VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
K
KHUẤT QUANG HÀ
QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quyền con người
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2017
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Hữu Nghị
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại:
Học viện Khoa học xã hội
hồi
giờ
ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện Khoa học xã hội
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo đảm quyền công dân là một trong những vấn đề quan trọng được hầu
hết các quốc gia trên thế giới quan tâm. Bảo đảm quyền công dân chính là
bảo đảm nền dân chủ, bảo đảm được hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà
nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Ý thức được điều đó,
Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán đường lối, chính sách là tôn trọng và
bảo đảm quyền con người, quyền công dân, lấy con người là mục tiêu và
động lực của sự phát triển.
Sau ba mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới, để đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều
chủ trương, chính sách, pháp luật để cải thiện cuộc sống, thu hút vốn đầu tư
từ các thành phần kinh tế. Đất đai đã được coi là một trong những nguồn vốn
quan trọng, được đưa vào tham gia vốn liên doanh với một bên là doanh
nghiệp Nhà nước và bên kia là đối tác tham gia vốn lưu động, thiết bị, khoa
học công nghệ, tiêu thụ sản phẩm,…
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản
xuất đặc biệt không có gì thay thế được, là thành phần quan trọng của môi
trường sống và là địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh
tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng. Trong những năm qua, đất đai đã
đóng góp đáng kể trong quá trình hội nhập và xây dựng phát triển kinh tế
xã hội đất nước.
Chính sách, pháp luật đất đai đã góp phần khai thác và phát huy có hiệu
quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm
quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội, an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi
trường... Hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai từng bước được tăng cường;
các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm;
thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất đã được hình thành và
phát triển nhanh.
1
Trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất ở thì Hà Nội với tư cách là thủ đô,
là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước. Vì vậy, nhu cầu thu hồi
đất phục vụ cho mục đích quốc phòng, quốc gia và lợi ích công cộng là rất
lớn. Để có được mặt bằng phục vụ các dự án nêu trên thì Công tác bồi thường
giải phóng mặt bằng (GPMB) luôn là một khâu quan trọng, mang tính quyết
định đến tiến độ thực hiện dự án. Liên quan đến việc GPMB thì vấn đề về
quyền của người được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất được đặt ra và rất được quan tâm của xã hội nói chung và người bị thu hồi
đất nói riêng. Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao phải đảm bảo có được mặt bằng
để đảm bảo dự án được triển khai đúng tiến độ, mà quyền lợi chính đáng của
người bị thu hồi đất vẫn được đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.
Nghĩa là phải đồng thời đảm hài hòa 03 lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và
người dân. Đây là đòi hỏi cấp thiết và mang tính nguyên tắc khi thực hiện thu
hồi đất. Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc này trên thực tế còn nhiều vấn
đề chưa đảm bảo đúng theo yêu cầu đề ra, nhất là về quyền và lợi ích của
người bị thu hồi đất. Trong bối cảnh hiện nay cần có các công trình đi sâu vào
tìm hiểu, nghiên cứu các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất và thực tế việc thực hiện các quy định đó là cần
thiết. Qua đó thấy được thực trạng pháp luật về quyền và thực hiện pháp luật
về quyền của người được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất, đồng thời đề xuất những phương hướng, giải pháp khắc phục hạn chế, bất
cập cuả pháp luật hiện hành để đảm bảo nguyên tắc của việc bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Từ những đòi hỏi về lý luận và
thực tiễn, là một cán bộ làm công tác liên quan trực tiếp đến công tác GPMB,
thu hồi đất và trên cơ sở mong muốn có những đóng góp nhất định vào việc
ghi nhận và bảo đảm quyền của người bị thu hồi đất trên thực tế, Tôi đã chọn
đề tài “Quyền của người được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất từ thực tiễn thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp chương
trình đào tạo Thạc sỹ Quyền con người.
2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam trong những năm qua chủ đề liên quan đến pháp luật về BT,
HT, TĐC khi Nhà nước THĐ đã được nhiều tác giả nghiên cứu. Đã có nhiều
công trình nghiên cứu về vấn đề này được công bố, trong đó tiêu biểu như: ....
Dưới góc độ nghiên cứu về vấn đề thu hồi đất và pháp luật về thu hồi đất,
GPMB hiện nay đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề này như:
Phạm Thu Thủy, Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp ở Việt Nam, Luận văn tiến sĩ (2014); Nguyễn Minh Tuấn, Thu hồi đất
vì mục đích kinh tế ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ (2013); Đỗ Quang
Dương, Thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất giải phóng mặt bằng ở quận Thanh Xuân, thành phố Hà
Nội, Luận văn thạc sĩ (2013); Nguyễn Thị Phương Thảo, Pháp luật về bồi
thường về đất khi thực hiện các dự án kinh tế và thực tiễn áp dụng tại thành
phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sĩ (2012); Đinh Thị Huê, Thực hiện
pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở tỉnh
Hà Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ (2011); Hoàng Thị Nga, Pháp luật về thu
hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc
sĩ (2011);…
Dưới góc độ nghiên cứu về quyền con người nói chung và quyền con
người của người sử dụng đất trong lĩnh vực đất đai nói riêng đang có khá
nhiều công trình công bố về vấn đề này như: GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ
biên như: Quyền con người, tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội,
Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2009; Quyền con người, tiếp cận đa ngành và
liên ngành luật học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2011; Quyền con người,
Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2011; Những vấn đề lý luận và thực tiễn của
nhóm quyền dân sự và chính trị, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2011; Võ
Khánh Vinh chủ biên (2011), Quyền con người tiếp cận đa ngành, liên ngành
luật học, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011; Quyền con người tiếp
cận đa ngành, liên ngành luật học, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
2011; Võ Khánh Vinh, Lê Mai Thanh chủ biên (2014), Pháp luật quốc tế về
quyền con người, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Võ Khánh Vinh, Lê Mai
3
Thanh chủ biên (2014), Cơ chế quốc tế và khu vực về quyền con người, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội…..
