TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
******
CHUYÊN ĐỀ:
CẢI CÁCH CƠ CHẾ KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH
KINH TẾ
Môn: Nhà nước và công ty toàn cầu
Giảng viên: Kim Ngọc
Thực hiện: Nhóm 4
1. Đặng Nguyễn Quỳnh Anh
2. Nguyễn Thị Hải Anh
3. Nghiêm Thị Hạnh
4. Đỗ Thái Hằng
5. Nguyễn Bảo Hằng
6. Nguyễn Thành Khôi
7. Ma Thanh Tâm
Hà Nội, 10/2015
MỤC LỤC
Lời mở đầu ........................................................................................................... iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT............................................................................ iv
DANH MỤC CÁC BẢNG.................................................................................... v
DANH MỤC CÁC HÌNH ..................................................................................... v
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ KINH TẾ VÀ MÔ HÌNH KINH TẾ 1
1.1. Lý luận chung về cơ chế kinh tế ............................................................... 1
1.1.1 Khái niệm ....................................................................................... 1
1.1.2 Phân loại cơ chế kinh tế ................................................................. 2
1.2. Lý luận chung về mô hình kinh tế ............................................................ 4
1.2.1 Khái niệm ....................................................................................... 4
1.2.2 Phân loại......................................................................................... 4
1.3. Phân biệt cơ chế kinh tế, mô hình kinh tế với thể chế kinh tế và chế độ
kinh tế 10
1.4. Nguyên nhân cải cách cơ chế kinh tế và đổi mới mô hình kinh tế ........ 11
CHƯƠNG 2: CẢI CÁCH CƠ CHẾ KINH TẾ ................................................... 13
2.1. Những nhân tố thúc đẩy cải cách cơ chế kinh tế ................................. 13
2.2. Quá trình cải cách cơ chế kinh tế ở Trung Quốc ................................. 14
2.2.1 Nội dung cải cách......................................................................... 14
2.2.2 Thành tựu ..................................................................................... 16
2.3. Thực trạng cải cách cơ chế kinh tế ở Việt Nam................................... 18
2.3.1 Cơ chế quản lý kinh tế của Việt Nam trước đổi mới ................... 18
2.3.2 Cơ chế quản lý kinh tế của Việt Nam sau đổi mới ...................... 20
2.3.3 Đề án cải cách cơ chế kinh tế từ năm 2013 ................................. 22
2.3.4 Thành tựu ..................................................................................... 23
i
2.3.5 Các hạn chế ................................................................................ 27
CHƯƠNG 3: ĐỔI MỚI MÔ HÌNH KINH TẾ ................................................... 29
3.1. Những nhân tố thúc đẩy đổi mới............................................................ 29
3.2. Tiến trình đổi mới .................................................................................. 29
3.3. Tác động của đổi mới từ mô hình kinh tế thị trường tự do sang mô hình
kinh tế thị trường hỗn hợp ở Hoa Kỳ .................................................................. 31
3.3.1 Thực trạng của mô hình kinh tế thị trường tự do ......................... 31
3.3.2 Sau khi chuyển sang mô hình kinh tế thị trường hỗn hợp ........... 32
3.4. Thực trạng đổi mới mô hình kinh tế ở Việt Nam .................................. 34
3.4.1 Kinh tế Việt Nam trước đổi mới: Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập
trung..................................................................................................................... 34
3.4.2 Kinh tế Việt Nam sau đổi mới đến nay: Mô hình kinh tế thị trường
định hướng XHCN .............................................................................................. 35
Tài liệu tham khảo ............................................................................................... 38
ii
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời buổi kinh tế hội nhập, mỗi quốc gia đều cố gắng thể hiện vị thế
của mình trên trường quốc tế. Tất cả các quốc gia đều phải thay đổi từng ngày cho
phù hợp với sự vận động của thế giới. Vì vậy, công cuộc đổi mới là điều tất yếu.
Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đổi mới thể hiện ở hai mặt chính,
đó là đẩy mạnh cải cách kinh tế trong nước và mở rộng hợp tác quốc tế. Trong đó,
cải cách kinh tế là quan trọng hơn cả bởi kinh tế là nền tảng trụ cột để phát triển
đất nước. Hơn hết, Việt Nam cần cải cách các chế độ quản lý kinh tế của nhà
nước, các luật lệ chung để thích ứng với nhu cầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Do vậy điều kiện tiền đề cho việc ổn định nền kinh tế vĩ mô, đảm bảo mức tăng
trưởng kinh tế trong dài hạn… là đổi mới tư duy và quản lý nhà nước, thành phần
kinh tế, cách thức quản lý các bộ phận kinh tế, các quan hệ quốc tế, các hoạt động
và giao dịch trong nền kinh tế… Toàn bộ những thay đổi đó tạo ra một cơ chế và
mô hình kinh tế mới cho mỗi quốc gia trong quá trình đổi mới nền kinh tế.
Bởi vậy mà nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài “Cải cách cơ chế kinh tế và đổi
mới mô hình kinh tế”. Bài nghiên cứu tập trung làm rõ các vấn đề khái niệm,
nguyên nhân cải cách cơ chế kinh tế và đổi mới mô hình kinh tế, từ đó đưa ra
những nhân tố ảnh hưởng tới sự thay đổi này, đồng thời đi sâu phân tích quá trình
cải cách và đổi mới ở một số quốc gia trên thế giới (Việt Nam, Trung Quốc, Hoa
Kỳ) cũng như tác động của chúng.
iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nguyên nghĩa tiếng Anh
Nguyên nghĩa tiếng Việt
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
FED
Federal Reserve System
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm trong nước
Nxb
Nhà xuất bản
TBCN
Tư bản chủ nghĩa
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
USD
United State Dollar
Đô-la Mỹ
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1
Tên bảng
Trang
Cơ chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cơ chế kinh
3
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Bảng 1.2
Ưu, nhược điểm của mô hình hình tế thị trường và mô hình
8
kinh tế kế hoạch hóa tập trung
Bảng 2.1
Tăng trưởng GDP và đóng góp vào tăng trưởng GDP theo
24
ngành, 2001-2005
Bảng 2.2
Đóng góp vào tăng trưởng theo ngành
26
Bảng 2.3
Bảng 2.3 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 9 tháng
26
các năm 2013, 2014 và 2015
DANH MỤC CÁC HÌNH
Tên hình
Trang
Hình 2.1
GDP và tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc 2010 – 2014
17
Hình 2.2
Thu nhập bình quân đầu người Trung Quốc giai đoạn
18
1978 – 2013
Hình 2.3
Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1990 – 2014
v
25
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ KINH TẾ VÀ MÔ HÌNH
KINH TẾ
1.1.
