Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Bản dịch của Bản Tóm tắt tiếng Anh ở />Tự kỷ là một dạng rối loạn rất phức tạp, và chúng tôi vẫn chưa hiểu hết về bệnh này. Tuy nhiên người ta đã xác định được
nhiều bất thường về y sinh và hầu hết chúng đều có thể được chữa trị đến một mức độ nào đó. Bằng cách theo những chỉ
dẫn về xét nghiệm và điều trị dưới đây, nhiều trẻ đã khá lên phần nào, và có trẻ khá hẳn lên. Một số hướng điều trị cho
kết quả rất khả quan, nhưng phần nhiều thì mỗi hướng điều trị đều góp một phần nhỏ vào kết quả chung. Tuy nhiên kết
quả chung của nhiều hướng điều trị có thể rất đáng kể. Trẻ càng ít tuổi thì càng thấy hiệu quả rõ, nhất là những trẻ đã có
một thời gian phát triển bình thường sau đó bị thoái lui, nhưng trẻ lớn và vị thành niên cũng thường có tiến bộ khi theo
những hướng điều trị nêu dưới đây.
Để những hướng điều trị này được cải thiện và để xác định đối tượng nào có khả năng tiến bộ nhiều nhất và để tìm ra
hướng chữa trị mới, còn phải cần nhiều nghiên cứu hơn nữa.
Để có thêm thông tin, tôi khuyên các bạn nên tham gia các hội nghị DAN (Đánh bại bệnh tự kỷ từ bây giờ)
(www.autismwebsite.com) và đọc cuốn “Autism: Effective Biomedical Treatments-Tự Kỷ: Những hướng điều trị Y Sinh
hiệu quả” của Jon Pangborn, Ph.D., và Sidney Baker, MD, do viện Nghiên cứu về Tự kỷ xuất bản, và cuốn “Children with
Starving Brains-Những trẻ em não đói” của Jaquelyn McCandless, MD.
Những cuốn sách này sẽ cung cấp chi tiết cụ thể hơn về những hướng điều trị tóm tắt trong tài liệu này.
Để xem thêm những trường hợp các trẻ đã tiến bộ rất nhiều nhờ hướng điều trị Y Sinh, hãy xem cuốn “Recovering
Autistic Children-Những trẻ tự kỷ đã phục hồi” của Stephen Edelson, Ph.D., và Bernard Rimland, Ph.D.
Chúc các bạn may mắn trên con đường chữa trị cho con bạn
James B. Adams
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 1 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Tóm tắt về các hướng điều trị Y Sinh cho bệnh tự kỷ
Của James B. Adams, Ph.D.
Bản tháng 4 năm 2007 – xem những bản cập nhật sắp tới trên .
Tổng quan
Tài liệu này nhằm cung cấp một tóm tắt dễ hiểu về những hướng điều trị Y Sinh hiện có để giúp trẻ và vị thành niên Tự
kỷ/Asperger. Những điều trị Y Sinh này có thể không giúp cho tất cả các trẻ, nhưng chúng đã giúp cho hàng nghìn trẻ tiến
bộ, thậm chí có lúc vượt bậc.
Tóm tắt này dựa trên cuốn sách rất hay là “Autism: Effective Biomedical Treatments – Tự kỷ: Những hướng điều trị Y
Sinh hiệu quả” của Jon Pangborn, Ph.D., và Sidney Baker, MD,. do Viện nghiên cứu Tự kỷ (Autism Research InstituteARI) xuất bản. Cuốn sách đi sâu hơn nhiều về việc xét nghiệm và những hướng điều trị được vắn tắt ở trong tài liệu này.
Một nguồn tư liệu quý giá nữa là cuốn “Những đứa trẻ não đói-Children with Starving Brains,” của Jaquelyn McCandless,
MD. Sau khi đọc tài liệu này, tôi khuyên bạn nên đọc thêm những cuốn này để có thêm thông tin.
Tóm tắt này nhìn chung bám theo triết lý DAN!, trong đó điều trị những nguyên nhân của những triệu chứng của tự kỷ,
dựa trên xét nghiệm y học, nghiên cứu khoa học, và những kinh nghiệm lâm sàng, với trọng tâm là can thiệp vào dinh
dưỡng. Rất nhiều hướng điều trị DAN! đã được tìm ra là do trưng cầu ý kiến của cha mẹ và các bác sỹ.
ARI khảo sát đánh giá của cha mẹ về hiệu quả của phương pháp điều trị
Hầu hết các cách điều trị liệt kê dưới đây đã được đánh giá trong khi ARI khảo sát hơn 23,000 cha mẹ về mức độ hiệu quả
của những hướng điều trị khác nhau cho trẻ tự kỷ.
Những cách can thiệp khác:
Những cách can thiệp về hành vi, như Applied Behavior Analysis (ABA), có thể giúp trẻ tự kỷ đáng kể và chúng tôi
khuyên nên dùng cùng với những điều trị Y Sinh. Tương tự, ngôn ngữ trị liệu, tâm vận động, vật lý trị liệu, dạy kỹ năng
sống, và một chương trình dạy tốt đều rất quan trọng. Cuối cụng, những can thiệp về tương tác xã hội như Relationship
Development Intervention và những nhóm giao lưu có thể rất có ích cho việc xây dựng những mối quan hệ và kỹ năng xã
hội. Cách chữa bằng Y Sinh có thể làm tăng hiệu quả của những cách can thiệp này, bằng cách cải thiện chức năng hoạt
động của não và cơ thể và làm cho trẻ học dễ dàng hơn.
Đôi điều về tác giả: James Adams là giáo sư ở trường đại học công Arizona (Arizona State University-ASU) nghiên
cứu về những nguyên nhân sinh học của tự kỷ và cách chữa trị. Nghiên cứu của ông gồm có vitamin, khoáng chất, những
axít béo thiết yếu, axít amin, đường dẫn truyền thần kinh, nhiễm độc kim loại nặng, tẩy độc, các vi khuẩn đường tiêu hóa,
điều chỉnh hệ miễn dịch và những rối loạn giấc ngủ của trẻ em và vị thành niên tự kỷ. Ông là tác giả chính của Báo cáo
đồng thuận chung 2005 DAN! về hướng điều trị ngộ độc thủy ngân ở trẻ tự kỷ, và ở trong ban điều hành của Ủy ban
DAN!. Ông có bằng tiến sỹ về Cơ khí vật liệu, những đã tập trung nghiên cứu về tự kỷ. Ông là trợ giảng ở trường Cao
Đẳng Y Nhiên liệu pháp Tây Nam-Southwest College of Naturopathic Medicine. Ông cũng là chủ tịch Hội tự kỷ Mỹ–
Greater Phoenix Chapter, và là cha của một cô gái tự kỷ.
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 2 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Trình tự điều trị:
Chúng tôi đã liệt kê những hướng điều trị khác nhau theo trình tự tương đối thường được kê, nhưng mỗi trẻ mỗi
khác, và sau lần đánh giá đầu, các bác sỹ có thể có những trình tự điều trị khác nhau. Một số bác sỹ có những trình tự
điều trị nhất định. Nhưng điều cốt lõi là phải quan sát hiệu quả của các hướng điều trị cho con mình, cả về hành vi và qua
xét nghiệm nếu có thể.
Tóm tắt này gồm các phần sau:
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
Cải thiện chế độ ăn
Dị ứng thức ăn
Chế độ ăn kiêng Gluten và Casein (GFCF)
Bổ sung Vitamin/Khoáng chất
Vitamin B6 và Magiê liều cao
Các Axits béo cần thiết
Điều trị đường ruột
o Diệt nấm
o Probiotics (các vi khuẩn ruột có lợi)
o Các Enzyme tiêu hóa
Các Axít Amin
Hóc môn Melatonin
Bổ sung hóc môn tuyến giáp
Sun-phát
Glutathione
Tẩy độc
Điều chỉnh hệ miễn dịch
Lưu ý: Tóm tắt này không nhằm để làm tư vấn cho từng trường hợp riêng, cần hỏi ý kiến các bác sỹ để đưa ra
hướng điều trị tốt nhất cho con bạn. Tự kỷ là một dạng rối loạn lan tỏa, và cách chữa này có thể có tác dụng với trẻ này
nhưng không với trẻ khác.
Lưu ý: Tóm tắt này là ý kiến cá nhân của James B. Adams, và không nhất thiết là ý kiến của Trường đại học Arizona
State University (nơi ông công tác), và Hội Tự kỷ Mỹ, Defeat Autism Now!, hay bất cứ tổ chức nào khác.
Lời cảm ơn
Tôi muốn cảm ơn các bác sỹ DAN!, các nhà nghiên cứu, các bậc cha mẹ, và những người đã giúp tôi có được những
thông tin về cách điều trị Tự kỷ, tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới Jon Pangborn, Ph.D., và Tapan Audhya, Ph.D.
Đề tựa
Tóm tắt này là để tưởng nhớ tới tiến sỹ Bernard Rimland, vì đã tiên phong trong việc nghiên cứu về tự kỷ và đã ủng hộ, và
khiến nhiều người khác đi theo con đường của ông. Trân thành cảm ơn Bernie.
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 3 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Cải thiện chế độ ăn – Improving Diet
Lý do
Chi tiết
Tác dụng
Thời gian áp dụng
ARI Khảo sát đánh giá
của cha mẹ về hiệu
quả của phương pháp
điều trị
Con người cần một số chất dinh dưỡng để cơ thể có thể hoạt động, bao gồm các vitamin, các
khoáng chất, các axít béo cần thiết, và các axít amin (từ protein). Một chế độ ăn cân đối giàu
hoa quả, và protein là rất quan trọng để cung cấp cho cơ thể những dưỡng chất then chốt này
• Ngày ăn 3-4 lần rau đủ chất dinh dưỡng, và 1-2 lần các loại quả (ngô không phải là rau, mà
là một loại ngũ cốc; khoai tây chỉ có giá trị dinh dưỡng hạn chế, nhất là khi đã rán). Nước
hoa quả không tốt bằng ăn nguyên quả, nhưng tốt hơn soda
• Ngày phải ăn ít nhất 1-2 lần các đồ cung cấp protein (thịt, gà, trứng, lạc, đậu).
