Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

Giải pháp chính sách phát triển đô thị xanh từ thực tiễn tỉnh quảng nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (860.23 KB, 87 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ ĐỨC DUY

GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
ĐÔ THỊ XANH TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ ĐỨC DUY

GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
ĐÔ THỊ XANH TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG


NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN DANH SƠN
HÀ NỘI, năm 2017


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban giám đốc, các
khoa, phòng và quý thầy, cô trong Học viện Khoa học Xã hội đã tận tình và tạo điều
kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
đến Thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Danh Sơn, người đã trực tiếp hướng dẫn đề tài cho
tôi với tất cả lòng nhiệt tình và sự quan tâm sâu sắc.
Bên cạnh đó, tôi cũng gửi lời cảm ơn của mình đến lãnh đạo các Sở ngành ở
tỉnh, bạn bè, đồng nghiệp, luôn quan tâm, tạo điều kiện, chia sẻ, động viên tôi trong
suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn.
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng luận văn không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và
bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Chính sách công “Giải pháp chính sách phát triển đô thị xanh từ thực tiễn tỉnh
Quảng Nam” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong
cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn


Lê Đức Duy


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ
XANH Ở VIỆT NAM............................................................................................. 10
1.1. Một số khái niệm ................................................................................................10
1.2. Tính tất yếu để phát triển đô thị xanh ................................................................15
1.3. Tiêu chí đô thị xanh............................................................................................17
1.4. Các yếu tố trong phát triển đô thị xanh ..............................................................23
1.5. Chính sách phát triển đô thị theo hướng xanh ở Việt Nam................................31
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ THEO HƢỚNG XANH Ở TỈNH
QUẢNG NAM ........................................................................................................ 34
2.1. Tổng quan về phát triển đô thị ở tỉnh Quảng Nam thời gian qua ......................34
2.2. Tổng quan về chính sách và các giải pháp chính sách phát triển đô thị theo
hướng xanh của tỉnh Quảng Nam .............................................................................35
2.3. Tổ chức thực hiện các giải pháp chính sách phát triển đô thị theo hướng xanh ở
tỉnh Quảng Nam ........................................................................................................44
2.4. Đánh giá thực hiện các giải pháp chính sách phát triển đô thị theo hướng xanh
và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ....................................................54
CHƢƠNG 3. HOÀN THIỆN GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ
THỊ THEO HƢỚNG XANH TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM ............ 63
3.1. Bối cảnh phát triển mới của đất nước ................................................................63
3.2. Quan điểm, định hướng, mục tiêu phát triển đô thị theo hướng xanh thời gian
tới...............................................................................................................................65
3.3. Các giải pháp chính sách ....................................................................................69
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Như chúng ta đã biết, trong quá trình xây dựng, cải tạo và phát triển đô thị,
việc hướng tới phát triển bền vững là điều rất cần thiết. Đã từ lâu, hoạt động phát
triển ở các đô thị trên thế giới đều hướng tới việc tìm cách khai thác triệt để các
nguồn lực, lợi thế khác nhau nhằm phát triển đô thị hài hoà và bền vững. Tùy thuộc
vào điều kiện kinh tế của mỗi nước cũng như tầm nhìn của giới lãnh đạo, năng lực
hiểu biết của giới chuyên môn và nhà đầu tư mà quy mô và hướng phát triển đô thị
bền vững của các nước có trình độ và chất lượng rất khác nhau.
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá của nước ta ngày
càng nhanh, hệ thống đô thị phát triển cả về số lượng, chất lượng và quy mô; đặc
biệt là ở các đô thị lớn như Hồ Chí Minh; Đà Nẵng và Hà Nội. Năm 1998, tỉ lệ đô
thị hóa mới đạt khoảng 24%, năm 2009 là 29,6%, nhưng đến năm 2014 đã tăng lên
gần 40%. Quy hoạch xây dựng đã thực sự góp phần tạo ra nguồn lực trong phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong đó, các chỉ số thu ngân sách của các tỉnh
và các đô thị lớn cho thấy nhìn chung tăng trưởng kinh tế ở khu vực đô thị đạt trung
bình từ 12 đến 15%, cao gấp 1,2 đến 1,5 lần so với mặt bằng chung trong cả
nước. Hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị, kể cả khu vực nông thôn
được quan tâm đầu tư xây dựng theo hướng đồng bộ, hiện đại. Nhìn chung, diện
mạo kiến trúc, đô thị, nông thôn Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo hướng hiện
đại, có bản sắc...
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, đô thị tại Việt Nam còn nhiều
hạn chế và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Hầu hết các đô thị đều quy hoạch, xây
dựng và phát triển theo phương pháp truyền thống. Tốc độ phát triển nóng đã tạo
các áp lực về hạ tầng đô thị, môi trường đô thị, về nhà ở - văn phòng, giao thông đô
thị và không gian công cộng trong đô thị... Số lượng đô thị tăng lên nhưng chất
lượng chưa được quan tâm đúng mức. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội
không đồng bộ và quá tải. Chất lượng kết cấu hạ tầng tại các đô thị vẫn còn thấp