Các công trình nghiên cứu về quyền của người bị thu hồi đất do GPMB
đã công bố hiện nay có thể kế như: Nguyễn Thị Thủy Tiên với “Pháp luật về
bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người nông dân khi nhà nước thu hồi đất để
phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế ở Việt Nam” luận văn thạc sĩ – Khoa
Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015; Tác giả Nguyễn Thị Lan Hương
với “Pháp luật về bảo đảm quyền lợi của nông dân khi Nhà nước thu hồi đất
để phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế ở Việt Nam” luận văn thạc sĩ
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014…
Những công trình nghiên cứu nêu trên cung cấp một lượng kiến thức,
thông tin lớn về chủ đề của luận văn, là nguồn tài liệu tham khảo quý báu cho
việc thực hiện luận văn này.
Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào khảo sát
toàn diện, chuyên sâu về quyền của người được BT, HT, TĐC khi Nhà nước
THĐ. Đặc biệt việc nghiên cứu này dưới góc độ của chuyên ngành quyền con
người là điều rất mới mẻ. Vì vậy, đề tài nghiên cứu này là vẫn có tính cấp
thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, luận văn vẫn sử dụng
những luận điểm quan trọng tại các công trình nghiên cứu đã công bố trên
làm cơ sở cho hoàn thiện nhiệm vụ nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
và thực tiễn về quyền của người được BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ. Từ
đó đề xuất giải pháp bảo đảm quyền của người được BT, HT, TĐC khi Nhà
nước THĐ. Để đạt được mục tiêu trên, luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền của người được
BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền Quyền của
người được BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ và thực hiện quyền của người
được BT, HT, TĐC tại thành phố Hà Nội;
4
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp bảo đảm quyền của người được
BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng, ở
nước ta nói chung trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quyền của người được BT, HT,
TĐC khi Nhà nước THĐ trên địa bàn thành phố Hà Nội và những yếu tố tác
động đến quyền của đối tượng này tại địa phương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian, gắn với tiêu đề, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực
trạng bảo đảm quyền của người được BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ trên
địa bàn thành phố Hà Nội.
Về mặt thời gian, đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trong giai đoạn từ năm
2014 (01/7/2014, ngày Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành) đến nay.
Về mặt nội dung, đề tài chỉ tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến
quyền được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và các quyền khác liên quan đến
việc thu hồi đất của Nhà nước đối với người bị thu hồi đất trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, quan điểm của cộng đồng quốc tế
về quyền về tài sản, quyền về chỗ ở và các quyền về nhân thân khác; đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về bảo đảm thực hiện quyền
quyền của người được BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tôi còn sử dụng một số phương
pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu tư liệu gồm các Nghị
quyết của Đảng, các văn bản pháp luật về đảm bảo quyền công dân trên các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và các nghiên cứu, bài viết liên
quan trên các tạp chí chuyên ngành … để xử lý thông tin và hình thành các
5
luận điểm nghiên cứu. Phương pháp này được áp dụng ở tất cả các chương
trong luận án.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích: đây là phương pháp được áp dụng ở
hầu hết các phần trong luận án như phân tích các quan niệm về quyền của
người được BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ và xác định các đặc trưng của
bảo đảm quyền của người được BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ khác với
bảo đảm quyền của người bị thu hồi đất nói chung. Đồng thời, phương pháp
này cũng được đặc biệt vận dụng khi đưa ra các điều kiện và yếu tố bảo đảm
quyền công dân. Ngoài ra, việc tổng hợp, phân tích số liệu được thể hiện ở
chương 2 luận văn để từ đó đưa ra những đánh giá về thực trạng pháp luật về
quyền và thực hiện pháp luật về quyền của người được BT, HT, TĐC khi Nhà
nước THĐ …
- Phương pháp thống kê: phương pháp này chủ yếu được sử dụng ở
chương 2 của luận văn nhằm đưa ra phân tích, đánh giá một cách toàn diện và
chính xác về các kết quả đạt được trong công tác BT, HT, TĐC khi Nhà nước
THĐ trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tác giả đã cập nhật các thông tin, số liệu
về vấn đề nghiên cúu từ nguồn có độ tin cậy xác định.
- Phương pháp chuyên gia: trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận
án, Tôi thường xuyên trao đổi, tham vấn và tiếp thu ý kiến của các giảng viên,
cán bộ nghiên cứu tại các Viện, Học viện và các chuyên gia, nhà quản lý, cán
bộ trực tiếp làm công tác GPMB và những người hoạt động thực tiễn có kinh
nghiệm trong lĩnh GPMB.