• Nên giảm thiểu thậm chí nên tránh đường (soda, kẹo, v.v…)
• Hạn chế các thức ăn “vô bổ” – bánh quy, khoai tây rán, v.v… - vì chúng không cung cấp
thêm calo
• Giảm thiểu hoặc tránh ăn các thức ăn rán hoặc thức ăn có transfat
• Tránh các phẩm màu, hương liệu, và chất bảo quản
• Nếu có thể, ăn các thức ăn hữu cơ vì chúng không có thuốc trừ sâu, và có nhiều dưỡng chất
hơn (các vitamin và các khoáng chất). Nếu ăn các thức ăn không phải hữu cơ, cần rửa kỹ
rau quả nếu ăn cả vỏ
• Rau quả có chứa các vitamin, khoáng chất, và các dưỡng chất thực vật để cải thiện và bảo
dưỡng sức khỏe thần kinh và cơ thể
• Protein cần để cung cấp axít amin, là những chất xây dựng nên đường dẫn truyền thần kinh
và nhiều axít amin thiết yếu và protein khác trong cơ thể
• Giảm lượng đường hấp thu có thể ngăn ngừa việc tăng đường trong máu
• Phẩm màu và hương liệu có thể gây khó chịu với những người nhạy cảm, dẫn đến các vấn
đề về hành vi và các vấn đề khác
• Thuốc trừ sâu thường có kim loại độc hại, và đang bị nghi là nguyên nhân gây ra một số
trường hợp tự kỷ.
Cả đời
% tệ hơn
% không thay
% tốt hơn Số trường hợp theo phương
đổi
pháp này tham gia khảo sát
Kiêng đường
2%
51%
48%
3695
Theo chế độ ăn
Feingold
2%
45%
53%
758
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 4 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Dị ứng thức ăn – Food Allergies
Lý do
Diễn giải
Xét nghiệm
Tác dụng
Thời gian áp dụng
Nghiên cứu
ARI Khảo sát đánh
giá của cha mẹ về
hiệu quả của
phương pháp điều
trị
Nhiều trẻ TK bị dị ứng thức ăn, do những bất thường trong hệ tiêu hóa và/hoặc miễn dịch. Nếu
thức ăn không được chuyển hóa hoàn toàn thành đường, axít amin, v.v… thì một phần các thức ăn
chưa tiêu hóa hết có thể thẩm thấu qua thành ruột đi vào các tuyến máu, nhất là nếu trẻ bị rò rỉ ruột
do bị viêm. Hệ miễn dịch sẽ phản ứng với các thức ăn này như là những dị vật, và có thể có những
phản ứng miễn dịch với các thức ăn này, dẫn đến phản ứng dị ứng
• Tránh các thức ăn dị ứng
• Có thể dùng các enzyme tiêu hóa để giúp trẻ tiêu hóa hết thức ăn
• Có thể dùng các phương pháp để làm lành đường ruột – nhiều hiện tượng dị ứng sẽ biến mất
khi ruột viêm đã khỏi
• Có thể áp dụng chế độ ăn sau 4 ngày mới ăn lại một loại thức ăn, giảm thiểu khả năng dị ứng
với thức ăn đó
Một số phản ứng dị ứng xảy ra tức thì, một số phải sau hàng giờ hoặc ngày, nếu là trường hợp sau,
thì ta sẽ khó phát hiện hơn. Có phản ứng rất mạnh, như mẩn, thậm chí sốc mẫn cảm, có phản ứng
lại nhẹ hơn như đau đầu hoặc đau bụng.
Xét nghiệm có thể bao gồm quan sát, ghi chép đồ đã ăn, xét nghiệm da, và xét nghiệm máu.
Quan sát: xem má, tai có đỏ không, có quầng thâm dưới mắt không vì đó là dấu hiệu của dị ứng.
Cần quan sát cả hành vi nữa
Ghi chép đồ đã ăn: Ghi chép lại, và xem có liên hệ nào giữa những triệu chứng và thức ăn đã ăn
trong vòng 1-3 ngày không.
Xét nghiệm máu: Nhiều phòng xét nghiệm có dịch vụ làm xét nghiệm IgE và IgG. IgE liên quan
đến các phản ứng miễn dịch tức thì, còn IgG liên quan đến các phản ứng miễn dịch không tức thì.
Xét nghiệm da: không hữu ích bằng xét nghiệm máu, vì nó chỉ kiểm tra được những phản ứng tức
thì.
Tất cả các cách xét nghiệm đếu có hạn chế của nó, ở chỗ xét nghiệm IgE có thể là âm tính kể cả
khi có các triệu chứng lâm sàng bị dị ứng thức ăn. Xét nghiệm IgG và IgE có thể là dương tính
nhưng lại không thấy có triệu chứng dị ứng lâm sàng nào cả. Các xét nghiệm chỉ gợi ý những thức
ăn cần tránh, sau đó cần phải quan sát thêm nữa.
Nếu bạn không chịu được chi phí xét nghiệm hoặc không muốn xét nghiệm, có thể thử loại bỏ từng
loại thức ăn thường gây ra phản ứng dị ứng nhất như gluten, các sản phẩm sữa, đường mía, ngô,
đậu nành, men, đậu phộng, trứng, các phẩm màu và phụ gia bảo quản. Nếu kiêng mà tốt hơn thì
nên thử chỉ cho ăn loại thức ăn đó lại 4 ngày 1 lần để xem có thể ăn thức ăn đó được không. Nên
thử Gluten và Sữa cuối cùng.
Loại bỏ những thức ăn gây dị ứng có thể dẫn đến một loạt các tiến triển tích cực ở một số trẻ, nhất
là về hành vi và độ tập trung
Một số dị ứng thức ăn (như đậu phộng) có thể bị cả đời, các dị ứng khác có thể mất đi khi ruột
viêm đã khỏi và/hoặc hệ miễn dịch đã trở lại bình thường
Theo nghiên cứu của Vojadani nhiều trẻ TK bị dị ứng thức ăn. Theo nghiên cứu của Lucarelli, ăn
kiêng 8 tuần đã cải thiện tình hình trên 36 trẻ. Theo nghiên cứu của Kushak và Buie, trẻ TK có thể
có lượng enzyme tiêu hóa thấp và/hoặc không hoạt động để tiêu hóa các loại đường phức hợp, làm
giảm khả năng tiêu hóa hết các loại đường và tinh bột. Một vài nghiên cứu của Horvath, Wakefield,
Buie, và người khác cho thấy viêm ruột thường thấy ở trẻ TK. Bệnh này có thể dẫn đến rò rỉ ruột
để những thức ăn chưa tiêu hết đi vào máu , dể dẫn đến phản ứng dị ứng.
Và còn một số thông tin cụ thể hơn (xin xem bản tiếng Anh) …..
% Tệ hơn % không thay % tốt hơn
Số trường hợp theo phương
đổi
pháp này tham gia khảo sát
Chữa dị ứng thức
3%
37%
61%
560
ăn
Luân phiên chế độ 2%
50%
48%
792
ăn
Kiêng sô cô la
2%
49%
49%
1721
Kiêng trứng
2%
58%
40%
1096
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 5 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Chế độ ăn kiêng GFCF (thường kiêng cả ngô và đậu nành) – GFCF Diet
Lý do
Diễn giải
Xét nghiệm
Tác dụng
Thời gian áp
dụng
Lưu ý
Nghiên cứu
Một số chế độ
kiêng khác
ARI Khảo sát
đánh giá của
cha mẹ về hiệu
Hệ tiêu hóa của con người vẫn chưa tiến hóa để chịu được chế độ ăn với lượng lớn các sản phẩm từ bột
mỳ và sữa. Con người là động vật duy nhất mà qua tuổi nhũ nhi đã trưởng thành vẫn uống sữa, và cũng
là động vật duy nhất uống sữa của động vật khác. Sữa bò có thể tốt cho bò con, nhưng lại không tốt
cho con người, nhất là khi đã qua tuổi nhũ nhi.
Trong vài trăm năm nay, người ta đã gây được những giống lúa mỳ có hàm lượng gluten tăng cao đáng
kể, và bữa ăn của người Mỹ có hàng lượng bột mỳ nhiều hơn bữa ăn con người thường ăn cách đây
1,000-10,000 năm trước đây. Gluten (có trong bột mỳ, lúa mạch đen, lúa mạch, và có lẽ cả yến mạch)
và casein (có trong các sản phẩm từ sữa) có thể gây ra 2 vấn đề:
• Chúng thường là chất gây ra dị ứng (xem phần trước), nhất là ở những người TK.
• Một số chuỗi kết hợp axít amin từ gluten và casein có thể tạo ra chất gây nghiện trong não, và có
thể có tác động đến hành vi (giống như heroin hoặc móc phin), dẫn đến tình trạng buồn ngủ, thiếu
tập trung/”zoning out”, và các hành vi quậy phá và tự hại. Giống như chất gây nghiện, chúng có
thể gây nghiện, và nếu thiếu chúng thì trẻ có thể có những hành vi nghiêm trọng.
Những vấn đề này có thể là do:
• Bộ máy tiêu hóa không tiêu hóa được hoàn toàn các chuỗi kết hợp gluten và casein thành các axít
amin đơn.
• Ruột viêm, khiến các chuỗi kết hợp gluten và casein đi vào mạch máu và ức chế gây nghiện ở não
• Tránh hoàn toàn 100% các sản phẩm có gluten và các sản phẩm từ sữa. Chỉ cần một lượng nhỏ,
như một miếng bánh quy cũng có thể dẫn đến các vấn đề dị ứng và/hoặc gây nghiện. Rất nhiều loại
thức ăn có lẫn chút ít gluten như khoai tây chiên giòn và nho khô có bột mỳ để làm cho chúng khỏi
bị dính, vì thế khó có thể kiêng tất cả các loại thức ăn và các thức ăn ô nhiễm.
• Các enzyme tiêu hóa có thể hữu ích, nhất là khi ta vô tình bị phơi nhiễm, nhưng không thể hữu ích
bằng một chế độ kiêng tránh hoàn toàn gluten và casein.
• Nhiều trẻ TK cũng tiến triển tích cực khi kiêng các sản phẩm từ ngô và/hoặc đậu nành.
Có thể xét nghiệm dị ứng sữa và bột mỳ. Tuy nhiên kết quả xét nghiệm âm tính không có nghĩa là ăn
sữa và bột mỳ vẫn được vì chúng vẫn có thể gây nghiện. Cách thử tốt nhất là thử kiêng.
Có thể có tác dụng rõ nhất với trẻ hay thèm ăn sữa và/hoặc bột mỳ, và ăn rất nhiều hai thứ đó. Chế độ
kiêng casein thường có tác dụng trong vòng một tháng, đôi khi chỉ trong một tuần. Chế độ ăn kiêng
gluten thường mất 3 tháng mới thấy tác dụng. Ở một số trẻ, trong vài ngày đầu, thậm chí còn có triệu
chứng tệ hơn (như thể cai nghiện) rồi mới khá hơn.
Ít nhất là đến khi các vấn đề ở ruột đã được giải quyết, và có thể là cả đời.