1


như hệ thống giao thông đô thị chậm phát triển, thiếu đồng bộ; hệ thống cấp nước
sạch và thoát nước của nhiều đô thị đã xuống cấp và lạc hậu, tình trạng ngập úng
cục bộ, ô nhiễm môi trường ngày càng tăng do rác thải, nước thải chưa được xử lý;
quá trình xây dựng, phát triển đô thị còn sử dụng lãng phí tài nguyên đất đai, môi
trường, tiêu hao nhiều năng lượng và phát thải lớn, gây mất cân bằng sinh thái… Đô
thị loại 1 và 2 đang phải đối mặt với ô nhiễm môi trường, giao thông tắc nghẽn,
điều kiện sống xấu, sức khỏe cộng đồng bị ảnh hưởng.
Bên cạnh đó, đô thị Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề mới
nảy sinh do tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng... Đây là những thách
thức lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến diện mạo đô thị, điều kiện, môi trường sống của
người dân và đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững, đặt ra nhiều vấn đề mới trong
công tác quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị hiện nay. Những điều này cộng
với nhu cầu về tính văn minh, hiện đại, mỹ quan đô thị, chất lượng sống của thị dân
đã và đang đòi hỏi việc phát triển, quy hoạch và xây dựng đô thị xanh, đô thị sinh
thái và đô thị bền vững về môi trường trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Để ứng phó với các thách thức của thực tế phát triển, Chính phủ Việt Nam đã
ban hành Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia (2003), Định hướng Chiến lược
phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 năm 2004), Chiến lược
quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến 2050, trong đó đặt
ra yêu cầu xây dựng, phát triển công trình xanh, đô thị xanh, đô thị sinh thái (ecocity) nhằm hướng đến mục tiêu phát triển đô thị Việt Nam nhanh và bền vững. Như
vậy, phát triển “đô thị xanh” là một trong nhiều giải pháp giúp các đô thị Việt Nam
phát triển thịnh vượng, bền vững, có bản sắc và thân thiện với môi trường. Trên thế
giới, một số nước đã xây dựng thành công các đô thị xanh, đô thị sinh thái, như:
Curitiba (Brazil), Thanh Đảo, Bắc Hải (Trung Quốc), Singapore, Stockholm (Thụy
Điển), Freiburg (Đức), Alexandria, Virginia (Mỹ)…
Trên cơ sở chủ trương, định hướng phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, Nhà

nước ta đã ban hành những chính sách cụ thể, trong đó có liên quan tới phát triển đô
thị xanh. Hiện nay, nhiều địa phương trên cả nước, trong đó có tỉnh Quảng Nam,