Trong quá trình thực hiện luận văn, Tôi kế thừa một số kết quả nghiên
cứu, các nhận định tại các bài viết về BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ và
quyền của người được BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ.
Thêm vào đó, với tư cách là một cán bộ làm việc tại một cơ quan có vai
trò tham mưu, xây dựng chính sách về lĩnh vực GPMB cho UBND thành phố
Hà Nội, tác giả còn sử dụng phương pháp khảo sát thực tế để thực hiện luận
văn này.
6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đây là luận điểm minh chứng thêm cho khía cạnh quyền sở hữu tài sản,
quyền về chỗ ở và quyền về tiếp cận thông tin thuộc về quyền con người; giới
thiệu những quy định của pháp luật về quyền của người được BT, HT, TĐC
khi Nhà nước THĐ; giúp người đọc có cái nhìn toàn diện, chính xác về thực
trạng và các yếu tố tác động đến việc bảo đảm quyền này ở thành phố Hà Nội
nói riêng, ở nước ta nói chung.
Với những đóng góp mới như trên, luận văn có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước hữu quan, đặc biệt là các cơ quan,
ban ngành tại thành phố Hà Nội liên quan đến BT, HT, TĐC khi thực hiện
công tác GPMB, trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và cơ chế tổ chức
bảo đảm quyền của người được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất. Bên cạnh đó, luận văn còn có thể được sử dụng như là một nguồn
học liệu cho việc giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành quyền con người ở
Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
và các cơ sở đào tạo khác ở nước ta.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài các phần Mục lục, Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục các tài
liệu tham khảo, Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận về quyền của người được bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền và thực hiện pháp luật về
quyền của người được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất tại thành phố Hà Nội
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả pháp luật về quyền của người được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI
ĐƯỢC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1. Tổng quan về vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất
1.1.1. Một số khái niệm có liên quan
1.1.1.1. Khái niệm về thu hồi đất
Trong khoa học pháp lý, xây dựng khái niệm là yếu tố tiên quyết để tạo
lập cơ sở lý luận. Trong quá trình ban hành và thực thi pháp luật, xác định
khái niệm và nội hàm khái niệm là những yếu tố gốc rễ, nền tảng bảo đảm
pháp luật được hiểu và vận dụng thống nhất. Trong các văn bản pháp lý của
Việt Nam về vấn đề này có thể thấy khái niệm thu hồi đất đã được luật hóa,
theo đó thu hồi đất là việc Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định
thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất
hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.
Từ các định nghĩa trên, có thể thấy thu hồi đất có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, thu hồi đất là một biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ
pháp luật đất đai được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về
giao đất, cho thuê đất.
Thứ hai, thu hồi đất mang tính hành chính mệnh lệnh, bắt buộc.
Thứ ba, việc thu hồi đất phải xuất phát từ nhu cầu Nhà nước và xã hội
hoặc là biện pháp chế tài nhằm xử lý các vi phạm pháp luật đất đai của người
sử dụng đất.
1.1.1.2. Khái niệm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Để có cách hiểu toàn diện và sâu sắc thuật ngữ “bồi thường”, cụm từ “bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất” ta cần phải xem xét, nghiên cứu trên nhiều
phương diện khác nhau.
Trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một chủ thể có hành vi gây ra
thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội. Trách nhiệm này được rất nhiều
ngành luật đề cập.
8
Tóm lại, bồi thường khi NNTHĐ chỉ diễn ra khi Nhà nước thu hồi một
diện tích đất nào đó để chuyển sang một mục đích sử dụng khác vì lợi ích
quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế.
Thực chất, đây chính là việc giải quyết mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước
với người bị THĐ và NĐT.
1.1.1.3. Khái niệm về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Luật Đất đai năm 2013 quan niệm: "Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là
việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất
và phát triển"(khoản 14 Điều 3).
1.1.1.4. Khái niệm về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Từ quy định trên của pháp luật đất đai hiện hành, chúng ta có thể tạm đưa
ra quan niệm về tái định cư như sau: Tái định cư là một trong các trách nhiệm
của Nhà nước bố trí nơi ở mới cho người bị Nhà nước thu hồi đất và phải di
chuyển chỗ ở bằng một trong các hình thức: bồi thường bằng nhà ở mới hoặc
bồi thường bằng việc giao đất ở hoặc hỗ trợ bằng tiền để tự lo chỗ ở mới.
Mục đích và yêu cầu của việc này là giúp người bị thu hồi đất ở, phải di
chuyển chỗ ở nhanh chóng ổn định cuộc sống.
1.1.2. Sự cần thiết khách quan của việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi nhà nước thu hồi đất
Trên cơ sở chủ trương đường lối của Đảng và chính sách đất đai của Nhà
nước đã được thể chế hóa thành các quy định của pháp luật về đất đai, chúng
ta có thể thấy rõ được việc BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ là cần thiết và
tất yếu khách quan, bởi vì các lẽ sau.
Thứ nhất, vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra dựa
trên cơ sở quyền sở hữu về tài sản hợp pháp và quyền SDĐ của công dân
được pháp luật bảo hộ.
Thứ hai, xét về bản chất Nhà nước ta là Nhà nước do nhân dân lao động
thiết lập lên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân; phục vụ
và chăm lo cho lợi ích, sự phồn vinh của người dân.
9
Thứ ba, xét về phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của người SDĐ
là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Vì
vậy, Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ;
Thứ tư, Nhà nước ta đã và đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hướng tới
mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh".
