gì trong điều hành chỉ huy chiến trận cả. Những ngày nổ ra “Tổng
tiến công” ở Huế, cả Chủ tịch, 2 phó chủ tịch và Tổng thư ký của Liên Minh đều ở
“xanh”. Riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường sau khi soạn xong “Lời hiệu triệu” kêu gọi
quần chúng nổi dậy, thu băng tiếng nói, rồi được gửi về phát đi khắp các nẻo
đường, phố phường ở Huế trong Tết Mậu Thân sau khi quân Giải phóng chiếm
được thành phố. Sau khi viết lời “Lời hiệu triệu” ấy, HPNT và Lê Văn Hảo có tên
chính thức tham gia chiến dịch Mậu Thân, đều có mặt ở Chỉ huy sở Tiền Phương
của Mặt trận Huế ở núi Kim Phụng, phía Tây Huế. Bộ tư lệnh bảo chờ sáng mai sẽ
về Huế, khi tình hình đã ổn định. Nhưng rồi tình hình ngày càng diễn biến phức
tạp, nên hai người chỉ ngồi trong phòng Chỉ huy Sở. Ngồi như là ngồi chờ giao
việc và sau đó không bao giờ trở lại thành phố Huế nữa cho đến năm 1972 được
điều ra làm Trưởng Ty Văn hoá tỉnh Quảng Trị (vùng mới giải phóng của Mặt trận
giải phóng). Mà thực ra trong suốt những năm lên “Xanh” ở A Lưới, HPNT không
được phân công về thành phố hay đồng bằng một chuyến nào cả. Điều đó có rất
nhiều nhà văn như Tô Nhuận Vỹ, Xuân Thiều, Nguyễn Quang Hà, Nguyễn Đắc
Xuân, Nguyễn Khoa Điềm biết rất rõ.
Thế mà từ gần 20 năm nay, một số cây bút ở hải ngoại không biết do thù oán gì,
hay do ganh tỵ tiếng tăm với Hoàng Phủ khi anh đã nổi tiếng ở trong nước, đã viết
bài đổ tội cho HPNT, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân với
những lời lẽ vô cùng đao búa như gọi là “đồ tể giết 2000 người Huế trong Tết Mậu
Thân”, “thủ phạm chính của cuộc tàn sát”, “các hung thần can dự tới bữa tiệc máu”


v.v. Năm 1997, Thụy Khuê, đài RFI (Pháp) đã phỏng vấn HPNT về vụ Mậu Thân
này. Trong bài trả lời phỏng vấn đó, HPNT đã nói rất rõ ràng là mình không hề có
mặt ở Huế trong suốt trận chiến đó. Buổi phát thanh này đã được tiếp sóng qua Đài
phát thanh Little Saigon ở quận Cam mà nhiều Việt Kiều đã nghe trực tiếp. Bài
phỏng vấn đó cũng được in lại trên Tạp chí Hợp Lưu, do Khánh Trường làm Tổng
biên tập. Thế mà không hiểu sao nhiều người cứ cố tình nói sai sự thật. Ngày 1-12005, trên website lại có bài viết “Hoàng Phủ Ngọc