Cần bổ sung can xi khi kiêng casein trừ khi chế độ ăn của trẻ rất giàu canxi
Reichelt đã tiến hành vài nghiên cứu và tìm thấy các chuỗi kết hợp bất thường trong nước tiểu của
những người TK, và ông đã nghiên cứu rất lâu cách chữa và phát hiện ra chế độ ăn kiêng GFCF đã cải
thiện tình hình đáng kể. Cade nhận thấy sử dụng lâu dài các enzyme tiêu hóa cũng có tác dụng, nhưng
chế độ ăn kiêng GFCF vẫn là hiệu quả nhất. Cade đã tiến hành nghiên cứu trên 150 trẻ TK và nhận thấy
87% có kháng thể IgE (dị ứng) với gluten, chỉ 1% số không kiêng để làm đối chứng không dị ứng, và
90% có kháng thể IgG với casein, chỉ 7% số không kiêng để làm đối chứng không dị ứng. Ông cũng
nghiên cứu trên 70 trẻ TK theo chế độ ăn kiêng trong vòng 1-8 năm, và thấy rằng 81% đã khá lên đáng
kể sau 3 tháng, và còn tiếp tục tiến triển trong 12 tháng tiếp đó. Trẻ đã khá hơn hẳn về hòa nhập xã hội,
giao tiếp mắt, khả năng nói, kỹ năng học, độ tăng động, những hành vi dập khuôn và gây hấn. Trong số
19% những trẻ không khá lên, khoảng 1/3 không theo chế độ kiêng, và còn rất nhiều chuỗi kết hợp
gluten và casein trong máu.
Và còn một số thông tin cụ thể hơn (xin xem bản tiếng Anh) …..
Xin tìm hiểu thêm ở www.autismndi.com
Hiện giờ, một số chế độ kiêng khác cũng đang được nghiên cứu. Một trong số đó là Kiêng một số
Carbohydrate (SCD), trong đó tránh một số loại carbohydrate và hầu hết các loại đường (trừ
monosaccharides trong hoa quả). Xin tìm hiểu thêm ở www.pecanbread.com
% Tệ
% không % tốt
Số trường hợp theo phương pháp
hơn
thay đổi
hơn
này tham gia khảo sát
Chế độ ăn kiêng casein và gluten
3%
32%
65%
1446
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 6 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
quả của
phương pháp
điều trị
Chế độ ăn kiêng casein
Chế độ ăn kiêng bột mỳ
2%
2%
49%
50%
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
49%
5574
48%
3159
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 7 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Bổ sung Vitamin/Khoáng chất – Vitamins/Mineral Supplements
Lý do
Diễn giải
Xét nghiệm
Liều gợi ý
“Vitamin” và “khoáng chất” thiếu yếu ở đây là những chất mà theo nhiều nghiên cứu cho thấy
thiếu chúng sẽ có thể sinh bệnh thậm chí tử vong. Lượng cần thiết hàng ngày (Required Daily
Allowance-RDA) là lượng tối thiểu cần để phòng khỏi sinh bệnh, nhưng có thể ít hơn lượng cần
thiết để hệ thần kinh và cơ thể ở trong điều kiện tối ưu. Hầu hết người Mỹ dung nạp ít nhất một
loại vitamin hoặc khoáng chất dưới mức RDA. Ví dụ, nhiều phụ nữ bị thiếu canxi và sắt, dẫn đến
chứng loãng xương và thiếu máu.
Vitamins và các khoáng chất thường có trong rau quả và các nguồn khác. Tuy nhiên chế độ ăn
thông thường của người Mỹ thường thiếu những vitamin và khoáng chất trọng yếu, vì thế nhiều
người cần bổ sung chúng.
Nước hoa quả: có thể xay rau quả tươi thành nước sinh tố và bảo quản trong hộp thủy tinh đậy kín
trong vài ngày. Nước hoa quả là một nguồn giàu vitamin và khoáng chất cũng như các dưỡng chất
khác. Các loại nước hoa quả bán trên thị trường thường được “tiệt trùng” hoặc đã đun nóng để
diệt vi khuẩn, và có thể làm mất đi một số dưỡng chất. Rau quả ép một lần chỉ cho được khoảng
một nửa lượng vitamin/khoáng chất có trong nó, vì thế sau khi ép lần 1, nên cho xác rau quả vào
trong ít nước tinh lọc trong vòng 15 phút (bằng khoảng 10% lượng dung dịch ép ra ban đầu ), và
sau đó nghiền lại xác rau quả lần nữa – như vậy mới lấy được hầu hết các chất vitamin/khoáng chất
còn lại trong xác. Bất cập không đáng kể duy nhất của việc xay sinh tố là làm mất đi chất xơ không
tan, nhưng phần xơ tan vẫn còn, và đó là chất xơ quan trọng nhất. Bù lại, cách này có tiện lợi là
giúp những trẻ không chịu ăn rau quả dễ dàng và cảm thấy ngon miệng khi dung nạp những dưỡng
chất bồi bổ này. Một trong những loại rau bổ dưỡng nhất là cải bắp, rau chân vịt, cà rốt, bông cải
xanh, mùi tây, oregano, trộn với ít quả tươi cho vừa miệng ăn và một số dưỡng chất khác. Nên
dùng các rau quả hữu cơ thì hơn, vì chúng chứa lượng vitamin và khoáng chất cao hơn và có ít
thuốc trừ sâu độc hại hơn. Mỗi ngày dùng khoảng 230g là đủ cho trẻ em và người lớn, tùy theo
lượng các rau quả khác ăn vào.
Các loại bổ sung: Các loại bổ sung vitamin/khoáng chất lưu hành thị trường phần nhiều là không bị
các cơ quan chức năng kiểm soát, và một số các chất bổ sung không có đủ hàm lượng nêu trên bao
bì, hoặc ở dưới dạng khó hấp thu. Một số công ty đã tham gia vào Chương trình Kiểm định Bổ
sung chế độ ăn (DSVP) nằm trong Dược điển của Mỹ - chương trình này kiểm định hàm lượng các
chất bổ sung có đúng như nêu trên bao bì không. Để xem Dược điển và DSVP, xin vào xem
www.usp.org/USPVerified/ để kiểm tra sản phẩm của các công ty.
• Hầu hết các chất bổ sung không có đủ tất cả các vitamin và khoáng chất thiết yếu, hoặc không
đủ hàm lượng cần thiết.
• Một vài lựa chọn tốt để bổ sung vitamin/khoáng chất phổ rộng là Super Nu thera của Kirkman
(có hàm lượng vitamin B6 rất cao), Spectrum Complete của Kirkman, Spectrum Support và
Awaken Nutrition của Brainchild. Tuy nhiên hầu hết các loại bổ sung này không đủ lượng
canxi cần thiết và không đủ lượng sắt mà một số trẻ cần.
• Bổ sung canxi đặc biệt cần thiết với những người kiêng sữa
• Bổ sung sắt cần cho một số trẻ bình thường cũng như trẻ TK, nhưng chỉ nên uống sau khi xét
nghiệm cho thấy cần bổ sung, vì uống quá nhiều sắt cũng không hề tốt.
• Nói chung, bổ sung dinh dưỡng là một cách tốt để đảm bảo trẻ có đủ những dưỡng chất thiết
yếu không có trong chế độ ăn.
Có thể xét nghiệm khi đang ăn kiêng lượng hầu hết các vitamin và khoáng chất dùng mẫu máu.
Vitamin Diagnostic là một trong số rất ít công ty có thể đo được lượng của tất cả các vitamin. Một
số phòng lab thương mại có thể đo chuẩn xác được lượng của hầu hết các khoáng chất, phần lớn là
qua đo Hồng huyết cầu (Red Blood Cells – RBC). Cách đo can xi tốt nhất là trong nước tiểu, lấy
trong vòng 24 giờ thì tốt hơn. Một số phòng lab cũng có dịch vụ đánh giá nhu cầu vitamin và
khoáng chất dựa trên xét nghiệm máu và/hoặc nước tiểu.
Dưới đây là liều gợi ý ban đầu cho người TK. Tuy nhiên còn phải tùy theo chế độ ăn và nhu cầu
trao đổi chất của từng người, và dựa vào kết quả xét nghiệm để quyết định lượng bổ sung tối ưu.
Lưu ý là vitamin và khoáng chất có thể có ảnh hưởng đến chức năng cơ thể và hành vi, vì thế
chúng tôi khuyên nên bắt đầu với liều thấp (1/10 lượng dưới đây) và tăng dần trong 3-4 tuần.
Sắt chỉ nên bổ sung khi xét nghiệm cho thấy thiếu sắt.
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 8 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Liều lượng này còn phải điều chỉnh tùy theo trọng lượng cơ thể, ví dụ, ½ với trẻ khoảng 13.5 cân,
và tăng 50% với người nặng trên 41 cân
Vitamin
Vitamin A (as mixed
carotenoids)
Vitamin C (ascorbic acid)
Vitamin D
(cholecalciferol)
Vitamin E (mixed
tocopherols)
Vitamin K
B1 (thiamin HCl)
B2 (riboflavin)
B3 (niacin/niacinamide)
B5 (calcium dpantothenate)
B6 (pyridoxal HCl)
B12 (cyanocobalamin)
Folic Acid – axít fô líc
Folinic Acid
Biotin (d-biotin)
Choline (choline bitartrate)
Inositol (inositol
monophosphate)
Khoáng chất
Calcium – canxi (calcium
citrate)
Chromium (chromium
chelate)
Copper - đồng
Iodine (potassium iodine)
Iron - Sắt
Lithium (lithium amino
acid chelate)
Magnesium – ma giê
(magnesium glycinate
hoặc citrate)
Manganese – măngan
(manganese taurate)
Molybdenum
(molybdenum chelate)
Phosphorus
Potassium – Kali
(potassium citrate)
Selenium (selenium
chelate)
Sulfur (MSM)
Zinc – kẽm (zinc citrate)
Liều gợi ý cho trẻ 60 lpb
(khoảng 25kg)
6000 IU carotenoids
(tương đương với 3000 IU
Vit. A)
1000 mg
150 IU
Lượng cần thiết hàng
ngày RDA (4-8 tuổi)
400 mcg (1333 IU)
Giới hạn tối đa cho phép
25 mg
5mcg (200 IU)
650 mg
50 mcg (2000 IU)
200 IU
7 mg (10.5 IU)
300 mg (450 IU)
0
30 mg
20 mg
15 mg niacin – 20 mg
niacinamide
25 mg
55 mg
0.6 mg
0.6 mg
8 mg
Không xác định
Không xác định
Không xác định
15 mg
3 mg
Không xác định
40 mg *****
800 mcg
400 mcg
400 mcg
300 mcg
250 mg
100 mg
0.6
1.2 mcg
200 mcg
40 mg
Không xác định
400 mcg
12 mcg
250 mg
Không áp dụng
Không xác định
1000 mg
Không áp dụng
50 mg
800 mg
2500 mg
70 mcg
15 mcg
Không xác định
0
100 mcg
0
500 mg
440 mcg
90 mcg
10 mg
Không áp dụng***
3000 mcg
300 mcg
40 mg
Không áp dụng
150 mg
130 mg
110 mg*
10 mg
1.5 mg
3 mg
125 mcg
22 mcg
600 mcg
0
50 mg
500 mg
1500 mg
3000 mg
Không áp dụng
85 mcg
30 mcg
150 mcg
500 mg
10-30 mg****
Không áp dụng
5 mg
Không áp dụng
12 mg
900mcg (3000 IU)
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 9 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
* với Magiê, giới hạn tối đa là liều gợi ý bất kể chế độ ăn nào
** Sắt chỉ nên bổ sung nếu xét nghiệm Ferritin Huyết thanh (serum ferritin test) cho thấy cần bổ sung sắt
*** Lượng hấp thu lithium hàng ngày từ thức ăn là khoảng 1900 mcg/ngày với người lớn
**** Một số trẻ có thể cần lượng kẽm cao hơn
***** Một số trẻ và người lớn có thể khá hơn khi dùng liều cao hơn, xem phần Vitamin B6 liều cao
Thời gian áp dụng
Lưu ý
Nghiên cứu
ARI Khảo sát đánh
giá của cha mẹ về
hiệu quả của
phương pháp điều
trị
Cả đời, mặc dù cải thiện chế độ ăn và chữa đường ruột có thể làm giảm nhu cầu bố sung
Hầu hết các vitamin đều tan trong nước, và lượng dư thừa thường được bài tiết ra nước tiểu một
cách an toàn. Tuy nhiên, một số vitamin (vitamin A, D, E, K) hòa tan trong mỡ, và lượng dư thừa
có thể tích tụ trong cơ thể gây độc nếu uống quá liều (nhiều hơn liều gợi ý) trong thời gian dài.