Thứ năm, vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được xây dựng dựa
trên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và mở rộng các quyền năng cho người
SDĐ.
1.1.3. Những yêu cầu đặt ra khi thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi nhà nước thu hồi đất
1.1.3.1. Những thiệt hại cần xem xét, xác định khi Nhà nước thu hồi đất
để thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Các phương án BT, HT thỏa đáng, tương xứng được thiết lập trên cơ sở
phải đảm bảo quyền, lợi ích của Nhà nước, Nhà đầu tư và nhất là đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của người dân có đất bị thu hồi.
1.1.3.2. Giải quyết hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người
dân có đất bị thu hồi từ viêc thu hồi đất
1.2. Quyền của người được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất: Khái niệm, nội dung
1.2.1. Khái niệm quyền của người được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất
Quyền con người là những giá trị tự nhiên, vốn có của con người, tuy
nhiên nó chỉ thực sự có ý nghĩa và trở thành hiện thực khi nó được bảo đảm
bằng pháp luật.
Như vậy có thể xác định khái niệm quyền của người được BT, HT, TĐC
khi Nhà nước THĐ như sau: Quyền của người được BT, HT, TĐC khi Nhà
nước THĐ là quyền được hưởng các lợi ích vật chất hoặc tinh thần gồm:
quyền được bồi thường giá trị đất đai, quyền được hỗ trợ về cuộc sống, sinh
10
hoạt của người sử dụng đất và quyền được bố trí chỗ ở, sinh hoạt mới của
người bị Nhà nước thu hồi đất theo các trường hợp do pháp luật quy định.
1.2.2. Nội dung quyền của người được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.2.1. Quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
* Quyền được bồi thường về đất và chi phí đầu tư về đất còn lại:
- Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được
bồi thường theo quy định thì được bồi thường.
* Quyền được bồi thường về tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất:
Chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất thì
được bồi thường
* Quyền được bồi thường do phải ngừng sản xuất kinh doanh khi Nhà
nước thu hồi đất
* Quyền được bồi thường chi phí di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.2.2. Quyền được hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Khi Nhà nước THĐ ngoài việc được hưởng các chính sách bồi thường về
đất theo quy định thì người bị thu hồi đất tùy từng trường hợp còn được
hưởng các chính sách hỗ trợ.
1.2.2.3. Quyền được bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Người đang sở hữu nhà ở, đất ở mà có đủ điều kiện được bồi thường theo
quy định khi Nhà nước thu hồi đất mà không còn đất ở, nhà ở nào khác trong
địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở
hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở
thì Nhà nước bồi thường bằng tiền;
1.2.2.4. Quyền được thông báo về việc THĐ, cung cấp thông tin, chính
sách BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ
Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất
nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội
dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát,
đo đạc, kiểm đếm.
11
1.2.2.5. Quyền được cử người đại diện tham gia vào Hội đồng BT, HT,
TĐC
Trong quá trình triển khai công tác GPMB, để đảm bảo quyền lợi cho
người có đất bị thu hồi cũng như đảm bảo quá trình BT, HT, TĐC khi Nhà
nước THĐ được công khai, minh bạch, công bằng, đúng pháp luật thì người
bị thu hồi đất còn có quyền được cử người đại diện tham gia vào Hội đồng
BT, HT, TĐC của dự án;
1.2.2.6. Quyền được kiến nghị với nội dung dự thảo phương án, phương
án BT, HT, TĐC; khiếu nại, tố cáo đối với những sai phạm trong việc thực
hiện BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ
Người có đất, tài sản trên đất bị thu hồi có quyền có ý kiến với dự thảo
phương án, phương án BT, HT, TDC. Đơn vị được giao nhiệm vụ GPMB có
trách nhiệm tiếp thu, xem xét để giải quyết và điều chỉnh theo quy định.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng, chi phối quyền của người được bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Yếu tố chính trị: quan điểm và đường lối của Đảng và quy định của
pháp luật Đất đai về vấn đề thu hồi đất và quyền của người được bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Chế độ sở hữu toàn dân về đất
đai.
- Yếu tố kinh tế: Khả năng của nền kinh tế hay nói khác là những đảm bảo
về mặt kinh tế để thực hiện quyền của người được BT, HT, TĐC khi Nhà
nước THĐ
- Yếu tố xã hội: Quá trình hội nhập quốc tế. Hiểu biết pháp luật và ý thức
tuân thủ pháp luật của những người làm công tác GPMB và những người dân
có quyền lợi ích liên quan đến việc thu hồi đất.
12
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUYỀN VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ,
TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Thực trạng pháp luật về quyền của người được bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
2.1.1. Quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
2.1.1.1. Quyền được bồi thường về đất và chi phí đầu tư vào đất còn lại
* Nguyên tắc bồi thường về đất được quy định tại Điều 74, Luật Đất đai
2013 và Điều 5, Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của
UBND thành phố Hà Nội:
- Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được
bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.
- Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử
dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường
bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân Thành
phố quy định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
2.1.1.2. Quyền được bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất, ngừng sản
xuất kinh doanh khi Nhà nước THĐ (quy định tại Điều 88, Điều 89, Điều 90
Luật Đất đai 2013 và Điều 9, Nghị định 47/2014/NĐ-CP)
* Về nguyên tắc bồi thường:
Đối với việc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất kinh doanh
được quy định tại Điều 88 Luật Đất đai 2013: Khi Nhà nước thu hồi đất mà
chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được
bồi thường; nếu phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi
thường thiệt hại.