Tường, kẻ hái phù du sau thảm sát Tết Mậu Thân 1968 tại Huế”. Tác giả bài viết
cho rằng tập thơ “Người hái phù dung” của HPNT là sự ăn năn, sám hối về tội
“phản quốc” và “sát nhân” của mình. Thật là một sự phán xét sai lệch rất nhẫn tâm
về tập thơ trữ tình rất thâm sâu được nhiều người yêu thích ấy. Gần đây thôi, đầu
tháng 1- 2008, trên blog do nhà thơ Nguyễn Trọng
Tạo chủ trương, có in bài “Chuyện vui về Hoàng Phủ Ngọc Tường”, trong phần
comment có người xưng là Dân Huế đã nói khống lên rằng: “Chính hai anh em
Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan cầm súng bắn máy bay Mỹ
trong khu hẻm nhà tôi ở Huế (Phường Phú Cát)”. Thật là nói lấy được! Những
người như Tường là cán bộ dân sự, đi kháng chiến bằng ngòi bút, chứ không bao
giờ cầm súng cả. Lại có người comment trên ngày
15-1-2008 cho rằng: “ÔngTường quả có dính vào vụ Mậu Thân Huế, nhìn hoàn
toàn theo khía cạnh khách quan. Ông ta không thực sự nhúng tay vào vụ Mậu
Thân, nhưng về mặt tinh thần, ông chính là linh hồn của vụ đánh chiếm Huế qua
tiếng tăm của ông, do tài năng của ông và do ảnh hưởng của ông tới những người
đàn em, học trò”. Nói cho thật công bằng, tiếng tăm của Tường lúc đó chưa có gì
nhiều, chưa như bây giờ. Tường chỉ là một cán bộ tuyên huấn bình thường, làm sao
lại bảo ông là “linh hồn của vụ đánh chiếm Huế”? Hơn nữa ở các nước theo
CNXH, “công-nông-binh” là lực lượng chủ lực, từng lớp trí thức là ăn theo, chưa
bao giờ được tôn trọng, mà còn được coi là từng lớp tiểu tư sản, hay chao đảo lập


trường tư tưởng phải thường xuyên phải học tập cải tạo, nên không đáng tin cậy!
Nghe tôi nhắc có những bài vở, ý kiến trên mạng về vụ Mậu Thân ấy, HPNT thốt
lên: “Không hiểu sao đến giờ vẫn có những kẻ xấu miệng cứ tìm cách buộc chặt tôi
vào “vụ” Mậu Thân Huế. Đúng Mậu Thân đã trở thành một bi kịch đời tôi!” Anh
bực bội: “Tôi đành xem họ như những kẻ vu khống bẩn thỉu, thế thôi!”
Tôi nghĩ có lẽ sự hiểu nhầm, hiểu sai rất oan ức này là do cái “Lời hiệu triệu” với
giọng đọc của HPNT thu thanh từ trước, phát đi khắp các nẻo đường Huế sau khi
nổ ra Chiến dịch, làm cho ai cũng tưởng HPNT đang ở Huế. Thứ nữa là tập ký sự

“Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu” mang tên tác giả là Hoàng Phủ Ngọc Tường viết
về những người giữ cờ trên Phu Văn Lâu Huế. Không tham gia đánh trận trực tiếp
làm sao mà viết về cuộc chiến với những chi tiết cụ thể như thế? Sự thật thì không
phải vậy. HPNT bảo rằng, đây là một tập sách “viết chưa đạt”. Vì thế trong 4 tập
của Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường (NXB Trẻ và Công ty Phương hợp tác ấn
hành, 2002), tập ký này không được chọn trang nào cả. Tường kể, đây là cuốn sách
tôi viết từ một tư liệu ghi chép thực tế “những người giữ cờ” ở Huế của Nguyễn
Đắc Xuân. Tôi nhớ bản thảo ấy cũng chỉ độ 5 đến 7 trang. Tôi đã hư cấu thêm theo
sự cho phép của thể loại ký và theo suy nghĩ của tôi - chứ tôi đâu có mặt ở Huế vào
thời điểm ấy. Viết xong gửi đi tôi ghi tên cả hai người cùng viết. Một hôm tôi đang
làm rẫy ở trong rừng thì nhận được một cuốn sách của NXB Giải Phóng. Không
hiểu vì sao bản này khi in thành sách tên tác giả lại chỉ có mình tôi. Thế là tôi trở
thành thằng “hớt tay trên” của bạn. Tôi đã viết thư gửi ra Hà Nội phản ứng với
Giám đốc NXB Giải Phóng lúc đó là anh Khương Minh Ngọc. Nhưng sau đó tôi
được anh Bảo Định Giang, lúc này đang phụ trách Tiểu ban Văn nghệ Miền Nam
can ngăn; bảo rằng làm như thế sẽ “có lợi” cho cách mạng hơn! Không biết có lợi
là lợi gì? Lúc đó tôi đã kể cho anh Nguyễn Đắc Xuân nghe tất cả chuyện oái oăm
này…
Tiện đây, tôi cũng xin nói đôi lời về cái gọi là “vụ tàn sát Mậu Thân” ở Huế.