Lý luận chung về cơ chế kinh tế
1.1.1 Khái niệm
Cơ chế kinh tế được hình thành từ lâu và khái niệm về cơ chế đã được nêu
lên một cách sơ lược trong các tác phẩm của các nhà kinh tế học cổ điển thế kỷ
XVIII-XIX như A.Smith, S.Mill, A. Wagner… Quan niệm về cơ chế có thể xét
trên hai phương diện từ điển học và phương diện khoa học để tìm ra điểm chung.
Trên phương diện từ điển học, từ "cơ chế" là chuyển ngữ của từ mécanisme
của phương Tây. Theo từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa "mécanisme"
là "cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau". Từ điển
Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học biên soạn và xuất bản năm 2000 thì “cơ chế
là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện”. Từ "cơ chế" được dùng
rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng cuối những năm 1970, khi chúng ta bắt
đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với nghĩa như là
những qui định về quản lý.
Về phương diện khoa học, nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến khái
niệm "cơ chế”. Trong cuốn “Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO” (Nxb
Chính trị quốc gia năm 2004), các nhà khoa học cho rằng “cơ chế là một phương
thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của một
sự vật hay hiện tượng”. Một quan điểm cụ thể hơn về cơ chế được đề cập trong
cuốn “Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp” của Tổ chức
thương mại thế giới – WTO (Nxb Lao động xã hội năm 2006). Theo các tác giả
của cuốn sách này thì nói đến cơ chế bao giờ cũng gồm hai mặt: bên ngoài (thể
hiện ở cách thức tổ chức nên nó) và bên trong (sự tổ chức và hoạt động ngay trong
nội tại của sự vật, hiện tượng). Nói cách khác, cơ chế là hệ thống các mối quan hệ
hữu cơ, liên quan đến cách thức tổ chức, hoạt động, cách thức tồn tại và phát triển
của sự vật, hiện tượng. Cơ chế là một quá trình, một hệ thống, là tổng thể các yếu
tố tạo nên sự hoạt động của sự vật, hiện tượng.
1
Từ những ý kiến trên rút ra điểm chung nhất về khái niệm cơ chế. Cơ chế là
khái niệm chỉ sự diễn biến của quá trình vận hành nội tại của một hệ thống, trong
đó có sự tương tác giữa các bộ phận, các yếu tố cấu thành nên một hệ thống trong
quá trình vận động của mỗi bộ phận, mỗi yếu tố đó, nhờ đó hệ thống có thể vận
động, phát triển theo mục đích đã định.
Từ định nghĩa cơ chế, có thể hiểu cơ chế kinh tế chính là mối quan hệ giữa
con người với nền kinh tế: Cơ chế kinh tế là toàn bộ hệ thống những tác động có
ý thức và có tổ chức của con người đến kinh tế vĩ mô và vi mô, phản ánh đúng
các quy luật kinh tế khách quan, bảo đảm cho nền kinh tế vận hành theo định
hướng mục tiêu đã xác định. Cơ chế kinh tế mang tính khách quan và có vai trò
quan trọng trong việc nhận thức, phản ánh và vận dụng quy luật khách quan.
1.1.2 Phân loại cơ chế kinh tế
Các cơ chế kinh tế gồm cơ chế kinh tế thị trường, cơ chế kinh tế kế hoạch
hóa tập trung và cơ chế kinh tế hỗn hợp.
Cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung gồm các cơ quan, tổ chức với hệ
thống các quy tắc, quy chế được sử dụng để điều chỉnh sự vận động của nền kinh
tế mà trong đó nhà nước quản lí nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên
hệ thống áp đặt chỉ tiêu mệnh lệnh từ trên xuống dưới.
Cơ chế kinh tế thị trường là một tổng thể bao gồm các bộ quy tắc,
luật lệ đối với các thực thể, tổ chức kinh tế, được tạo lập nhằm điều chỉnh hoạt
động giao dịch, trao đổi trên thị trường. Các hoạt động kinh tế ở đây tuân theo
quy luật cung cầu, chịu sự quản lý của nhà nước nhưng ở mức độ vừa phải.
Cơ chế kinh tế hỗn hợp là cơ chế kinh tế trong đó khu vực nhà nước
và khu vực tư nhân tương tác với nhau trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản
của nền kinh tế. Chính phủ kiểm soát một phần đáng kể của sản lượng thông qua
việc đánh thuế, thanh toán chuyển giao cung cấp các hàng hóa và dịch vụ như lực
lượng vũ trang, cảnh sát. Chính phủ cũng điều tiết mức độ theo đuổi lợi ích cá
nhân.
2
Đa số các quốc gia trên thế giới ngày nay đều thực hiện cơ chế kinh tế thị
trường. Tuy nhiên cơ chế kinh tế thị trường cũng được phân thành hai nhánh nhỏ
hơn là cơ chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cơ chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Bảng 1.1: Cơ chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cơ chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Cơ chế kinh tế thị
Cơ chế kinh tế thị trường định hướng
trường TBCN
XHCN
Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển tạo ra sự cạnh trạnh gắt
gao giữa các nhà sản xuất. Người tiêu dùng được thỏa mãn nhu cầu
cũng như được đáp ứng đầy đủ các chủng loại dịch vụ.
Phân công lao động ngày càng xã hội hóa cao. Mở rộng quan hệ
nhiều loại thị trường từ thị trường địa phương, thị trường khu vực và
dân tộc, thị trường quốc tế.