2.1.1.3. Quyền được bồi thường chi phí di chuyển khi Nhà nước THĐ
Khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển tài sản thì được Nhà nước
bồi thường chi phí để tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt; trường hợp phải di chuyển
hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất còn được bồi thường đối với thiệt hại
13
khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi
thường tại này.
2.1.1.4. Quyền được bồi thường đối với đất và tài sản khi xây dựng công
trình có hành lang bảo vệ an toàn
Khi Nhà nước xây dựng công trình công cộng, quốc phòng, an ninh có
hành lang bảo vệ an toàn mà không thu hồi đất nằm trong phạm vi hành lang
an toàn thì người sử dụng đất được bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng
sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất.
2.1.1.5. Quyền được bồi thường khi di chuyển mồ mả
Khi Nhà nước THĐ người có mồ mả phải di chuyển được bố trí đất và
được bồi thường chi phí đào, bốc, di chuyển, xây dựng mới và các chi phí
hợp lý khác có liên quan trực tiếp. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức
bồi thường cụ thể cho phù hợp với tập quán và thực tế tại địa phương
2.1.2. Quyền được hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Theo quy định của các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam và cụ
thể trên địa bàn thành phố Hà Nội thì quyền được hỗ trợ khi nhà nước thu hồi
đất gồm các quyền sau:
2.1.2.1. Quyền được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất
- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp do được giao, giao khoán, nhận chuyển nhượng, nhận
cho, tặng, thừa kế thì được hỗ trợ ổn định đời sống theo quy định
2.1.2.2. Quyền được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm
- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp nếu đủ điều kiện bồi thường theo quy định mà không có
đất để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường.
2.1.2.3. Quyền được hỗ trợ tái định cư
- Người được bố trí tái định cư khi Nhà nước THĐ mà số tiền được bồi
thường về đất nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu thì được hỗ trợ
khoản chênh lệch giữa giá trị suất tái định cư tối thiểu và số tiền được bồi
thường về đất.
- Trường hợp người được bố trí tái định cư tự lo chỗ ở thì ngoài việc được
bồi thường về đất còn được nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư. Ủy ban nhân
14
dân cấp tỉnh căn cứ quy mô diện tích đất ở thu hồi, số nhân khẩu của hộ gia
đình và điều kiện cụ thể tại địa phương quy định mức hỗ trợ cho phù hợp.
2.1.2.4. Quyền được hỗ trợ nếu đang thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước mà
bị thu hồi
Người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước bị phá dỡ được thuê
nhà ở tại nơi tái định cư; giá thuê nhà là giá thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà
nước; nhà thuê tại nơi tái định cư được Nhà nước bán cho người đang thuê
theo quy định của Chính phủ về bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người
đang thuê; trường hợp đặc biệt không có nhà tái định cư để bố trí thì được hỗ
trợ bằng tiền để tự lo chỗ ở mới; mức hỗ trợ bằng 60% giá trị đất và 60% giá
trị nhà đang thuê.
2.1.2.5. Quyền được hỗ trợ nếu đang thuê nhà không thuộc sở hữu nhà
nước mà bị thu hồi
Hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở không phải là nhà ở thuộc sở hữu
Nhà nước khi Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ chi
phí di chuyển tài sản theo quy định của UBND cấp tỉnh.
2.1.2.6. Quyền được hỗ trợ khi tự chuyển đổi đất nông nghiệp được giao
sang mục đích đất xây dựng công trình
- Đối với hộ gia đình, cá nhân đã tự chuyển đổi mục đích sử dụng đất
sang xây dựng công trình để ở mà không có văn bản ngăn chặn, xử lý của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất
nông nghiệp theo quy định, các hộ gia đình, cá nhân còn được hỗ trợ về đất
như sau:
2.1.2.7. Quyền được hỗ trợ đối với nhà ở, công trình xây dựng không hợp
pháp
- Hỗ trợ bằng 80% mức bồi thường theo quy định tại Điều 11, 12, 13 của
Quy định này đối với các nhà, công trình xây dựng trước 15/10/1993 vi phạm
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã
được cấp có thẩm quyền phê duyệt, công bố công khai và cắm mốc giới
nhưng được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận không có văn bản xử lý, ngăn
chặn của cấp có thẩm quyền.
- Hỗ trợ bằng 50% mức bồi thường theo quy định tại Điều 11, 12, 13 của
Quy định này đối với nhà, công trình xây dựng từ 15/10/1993 đến trước
15
01/7/2004 mà vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, vi phạm hành lang
bảo vệ công trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, công bố công khai
và cắm mốc giới nhưng được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận không có văn
bản xử lý, ngăn chặn của cấp có thẩm quyền.
2.1.2.9. Quyền được hỗ trợ khác
- Ngoài việc hỗ trợ theo các quy định nêu trên, căn cứ vào tình hình thực
tế tại địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định biện pháp hỗ
trợ khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống và sản xuất cho người bị thu
hồi đất;
- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có
nguồn sống chính từ sản xuất nông nghiệp kh.