Dư thừa các khoáng chất cũng không tốt, và không nên dùng quá giới hạn tối đa nếu không hỏi bác
sỹ hoặc chuyên gia dinh dưỡng.
Theo nghiên cứu của Adam nếu bổ sung cân đối các vitamin và khoáng chất sẽ giúp trẻ TK cải
thiện giấc ngủ và chức năng ruột, và có thể cả các cơ quan khác. Một nghiên cứu khác cho thấy
dùng Vitamin C liều cao (1.1 g / 10 kg cơ thể) sẽ giúp trẻ TK cải thiện.
Và còn một số thông tin cụ thể hơn (xin xem bản tiếng Anh) …..
% Tệ hơn
% không thay đổi % tốt hơn
Số trường hợp
theo phương pháp
này tham gia
khảo sát
Vitamin A
2%
58%
41%
618
E
Calcium
2%
62%
36%
1378
Folic Acid
3%
54%
42%
1437
Magnesium
6%
65%
29%
301
P5P (Vit. B6)
13%
37%
51%
213
Vitamin B3
4%
55%
41%
659
Vitamin B6
8%
63%
30%
620
không thôi
Vitamin B6 kèm
4%
49%
47%
5780
Magnesium
Vitamin B12
4%
33%
63%
192
Vitamin C
2%
57%
41%
1706
Zinc – kẽm
2%
51%
47%
1244
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 10 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Vitamin B6 và Magiê liều cao – High Dose Vitamin B6 & Magnesium
Lý do - Nghiên
cứu
Có đến hơn 20 nghiên cứu về vitamin B6 kèm Magiê với bệnh TK, trong đó 12 nghiên cứu là
double-blind (cả người uống thuốc và người cho thuốc đều không biết đó là thuốc), placebocontrolled (uống một loại thuốc thực ra không phải là thuốc – chỉ để trấn an tinh thần), khiến cách
điều trị này trở thành một trong những cách được nghiên cứu nhiều nhất. Hầu hết các nghiên cứu
này đều cho thấy 45-50% số người TK khá hơn nhờ uống bổ sung vitamin B6 với magiê liều cao.
Vitamin B6 cần cho hơn 100 các phản ứng của enzyme, trong đó có việc sản sinh ra các đường dẫn
truyền thần kinh (serotonin, dopamine, và một số khác) và glutathione (cần cho quá trình giải độc).
Magiê nhằm để giúp người uống vitamin B6 không bị tăng động hơn.
Hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng liều 8-15 mg B6/0,454kg cơ thể người uống (tối ta là 1000
mg). Chỉ có một nghiên cứu là dùng liều thấp hơn (1.3 mg/0,454kg cơ thể người uống) và đó là
một trong số rất ít nghiên cứu cho thấy cách điều trị này không có tác dụng.
Khi T. Audhya nghiên cứu về liều uống, ông đã cho tăng liên tục liều uống vitamin B6 từ 1 đến 10
mg/0,454 kg cơ thể người uống. Họ phát hiện ra rằng muốn thấy tác dụng thì phải uống ít nhất là 3
mg/0,454 kg cơ thể người uống, và 6 mg/0,454 kg cơ thể người uống là đủ để có tác dụng với hầu
hết các trẻ.
Hướng điều trị
Xét nghiệm
Lưu ý
Thông tin thêm
Hiện giờ vẫn chưa rõ lý do tại sao nhiều người lớn và trẻ em khi uống vitamin B6 liều cao lại khá
lên, nhưng có lẽ là do nhiều người lớn và trẻ em TK đều 1) bị suy giảm khả năng chuyển hóa
vitamin B6 sang dạng kích hoạt, và 2) có những enzyme không hoàn chỉnh để tạo ra các đường
truyền dẫn thần kinh nếu không dùng một lượng vitamin B6 cao hơn bình thường ở dạng kích hoạt.
(Xin xem thêm phần nghiên cứu của Adams)
Từ các nghiên cứu trên, Bác sỹ Bernard Rimland (viện trưởng ARI) đã đưa ra liều vitamin B6 gợi ý
là 8 mg/0,454 kg cơ thể người uống và lượng magiê bằng một nửa số đó. Tuy nhiên ông cũng nhấn
mạnh là có người TK cần ít hoặc nhiều hơn liều này.
Cần lưu ý là những người tham gia vào các nghiên cứu trên nhìn chung đều chưa theo phương
pháp DAN, và những hướng điều trị khác trong phương pháp DAN có thể làm giảm lượng vitamin
B6 liều cao cần thiết cho người điều trị.
Hiện giờ chưa có loại xét nghiệm nào để xác định những ai uống vitamin B6 sẽ tốt hơn, mặc dù
người ta có thể đo những đường truyền dẫn thần kinh thấp để làm căn cứ. Cách thử tốt nhất là thử
dùng thuốc trong 2 tháng, tăng dần liều từ 1 mg/0,454 kg cơ thể lên 8 mg/0,454 kg cơ thể, với
lượng magiê bằng nửa lượng này.
Việc dùng vitamin B6 liều cao bổ sung cho người lớn và trẻ em TK hiện giờ vẫn tỏ ra là an toàn.
Một nghiên cứu của Audhya so sánh hướng điều trị 6 tháng dùng vitamin B6 liều cao dưới 2 dạng
(PLP hoặc Pyridoxine HCl) trên 184 trẻ TK, và thấy có tác dụng phụ (hành vi tệ hơn) ở 10% trẻ
dùng PLP (chiếm nửa nhóm) và 0% ở nhóm dùng pyridoxine HCl. Tuy nhiên cũng có một số trẻ
khá hơn khi dùng PLP. Vì thế, chúng tôi gợi ý nên bắt đầu với pyridoxine HCl, và sau đó xem
uống thêm P5P (5-25 mg) có tốt hơn không.
Có rất ít khả năng là dùng vitamin B6 liều cao có thể dẫn đến tình trạng thần kinh ngoại biên tạm
thời (mất cảm giác ở ngón chân và tay), nếu có thì cũng rất hiếm, và nếu dừng uống thì người uống
cũng nhanh chóng trở lại bình thường.
Xin xem tóm tắt các nghiên cứu về vitamin B6 và bệnh TK ở
/>
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 11 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Các Axít béo thiết yếu – Essential Fatty Acids
Lý do
Diễn giải
Liều gợi ý
Xét nghiệm
Nghiên cứu
Các axít béo thiết yếu là những dưỡng chất quan trọng cho con người. Chúng có trong màng nhấy tế
bào ở mọi tế bào, và khoảng 20% não trẻ sơ sinh là các axít béo thiết yếu. Sữa mẹ rất giàu các axít
béo thiết yếu, nhưng hầu hết các sữa bột công thức đều thiếu thành phần trọng yếu cần thiết cho sự
phát triển não này. Có hai loại các axít béo thiết yếu là omega-3 và omega-6. Các axít béo thiết yếu
Omega-3 có tuổi thọ tương đối ngắn, vì thế các đồ ăn thương mại thường hyđrô hóa hoàn toàn hoặc
phần nào các axít này, làm chúng có tuổi thọ lâu hơn nhưng lại làm mất đi giá trị dinh dưỡng của
chúng. Vì thế, hơn 80% dân Mỹ có lượng các axít béo thiết yếu Omega-3 thấp, và đây là một trong
những vấn đề dinh dưỡng lan rộng nhất ở Mỹ. Ít axít béo thiết yếu thường dẫn đến rất nhiều dạng
rối loạn tâm lý, trong đó có trầm cảm, trầm cảm sau ___ (post-partum depression), bipolar, và hội
chứng Rett (tương tự như TK). Và đáng kể nhất là đã có hai nghiên cứu cho thấy trẻ TK có lượng các
axít béo thiết yếu Omega 3 thấp hơn người thường.
Và còn nhiều những nghiên cứu khác (xin xem bản tiếng Anh) …..
Một trong những nguồn cung cấp các axít béo Omega 3 là cá, chúng tổng hợp các axít béo này từ tảo
và các sinh vật nhỏ sống ở biển sông hồ. Đáng tiếc là nhiều loại có có độ thủy ngân và các chất độc
khác cao, nhất là các dã thú ăn thịt (cá mập, cá kiếm, và cá ngừ). Cá nhỏ hơn như cá hồi và tôm,
thường có độ thủy ngân thấp hơn nhưng còn tùy thuộc vào nơi cư trú của chúng. Vì thế, trẻ em nên
bổ sung các axít béo bằng dầu cá thì an toàn hơn, vì trong dầu cá thường có ít thủy ngân hơn. Vì dầu
cá (và cá) thường dễ bị phân hủy, cần tìm loại dầu cá chất lượng cao và không có mùi hoặc vị ôi thiu,
và nên để trong tủ lạnh.
Hai loại axít béo Omega 3 chính là EPA và DHA. DHA cần cho sự phát triển não thời kỳ ban đầu, và
EPA cần cho sự phát triển giai đoạn sau.
(dựa trên lượng Omega 3, chứ không theo lương dầu vì chúng có thể chứa các dầu khác)
Omega 3: 20-60mg/kg (600-1800 mg cho 30 kg, trẻ em). Với trẻ còn ít tuổi, dùng loại bổ sung giàu
DHA hơn và với trẻ đã lớn và người lớn, dùng loại bổ sung giàu EPA hơn.