Giống
nhau
Tạo xu thế liên doanh, liên kết đẩy mạnh giao lưu kinh tế, các
nước đang phát triển có cơ hội được tiếp xúc chuyển giao công nghệ
sản xuất, chuyển giao công nghệ quản lí từ các nước phát triển để thúc
đẩy công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế nước nhà.
Kinh tế thị trường góp phần thúc đẩy giao lưu giữa các nước
dưới sự thể hiện qua các sản phẩm, dịch vụ mang bản sắc của từng
dân tộc, từng địa phương, từng quốc gia.
Trong hệ thống
Trong hệ thống quy phạm pháp luật
quy phạm pháp luật trong đó nhà nước quản lí nền kinh tế để định
Khác
nhau
vai trò kinh tế của nhà hướng, dẫn dắt các thành phần kinh tế, tạo
nước bị giảm sút chịu điều kiện và môi trường thuận lợi cho sản
sức ép mạnh mẽ từ các xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường, xử
thành phần kinh tế lí và kiểm soát các vi phạm trong hoạt động
khác.
kinh tế, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh
tế và xã hội.
3
1.2.
Lý luận chung về mô hình kinh tế
1.2.1 Khái niệm
Mô hình kinh tế là cách thức mô tả thực thể kinh tế đã được đơn giản hóa
bằng cách loại bỏ các chi tiết không quan trọng, giữ lại đặc điểm quan trọng nhất
để giải quyết vấn đề nghiên cứu nhằm hiểu và dự đoán được mối quan hệ của các
biến số trên cơ sở dựa vào hành vi của các biến số đó, nó cung cấp cách thức giải
quyết vấn đề.
Khác với mô hình kinh tế lượng, mô hình toán học… Trong khi các mô hình
kinh tế toán học thể hiện mối quan hệ giữa các biến số kinh tế thì mô hình kinh tế
trong trường hợp này mang một khái niệm khác, nó không phải là một hàm được
lập nên bởi các biến mà nó là một thuật ngữ đùng để đặc trưng cho nền kinh tế
của một Nhà nước trong một khoảng thời gian. Mô hình kinh tế được đặc trưng
bởi nhiều yếu tố: các thành phần kinh tế, chủ thể kinh tế, các hình thức hoạt động
hay giao dịch, các cơ chế của mô hình kinh tế… Sự tồn tại lâu dài hay ngắn ngủi
của một mô hình kinh tế được quyết định dựa trên hiệu quả của mô hình đó đối
với nền kinh tế đương thời.
1.2.2 Phân loại
Dựa vào cách thức giải quyết các vấn đề cơ bản của kinh tế học, các quốc
gia trên thế giới đã và đang áp dụng ba mô hình kinh tế chủ yếu, đó là mô hình
kinh tế thị trường, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung và mô hình kinh tế hỗn
hợp.
• Mô hình kinh tế thị trường (market economy)
Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế phổ biến của thế giới đương đại. Nền
kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành dưới tác động của quy luật thị trường
như quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh. Nhà nước hầu như
4
không can thiệp hoặc can thiệp rất ít vào nền kinh tế. Mô hình này là thành tựu
chung của văn minh nhân loại chứ không phải là sản phẩm mang tính đặc thù của
chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, việc áp dụng và thực hiện mô hình kinh tế thị trường
trên thế giới rất phong phú, đa dạng.
Các mô hình kinh tế thị trường đang vận hành ở các nước tư bản phát triển
trên thế giới thành 3 nhóm tiêu biểu:
- Mô hình thể chế kinh tế thị trường tự do do (tiêu biểu là nền kinh tế thị
trường của Mỹ, Anh, Ốx-trây-li-a…).
Đây là mô hình kinh tế được các nhà kinh tế theo trường phái tự do của Mỹ
đề xuất, bản chất của nó là giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước và để cho nền
kinh tế tự vận hành thông qua công cụ của nó.
- Mô hình thể chế kinh tế thị trường xã hội (tiêu biểu là Đức, Thụy Điển và
các nước Bắc Âu khác).
Kinh tế thị trường xã hội là một khái niệm về một hình thái kinh tế thị trường
mới ra đời đầu tiên ở Tây Đức (Cộng hòa Liên bang Đức) mà tác giả là những
người theo trường phái kinh tế thị trường như Freibrug, Frederich, F.A.von
Hayek, Wolf Ogen. Về bản chất, kinh tế thị trường xã hội gần giống với kinh tế
thị trường nhưng mục tiêu của nó là “gắn kết trên cơ sở thị trường các nguyên tắc
tự do và bình đẳng xã hội.”
Mô hình kinh tế thị trường xã hội là một dạng biến thể của mô hình kinh tế
thị trường tự do. Nhưng nó có nội dung thực chất là sự gắn kết trên cơ sở thị
trường một cách hợp lý giữa các mặt kinh tế – xã hội và chính trị, từ bỏ chủ nghĩa
tự do, đồng thời chống độc quyền, bảo vệ nguyên lý của kinh tế thị trường. Hiểu
một cách đơn giản thì kinh tế thị trường xã hội là một nền kinh tế thị trường kết
hợp tự do với công bằng xã hội. Coi các thị trường chỉ là điều kiện cần chứ không
phải là điều kiện đủ và coi luật pháp, nhà nước, đạo đức… không hề kém quan
trọng hơn so với các chính sách kinh tế, tài chính.
- Thể chế kinh tế của mô hình nhà nước phát triển (tiêu biểu là nền kinh tế
Pháp, Nhật Bản).
5
Chức năng chủ yếu của nhà nước trong mô hình này là thúc đẩy tăng trưởng
và phát triển kinh tế dài hạn. Do đó, nhà nước phải chủ động thực hiện chính sách
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ trên cơ sở những thành tựu của
công nghiệp hóa và tái công nghiệp hóa dựa vào tri thức, nhằm thích ứng với sự
biến động nhanh chóng của nhu cầu thị trường để luôn tạo ra được lợi thế so sánh
mới nhằm nâng cao sức cạnh tranh, không thụ động chấp nhận sự phân công lao
động quốc tế dựa trên những lợi thế so sánh có sẵn. Cơ sở lý thuyết về chức năng
phát triển của nhà nước là những phân tích “lợi thế so sánh động” của một nền
kinh tế dựa vào tri thức.