2.1.3. Quyền được bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Theo quy định của Điều 85, 86 của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản
hướng dẫn thi hành thì quyền của người sử dụng đất được bố trí tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất được thể hiện như sau.
2.1.4. Quyền được khiếu nại, tố cáo đối với những sai phạm trong bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại dự án
Điều 30 Hiến pháp 2013 quy định: “mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo
với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật
của cơ quan, tổ chức, cá nhân; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải
tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi
thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp
luật”. Như vậy, khiếu nại, tố cáo là quyền Hiến định.
2.2. Thực trạng việc thực hiện quyền của người được bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội
2.2.1. Tình hình thực hiện quyền của người được bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Hà Nội
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Hà Nội:
- Tình hình thu hồi đất để thực hiện các dự án 5 năm trở lại đây của
thành phố Hà Nội
Để hoàn thành tốt chỉ tiêu, Ủy ban nhân dân Thành phố đã yêu cầu đẩy
nhanh công tác THĐ, giải phóng mặt bằng các dự án, công trình trọng điểm
của Thành phố.
16
Kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Từ năm 2010 đến tháng 6/2016, trên địa bàn Thành phố có 3.073 dự án
phải thực hiện thu hồi đất giải phóng mặt bằng. Đã hoàn thành công tác thu
hồi đất GPMB tại 1.711 dự án, với tổng diện tích đất hơn 8.462ha; đã chi trả
hơn 54.829 tỷ đồng tiền bồi thường, hỗ trợ cho 213.554 tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân và bố trí tái định cư cho 9.924 hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển
chỗ ở [27].
Kết quả công tác xây dựng khu tái định cư và việc bố trí tái định cư
- Về công tác xây dựng nhà ở tái định cư
- Việc xây dựng HTKT, giao đất dịch vụ cho các hộ gia đình
2.2.2. Đánh giá việc thực hiện quyền của người được bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Hà Nội
2.2.2.1. Những kết quả tích cực và nguyên nhân
Thực tế tại địa bàn Hà Nội, việc thực hiện công tác BT, HT, TĐC GPMB
khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án nhìn chung đã đảm bảo đầy đủ
quyền và lợi ích chính đáng của người có đất bị thu hồi theo quy định của
pháp luật. Việc bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định thì đều được áp dụng
mức bồi thường hỗ trợ tối đa mà Luật Đất đai và các nghị định liên quan cho
phép. Như về giá đất, trên cơ sở khung giá đất do Chính phủ ban hành,
UBND thành phố Hà Nội đã xây dựng bảng giá các loại đất đều ở mức trần,
tức là mức cao nhất có thể.
Do quyền lợi hợp pháp của người dân được đảm bảo và những yêu cầu,
nguyện vọng chính đáng của người dân đã được quan tâm giải quyết một
cách kịp thời, có tình, có lý nên hầu hết các hộ dân có đất bị thu hồi đều tự
nguyện nhận bồi thường và bàn giao mặt bằng để chủ đầu tư tiến hành xây
dựng, do đó dự án đảm bảo đúng tiến độ theo kế hoạch đặt ra, theo đúng tính
toán của chủ đầu tư, tránh được việc đội vốn do giá và chính sách BT, HT,
TĐC thay đổi vì kéo dài việc GPMB của dự án.
2.2.2.2. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được đối với việc thực hiện quyền
của người được BT, HT, TĐC thì trong việc thực hiện quyền của người được
BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ vẫn còn những hạn chế, bất cập mà thể
17
hiện rõ nhất thông qua các khiếu kiện của người dân về việc phương án BT,
HT, TĐC chưa thỏa đáng, chưa đúng quy định.
Thứ nhất, việc xác định giá đất để bồi thường, hỗ trợ nhìn chung chưa sát
với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường trong điều kiện bình
thường, đặc biệt là giá đất ở đô thị, vùng ven đô, thị trấn, các phường thuộc
thị xã Sơn Tây để tính bồi thường, hỗ trợ còn cách xa so với giá đất chuyển
nhượng trên thực tế.
Thứ hai, thời gian triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ thường kéo dài,
có dự án kéo dài 5-7 năm gây khó khăn trong việc ổn định đời sống và việc
làm của các hộ dân nằm trong diện bị thu hồi đất.
Thứ ba, việc thực hiện giao đất dịch vụ cho nhân dân khi thu hồi đất nông
nghiệp theo Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 và Nghị định số
84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ về cơ bản còn chậm chưa
đúng tiến độ và kế hoạch đề ra, tiềm ẩn nhiều nguy cơ phức tạp;
Thứ tư, yêu cầu phải có quỹ nhà đất tái định cư trước khi GPMB là một
quy định đúng đắn nhằm bảo vệ quyền lợi của người có nhà ở, đất ở bị thu
hồi nhưng có lúc, có nơi chưa thực hiện triệt để.
Thứ năm, sau thu hồi đời sống của người dân không thực sự được cải
thiện. Tại nhiều địa phương có đất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng dự án,
nhìn bề ngoài, có vẻ như đời sống vật chất của người dân được nâng lên, biểu
hiện là đường xá được mở rộng, nhiều trường học mọc lên, nhà cửa được xây
mới san sát, nhiều hàng quán dịch vụ mở ra nhộn nhịp.