Omega 6: ¼ lượng Omega 3, vd nếu Omega 3 là 1000 mg thì Omega 6 là 250 mg. Cần duy trì tỷ lệ
cân đối giữa Omega 3 và 6. Hầu hết dân Mỹ có đủ Omega 6, nhưng nếu đã uống bổ sung Omega 3
thì phải bổ sung thêm cả Omega 6.
Dầu hạt cây lanh cũng là một nguồn cung cấp axít béo Omega 3, và cũng cho cả Vitamin A và D
lượng kha khá. Cần lưu ý là lượng Vitamin A hấp thu không được vượt quá mức tối đa cho phép
RDA (xem phần vitamin/khoáng chất) trong thời gian dài, vì lượng dư thừa sẽ đọng lại ở gan và có
thể ảnh hưởng đến chức năng gan. (Carotene – carotin là tiền vitamin A thì không sao).
Lượng các axít béo thiết yếu có thể đo được trong các màng nhầy các tế bào hồng huyết cầu. Tuy
nhiên vì hầu hết người Mỹ có lượng Omega 3 thấp, nên người ta có khuynh hướng đạt đến ngưỡng
trên cùng của khoảng cho phép (normal) với Omega 3. Vì thế nên do lượng tuyệt đối các axít béo
chứ không nên chỉ đo tỷ lệ phần trăm từng loại
Có rất nhiều nghiên cứu cho thấy con người cần các axít béo thiết yếu, và hầu hết người Mỹ hấp thụ
không đủ lượng cần. Như đã nói ở trên, hai nghiên cứu đã cho thấy trẻ TK có lượng axít béo Omega
3 thấp hơn trẻ thường.
Đã có 4 nghiên cứu về cách điều trị cho trẻ/người lớn TK.
Một thử nghiệm mở trong 90 ngày trên 18 trẻ TK đã cho thấy chúng có gia tăng đáng kể về khả năng
ngôn ngữ và học.
Một nghiên cứu nhỏ về cách điều trị double-blind (cả người uống thuốc và người cho thuốc đều
không biết đó là thuốc), placebo-controlled (uống một loại thuốc thực ra không phải là thuốc – chỉ để
trấn an tinh thần) do Amminger làm nhận thấy dầu cá có thể làm giảm phần nào độ tăng động, nhưng
số đó còn quá ít để có thể được cho vào thống kê.
Một nghiên cứu của Adams cho thấy sau 2 tháng bổ sung dầu cá (giàu DHA), trẻ em và người lớn đã
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 12 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
có những tiến bộ đáng kể về khả năng giao tiếp và các lĩnh vực khác, nhất là những ai đã ăn cá 0-1
servings/tháng.
Audhya đã mở một nghiên cứu mở của Audhya về điều trị trong 9 tháng. Và thấy sau 6 tháng thì có
tiến triển, còn sau 9 tháng thì tiến triển trông thấy. Tiến triển đáng kể nhất là chức năng ruột (đã kiểm
nghiệm bằng các làm nội soi trước và sau khi điều trị nhiều lần), và những phần khác cũng có tiến
triển.
Thông tin thêm
ARI Khảo sát
đánh giá của cha
mẹ về hiệu quả
của phương
pháp điều trị
Và còn một số thông tin cụ thể hơn (xin xem bản tiếng Anh) …..
Xin xem ở www.nordicnaturals.com
% tệ hơn
% không thay đổi % tốt hơn
Các Axít béo
2%
42%
55%
Số trường hợp
theo phương pháp
này tham gia
khảo sát
626
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 13 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Các Enzyme tiêu hóa – Digestive Enzymes
Lý do
Hướng điều trị
Xét nghiệm
Nghiên cứu
ARI Khảo sát đánh
giá của cha mẹ về
hiệu quả của
phương pháp điều
trị
Cơ thể thường sản sinh ra rất nhiều loại enzyme tiêu hóa để phá vỡ các phân tử thức ăn lớn thành
những phân tử nhỏ hơn để có thể tiêu hóa được. Phải có các loại Enzyme khác nhau để tiêu hóa
các loại protein, carbohydrates và chất béo khác nhau. Trẻ TK đôi khi có lượng một enzyme nào
đó thấp hơn bình thường, hoặc không hoạt động tích cực, hoặc là cả hai – vấn đề enzyme rất hay
thấy ở các trẻ có vấn đề về đường ruột (táo bón hoặc tiêu chảy kinh niên).
Một enzyme tiêu hóa, DPP4, thường hay bị vô hiệu hóa bởi một lượng nhỏ những chất độc hại có
trong thủy ngân và organophosphate (phun thuốc trừ sâu). DPP4 cần để tiêu hóa một vài chuỗi liên
kết từ casein và các chất khác là những chất có thể có tác động như gây nghiện.
Uông Enzyme tiêu hóa mỗi bữa ăn, thường là khi bắt đầu ăn. Dùng những enzyme càng đầy đủ
càng tốt. Protease cần để tiêu hóa protein, lipases để tiêu mỡ, và disacharidases và các enzymes
khác để tiêu carbohydrates.
Lưu ý là chúng tôi vẫn khuyên nên dùng enzyme tiêu hóa đồng thời với chế độ ăn đặc biệt, và
không nên dùng để thay thế chế độ ăn đặc biệt. Nếu trẻ có vấn đề tiêu hóa các sản phẩm từ sữa và
bột mỳ, tốt nhất là nên tránh ăn những thứ đó, và dùng các enzyme tiêu hóa để phòng trường hợp
vô tình bị phơi nhiễm.
Đôi khi trong quá trình tẩy độc, các nhân tố gây độc như thủy ngân được giải phóng ra từ việc cô
lập trong các tế bào (from sequestration inside cells) và chúng được đào thải qua ống dẫn mật. Tuy
nhiên, một khi chúng đã ở trong ruột non, những chất độc này (thủy ngân) có thể kết lại và làm vô
hiệu hóa các enzyme tiêu hóa như peptidases (DPP4) và disacharidases vốn cần cho việc phá vỡ
những loại đường phức hợp (complex sugar). Đã có những báo cáo nói là “không cần thiết phải
dùng” enzyme tiêu hóa cho đến khi bắt đầu quá trình giải độc. Thông điệp thực sự ở đây là có thể
có nhiều hơn một lý do phải dùng các cách hỗ trợ hệ tiêu hóa và sự việc có thể thay đổi.
Xét nghiệm Phân tiêu hóa toàn diện (Comprehensive Digestive Stool Anaylysis) có thể cho biết
loại thức ăn nào không được tiêu hóa hoàn toàn, từ đó suy ra enzyme tiêu hóa nào có vấn đề.
Theo nghiên cứu của Horvath và Kushak/Buie, nhiều trẻ TK tiêu hóa carbohydrate không hoàn
chỉnh.
Và còn một số thông tin cụ thể hơn (xin xem bản tiếng Anh) …..
% tệ hơn
% không thay đổi % tốt hơn
Các enzyme tiêu
hóa
3%
42%
56%
Số trường hợp
theo phương pháp
này tham gia
khảo sát
737
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 14 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Điều trị đường ruột: Diệt nấm và Các vi khuẩn ruột có lợi – Gut Treatments: Anti-fungals and
Probiotics
Lý do
Hướng điều trị
Ruột của con người gồm rất nhiều các vi khuẩn (số vi khuẩn ruột gấp 10 lần tổng số các tế bào trên
cả cơ thể). Hầu hết các vi khuẩn ruột là có lợi, và giúp cho việc tiêu hóa thức ăn, cân bằng nước,
và hạn chế sự phát triển quá mức của những vi khuẩn và men có hại.
Một số trẻ TK có lượng các vi khuẩn có lợi thấp hơn bình thường, và có lượng các vi khuẩn có hại
và men quá cao. Những vi khuẩn có hại và men này sản sinh ra những chất độc hai và có thể làm
ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng thần kinh và hành vi; chất cồn chỉ là một trong số nhiều
chất độc hại mà men có thể sản sinh ra, và là một ví dụ men có thể có ảnh hưởng nghiêm trọng đến
hành vi. Có lẽ cách tốt nhất để điều trị tình trạng này là kết hợp chế độ ăn tẩy nấm và, uống thuốc
diệt nấm (nếu men vẫn còn) và probiotics (là vi khuẩn có lợi). Những thứ này có thể phục hồi lại
chức năng bình thường của ruột.
Chế độ ăn tẩy nấm: Men thường ăn đường và các carbohydrates đơn giản, vì thế nên giảm hoặc
tránh những thức ăn này. Đồng thời, cũng cần tránh những thức ăn có men hoặc các sản phẩm men,
trong đó có nước hoa quả, dấm (trong tương cà chua ketchup và các thức ăn khác), những thức ăn
có bột nở (bánh mỳ, pizza, bánh sừng bò, bánh cuộn), pho mát, và nấm (cũng là một loại
men/nấm).
Thời gian áp dụng: Dr. Sidney Baker khuyên nên thử dùng trong 5-14 ngày, sau đó cho ăn những
thứ cần tránh nói trên để xem chế độ ăn đó có thực sự cải thiện tình hình không. Nếu có thì nên
duy trì tiếp lâu dài.
Thuốc diệt nấm: có một số cách điều trị không theo đơn thuốc và theo đơn thuốc, và đôi khi cần
phải thử vài cách trước khi tìm ra cách hiệu quả với một giống men. Nystatin là loại an toàn nhất
vì chúng không bị hấp thu, nhưng đến nay nhiều loại men đã kháng lại loại thuốc này. Diflucan,
Sporanox, Lamisil, và Nizoral là những loại thay thế mà men ít kháng hơn, nhưng chúng sẽ bị hấp
thu vào cơ thể và có một xác suất rất thấp là sẽ làm gan hoạt động quá mức, vì thế nếu dùng lâu
phải kiểm tra enzyme gan thường xuyên vài tháng một lần. Một số cách điều trị diệt nấm không
theo đơn thuốc là dùng axit caprilic, oregano concentrate, chiết xuất của hạt quýt, undecylenic acid,
và pau d’arco. Một cách chữa ít thông dụng là dùng sacchaoromyces boulardii, một vi khuẩn vô
hại để diệt các men khác và đẩy mạnh các vi khuẩn có lợi khác, rồi sẽ biến mất sau một vài tuần
khi khi dùng thuốc nữa, khi đó ruột sẽ khỏe hơn.
Thời gian áp dụng: Dr. Sidney Baker gợi ý thử lần lượt nhiều liều cao, 2-3 tuần một đợt, rồi thử
tiếp đợt nữa cho đến khi tìm ra loại có tác dụng.