Bên cạnh những điểm khác biệt của mỗi mô hình như đã nêu trên, giữa 3 mô
hình này cũng có những điểm tương đồng rất cơ bản:
Thứ nhất, cả ba mô hình thể chế kinh tế thị trường nêu trên đều được xây
dựng và vận hành dựa trên 4 nguyên tắc cốt lõi là: sở hữu tư nhân, lợi ích cá nhân,
cạnh tranh thị trường và tự do dân chủ theo kiểu phương Tây.
Thứ hai, những thể chế, chính sách trước đây bị coi là phi kinh tế như chính
sách giáo dục – đào tạo, khoa học, công nghệ thì ngày nay trở thành những chính
sách phát triển hàng đầu, do giáo dục – đào tạo và khoa học, công nghệ trong
những thập niên gần đây đã trở thành những động lực trọng yếu của tăng trưởng
và phát triển kinh tế. Chính nhờ tập trung những khoản đầu tư lớn cho phát triển
giáo dục – đào tạo và khoa học, công nghệ mà Mỹ trở thành nước đang dẫn đầu
trong các ngành mới, hiện đại và thu được nhiều khoản lợi nhuận kếch sù từ các
ngành công nghiệp bán dẫn, máy tính, In-tơ-nét, công nghệ sinh học,… Đó chính
là cơ sở trọng yếu để nền kinh tế Mỹ duy trì được đà tăng trưởng mạnh mẽ trong
suốt thập niên vừa qua.
Trên thực tế, cả 3 mô hình này đều sử dụng rộng rãi sự điều tiết và quản lý
vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, vai trò điều tiết và quản lý vĩ
mô của nhà nước luôn được thay đổi linh hoạt, theo những hình thức và phương
pháp phù hợp với diễn biến và yêu cầu khách quan của tình hình thực tế.
Chính phủ ở các nước này đều sử dụng những biện pháp can thiệp có chủ
đích nhằm trợ giúp một số ngành công nghiệp có vai trò quan trọng trong sự phát
6
triển dài hạn của nền kinh tế, hoặc kiểm soát, hạn chế sự phát triển của những
doanh nghiệp, những ngành gây ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế.
• Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung (command economy hay
centrally-planned economy)
Kinh tế kế hoạch hóa tập trung là nền kinh tế mà chính phủ kiểm soát tất cả
các nguồn lực của nền kinh tế và phân bổ các nguồn lực này thông qua một hệ
thống kinh tế tập trung. Hay nói cách khác, chính phủ đưa ra mọi quyết định về
sản xuất và phân phối. Cơ quan kế hoạch của chính phủ quyết định sẽ sản xuất ra
cái gì, sản xuất như thế nào, và phân phối cho ai. Sau đó, các hướng dẫn cụ thể sẽ
được phổ biến tới các hộ gia đình và các doanh nghiệp.
Vai trò của kinh tế kế hoạch hóa tập trung:
Có đóng góp quan trọng vào việc cải tạo quan hệ sản xuất, tập trung
tư liệu sản xuất vào trong tay nhà nước, do đó có điều kiện tập trung sức sản xuất
để nâng cao nâng suất lao động
Việc tập trung các tư liệu sản xuất và sản xuất có kế hoạch tạo điều
kiện tập trung sức lao động và vốn đầu tư vào những ngành trọng điểm, những
công trình quan trọng nhằm đưa đến sự thay đổi cơ bản nền kinh tế quốc dân Tập trung hóa, kế hoạch hóa cao độ dưới sự lãnh đạo của Nhà nước, như vậy có
tác dụng dễ dàng tập trung được nguồn lực quốc gia cho các mục tiêu trọng điểm,
những ưu tiên của đất nước. ví dụ điển hình như quá trình Công nghiệp hóa những
năm 1930 ở Xô Viết đã thành công bất kể các căng thẳng của nền kinh tế, cũng
như các dự án chạy đua vũ trang và các dự án lớn khác của Liên Xô sau này.
Kinh tế có kế hoạch và tách xa thị trường nên nền kinh tế tránh được
lạm phát, tránh được các khủng hoảng và các rủi ro của thị trường như trong các
nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, giá cả có khi được duy trì cố định trong vài chục
năm. Giá cả cố định trong một thời gian khá dài cộng với thu nhập tăng đều theo
kế hoạch điều này là có lợi cho tầng lớp dân cư lớp dưới kém năng động thích
được sống bao cấp, sức mua của người dân tăng cao.
Mỗi mô hình kinh tế không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả tốt nhất cho
các quốc gia. Bảng 1.2 dưới đây phân tích các ưu, nhược điểm của 2 mô hình kinh
7
tế. Cũng từ đó mô hình kinh tế hỗn hợp được hình thành với mục đích tận dụng
ưu điểm và khắc phục các nhược điểm của 2 mô hình kinh tế trên.
Bảng 1.2. Ưu, nhược điểm của mô hình hình tế thị trường và mô hình kinh
tế kế hoạch hóa tập trung
Mô hình kinh tế thị trường
Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập
trung
Ưu
điểm
Người sản xuất và người
Tất cả các vấn đề đều do nhà
tiêu dùng được tự do lựa chọn nước thống nhất, tập trung quản lý
nên tính năng động và tính chủ nên các vấn đề kinh tế lớn được
động sáng tạo cao hơn, thường giải quyết một cách dễ dàng hơn
xuyên đổi mới công nghệ và như xây dựng cơ sở hạ tầng, xây
kích thích nâng cao năng xuất, dựng và củng cố an ninh quốc
chất lượng hiệu quả trong sản phòng, xây dựng các công trình
xuất kinh doanh;
phúc lợi công cộng; quan hệ giữa
Khai thác và sử dụng các con người với nhau bình đẳng, bác
nguồn lực có hiệu quả và thúc ái; hạn chế phân hóa giàu nghèo và
đẩy nền kinh tế phát triển.