Thứ sáu, Việc các tổ chức, cá nhân thực làm nhiệm vụ GPMB chưa thực
hiện đầy đủ, nghiêm túc các quy định về thông báo, cung cấp thông tin, chính
sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại dự án, này
dẫn đến người có quyền, lợi ích liên quan đến việc THĐ không có đầy đủ
thông tin về dự án, không nắm được chủ trương thu hồi đất, kế hoạch GPMB
thực hiện dự án cũng như các chế độ, chính sách liên quan.
Thứ bảy, đội ngũ cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng chưa chuyên
nghiệp, còn yếu về năng lực; có hiện tượng cán bộ lợi dụng chính sách của
Nhà nước và Thành phố để nhũng nhiễu, thu lợi bất chính.
18
Chương 3
ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA
NGƯỜI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
3. 2. Định hướng hoàn thiện pháp luật về quyền của người được bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, trong thời gian tới pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cần được hoàn thiện theo
hướng:
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của người được BT,
HT, TĐC khi Nhà nước THĐ phải dựa trên quan điểm, đường lối, chính sách
của Đảng về đất đai nói chung, về bảo đảm quyền lợi của người sử dụng đất
khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng.
Thứ hai, phải bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ giữa quy định của Luật
Đất đai với các luật khác có liên quan, giữ vững nguyên tắc pháp chế và tính
nghiêm minh của pháp luật về đất đai, hạn chế các quy định mang tính chất
hợp thức hóa vi phạm.
Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về quyền của người được BT, HT, TĐC khi
Nhà nước THĐ phải dựa trên việc giải quyết mối quan hệ hài hòa về lợi ích
kinh tế giữa Nhà nước, người có đất bị thu hồi, và chủ đầu tư. Vấn đề lợi ích
kinh tế luôn là nguyên nhân chính dẫn đến những bất ổn, tranh chấp, khiếu
nại. Để đảm bảo sự ổn định chính trị, xã hội thì trước hết phải giải quyết tốt
vấn đề kinh tế.
Thứ tư, phải đặc biệt chú trọng đến vấn đề sinh kế, đời sống lâu dài của
người nông dân sau thu hồi đất, phải giải quyết tốt bài toán việc làm của
người nông dân sau khi bị Nhà nước thu hồi đất. Thu hồi đất không chỉ ảnh
hưởng trước mắt đến người nông dân là mất đi diện tích đất đang sử dụng, mà
19
còn ảnh hưởng lâu dài đến đời sống, nghề nghiệp sau này của họ, đặc biệt là
đối với thu hồi đất nông nghiệp.
Thứ năm, phải hướng vào đổi mới cơ chế bồi thường, gia tăng tính công
khai, minh bạch, công bằng, bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá
trình từ lập quy hoạch, đến thu hồi đất, tổ chức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
3.2. Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật về quyền
của người được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
3.3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền của người được bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Một là, quan tâm, chú trọng việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật
đất đai nói chung và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nói riêng.
Yêu cầu hàng đầu đặt ra là cần phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ về nội
dung các quy định, tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn hoặc có nhiều cách hiểu
khác nhau từ một quy định. Các quy định của pháp luật cần được trình bày cụ
thể, rõ ràng nhằm hạn chế tình trạng nhiều văn bản cấp dưới ban hành phát
sinh những điểm không tương đồng về nội dung với văn bản của cấp trên.
Đồng thời cần có những hướng dẫn cụ thể làm rõ các khái niệm trong các quy
định về điều kiện bồi thường về đất như: đất không có tranh chấp, sử dụng
theo quy hoạch, kế hoạch để áp dụng điều kiện được thống nhất và hiệu quả
Hai là, xem xét sửa đổi những vấn đề liên quan đến giá đất làm cơ sở cho
việc tính giá bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước THĐ theo nguyên tắc giá đất
phù hợp với thực tế, sát giá thị trường. Cụ thể:
Cần sửa đổi pháp luật đất đai theo hướng tách giá tính thuế và giá chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thành hai giá riêng biệt. Theo đó, giá đất Nhà
nước quy định chỉ áp dụng làm căn cứ tính các loại thuế, thu tiền sử dụng đất
khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử
dụng đất và tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng
đất. Còn khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất mới, bồi thường, giải phóng mặt
bằng thì áp dụng theo giá thị trường, trên cơ sở đấu giá quyền sử dụng đất
hoặc tính tương đương.
20
Ba là, cải cách các vấn đề liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là giấy tờ có giá trị pháp lý cao nhất của người sử dụng
đất, khi đó, quyền lợi của họ đối với đất đai cũng là rõ ràng và minh bạch
nhất.
Bốn là, xây dựng cơ chế công bằng giữa những người có đất phải di
chuyển và những người được hưởng lợi từ việc thu hồi đất
Vấn đề đặt ra là sau khi Nhà nước THĐ, nhất là THĐ để làm hạ tầng,
đường xá, nhiều hộ dân mất đất, phải di chuyển chỗ ở đến những khu TĐC
tập trung xa nơi GPMB và có nhiều điều kiện không thuận lợi bằng nơi bị
GPMB.
Năm là, quy định ưu tiên cho việc tạo cơ sở kinh tế mới, tạo việc làm cho
hộ gia đình, cá nhân bị mất đất sản xuất.....
Sáu là, hoàn thiện cơ chế chuyển dịch đất đai, cụ thể là hoàn thiện cơ chế
chuyển dịch theo hướng thỏa thuận giữa người, đơn vị có nhu cầu sử dụng đất
với người đang sử dụng đất thay cho việc Nhà nước đứng ra thực hiện thu hồi
đất.