Không một quân đội nào dạy cho binh lính mình giết người dân cả. Dân là chỗ dựa
của quân đội. “Nâng thuyền cũng dân, lật thuyền cũng dân” (Nguyễn Trãi). Hơn
nữa tư tưởng chiến tranh của Võ Nguyên Giáp là “chiến tranh nhân dân”, dựa vào
dân mà chiến đấu. Nhưng chết nhiều người trong Mậu Thân là sự thật rất đau lòng.
Trong chiến tranh khốc liệt, người chết do nhiều nguyên nhân: Hai bên bắn nhau,
tên rơi đạn lạc. Những ngày Mậu Thân suốt tháng trời đó, máy bay Mỹ dội bom,
quân đội Sài Gòn bắn pháo dữ dội suốt tháng trời khắp các nẻo đường Quân giải
phóng đột nhập Huế, dội pháo vào Thành Nội, và thành phố Huế. Quân giải phóng
cũng chống trả quyết liệt. Bom pháo, súng đạn đó không biết cách phân biệt “Việt

Cộng” hay người dân, tất cả đều bị chìm trong khói lửa. Rồi chuyện lợi dụng chiến
tranh để thanh toán tư thù. Cả hai bên đều tìm cách diệt những người là tay chân
thân tín của bên kia để trừ hậu hoạ v.v. Vì thế, không thể đổ việc nhiều người chết
cho một bên nào được. Tạp chí Sông Hương số Xuân Mậu Tý (2 - 2008) có in bài
“Me Mỹ kể chuyện Huế sau Tết Mậu Thân”, trích đăng hồi ký của bà Nguyễn Thị
Thanh Sung, người An Cựu Huế là vợ của ông Bill Fleming, cố vấn An Ninh tại
Toà lãnh sự Hoa Kỳ tại Huế lúc đó, gọi theo lối dân gian bà là “Me Mỹ”, hiện đang
định cư ở Potomac, bang Maryland. Bà Thanh Sung đã kể chuyện sau Mậu Thân,
bố bà là ông Nguyễn Đăng Hiếu bị cảnh sát chính quyền Huế bắt giam vì đã có tên
trong quyển Sổ Vàng, khi cuốn “Sổ vàng của Việt Cộng” lọt vào tay họ. Cuốn sổ
vàng đó ghi tên những người đóng góp tiền của giúp Cách mạng trong chiến dịch
Mậu Thân. Mấy ngày sau đó có thông báo gửi cho mẹ bà Thanh Sung “Bà và
người nhà lên đường rầy xe hoả gần nhà ga để nhận xác chồng bà. Khi nhận ra nhớ
đem về chôn cất ngay lập tức”, “qua khỏi nhà Ga, đi theo đường rày về phía núi, từ
đằng xa nhìn tới, chúng tôi đã bắt đầu thấy những xác chết nằm la liệt hai bên
đường rày”. (Theo www.tapchisonghuong.com.vn). Có bao nhiêu ngàn người bị
chính quyền Sài Gòn trả thù “chết la liệt” như ở đường rày Ga Huế? Không ai
thống kê được!