Phản ứng khi bị tiêu diệt: Khi men bị diệt, chúng có thể nhả ra chất độc cùng lúc. Vì thế nó có
gây ra phản ứng “bị tiêu diệt” trong vòng vài ngày, và khi các chất độc đã thoát ra ngoài cơ thể thì
tình hình sẽ khá hơn.
Các vi khuẩn ruột có lợi – Probiotics: Probiotics là hỗn hợp các vi khuẩn có lợi thường có ở
trong ruột. Nhiều probiotics chỉ chứa có một vài tỷ hoặc ít hơn thế các đơn vị làm tổ của các con vi
khuẩn - Colony Forming Unit (CFU’s), nhưng những loại Probiotics mạnh chứa đến 30-75 tỷ
CFU’s, và một vài loại Probiotics dùng theo đơn thuốc chứa đến 500 tỷ CFU. Liều càng cao thì
càng nhiều khả năng thuốc sẽ đến được ruột và tái lập lại các vi khuẩn có lợi. Nếu phải liên tục
dùng liều cao thì có thể là tuyến tụy hoặc các chức năng khác đã không còn hoạt động đúng chức
năng.
Thời gian sử dụng: Ban đầu dùng liều cao, và sau đó xem xét dùng liều thấp.
Xét nghiệm: một cách kiểm tra đơn giản và hữu hiệu là xem phân, và nửa số phân là vi khuẩn.
Phân phải có màu nâu vừa hoặc tối và thành khuôn, ngày thường đi 1-3 lần.
Dùng Kháng sinh thật cẩn trọng: một lần uống kháng sinh qua đường miệng thường diệt hết hơn
99% các vi khuẩn đường ruột có lợi, nhưng lại không diệt men và các vi khuẩn có hại khác, và sau
đó chúng thường phát triển mạnh vì không phải cạnh tranh với các vi khuẩn có lợi. Các thuốc
kháng sinh hấp thu qua đường miệng thường làm cho các vi khuẩn có hại và men phát triển quá
mức, và chúng bị nghi là nguyên nhân gây ra nhiều vấn đề về ruột ở trẻ TK. Có vài nghiên cứu đã
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 15 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Xét nghiệm
Nghiên cứu
ARI Khảo sát đánh
giá của cha mẹ về
hiệu quả của
phương pháp điều
trị
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
chỉ ra rằng trẻ TK thường dùng nhiều kháng sinh qua đường miệng nhiều hơn những trẻ thường
trong những năm đầu đời.
Xét nghiệm phân tích toàn diện phân tiêu hóa (Comprehensive Digestive Stool Analysis) (có ở
phòng Lab của Great Smokies hoặc Doctor’s Data) sẽ cho biết lượng các loại men và vi khuẩn bất
thường. Làm phân tích độ nhạy cảm (sensitivity analysis) có thể cho thấy loại thuốc diệt nấm nào
có tác dụng nhất, nhưng thường thì cách tốt nhất là nên thử nhiều cách diệt nấm.
Cũng có thể làm xét nghiệm các axít hữu cơ trong nước tiểu (Urinary organic acid testing) để kiểm
tra mức độ phát triển quá mức của các chất chuyển hóa từ men, mặc dù độ tin cậy của xét nghiệm
này còn chưa rõ ràng.
Một nghiên cứu lớn của Rosseneau cho thấy 65% trong số 80 trẻ TK bị thoái lui và táo bón kinh
niên có lượng khuẩn E. Coli gấp khoảng 10,000 mức thông thường, và nhiều trẻ cũng có lượng các
loại Aerobic Gram Negative Bacilli (AGNB) cao tương tự. Sau 3 tháng nghiên cứu điều trị trên 11
trẻ cho thấy một loại kháng sinh công hiệu (không có ở Mỹ) đã diệt hoàn toàn các vi khuẩn và các
vấn đề ruột đã được chữa gần như hoàn toàn hoặc cải thiện, đã có sự tiến bộ trong hành vi. Tuy
nhiên, khi dừng uống kháng sinh, AGNB đã trở lại trong vòng 1 tháng, và những cải thiện trong
hành vi và các vấn đề ruột cũng biến mất. Một nghiên cứu nhỏ hơn tương tự của Sandler với một
loại kháng sinh công hiệu cao khác (Vancomycin) cũng cho thấy có những cải thiện về chức năng
ruột và hành vi, nhưng khi ngừng uống thuốc thì những tiến triển cũng mất đi.
Và còn một số thông tin cụ thể hơn (xin xem bản tiếng Anh) …..
% tệ hơn
% không thay đổi % tốt hơn
Thuốc diệt nấmAntifungalsC
Diflucan
Thuốc diệt nấm
AntifungalsC
Nystatin
Kháng sinh
(không khuyên
dùng)
5%
41%
55%
Số trường hợp
theo phương pháp
này tham gia
khảo sát
330
5%
46%
49%
986
31%
57%
12%
1799
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 16 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Các axít amin – Amino Acids
Lý do
Điều trị
Xét nghiệm
Nghiên cứu
Protein được cấu thành bởi các chuỗi dài các axít amin đơn lẻ. Khi protein được tiêu hóa hoàn
toàn, các enzyme tiêu hóa sẽ chia cắt các phân tử protein dài thành các chuỗi liên kết nhỏ và các
axít amin đơn lẻ, để cơ thể có thể hấp thụ được. Các axít amin này có thể tập hợp lại thành một
loạt các chất quan trọng, như đường dẫn truyền thần kinh, hóc môn, enzyme, kháng thể, globulin
miễn dịch, glutathione, và nhiều chất khác. Axít amin là những “viên gạch” xây nên sự sống.
Một số trẻ TK có chế độ ăn hạn chế, có lượng protein thấp, và một số trẻ có vấn đề về tiêu hóa hạn
chế khả năng tiêu hóa protein thành các axít amin đơn lẻ. Có thể vì bất kỳ lý do nào trong số này
mà lượng axít amin sẽ bị thiếu
1) Đảm bảo chế độ của trẻ có đủ lượng protein (4 oz x 2 lần / 1 ngày)
2) Cho uống enzyme tiêu hóa để đảm bảo các protein được tiêu hóa hoàn toàn thành các axít
amin đơn lẻ
3) Cho uống các axít amin “tự do”, “tự do” nghĩa là các axít amin tồn tại ở dạng phân tử đơn
lẻ, chứ không phải là một phần của phân tử protein lớn cần phải tiêu hóa. Các loại bổ sung
axít amin thông thường sẵn có trên thị trường, và cũng có thể đặt hàng các hãng dược bào
chế
Axít amin có thể được xét nghiệm bằng máu (nhịn ăn trong 10 tiếng) hoặc bằng nước tiểu (trong
vòng 24 giờ là tốt nhất). Các huyết tương lấy khi nhịn ăn cho biết lượng axít amin lưu thông liên
quan nhiều hơn đến quá trình trao đổi chất hơn là quá trình tiêu hóa. Thử axít amin bằng nước tiểu
trong vòng 24 giờ cho biết cái gì vượt quá ngưỡng thông thường, hoặc không được tiêu hóa hết, và
các gì bị thiếu hụt, nếu thận hoạt động bình thường. Kết quả phân tích nước tiểu phải được phân
tích cẩn thận, vì lượng chất nào trong nước tiểu quá cao có thể là dấu hiệu của việc đào thải hoặc
“bài tiết” quá mức, dẫn đến lượng còn lại trong cơ thể quá thấp.
Cũng có thể đo lượng đường dẫn truyền thần kinh trong tiểu huyết cầu, vì có thể chữa trị tình trạng
lượng đường dẫn truyền thần kinh quá thấp bằng cách bổ sung thêm các axít amin, để tích lũy cho
cơ thể.
Một nghiên cứu của Aldred cho thấy bệnh nhân TK hoặc Asperger và anh chị em ruột và bố mẹ
đều có lượng axít glutamic, phenylalanine, asparagines, tyrosine, alanine, và lysine (p<0.5) cao hơn
mức trung bình của độ tuổi tương ứng, và lượng glutamine huyết cầu giảm. Các axít amin khác ở
mức bình thường. Điều này có thể kết luận là có một sự rối loạn chung về axít amin trong gia
đình/huyết thống.
Và còn một số thông tin cụ thể hơn (xin xem bản tiếng Anh) …..
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 17 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Hóc môn Melatonin cải thiện giấc ngủ
Lý do
Điều trị
Nhiều trẻ và người lớn TK có vấn đề về giấc ngủ, như khó đi vào giấc ngủ, tỉnh giấc nửa đêm và
gần sáng. Những vấn đề về giấc ngủ này có quan hệ mật thiết với những vấn đề về đường ruột, và
có vẻ là việc chữa trị đường ruột sẽ làm giảm các vấn đề về giấc ngủ đã nêu.
Tuy nhiên nếu các vấn đề này vẫn tiếp diễn, bố sung melatonin có thể sẽ có tác dụng. Melatonin là
hóc môn do cơ thể tự sản sinh ra và buổi tối để điều tiết giấc ngủ. Nó được hình thành từ serotonin
của các đường truyền dẫn thần kinh (neurotransmitter serotonin), vì thế nếu lượng serotonin mà
thấp thì cũng có thể làm lượng melatonin thấp.
Việc sản sinh ra Melatonin có thể bị giảm đáng kể bởi ánh sáng, và thậm chí ánh sáng nhẹ ban đêm
cũng có thể làm giảm đáng kể việc sản sinh melatonin. Vì thé, việc trước tiên là phải loại bỏ tất cả
các nguồn ánh sáng.
Với vấn đề khó đi vào giấc ngủ, trước tiên nên thử tạo ra một nề nếp thường xuyên vào giờ ngủ
thông qua can thiệp hành vi (ngủ vào giờ cố định, tắm trước khi ngủ, đánh răng, đọc truyện, v.v…).
Ngoài ra, cần đảm bảo các chất caffeine được loại bỏ và giảm lượng đường hấp thụ vào ban đêm.
Xét nghiệm
Lưu ý
Điều tra của ARI
về hiệu quả của
phương pháp theo
đánh giá của cha
mẹ
Nếu vấn đề về giấc ngủ vẫn tiếp diễn, hãy bắt đầu với liều 1 mg melatonin (0.5 mg với trẻ em), và
tăng lên tới 2-5 mg nếu cần (1-2 mg với trẻ em). Nếu đêm vẫn bị thức giấc, nên thử uống kiểu
time-release form chứ không nên tăng liều. 2 mg time-release tốt hơn là uống cả 5 mg liền một
lúc.
Cách thử tốt nhất là xem xem người đó có tiếp tục bị mất ngủ sau khi khi đã loại bỏ những nguyên
nhân khác (xem dưới đây).