Nhược
điểm
đảm bảo sự công bằng xã hội.
Coi lợi nhuận là trên hết
Bộ máy quản lý cồng kềnh,
nên gây ra tình trạng ô nhiễm quan liêu, bao cấp; người sản xuất
môi trường, hệ thống sinh thái bị và người tiêu dùng không có quyền
tự do lựa chon nên tính năng động
phá vỡ;
Mâu thuẫn ngày càng cao và chủ động không cao, chậm đổi
giữa các mối quan hệ trong nền mới công nghệ; Phân phối mang
kinh tế với mối quan hệ truyền tính chất bình quân nên không kích
thống, tệ nạn xã hội nảy sinh, thích người lao động, khai thác và
phân hóa giàu ngèo và bất công sử dụng nguồn lực khan hiếm kém
xã hội tăng, các nhu cầu công hiệu quả
cộng xã hội khó được thực hiện,
chịu nhiều rủi ro.
8
Mô hình kinh tế hỗn hợp (mixed economy)
Kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế mà trong đó chính phủ vận hành nền kinh
tế theo tín hiệu thị trường, chủ trương phải kết hợp hai mặt "bàn tay vô hình" của
A. Smith và lý thuyết “bàn tay hữu hình”.
Cơ chế thị trường xác định ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế: cái
gì? như thế nào? cho ai? Nhưng "bàn tay vô hình" cũng có những khuyết tật và
đưa đến những sai lầm; cho nên cần "bàn tay hữu hình" của chính phủ thông qua
những chính sách và biện pháp thuế khoá, chi tiêu (đầu tư, tín dụng,...), lãi suất,
thanh toán chuyển khoản và kiểm soát nền kinh tế. Bằng những biện pháp ấy, nhà
nước thực hiện các chức năng: định ra khuôn khổ pháp luật, điều tiết thị trường,
bảo đảm sự công bằng, ổn định nền kinh tế vĩ mô... Nhưng "bàn tay hữu hình"
cũng có những khuyết tật của nó, do chính phủ có những nhận định sai lầm và
đưa ra những quyết định can thiệp trái với sự vận động khách quan của thị trường.
Cho nên phải kết hợp cả hai mặt và hình thành nên nền "kinh tế hỗn hợp".
Kinh tế hỗn hợp cho rằng do kết quả hoạt động của nhà nước tư sản, nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa hiện đại không còn là nền kinh tế tư nhân nữa, mà là sự
kết hợp hai khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước bổ sung cho nhau thành
một nền "kinh tế hỗn hợp". Khu vực Nhà nước đã mất tính chất tư bản chủ nghĩa
xã hội. Sự kiểm soát nền kinh tế do nhà nước và các cơ quan tư nhân thực hiện là
nhằm mục đích "nâng cao phúc lợi xã hội của nhân dân". Theo thuyết này, nhà
nước tư sản có khả năng xoá bỏ một phần những mâu thuẫn nảy sinh trong nền
kinh tế, giảm dần và đi đến không có khủng hoảng và bảo đảm một sự phát triển
nhịp độ cao và ổn định. Thuyết này đưa ra những biện pháp kinh tế - xã hội của
nhà nước tư sản, của kinh tế tư bản nhà nước trong chủ nghĩa tư bản. Ở đây, hai
khu vực tư bản tư doanh và kinh tế nhà nước hợp thành một nền kinh tế tư bản
chủ nghĩa thống nhất, trong đó vai trò quyết định là thuộc các tổ chức kinh tế tài
chính trong tổ chức độc quyền mạnh. Mô hình này phát huy hiệu quả của các nhân
9
tố chủ quan như các quy luật của thị trường lại vừa coi trọng các nhân tố chủ quan
như vai trò của chính phủ. Tuy nhiên còn tùy vào từng trường hợp của mỗi quốc
gia mà mà vận dụng vai trò của chính phủ và thị trường cho phù hợp. Do những
tính ưu việt đó mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng mô hình kinh tế
hỗn hợp. Tùy theo mức độ chính phủ can thiệp vào nền kinh tế mà một nền kinh
tế có thể lệch về hướng thị trường hay kế hoạch tập trung.
1.3.
Phân biệt cơ chế kinh tế, mô hình kinh tế với thể chế kinh tế và chế độ
kinh tế
Thể chế kinh tế
Thể chế kinh tế là hệ thống những quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các
chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế. Thể chế
kinh tế bao gồm các yếu tố chủ yếu: các đạo luật, luật lệ, quy định, quy tắc… về
kinh tế gắn với các chế tài xử lý vi phạm; các tổ chức kinh tế; cơ chế vận hành
nền kinh tế.
Có thể nói, thể chế kinh tế và cơ chế vận hành kinh tế là hai mặt của một vấn
đề. Thể chế kinh tế xây dựng khuôn khổ, xác định phạm vi hoạt động cho các chủ
thể hành vi phải tuân theo trong hệ thống. Còn cơ chế vận hành kinh tế chỉ ra cho
các chủ thể phương thức hoạt động trong phạm vi đã được qui định và quan hệ
giữa họ. Có thể so sánh theo cách mà Thomas L.Friedman hình dung giữa hệ
thống kinh tế xã hội với chiếc Computer: nếu hệ thống kinh tế xã hội là chiếc
Computer thì hệ thống kinh tế thị trường và cơ chế hoạt động của nó là phần cứng,
còn thể chế kinh tế là phần mềm. Cùng với phần cứng chứa đựng nền kinh tế và
cơ chế hoạt động của nó, thì cần có phần mềm để vận hành sự hoạt động đó.
Chế độ kinh tế
Chế độ kinh tế là một bộ phận hợp thành của chế độ xã hội của mỗi quốc gia.
Nó bao gồm một tổng thể các qui định pháp luật ghi nhận những quan hệ kinh tế
phù hợp với bản chất của nhà nước, truyền thống lịch sử và hoàn cảnh lịch sử cụ
thể khác. Các quan hệ này vừa là yếu tố quyết định tính chất nhà nước, vừa là cơ
10
sở pháp lý – kinh tế cho sự tồn tại và phát triển của nhà nước. Dưới góc độ đó,
chế độ kinh tế là một chế định quan trọng của luật Hiến pháp.