HPNT là bạn thân của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tường đã viết một cuốn bút ký rất
hay về Trịnh “Cây đàn lya và hoàng tử bé”, đã từng viết thư gửi Hội đồng giải
thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2007, đề nghị phải
tặng cho Trịnh Công Sơn một giải thưởng lớn về những đóng góp của nhạc sĩ cho
Tổ quốc và dân tộc. Thế mà ở Hải ngoại có người đã vu cho Tường làm phó Chủ
tịch Hội Văn nghệ đã đày đoạ Trịnh đi tăng gia cuốc đất trồng khoai sắn ở những
vùng heo hút, khó khăn. Những ngày sau 1975, đất nước vô cùng khó khăn về kinh
tế, có khi như đứng bên bờ vực thẳm, do bị cấm vận, do sai lầm về chính sách kinh
tế. Nên chính quyền các cấp phải làm một việc là hô hào cán bộ, công chức, quân
đội, dân chúng tăng gia cứu đói. Đó là lệnh trên, ai cũng phải đi, chứ đâu phải lệnh

của ông Phó chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh Hoàng Phủ Ngọc Tường! Bản thânTường
gầy gò, nhỏ bé, chân cò tay nhện cũng phải cầm cuốc cuốc đất trồng sắn trồng
khoai đến chảy máu tay…
Sau năm 1975, Tường là một trí thức đi theo kháng chiến lặn lội rừng núi suốt 10
năm, cho đến ngày toàn thắng. Từ năm 1972 đến 1976, anh lao mình vào công
cuộc xây dựng ngành văn hoá văn nghệ tỉnh Quảng Trị. Khi ba tỉnh Bình Trị Thiên
nhập một, anh vào Huế hoạt động trong Hội Văn học nghệ Thuật. Thời gian làm
Tổng Thư ký Hội Liên Hiệp VHNT tỉnh Bình Trị Thiên, anh đã có công trong việc
làm cho công chúng hiểu đúng hơn về nhạc tiền chiến, mà nhiều nhạc sĩ ở Bắc vào,
công chúng là cán bộ tập kết về lại quê thường gọi là “nhạc vàng” độc hại, “ru
ngủ” người cách mạng, nên kiên quyết tẩy chay. Cả những ca khúc tuyệt vời của
Trịnh Công Sơn cũng bị cho là nhạc vàng. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tổ chức một
số buổi hội thảo về “nhạc tiền chiến”, mời các ca sĩ giỏi ở Huế đến hát các bài hát
Đêm tàn Bến Ngự của Dương Thiệu Tước, Đêm đông của Nguyễn Văn Thương,
Hồn Vọng Phu (1,2,3) của Lê Thương, Thiên Thai, Trương Chi, Suối mơ của Văn
Cao v.v. cho mọi người nghe. Rồi mời mọi người đánh giá. Kết quả người nghe ai
cũng vỗ tay tán thưởng. Từ đó hai chữ “nhạc vàng” cứ lui dần, người Huế lại hát


nhạc tiền chiến, nhạc Trịnh Công Sơn.
HPNT chí cốt với con đường mình đã chọn đến mức anh vẫn kiên nhẫn đến 17
năm đối tượng Đảng. Đến khi vào được đảng thì mấy năm sau bị tai nạn nên xin
thôi sinh hoạt. Sở dĩ Tường vào vai “đối tượng Đảng” lâu như thế vì HPNT có tư
tưởng dân chủ đổi mới sớm quá, nên không được cấp trên tin tưởng lắm. Vì Tường
biết tiếng Anh, tiếng Pháp, hay đi dọc phố nói “tiếng Tây” với mấy người ngoại
quốc, Việt Kiều về nước, những người khách Tây thường đến thăm nhà Tường, nên
không ít cán bộ cấp trên cho rằng, Tường đang làm việc hai mang. Nghi ngờ đó
kéo dài rất lâu.
Tường kể: “Sau giải phóng có lần ông được giới thiệu ra ứng cứ Đại biểu Quốc
Hội, thì không hiểu tại sao trong dân gian lập tức lan truyền rằng: Lan - Đính Chính - Tường/ Bốn tên phản động tìm đường mà đi. (Lan - Lê Mậu Lan, Giám