2


đang cố gắng, nỗ lực xây dựng, phát triển đô thị theo hướng xanh và việc tổ chức
thực hiện chính sách phát triển đô thị xanh đang tạo điều kiện cho sự hình thành và
phát triển các đô thị theo hướng xanh. Tuy vậy, bên cạnh đó cũng đặt ra không ít
các vấn đề cần được nghiên cứu, trong đó có các vấn đề nhìn từ góc độ chính sách.
Phát triển đô thị xanh từ góc nhìn chính sách còn là vấn đề khá mới mẻ trên thế giới
và ở Việt Nam còn ít được nghiên cứu, đang là nhu cầu cấp thiết cả về nghiên cứu
khoa học và cả về thực tiễn quản lý phát triển đô thị. Đó là lý do chủ yếu mà chủ đề
“Giải pháp chính sách phát triển đô thị xanh từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” được lựa
chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn chuyên ngành Chính sách công này.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Barney Cohen (2001) [9] nghiên cứu tổng quan về các mô hình và xu hướng
phát triển đô thị gần đây ở các nước đang phát triển và dự đoán về đô thị hóa cũng
như thách thức về phát triển bền vững. Trong 30 năm tới, hầu như tất cả tốc độ tăng
trưởng dân số thế giới dự kiến sẽ được tập trung ở khu vực đô thị ở các nước đang
phát triển. Trong khi phần lớn các thành phố bền vững hiện nay đang tập trung mật
độ đô thị lớn nhất thế giới thì phần lớn của tất cả các cư dân đô thị tiếp tục sống
trong các vùng đô thị ngoại vi. Đô thị hóa và sự phát triển đô thị xuất phát từ các
yếu tố sự di cư từ nông thôn lên thành thị, tăng dân số tự nhiên và sát nhập. Di cư từ
nông thôn ra thành thị và sự biến chuyển của khu vực nông thôn lên thành phố đã
quyết định quan trọng của sự phát triển đô thị nhanh chóng nhưng đó cũng là một
sự hội tụ chung trong lối sống giữa thành thị và nông thôn, tiến bộ trong hạ tầng
giao thông và viễn thông. Mục đích của bài viết này là để mô tả sự thay đổi không
gian và làm nổi bật một số tác động của không gian đối với sự phát triển bền vững.

Quản lý phát triển đô thị đã trở thành một trong những thách thức quan trọng, giải
pháp cho các vấn đề đô thị đang ngày càng được tìm kiếm tại địa phương chứ
không phải là nhà nước hoặc cấp quốc gia. Những xu hướng này nhấn mạnh nhu
cầu cấp thiết để xây dựng và hỗ trợ năng lực của chính quyền địa phương để quản lý
các dịch vụ môi trường và vấn đề xã hội đi cùng sự phát triển đô thị nhanh chóng.

3


Shah Md. Atiqul Haq (2011) [10] nghiên cứu những lợi ích và thách thức của
không gian xanh đô thị dựa trên kết quả nghiên cứu từ các nghiên cứu khác nhau ở
các thành phố khác nhau. Đô thị xanh đóng vai trò quan trọng đối với xã hội, kinh
tế, văn hóa và môi trường phát triển bền vững. Không gian xanh đô thị là một công
cụ toàn diện cho sự ủng hộ lâu dài tính bền vững của môi trường thông qua việc cải
thiện chất lượng cuộc sống, gia tăng giá trị tài sản bởi sự tiện nghi và đặc điểm th m
mỹ, và giảm chi phí năng lượng của các tòa nhà làm mát. Không gian xanh đô thị
cũng có thể cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái trong đó các dịch vụ giải trí và thư
giãn đặc biệt dành cho cư dân đô thị và khách du lịch. Để kh ng định vai trò của
không gian xanh, mức độ nhất định của tính phân phối các không gian xanh trong
khu vực đô thị cần được xem x t và kết hợp có hiệu quả vào chương trình nghị sự
phát triển bền vững môi trường. Để làm điều này, nghiên cứu kết hợp phương pháp
tiếp cận tích hợp liên quan đến việc lập kế hoạch, giám sát, thiết kế và duy trì không
gian xanh đô thị là cần thiết cho việc cải thiện môi trường bền vững tại các thành
phố ở các nước khác nhau. Nghiên cứu trên 26 thành phố từ 15 quốc gia châu