Ví dụ, trong hình thái kinh tế - xã hội phong kiến, quan hệ địa chủ - nông
dân, trong đó giai cấp địa chủ là người sở hữu ruộng đất, và các tư liệu sản xuất
chủ yếu khác trong xã hội, là quan hệ chiếm địa vị thống trị trong chế độ kinh tế
phong kiến; trong hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa, quan hệ giữa tư sản
- vô sản, trong đó giai cấp tư sản là người sở hữu tư liệu sản xuất trong xã hội, là
quan hệ chiếm địa vị thống trị của chế độ kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Nguyên nhân cải cách cơ chế kinh tế và đổi mới mô hình kinh tế
1.4.
Một khi những khuôn khổ cơ chế, mô hình cũ đã trở nên chật chội, những
cuộc cách mạng, cải cách trước đây tạo ra đã không còn đủ lực để thúc đẩy phát
triển thì cải cách cơ chế kinh tế và đổi mới mô hình kinh tế là công việc tất yếu.
Trước hết phải tìm hiểu cải cách cơ chế kinh tế và đổi mới mô hình kinh tế
là gì? Theo Từ điển Tiếng việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn, xuất bản năm
2003, “Cải cách là sửa đổi những bộ phận cũ (trong lĩnh vực kinh tế xã hội) cho
thành hợp lý và dáp ứng yêu cầu khách quan hơn”1. Từ đó rút ra cải cách cơ chế
kinh tế là cải thiện cách quản lý nền kinh tế bằng cách cải tiến các quy định, luật
định, đạo luật gắn với nền kinh tế để tạo ra động lực đột phá, phù hợp hơn với sự
vận động không ngừng của nền kinh tế.
Trong khi đó, “Đổi mới là thay đổi cho khác hẳn với trước, tiến bộ hơn, khắc
phụ tình trạng lạc hậu, trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển”2. Như vậy, đổi
mới mô hình kinh tế là quá trình một quốc gia chuyển đổi từ mô hình kinh tế này
sang mô hình kinh tế khác tiến bộ hơn, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền
kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế đã đặt ra. Bản chất của đổi mới mô
hình kinh tế chính là thay đổi cách thức vận hành nền kinh tế.
1
2
Từ điển tiếng Việt, tr104, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, năm 2003.
Từ điển tiếng Việt, tr337, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, năm 2003.
11
Tóm lại, cải cách cơ chế kinh tế và đổi mới mô hình kinh tế đều là thay đổi
sang một loại hình khác tiến bộ hơn. Vậy nguyên nhân nào khiến các quốc gia
phải thay đổi?
Nguyên nhân chủ quan
-
Mô hình và cơ chế cũ biểu hiện nhiều khuyết tật lỗi thời do không
phù hợp với xu thế khách quan của thời đại. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là vừa có sự
điều chỉnh, loại bỏ cái lỗi thời vừa bổ sung và hoàn thiện mô hình mới; tức là phát
hiện những khuyết tật của mô hình cũ để có giải pháp loại bỏ đồng thời phát triển
những thế mạnh của mô hình đã có để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của
mô hình mới.
-
Khoa học và công nghệ là động lực quyết định; nguồn nhân lực đóng
vai trò trung tâm bởi đó là chủ thể sáng tạo và sử dụng khoa học, công nghệ, đồng
thời thực hiện chức năng quản lý.
Nguyên nhân khách quan
-
Xu thế hợp tác quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, phân chia lao
động quốc tế và khu vực
-
Xu hướng toàn cầu hóa, sự phát triển mạnh mẽ của các công ty đa
quốc gia và xuyên quốc gia…
-
Vai trò của nhà nước trong điều hành kinh tế vĩ mô ngày càng trở
nên quan trọng trước các cơ hội cũng như thách thức khi hội nhập vào thị trường
thế giới.
12
CHƯƠNG 2: CẢI CÁCH CƠ CHẾ KINH TẾ
2.1. Những nhân tố thúc đẩy cải cách cơ chế kinh tế
Có rất nhiều nhân tố tác động tới việc hình thành và phát triển cơ chế kinh
tế, nhưng trong đó các nhân tố dưới đây được coi là quan trọng nhất.
Phương thức sản xuất là một trong những yếu tố rất quan trọng làm thay đổi
phần lớn các cơ chế chính thức, trong đó có cơ chế kinh tế. Việc chuyển từ phương
thức sản xuất này sang phương thức sản xuất khác sẽ làm thay đổi căn bản cơ chế
nói chung của một quốc gia, do sự khác biệt cơ bản về tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất, sự thay đổi các quan hệ về sở hữu, phân phối, trao đổi và tiêu
dùng, sự khác biệt về cơ cấu bộ máy nhà nước, sự thay đổi trong địa vị của những
người ban hành và cả những người thực thi cơ chế...
Chế độ sở hữu và cơ cấu quyền tài sản là những yếu tố rất quan trọng tác
động tới cơ chế mà trước hết là cơ chế kinh tế.
Hệ tư tưởng là nền tảng tinh thần làm thay đổi nhận thức của con người về
thế giới quan, nhân sinh quan. Hệ tư tưởng có tác động lớn tới việc giải thích thế
giới xung quanh và các hoạt động kinh tế. Chính vì vậy, hệ tư tưởng có tác động
rất lớn tới hệ thống cơ chế nói chung, cơ chế quản lý kinh tế nói riêng.
Mô hình kinh tế cũng có tác động mạnh tới cơ chế. Sự khác biệt giữa các mô
hình kinh tế, chẳng hạn như giữa mô hình kinh tế thị trường với mô hình kinh tế
kế hoạch hoá tập trung cũng tạo ra sự khác biệt lớn trong cơ chế kinh tế. Ngoài
ra, sự khác nhau giữa các mô hình kinh tế thị trường (kinh tế thị trường tự do, kinh
tế thị trường xã hội, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...) cũng tạo ra
sự khác biệt lớn trong cơ chế kinh tế.