đốc nhà máy xi măng Long Thọ lúc đó, Đính - Nguyễn Hữu Đính, kỹ sư nông lâm
yêu nước, Chính - Ngô Thế Chính, Phó tiến sĩ sử học, hiệu trưởng trường Đồng
Khánh (Trường Hai Bà Trưng). Nghe như thế Tường buồn: “Ai phản động? Tại sao
bảo tôi là phản động? Tôi dám thách bất cứ ai có thể đưa ra một bằng chứng nhỏ
chứng tỏ rằng tôi là kẻ phản động. Các người chỉ giỏi bôi nhọ người khác để được
việc mình!”. Có lần Tường được mời sang dự hội thảo văn hoá ở nước Đức, vé
máy bay đã mua đút túi rồi, nhưng sắp đến giờ bay thì có người đến thu hồi vé máy
bay của Tường. Thế là chuyến đi bị huỷ. Có lẽ vì nhà nước chưa hiểu rõ bản chất
cách mạng của con người Tường, nên sợ Tường đi xuất ngoại rồi ở luôn bên đó
“với địch”. Một lần khác Tường lại được mời đi Pháp, lần này lại bị gây rắc rối
mãi trong chuyện kê khai thủ tục, may nhờ một sĩ quan công an người Quảng Trị
đồng hương giúp đỡ, anh mới lên máy bay được.
Tường không được tin tưởng vì tại diễn đàn các Đại hội Nhà văn Việt Nam, nhất là
Đại hội 4,5, Tường là một người phát biểu chính kiến mạnh mẽ, anh đòi “cởi trói”,
đòi tự do sáng tạo cho văn nghệ sĩ. Đó là những đòi hỏi chính đáng mà các Đại hội


nào các Nhà văn cũng lên tiếng. Từ năm 1990 - 1992, chia lại tỉnh, Tường là Tổng
Biên tập Tạp Chí Cửa Việt. Tuy là Tạp chí văn nghệ của một tỉnh lẻ nơi miền
Trung heo hút, thế mà Tường đã biến nó thành một tạp chí được độc giả mến mộ,
tìm đọc nhất trong nước lúc đó. Vì Tạp chí đã thể hiện được một quan điểm sáng
tác mới mẻ theo ý tưởng tự do sáng tạo, nói thẳng nói thật vì sự tiến bộ xã hội, vì
văn minh đất nước. Rất nhiều những cây bút có tư tưởng đổi mới có tên tuổi từ Hà
Nội, Sài Gòn, Paris… như Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Xuân Nguyên, Hoàng Cầm,
Vương Trí Nhàn, Nguyễn Thị Hoàng, Lữ Phương, Trần Độ, Lê Bá Đảng, Bùi Minh
Quốc, Phùng Quán v.v.. đã gửi bài đăng tạp chí. Mới 17 số, Tạp chí Cửa Việt đã
làm cho những người quản lý Văn nghệ theo lối cũ nổi giận. Thế là tạp chí bị đình
bản! Đó là một bi kịch, một cú sốc lớn của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Có lẽ vì
những lý do đó mà việc xét giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưỏng Nhà nước về
Văn học nghệ thuật diễn ra lần đầu từ năm 1997, nhưng HPNT không được xét.

Mãi đến đầu năm 2007, Nhà nước mới trao Giải thưởng Nhà nước cho HPNT. Tôi
nghĩ Văn chương và nhân cách của Hoàng Phủ ảnh hưởng sâu đậm đến các thế hệ
người Việt trong ba chục năm qua. Anh rất xứng đáng được tặng Giải thưởng Hồ
Chí Minh. Khi nói về chuyện này, Tường lại bảo: “Giải thưởng chả quan trọng.
Quan trọng nhất là người đọc mến mộ mình!”
Bi kịch đến từ nhiều phía thế mà HPNT vẫn cặm cụi viết hết cuốn sách này đến
cuốn sách khác. Nhắc đến chuyện “bi kịch” anh cười: “Nhưng tôi vẫn làm việc vui
vẻ “Bất đắc chí độc hành kỳ đạo” - Mạnh Tử đã nói như thế. Sống ở đời một người
tri thức cũng có một cái giá phải trả cho việc mà người khác cứ tưởng là mình
được tín nhiệm…



×