Bảy là, về giải quyết khiếu nại, tố cáo khi Nhà nước THĐ nên cụ thể hóa
những nguyên tắc cơ bản về giải quyết vấn đề này, đồng thời một số nội dung
cần chi tiết như: thời hiệu giải quyết, quy định những cơ chế đặc thù giải
quyết khiếu nại, tố cáo trong những trường hợp đặc biệt khác
3.3.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền
của người được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhất là pháp
luật đất đai cho cán bộ, nhân dân nói chung và người bị thu hồi đất nói
riêng
Đây là giải pháp rất quan trọng vì mọi người nói chung và người bị thu
hồi đất nói riêng phải biết được các quyền và nghĩa vụ của mình thì mới thực
hiện được đầy đủ các quyền cũng như tuân thủ các nghĩa vụ theo quy định.
Quyền và lợi ích chính đáng của một người chỉ được thực hiện đầy đủ nhất
21
khi người đó biết mình có những quyền gì để thực hiện, đòi đảm bảo thực
hiện và đấu tranh, bảo vệ quyền đó khi bị xâm phạm
- Tăng cường minh bạch, công khai, dân chủ trong quá trình thực hiện
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Theo quy định của pháp luật thì việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải
công khai, minh bạch, dân chủ. Đó là điều kiện để đảm bảo quyền lợi của
người bị thu hồi đất, đồng thời tránh được những sai phạm trong quá trình tổ
chức thực hiện công tác GPMB....
Chấn chỉnh công tác công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của
các cấp chính quyền. Quy hoạch sau khi lập cần được công bố công khai để
mọi người dân được biết, bảo đảm tính công bằng, khách quan, minh bạch.
- Kiện toàn tổ chức làm nhiệm vụ BT, HT, TĐC khi Nhà nước thu hồi
đất
Theo quy định, tại địa phương tùy vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà có
thể thành lập các Trung tâm phát triển quỹ đất cấp tỉnh trực thuộc sở Tài
nguyên và Môi trường, hoặc Chi nhánh trung tâm phát triển quỹ đất cấp
huyện trực thuộc Trung tâm phát triển quỹ đất cấp tỉnh. Việc quy định các
Trung tâm PTQĐ trực thuộc sở Tài nguyên và Môi trường và cấp huyện
thành lập chi nhánh trực thuộc mà không trực thuộc chính quyền các cấp trên
thực tế cho thấy mô hình này hoạt động kém hiệu quả.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và sử lý vi phạm
trong việc thực hiện BT, HT, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
Trong bất cứ ngành, lĩnh vự nào thì việc tăng cường kiểm tra giám sát
phát hiện và xử lý vi phạm cũng là công việc bắt buộc. Công việc này nó giúp
cho ngành lĩnh vực đó tránh được các sai phạm có tính hệ thống. Đảm các
hoạt động được thông suốt, liên tục hiệu quả tuân theo đúng các quy định cuẩ
pháp luật.
- Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sự am hiểu pháp
luật đất đai về BT, HT, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất cho đội ngũ cán bộ
làm công tác GPMB
22
Đây là công việc phải được tiến hành thường xuyên, liên tục nhất là đối
với các cán bộ chuyên trách làm công tác GPMB vì hơn ai hết họ phải là
người am hiểu pháp luật nhất là pháp luật đất đai về BT, HT, TĐC để có thể
áp dụng pháp luật tính toán BT, HT, TĐC chính xác cho từng trường hợp cụ
thể. Đồng thời cũng phải được rèn luyện bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề
nghiệp để tránh được việc nhũng nhiễu, hạch sách người bị thu hồi đất hoặc
có hành vi vi phạm pháp luật do bị cám dỗ vật chất hay thái độ thờ ơ, vô cảm
với các khó khăn mà người bị thu hồi đất gặp phải.
- Đẩy mạnh công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện
đại hóa hệ thống bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính
Giấy chứng nhận là giấy tờ có giá trị pháp lý cao nhất mà Nhà nước cấp
cho người sở hữu nhà và người sử dụng đất. Do vậy khi người có đất bị Nhà
nước thu hồi việc có giấy chứng nhận là một cơ sở pháp lý quan trọng để
người sử dụng đất được hưởng đầy đủ các chính sách BT, HT, TĐC
- Chú trọng công tác giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất.
Đây là công việc cần hết sức quan tâm nhất là đối với các thành viên hộ
gia đình sản xuất nông nghiệp. Khi bị thu hồi đất nhất là họ mất đi tư liệu sản
xuất do đó họ cần được đào tạo một nghề mới để có thể tìm được công việc
khác phù hợp với trình độ, năng lực để có nguồn thu nhập ổn định giúp đảm
bảo được cuộc sống của bản thân và gia đình.
Theo quy định thì ngoài khoản hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc
làm theo diện tích đất bị thu hồi thì các thành viên trong độ tuổi lao động của
hộ gia đình có đất nông nghiệp bị thu hồi được hỗ trợ một khoản chi phí để
đào tạo nghề. Khoản hỗ trợ này không chi trả trực tiếp bằng tiền mà chi trả
qua các thẻ học nghề mà người có nhu cầu đăng ký lựa chọn
23