Melatonin có vẻ an toàn trên mức bình thường, và dùng liều cao ở động vật không tạo ra chất gì
độc hại, và nghiên cứu trên 1400 phụ nữ uống 75 mg/ngày trong 4 năm không cho thấy có phản
ứng phụ nào cả. Thực tế, nghiên cứu trên động vật cho thấy dùng melatonin lâu dài có thể tăng
tuổi thọ lên 20%, có lẽ là do tác dụng chông oxi hóa mạnh của nó.
% tồi hơn
% không khác
% tốt hơn
Số trường hợp
theo phương pháp
này tham gia
khảo sát
Melatonin
8%
30%
61%
573
Xin xem thêm thông tin ở www.melatonin.com
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 18 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Xét nghiệm/Bổ sung hóc môn tuyến giáp - Thyroid Testing/Supplementation
Lý do
Điều trị
Xét nghiệm
Có khoảng 5-10% đại dân số có rối loạn về tuyến giáp cần phải bổ sung, và có lẽ tỷ lệ này ở trẻ tự
kỷ có thể cao. Chức năng tuyến giáp kém do thiếu i ốt là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng
thần kinh khiếm khuyết trên thế giới, dẫn đến hơn 80 triệu ca thần kinh khiếm khuyết. Chức năng
tuyến giáp kém cũng có thể do những yếu tố khác gây ra
Nếu mức i ốt thấp, có thể bắt đầu bằng việc bổ sung i ốt. Nếu cách này vẫn không làm bình thường
lại tuyến giáp, thì phải xem xét đến việc bổ sung hóc môn tuyến giáp. Chúng tôi khuyên nên dùng
bổ sung hóc môn tuyến giáp tự nhiên từ động vật, vì chúng là nguồn cung cấp đầy đủ hóc môn
tuyến giáp. Chúng tôi không khuyên dùng bổ sung hóc môn tuyến giáp tổng hợp vì chúng không
đầy đủ
Có thể làm một đánh giá đơn giản ban đầu bằng cách đo nhiệt độ cơ thể trước khi dậy. Nếu nhiệt
độ cơ thể thấp thì có thể là do chức năng tuyến giáp quá kém. Nếu mức hoạt động/năng lực nói
chung thấp thì cũng có thể là vấn đề của tuyến giáp, nhưng cũng có thể do nhiều yếu tố khác.
Có thể làm xét nghiệm thử tuyến giáp trong máu. Tuy nhiên một số phòng thí nghiệm cho khoảng
tham chiếu căn cứ quá rộng nên cần phải thận trọng khi đọc kết quả.
Thời gian áp dụng
Lưu ý
Nghiên cứu
Vitamin Diagnostics có một xét nghiệm tuyến giáp trong nước tiểu rất nhạy
Thường thì phải uống bổ sung 1-2 tháng thì mới thấy năng lượng và nhiệt độ cơ thể tăng. Có thể
phải bố sung lâu dài trừ khi việc tạo hóc môn tuyến giáp được giải quyết.
Quá nhiều hóc môn tuyến giáp có thể dẫn đến sụt cân và các vấn đề khác, vì vậy nếu uống bổ sung
thì cần phải được theo dõi liên tục.
Một nghiên cứu của Adams et al cho thấy nhiều trẻ tự kỷ thường có lượng i ốt trong tóc thấp hơn
bình thường, và có thể trong người chúng cũng có lượng thấp và cần phải bổ sung thêm.
Adams JB, Holloway CE, George F, Quig D. phân tích kim loại độc và các khoáng chất thiết yếu
trong tóc của trẻ TK ở và các tình trạng liên quan, và mẹ của các trẻ đó. Biol Trace Elem Res. 2006
Jun;110(3):193-209.
Và còn một số thông tin cụ thể hơn (xin xem bản tiếng Anh) …..
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 19 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Sun-phát - Sulfation
Lý do
Điều trị
Xét nghiệm
Nghiên cứu
Sulfate được dùng cho nhiều chức năng cơ thể, trong đó có tẩy độc, duy trì phần đệm của ruột, và
sản sinh ra hóc môn. Một số trẻ TK có lượng sulfate thấp trong cơ thể, do nhiều nguyên nhân trong
đó có hấp thu trong ruột kém, mất quá nhiều trong nước tiểu, thận tái sử dụng sulfate kém, hoặc
viêm và oxidant stress có thể đóng cysteine dioxygenase làm chặn đường đi từ cysteine đến sulfate
Tapan Audhya đã đánh giá nhiều cách khác nhau để tăng lượng huyết thanh sulfate ở trẻ TK có
lượng này thấp. Hai cách hiệu quả nhất là uống MSM (500-2000 mg tùy theo kích thước và lượng
sulfate) và tắm muối Epsom Salt (magnesium sulfate-sulfate magie) cho 2 cốc muối Epsom vào
trong nước nóng/ấm, ngâm trong 20 phút, 2-3 lần/tuần. Một số trẻ không chịu được MSM, nhưng
tắm muối Epsom thì thường nhiều trẻ chịu được. (T. Audhya, Role of Sulfation, presentation at
Autism/Asperger’s Conference in Anaheim, CA, February 2007.)
Nhiều phụ huynh và các bác sỹ đã truyền miệng nhau rằng tắm muối Epsom tốt cho con họ. Tuy
nhiên kinh nghiệm về việc sử dụng MSM cho trẻ TK thì còn ít và cần phải nghiên cứu thêm.
Xét nghiệm máu có thể được dùng để kiểm tra lượng lượng các huyết thanh sulfate tự do và tổng.
và có thể là xét nghiệm đáng tin cậy hơn. Xét nghiệm Plasma cysteine cũng có thể cho ta nhiều
thông tin. (Xét nghiệm nước tiểu về tổng sulfate có thể giúp ích cho việc tìm ra tống lượng sulfate
đã mất đáng kể, nhưng đây chỉ là một trong số vài nguyên nhân dẫn đến lượng sulfate thấp trong
cơ thể và không nên chỉ dựa vào việc đánh giá tình trạng sulfate).
Vì tắm muối Épsom rất an toàn, ta có thể thử dùng chúng trong vài tuần và xem có tiến triển gì về
hành vi và chức năng không (xem dưới đây).
Một nghiên cứu thử nghiệm nhỏ của Alberti cho thấy trẻ TK có khả năng sulfation capacity giảm
hơn hẳn so với nhóm đối chứng. Alberti A, Pirrone P, Elia M, Waring RH, Romano C. Sulphation
deficit in "low-functioning" autistic children: a pilot study. Biol Psychiatry. 1999 Aug 1;46(3):4204.
Và còn một số thông tin cụ thể hơn (xin xem bản tiếng Anh) …..
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 20 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Điều trị bằng Glutathione
Lý do
Điều trị
Nhiều trẻ TK có lượng glutathion hoạt động thấp, vốn cần để bảo vệ cơ thể khỏi nhiều chất độc
trong đó có các kim loại độc
Có nhiều cách để tăng lượng glutathione hoạt động bao gồm:
1) Uống glutathione: chỉ khoảng 10% lượng glutathione được hấp thụ qua đường uống vì thế
phương pháp này không hiệu quả lắm trong việc nâng lượng này trong cơ thể, nhưng nó có thể tăng
lương này trong ruột.
2) Tiêm tĩnh mạch glutathione: dạng tiêm tĩnh mạch thường có hiệu quả cao, nhưng chỉ tạm thời,
và khó có thể áp dụng cách này thường xuyên cho trẻ.
3) Vitamin C: người ta nhận thấy 500 mg vitamin C có thể làm tăng mức RBC glutathione lên
50% với các sinh viên.
Johnston et al, Vitamin C elevates red blood cell glutathione in healthy adults. Am J Clin Nutr.
1993 Jul;58(1):103-5.
4) TMG/Folinic Acid/methyl-B12: Một nghiên cứu của James cho thấy 800 mcg folinic acid và
1000 mg TMG có thể cải thiện lượng huyết thanh plasma glutathione của trẻ TK. Dùng kèm với
tiêm methyl-Vitamin B12 dưới da (methyl-cobalamin) có thể làm bình thường hóa mức huyết
thanh glutathione.
James et al, Metabolic endophenotype and related genotypes are associated with oxidative stress in
children with autism. Am J Med Genet B Neuropsychiatr Genet. 2006 Dec 5;141(8):947-56.
Nghiên cứu
5) DMSA (chelation-tẩy độc): Các kim loại độc như thủy ngân có thể làm giảm đáng kể khả năng
tạo glutathione của cơ thể, vì thế loại bỏ các kim loại nặng bằng tẩy độc có vẻ giúp việc sản sinh
glutathione đáng kể.
Một nghiên cứu diện rộng của James đã khẳng định phát hiện ban đầu của mình là trẻ TK có lượng
glutathione thấp là do bất thường ở tuyến methionine. Vì thế bà cũng nhận thấy trẻ TK dễ có
polytypes di truyền gắn với những bất thường trong tuyến methionine.
Và còn một số thông tin cụ thể hơn (xin xem bản tiếng Anh) …..
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 21 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Tẩy độc: Loại bỏ những kim loại độc – Chelation: Removal of Toxic Metals
Lý do
Chuẩn bị trước khi
tẩy độc
Xét nghiệm
Điều trị
Nhiều trẻ TK có lượng glutathione hoạt động thấp, và phần lớn trong số đó đã bị oxy hóa (không
hoạt động). Glutathione là phòng vệ ban đầu của cơ thể với thủy ngân, các kim loại độc, và nhiều
hóa chất độc hại, và nếu cơ thể có lượng glutathion thấp thì cơ thể sẽ bị nhiễm độc nhiều hơn.
Ngoài ra, nhiều trẻ TK đã uống rất nhiều kháng sinh khi đang ở thời kỳ sơ sinh, làm thay đổi quần
thực vật trong đường ruột và vì thế làm mất hẳn khả năng bài tiết thủy ngân của cơ thể. Bình
thường hóa lại lượng glutathione, phục hồi lại quần thực vật trong đường ruột, và loại bỏ các kim
loại độc hại thường giúp làm giảm các triệu chứng tự kỷ.
Trước khi tẩy độc, cần chuẩn bị cơ thể cho việc này, bao gồm:
1) Hạn chế tiếp xúc với các chất độc hại (thực ăn hữu cơ, nước thấm ngược, không lọc thủy
ngân, tránh thuốc trừ sâu, v.v…)
2) Tăng lượng vitamin và khoáng chất thiết yếu – xem mục Vitamin và khoáng chất
3) Tăng lượng glutathione – xem mục Glutathione
4) Trị dysbiosis trong đường ruột – xem mục điều trị đường ruột
Có một số cách hữu hiệu để xét nghiệm về độ nhiễm độc kim loại nặng. Gồm:
1) Xét nghiệm lượng porphyrins trong nước tiểu (urinary porphyrins): xét nghiệm này
kiểm tra lượng porphyrin trong nước tiểu, nơi các lượng porphyrin khác nhau tỏ ra tỷ lệ
thuận với lượng thủy ngân, chì và các kim loại độc khác. Xin xem thêm ở
2) Uống liều thử phản ứng: thử uống DMSA hoặc DMPS, và đo lượng kim loại độc trong
nước tiểu trước và sau khi uống. Nếu lượng này tăng đáng kể thì có nghĩa là trong cơ thể
có những chất đó, và thuốc đã có tác dụng loại bỏ chúng.