u

chia thành bốn nhóm theo quy mô dân số của họ. Để hiểu r sự sẵn có của không
gian xanh đô thị ở châu


u, nghiên cứu tiến hành phân tích nhân tố bằng cách xem

x t các nhân tố- sử dụng đất hỗn hợp (như các khu dân cư, khu công nghiệp, lâm
nghiệp và khu vực nông nghiệp); môi trường nhân tạo (ch ng hạn như khu vực
xây dựng và các khu vực cây xanh đô thị); và nước. Nghiên cứu cũng cho thấy đô
thị có một điểm số cao trên môi trường nhân tạo bao gồm các khu vực xây dựng và
đô thị xanh. X t bốn nhóm các biến số như khu vực cây xanh đô thị, các khu rừng,
khu vực nông nghiệp và nước, phân tích nhân tố khác cho thấy hai khu vực của
thành phố bao gồm trong nghiên cứu- khu vực xanh tự nhiên (N) (ch ng hạn như
khu vực rừng và nông nghiệp ) và khu đô thị xanh (U) (như đô thị xanh và nước).
Cuối cùng, nghiên cứu kết luận rằng các đô thị và các thành phố lớn đều có một
điểm số cao trên các yếu tố đô thị xanh. Ngoài ra, các thành phố cỡ trung bình có
một số điểm tương đối cao trên các yếu tố xanh tự nhiên do sự sẵn có của khu vực
màu xanh lá cây tự nhiên. Tuy nhiên, nghiên cứu này gợi ý nên đầu tư nhiều hơn

4


trong không gian xanh đô thị ở các thành phố đô thị và ít đầu tư vào không gian
xanh đô thị ở các thành phố cỡ trung bình. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng vị trí và
phân phối của không gian xanh ở các thành phố ảnh hưởng bởi những người tham
gia. Một nghiên cứu tại Helsinki, Phần an, cho thấy một không gian xanh tốt và dễ
dàng ra vào (khoảng cách tức là ngắn) đến một không gian giải trí sẽ làm tăng số
người đến thăm và người dân sống gần (<0,5 km) đến thăm các không gian xanh
thường xuyên hơn (> 4 lần mỗi tuần). Không gian xanh công cộng nên được ở trung
tâm của khu phố và không quá năm phút đi bộ đối với hầu hết người dân, công trình
công cộng hoặc các cửa hàng. Do đó, khả năng tiếp cận và khoảng cách gần là
những yếu tố rất quan trọng để xem x t trong quá trình lập kế hoạch và thiết kế một
không gian xanh đô thị.
2.2. Các nghiên cứu trong nước

Michael Waibel (2010) nghiên cứu thách thức đối với phát triển đô thị bền
vững Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu [4]. Biến đổi khí hậu và phát triển đô
thị liên quan chặt chẽ với nhau và thường tương tác tiêu cực. Bài nghiên cứu kết
luận bằng một số phản ánh về vai trò của nhà nước đối với quá trình biến đổi khí
hậu. Nghiên cứu cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng
nặng nề nhất trên toàn cầu từ các hậu quả của hiện tượng biến đổi khí hậu: trong 84
quốc gia đang phát triển ven biển được điều tra về mực nước biển dâng (sea level
rise-SLR), Việt Nam đứng đầu về những tác động đến dân số, GDP, khả năng mở
rộng đô thị và khác khu vực đất ngập nước, cũng như xếp hạng 2 đối với các ảnh
hưởng về quỹ đất (sau Bahamas) và khả năng mở rộng đất nông nghiệp (sau Ai
Cập). Biến đổi khí hậu và mực nước biển tăng đe dọa đường lối phát triển không
gian đô thị nói chung của đô thị Việt Nam. Hệ quả có thể là một động lực hoàn toàn
mới trong tiến trình hình thành cấu trúc ở trong giai đoạn trung và dài hạn, đơn giản
và phần lớn diện tích đô thị sẽ dành cho khu dân cư. So sánh về không gian sống
giữa tầng lớp trung lưu và những người thu nhập thấp mà tác giả đã điều tra tại quận
12 năm 2006 cho thấy bằng chứng là mức thu nhập hạn chế r rệt khả năng tiếp cận
đến không gian sống phù hợp. Tác giả muốn nhấn mạnh lại cách nhìn biến đổi khí