Cơ cấu quyền lực chính trị, sự tập trung quyền lực hay phân quyền sẽ tạo ra
sự khác nhau cơ bản dẫn tới khác nhau đáng kể trong cả tổ chức nhà nước lẫn cơ
chế kinh tế.
Trình độ của chủ thể quản lý vĩ mô thể hiện trình độ nhận thức các quy luật
khách quan, nhận thức về kinh tế - xã hội, con người, nhận thức về đối tượng điều
13
chỉnh... Điều này có tác động lớn đến chất lượng của cơ chế kinh tế, vì các cơ chế
do con người tạo lập ra.
2.2. Quá trình cải cách cơ chế kinh tế ở Trung Quốc
2.2.1 Nội dung cải cách
Tại hội nghị Trung ương 3 khóa XI (12/1978), Đảng Cộng sản Trung Quốc
đã đưa ra đường lối cải cách và mở cửa kinh tế, với mục tiêu “tạo ra giá trị thặng
dư đủ để cung cấp tài chính cho quá trình hiện đại hóa nền kinh tế của Trung Hoa
Đại lục”, hay nói cách khác là chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
sang nền kinh tế thị trường XHCN. Từ đó cho đến nay, qua các kỳ hội nghị và
đại họi Đảng, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không ngừng phát triển tư duy lý
luận, làm phong phú thêm nhận thức về con đường cũng như nội dung công cuộc
cải cách kinh tế của đất nước.
Khái niệm “Cải cách cơ chế kinh tế” tuy không được nhắc đến trực tiếp trong
chính sách cải cách mở cửa nhưng nó được thể hiện gián tiếp qua các quan điểm
cải cách. Đó là,
Cải cách kinh tế
-
Sự thay đổi trong quan điểm về chế độ sở hữu ở Trung Quốc: Trước
cải cách, do tư duy giáo điều về CNXH, đã đồng nhất CNXH với chế độ công
hưu. Nay Trung Quốc chủ trương đa dạng hóa sở hữu và thành phần kinh tế và
coi đó là đường lối cơ bản trong xây dựng CNXH.
-
Sự thay đổi trong quan điểm về mô hình kinh tế XHCN: Từ quan
điểm CNXH với mô hình kế hoạch hóa tập trung, nay Trung Quốc chuyển sang
chủ trương phát triển thể chế kinh tế thị trường XHCN.
-
Sự thay đổi trong quan điểm về công nghiệp hóa XHCN: Trước cải
cách đó là mô hình công nghiệp hóa theo phương thức kế hoạch hóa tập trung,
nay Trung Quốc chuyển sang quan điểm công nghiệp hóa theo hướng hiện đại,
nhằm giải phóng sức sản xuất.
-
Sự thay đổi trong quan điểm về phân phối thu nhập: Trước cải cách
đó là quan điểm bình quân chủ nghĩa, không coi trọng lợi ích cá nhân người lao
14
động. Nay Trung Quốc chủ trương phương thức phân phối thông qua thị trường,
kết hợp phân phối theo lao động và phân phối theo yếu tố sản xuất.
Cải cách cơ chế quản lý
Từ khi thực hiện đường lối mở cửa (1978), Trung Quốc đã trải qua 5 giai
đoạn cải cách hành chính, trong đó đáng chú ý nhất là 3 giai đoạn tiến hành từ 9
năm trở lại đây:
-
Giai đoạn 1995-1998: Nhiệm vụ trọng tâm là tách dần quản lý hành
chính nhà nước và quản lý doanh nghiệp, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; điều
chỉnh chức năng quản lý của bộ máy hành chính nhà nước, nhất là trong quan hệ
với doanh nghiệp.
-
Giai đoạn 1998-2002: cải cách bộ máy hành chính nhà nước các cấp
được tiến hành trên quy mô lớn, gắn đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của
các cơ quan Đảng, phương thức hoạt động của các đoàn thể, cải cách các cơ quan
lập pháp và tư pháp. Nhiệm vụ trọng tâm là cơ cấu lại Chính phủ, điều chỉnh lại
chức năng của các cơ quan Chính phủ để phù hợp với sự chuyển đổi từ cơ chế kế
hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường, bảo đảm thích ứng với quá
trình hội nhập, đặc biệt là để tham gia WTO. Trong giai đoạn này toàn Trung
Quốc đã giảm 900 trên tổng số 2000 cơ cấu tổ chức ở cấp 4 cấp chính quyền; giảm
50% biên chế bộ máy hành chính.
-
Giai đoạn từ cuối 2003 trở đi: Phát huy kết quả các giai đoạn trước,
đưa cải cách đi vào chiều sâu để thực sự thay đổi chức năng của chính quyền theo
phương châm: biến từ chính quyền vô hạn (cái gì cũng làm) sang chính quyền hữu
hạn (quản lý bằng pháp luật, chỉ làm những việc thuộc chức năng đích thực là
quản lý hành chính nhà nước).
Đầu năm 2003, Chương trình cải cách hành chính của Quốc vụ viện đã được
thông qua; các nhiệm vụ chính là:
• Cải cách cơ chế quản lý tài sản công; lập cơ quan quản lý công sản để
triệt để tách chức năng quản lý hành chính của cơ quan công quyền với
quản lý của các doanh nghiệp nhà nước.
15
• Đổi mới cơ chế điều tiết vĩ mô thông qua chính sách phát triển; thành lập
Uỷ ban cải cách và phát triển thay cho Uỷ ban kế hoạch phát triển Quốc
vụ viện; thành lập cơ quan hợp tác và giao lưu khu vực để thực hiện chức
năng phối hợp phát triển.
• Đẩy mạnh Chương trình tin học hoá, từng bước xây dựng chính phủ điện
tử.
• Xác định lại sự phân công và cơ cấu tổ chức, biên chế của từng bộ, ngành
căn cứ vào chức năng mới.