Xét nghiệm máu, tóc và nước tiểu chỉ cho biết mức độ nhiễm độc kim loại gần đây, và KHÔNG
hữu hiệu trong việc tìm hiểu về quá trình trước đó. Trẻ có thể bị nhiễm rất nặng trong người nhưng
trong tóc, màu và nước tiểu hiện thời thì còn thấp.
Tẩy độc theo phác đồ điều trị DAN! Gồm có DMSA, DMPS và TTFD
DMSA: Thuốc uống DMSA đã được FDA (Cục dược liên bang của Mỹ) phê chuẩn để chữa trị cho
trẻ bị ngộ độc chì. Một số loại viên đạn đút hậu môn tỏ ra cũng có tác dụng bài tiết các kim loại
đọc, nhưng dạng thẩm thấu qua da thì lượng kim loại độc bài tiết tăng lên đo được là không đáng
kể
Lưu ý: DMSA chỉ ảnh hưởng nhẹ đến việc bài tiết các khoáng chất thiết yếu nhất, vì thế liều bổ
sung khoáng chất cơ bản có thể bù đắp cho lượng bài tiết này. Ngoại lệ duy nhất là kali: liều
DMSA đầu tiên có thể lấy đi một lượng đáng kể kali (bằng lượng trong một quả chuối), và chất này
không có trong bổ sung khoáng chất, vì thế nên ăn rau quả tươi 1-2 lần để khôi phục lại lượng kali
này. DMSA cũng làm tăng đáng kể bài tiết cysteine, vì thế nên bổ sung chất này trước và sau khi
tẩy độc
DMPS: DMPS chưa được FDA phê chuẩn, nhưng các bác sỹ có thể bào chế một cách hợp pháp để
dùng bằng đường tiêm tĩnh mạch, uống, đặt ở hậu môn, tất cả các cách để tăng bài tiết kim loại
độc. Dạng thẩm thấu qua da KHÔNG tỏ ra làm tăng bài tiết kim loại độc.
Lưu ý: DMPS làm tăng nhẹ lượng khoáng chất thiết yếu bài tiết, vì thế cần bổ sung khoáng chất cơ
bản để bù lại lượng bài tiết này. Người ta vẫn chưa biết nó có làm mất kali hay không.
DMPS có khả năng rất nhỏ làm tăng enzyme gan hoặc giảm lượng tế bào máu, vì thế cần phải theo
dõi giám sát trong quá trình tẩy độc.
TTFD: một nghiên cứu thử nghiệm nhỏ về TTFD (dùng viên đạn đặt hậu môn) đã cho thấy lượng
bài tiết asen tăng và có thể cả các kim loại khác, và cũng làm giảm đáng kể các triệu chứng tự kỷ.
Dạng thẩm thấu qua da có thể cũng có tác dụng, nhưng cần phải nghiên cứu thêm.
Lưu ý: TTFD tỏ ra an toàn đến khác thường, khi thử trên động vật với liều cao thấy không hề bị
nhiễm độc.
Thông tin thêm: Những ai định theo tẩy độc cần đọc Báo cáo Đồng thuận chung DAN! Consensus
Report về tẩy độc thủy ngân cho trẻ TK, có trên www.autismresearchinstitute.com. Báo cáo này
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 22 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Nghiên cứu
Điều tra của ARI
về hiệu quả của
phương pháp theo
đánh giá của cha
mẹ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
cung cấp thông tin cụ thể hơn nhiều về việc chuẩn bị tẩy độc, tẩy độc, liều lượng và lưu ý.
Có nhiều bằng chứng cho thấy nhiều trẻ TK bị phơi nhiễm thủy ngân, và có thể các kim loại độc
khác và các hóa chất độc hại khác. Nguồn thông tin gồm:
1) Theo kiểm chứng của Bernad, những triệu chứng của TK thường tương tự với những người
bị phơi nhiễm và ngộ độc thủy ngân trong thời kỷ sơ sinh.
2) Nghiên cứu của James cho thấy trẻ em TK có lượng Glutathion thấp
3) Nghiên cứu lớn của Nataf cho thấy hơn nửa số trẻ TK có lượng porphyrin bất thường trong
nước tiểu, lượng này vốn tỷ lệ thuận với lượng thủy ngân trong cơ thể
4) Nghiên cứu của Bradstreet cho thấy trẻ TK bài tiết lượng thủy ngân nhiều gấp 3-4 lần trẻ
bình thường khi cho uống DMSA
5) Nghiên cứu tóc trẻ của Holmes cho thấy trẻ TK có lượng thủy ngân thấp bất thường trong
tóc (1/8 bình thường), cho thấy chúng bị suy giảm khả năng bài tiết thủy ngân. Một nghiên
cứu trùng hợp của Adam cũng cho kết quả tương tự, tuy sự khác biệt có ít hơn.
6) Một nghiên cứu thử nghiệm của Adam cho thấy trẻ TK có lượng thủy ngân trong răng sữa
nhiều gấp hơn 2 lần trẻ thường, cho thấy chúng có lượng thủy ngân cao trong cơ thể khi
còn sơ sinh lúc răng hình thành.
7) Hai nghiên cứu về lượng thủy ngân trong không khí, ở Texas và Vịnh San Francisco, cho
thấy lượng thủy ngân trong không khí tỷ lệ thuận với các ca nhiễm độc thủy ngân
8) Đã có chín nghiên cứu dịch tễ học về mối liên hệ giữa thimerosal trong vắc xin và bệnh
TK. Bốn nghiên cứu công bố của Geier đều cho thấy trẻ tiêm vắc xin có thimerosalcó khả
năng mắc bệnh TK cao gấp 2-6 lần những trẻ tiêm vắc xin không có thimerosal. Bốn
nghiên cứu của các công ty thuộc các nhà sản xuất vắc xin đã không tìm ra mối liên hệ này,
và một nghiên cứu không có kết luận. Một nghiên cứu tiến hành ở những nước sử dụng
thimerosal ít hơn hẳn và số ca TK cũng ít hơn hẳn, vì thế kết quả này cũng không được
thích hợp lắm với Mỹ.
Và còn một số thông tin cụ thể hơn (xin xem bản tiếng Anh) …..
% tồi hơn
% không khác
% tốt hơn
Tẩy độc
2%
22%
76%
Số trường hợp
theo phương pháp
này tham gia
khảo sát
324
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 23 / 24
Tài liệu Tham khảo về Điều trị Y sinh (BIO) cho Tự kỷ
Tạp chí ARI số 40 / Tháng 4 năm 2007
Điều chỉnh hệ miễn dịch – Immune System Regulation
Lý do
Điều trị
Nghiên cứu
Một số nghiên cứu cho thấy hệ miễn dịch của người TK có những bất thường, thường là bị chuyển
thành tế bào Th-2, và một số trường hợp tự tạo ra tế bào chống lại hệ miễn dịch của chính mình.
Molloy et al., Elevated cytokine levels in children with autism spectrum disorder, J. Neuroimmunol
172 (2006) 198-205.
Cần phải có thêm nhiều nghiên cứu về những cách điều trị hiệu quả để bình thường hóa hệ miễn
dịch của trẻ TK. Nếu kết quả xét nghiệm cho thấy hệ miễn dịch bất thường, hiện tại cách điều trị là
dùng Actos (pioglitazone), tiêm tĩnh mạch các globulins miễn dịch (intra venus immuglobolins)
(IVIG), và dùng naltrexone liều thấp.
IVIG: Gupta et al., nhận thấy rằng 4 trong số 10 trẻ khá lên khi dùng thuốc này, 1 trường hợp khá
lên trông thấy. Đây là một cách điều trị tốn kém, vì sẽ cần phải thu thập các globulin miễn dịch từ
hàng trăm hoặc hàng nghìn những người hiến tặng.
Gupta et al., Treatment of children with autism with intravenous immunoglobulin. J Child Neurol.
1999 Mar;14(3):203-5. No abstract available.
Hai mươi sáu trẻ TK được tiêm tĩnh mạch gamma globulin (IVIG) 4 tuần 1 lần trong vòng 6 tháng
liều 400mg/Kg. Những hành vi, ngôn ngữ, tăng động, tương tác, và hành vi tự kích thích khác
thường cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên 22 trong số 26 trẻ bị thoái lui trong vòng 4 tháng dừng sử dụng
IVIG.
Boris m, Goldblatt A, Edelson SM; Improvement in children with autism treated with intravenous
gamma globulin. Journal of Nutritional & Environmental Medicine, Dec 2005; 15(4): 169-176.
ACTOS: ACTOS ( pioglitazone) có nhiều công dụng, trong đó có tác dụng làm giảm mức độ
viêm. Một nghiên cứu mở về ACTOS trên 25 trẻ TK trong 3-4 tháng cho thấy những tiến bộ đáng
kể về tâm tính, mức độ thăng, dập khuôn và tăng động, trẻ ít tuổi thì có tác dụng hơn. Liều là 30
mg (với trẻ bé) và 60 mg (với trẻ lớn)
Boris et al., Effect of pioglitazone treatment on behavioral symptoms in autistic children, accepted
in J. Neuroinflammation 2007.
Dùng naltrexone liều thấp:
Đã có 14 thử nghiệm lâm sàng dùng naltrexone cho trẻ TK. Một kiểm chứng của Elchaar et al. cho
biết “Naltrexone thường được dùng ở liều từ 0.5 to 2 mg/kg/ngày và cho thấy hiệu quả giảm các
hành vi tự hại. Naltrexone cũng có thể làm giảm dần tăng động, lo âu, bẳn tính, ăn vạ, xa rời mọi
người, và những hành vi dập khuôn. Các bệnh nhân cũng đã cải thiện độ tập trung và giao tiếp mắt.
Elchaar et al., Efficacy and safety of naltrexone use in pediatric patients with autistic disorder.
Ann Pharmacother. 2006 Jun;40(6):1086-95. Epub 2006 May 30. Review.
Có bác sỹ khuyên dùng liều thấp naltrexone, khoảng 3-5 mg/ngày (thấp hơn liều nêu trên) có thể
cải thiện điều chỉnh hệ miễn dịch của trẻ TK.
Nhưng cần có thêm nhiều nghiên cứu về phần này.
Và còn một số thông tin cụ thể hơn (xin xem bản tiếng Anh) …..
Bản dịch của mẹ Cong
Trang 24 / 24