5


hậu như là một cơ hội: tính cấp bách của những hiểm họa từ của biến đổi khí hậu có
thể được sử dụng để phát triển các giải pháp quy hoạch thành phố bền vững cụ
thể.Nó cũng có thể được thừa hưởng để quản lý việc chuyển đổi hướng tới một nền
kinh tế xanh hơn và thậm chí để thúc đ y sự sắp xếp lại thể chế. Ví dụ như biến đổi
khí hậu cũng sẽ đem đến một lượng tài trợ chưa từng. Các quỹ này có thể được sử
dụng để tăng tính bền vững đô thị. Ngoài ra, các hình thức sáng tạo của liên kết
quản trị có thể đóng vai trò như một môi trường học tập cho việc tổ chức lại các
cơ quan phát triển đô thị trong một bối cảnh rộng hơn và nhằm vượt qua những
vấn đề nghiêm trọng nhất của phát triển đô thị tại Việt Nam: phân mảnh thể chế

và thiếu hợp tác liên ngành.
Đào Hoàng Tuấn và Trần Thị Tuyết (2008) của Viện Môi trường và Phát triển
bền vững thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam nghiên cứu về phát triển bền vững
hệ thống đô thị ở Việt Nam [7] nhận xét rằng quá trình đô thị hoá theo lãnh thổ ở
nước ta đang diễn ra mạnh mẽ nhưng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đô thị vẫn chưa
theo kịp tốc độ đô thị hoá (chủ yếu là sự bành trướng lãnh thổ của đô thị sang khu
vực nông thôn), nên một bộ phận lớn dân cư nông thôn bị mất tư liệu sản xuất (đất
đai) không kịp chuyển đổi ngành nghề sản xuất phù hợp đã bị bần cùng hoá bởi mặt
trái của lối sống đô thị do thiếu việc làm đã góp phần làm tăng thêm các tệ nạn xã
hội đô thị. Sự phát triển đô thị ở nhiều nơi vẫn đang gặp phải nhiều khó khăn, trở
ngại trong quá trình tiến tới sự phát triển bền vững, bởi rất nhiều nguyên nhân: do
qui hoạch không tốt, quản lí đô thị kém, thiếu thể chế quản lí đô thị, đầu tư xây
dựng manh mún, thiếu vốn đầu tư, di dân từ nông thôn vào thành thị quá nhiều. Quá
trình đô thị hóa ở nước ta đang diễn ra theo chiều hướng quá trình “Đô thị hóa giả
tạo”, thể hiện chủ yếu ở chỗ: đô thị “Bành trướng” lãnh thổ sang khu vực nông
thôn, còn bản thân cơ sở hạ tầng sản xuất và cơ sở hạ tầng xã hội của đô thị,…vẫn
chưa phát triển tương xứng với qui mô, loại của đô thị. Đây là một vấn đề bức xúc,
thách thức lớn cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển đô thị và vấn đề
an ninh lương thực trong nước và xuất kh u lương thực ở nước ta hiện nay; đặc biệt,
cần hạn chế hiện tượng “Đô thị hóa giả tạo”, mà chú trọng phát triển đô thị hóa theo