• Chuẩn bị đến hết tháng 7/2004 thông qua Luật hành chính. Tinh thần là
giảm thiểu nội dung quản lý nhà nước, trên cơ sở đó tiếp tục thu gọn bộ
máy quản lý hành chính.
2.2.2 Thành tựu
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc cải cách và mở cửa, nền kinh tế Trung
Quốc đã có những bước tiến nhanh chóng và cơ bản. Dưới đây là một số thành
tựu nổi bật, phản ánh sự chuyển biến hết sức to lớn của nền kinh tế Trung Quốc
dưới tác động của đường lối cải cách và mở cửa kinh tế.
- Kinh tế tăng trưởng nhanh cả về tốc độ và quy mô.
Trong thời gian từ 1978 đến 2007, tốc độ tăng trưởng trung bình của GDP
Trung Quốc là 9,8%, cao hơn 3% so với tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm
của thế giới trong cùng thời kỳ.
Đặc biệt là giai đoạn từ năm 2010 khi Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn
thứ hai thế, theo đó, GDP tăng mạnh, tuy tốc độ tăng trưởng giảm nhưng vẫn ở
mức rất cao trên 7%.
16
Hình 2.1 GDP và tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc 2010 – 2014
Nguồn: ibtimes.com
-
Thành phần kinh tế phi tập thể trong nền kinh tế đã phát triển với tốc
độ nhanh. Thành phần kinh tế nhà nước không còn đóng vai trò độc quyền ở Trung
Quốc. Kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và nước ngoài cùng tồn tại trong
hệ thống kinh tế của Trung Quốc.
Theo số liệu của Cục thống kê Quốc gia Trung Quốc, năm 1978, xí nghiệp
quốc doanh chiếm 77,6% tổng sản lượng công nghiệp Trung Quốc. Tuy nhiên,
đến năm 2007, tỷ lệ này chỉ còn chiếm 29,5%. Mặc dù tỷ lệ giảm, nhưng kinh tế
quốc doanh vẫn là yếu tố quan trọng trong kinh tế Trung Quốc.
- Đời sống của nhân dân Trung Quốc đã được cải thiện đáng kể
Thu nhập bình quân đầu người của nước này tăng từ 190 USD năm 1978 lên
6.560 USD năm 2013.
17
Hình 2.2. Thu nhập bình quân đầu người Trung Quốc giai đoạn 1978 – 2013
Nguồn: unicep.cn
- Vị trí của nền kinh tế Trung Quốc trên thế giới được nâng lên rõ rệt
2.3. Thực trạng cải cách cơ chế kinh tế ở Việt Nam
Vấn đề cải cách cơ chế kinh tế tại Việt Nam đã được đưa ra từ Hội nghị lần
thứ sáu của Trung ương (khóa IV) năm 1979. Đến nay, nhiều nghị quyết của
Trung ương, nhiều quyết định của Đảng và Nhà nước về đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế đã được ban hành.
2.3.1 Cơ chế quản lý kinh tế của Việt Nam trước đổi mới
Trước đổi mới, cơ chế kinh tế của Việt Nam là cơ chế kế hoạch tập trung có
đặc trưng cơ bản là mọi hoạt động kinh tế xã hội đều theo một kế hoạch thống
nhất từ trung tâm, nhấn mạnh quan điểm hiện vật, không coi trọng các quy luật
kinh tế, xem nhẹ hạch toán kinh doanh.
18
Về chức năng quản lý: Nhà nước can thiệp quá sâu vào các lĩnh vực của hoạt
động kinh tế, tập trung trong tay mình ba loại quyền là: quyền quản lý Nhà nước
về hành chính kinh tế, quyền chủ sở hữu Nhà nước đối với các loại doanh nghiệp
và quyền điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp.
Về nguyên tắc quản lý: thực hiện nguyên tắc tập trung cao độ. Điều này dẫn đế
tệ nạn quan liêu, cửa quyền của Nhà nước và tính thụ động, ỉ lại, nạn hối lộ, móc
ngoặc của các đơn vị kinh tế.
Về hình thức quản lý: đó là nền kinh tế hiện vật theo kiểu “cấp phát – giao
nộp” bằng hiện vật các nguyên liệu đầu vào và các sản phẩm đầu ra. Thực hiện cơ
chế “xin - cho” về tài chính.
Về phương pháp quản lý: dựa chủ yếu vào phương pháp mệnh lệnh hành chính.
Về công cu quản lý: chủ yếu sử dụng công cụ kế hoạch pháp lệnh mang tính
áp đặt từ trên xuống trong việc giao nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh bằng hệ thống
chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh.
Trong thời kỳ này, Nhà nước là người quản lý tất cả, nắm trong tay quyền
“cho”, chi phối mọi vấn đề trong hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội. Cơ chế
này làm cho nền kinh tế trì trệ trong một thời gian dài, các doanh nghiệp không được
tự chủ, không năng động sáng tạo.
Kết quả là sản xuất tuy tăng hơn trước, nhưng còn chậm so với khả năng sẵn
có và công sức bỏ ra, chưa đáp ứng được yêu cầu cần nhanh chóng ổn định đời sống
của nhân dân cũng như yêu cầu tích lũy để công nghiệp hoá và củng cố quốc phòng.
Một số chỉ tiêu quan trọng của kế hoạch 5 năm (sản xuất lương thực, xi măng, than,
gỗ, vải, hàng xuất khẩu...) không đạt đã ảnh hưởng không tốt đến toàn bộ hoạt động
kinh tế và đời sống của nhân dân. Hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp. Các xí nghiệp
công nghiệp nhìn chung chỉ sử dụng được một nửa công suất thiết kế; năng suất lao
động giảm, chất lượng sản phẩm sút kém. Tài nguyên của đất nước chưa được khai
thác tốt, lại bị sử dụng lãng phí, nhất là đất nông nghiệp và tài nguyên rừng; môi
trường sinh thái bị phá hoại. Lưu thông chưa thông suốt, phân phối không hợp lí,
vật giá tăng nhanh, gây tác động xấu đến sản xuất, đời sống và xã hội. Những mất
cân đối lớn trong nền kinh tế (giữa cung và cầu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu
19