6


chiều sâu: nâng cao chất lượng đô thị, phân bố hợp lý mạng lưới quần cư đô thị theo
lãnh thổ, phát triển hài hòa giữa khu vực nông thôn và thành thị. Từ đó, lựa chọn
các mục đích phát triển phù hợp với điều kiện thuận lợi về lãnh thổ của đô thị,
tương ứng với chức năng của đô thị; đánh giá các phương án khai thác, sử dụng
lãnh thổ từ các điều kiện tiên quyết nêu trên, trên cơ sở phân tích các lợi ích và chi
phí kinh tế - tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên; xây dựng các phương án, mô hình

phát triển. Dự báo hiệu quả, các tác động tích cực và tiêu cực trong việc áp dụng, sử
dụng các phương án, mô hình trên trong thực tế và các giải pháp điều chỉnh.
Bùi Kiến Quốc (2010) khi viết về đô thị sinh thái đã đưa ra các tiêu chu n để
đánh giá của một đô thị sinh thái như về kiến trúc,về đa dạng sinh học, giao thông,
công nghiệp, kinh tế. Trong nghiên cứu của mình [2] tác giả đưa ra một số mô hình
về đô thị sinh thái trên thê giới và rút ra một số kinh nghiệm cho quy hoạch và xây
dựng đô thị xanh, đô thị sinh thái ở Việt Nam.
Nghiên cứu gần đây của Trần Thị Tuyết Mai và cộng sự (2013) về Hiện trạng
cây xanh đô thị Huế và giải pháp để Huế trở thành một đô thị xanh mẫu mực [3] đã
đánh giá tổng quan về hiện trạng cây xanh đô thị ở thành phố Huế dựa theo các yếu
tố: Diện tích đất cây xanh đô thị, cơ cấu cây trồng, mật độ và phối trí bố cục xanh.
Kết quả cho thấy, để có thể trở thành một đô thị xanh mẫu mực, thành phố Huế một
mặt cần tập trung cải tạo, chỉnh trang những khiếm khuyết của mảng cây xanh đô
thị hiện tại, mặt khác, cần một quy hoạch phát triển cây xanh hợp lý, vừa bảo đảm
yêu cầu của một đô thị xanh hiện đại, vừa phù hợp với những n t đặc trưng về thiên
nhiên và văn hóa của vùng đất.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu các giải pháp chính sách phát triển đô thị theo hướng xanh từ thực
tiễn tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về giải pháp chính sách phát
triển đô thị xanh.

7


- Phân tích thực trạng và tổ chức thực hiện các giải pháp chính sách phát triển
đô thị theo hướng xanh ở tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất hoàn thiện giải pháp chính sách phát triển đô thị theo hướng xanh từ

thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức của người dân và nhà quản lý địa phương về đô thị xanh thông qua
các nội dung đánh giá như về mật độ cây xanh, giao thông, nước sạch, thoát nước,
các tệ nạn xã hội…..
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: các đô thị trên địa bàn tỉnh Quảng Nam - Phạm vi thời
gian: từ năm 2011 đến 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện
chứng về mối quan hệ giữa các thành tố của hoạt động quản lý phát triển với cách
tiếp cận chính sách phát triển bền vững và xanh. Luận văn sử dụng cách tiếp cận từ
trên xuống (đường lối, chủ trương, mục tiêu phát triển, …) kết hợp với tiếp cận từ
dưới lên (tổ chức thực hiện chính sách từ cơ sở).
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm các phương pháp thông dụng
trong nghiên cứu như: thống kê, so sánh, tổng hợp. Đồng thời luận văn cũng sử
dụng phương pháp nghiên cứu bàn giấy là thu thập các tài liệu, văn bản quy phạm
pháp luật về chính sách phát triển đô thị, trong đó:
+ Tài liệu thứ cấp: chủ yếu sử dụng số liệu từ báo báo tổng kết, đánh giá của
các sở, ban ngành của tỉnh Quảng Nam (sở Xây dựng, sở Tài nguyên và Môi
trường, sở Khoa học và công nghệ, ...) cũng như các báo cáo của UBND các cấp
trong Tỉnh.
+ Tài liệu sơ cấp: sử dụng số liệu thông tin tự thu thập từ các cuộc tiếp xúc,
điều tra nhanh với một số cán bộ quản lý nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và
người dân ở một số đô thị trong Tỉnh.

8



Phương pháp phân tích chính sách và phân tích SWOT (điềm mạnh-S, điểm
yếu-W, cơ hội-O, thách thức-T) được sử dụng nhằm phát hiện các vấn đề chính
sách phát triển đô thị theo hướng xanh từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp luận cứ lý luận cho việc nhận thức,
quán triệt sâu rộng quan điểm phát triển bền vững, phát triển đô thị theo hướng
xanh, hoàn thiện chính sách và tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị xanh
một cách hiệu quả hơn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua việc đánh giá chính sách phát triển đô thị xanh tại tỉnh Quảng Nam,
từ đó cung cấp các căn cứ thực tiễn và các giải pháp chính sách phát triển đô thị
theo hướng xanh phù hợp với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, với tình
hình phát triển của địa phương, góp phần phát triển bền vững, xanh của địa phương
và cả nước.
7. Kết cấu đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận và chính sách phát triển đô thị xanh ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng và tổ chức thực hiện các giải pháp chính sách phát triển
đô thị theo hướng xanh ở tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Hoàn thiện giải pháp chính sách phát triển đô thị theo hướng xanh
từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.

9


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
ĐÔ THỊ XANH Ở VIỆT NAM
1.1. Một số khái niệm

1.1.1. Một số khái niệm về đô thị
- Đô thị
Đô thị hay khu đô thị là một khu vực có mật độ dân số cao và mật độ gia tăng
các công trình kiến trúc do con người xây dựng so với các khu vực xung quanh nó.
Đô thị bao gồm thành phố, thị xã, trung tâm dân cư đông đúc nhưng thuật ngữ này
thông thường không mở rộng đến các khu định cư nông thôn như làng, xã, ấp.
Các đô thị được thành lập và phát triển thêm qua quá trình đô thị hóa. Đo đạt
tầm rộng của một đô thị sẽ giúp ích cho việc phân tích mật độ dân số, sự mở rộng
đô thị, và biết được các số liệu về dân số nông thôn và thành thị.
Theo Nguyễn Bá Thế (2008) trong bài viết “Quy hoạch xây dựng phát triển
đô thị” [6] thì “Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động
phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng
hợp có vai trò thúc đ y sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh
thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh trong huyện”.
Tác giả Phạm Ngọc Côn (2013) trong tác ph m “Kinh tế học đô thị” [1] cũng
đã xem x t khái niệm đô thị theo 2 góc độ: theo tính chất đô thị và theo điểm dân cư
đô thị. Theo tính chất, đô thị phải có 3 điều kiện là tính tập trung với mật độ cao,
tính kinh tế và tính xã hội: “Đô thị là một thực thể thống nhất tính hữu cơ của thực
thể kinh tế phi nông nghiệp, thực thể xã hội và thực thể vật chất tập trung với mật
độ cao tại một khu vực nhất định”. Theo điểm dân cư đô thị thì “đô thị là điểm dân
cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở
thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp có vai trò thúc đ y sự phát triển
kinh tế xã hội của cả nước, hoặc một tỉnh, một huyện”.
Luật Quy hoạch Đô thị (2009) định nghĩa: Đô thị là khu vực tập trung dân cư

10


sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông
nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có

vai trò thúc đ y sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ,
một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị
của thị xã; thị trấn".
Đi cùng với khái niệm đô thị, đô thị hóa là “quá trình tập trung dân số vào các
đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị tập trung trên cơ sở
phát triển sản xuất phi nông nghiệp là chủ đạo” [2].
Quá trình hình thành đô thị gắn liền với quá trình hình thành dân cư, và sự
phát triển đô thị chính là quá trình biến đổi các khu vực lãnh thổ trở thành đô thị.
Đô thị hóa diễn ra song song với động thái phát triển không gian kinh tế xã hội. Quá
trình đô thị hóa là một quá trình phát triển đồng thời về kinh tế xã hội, văn hóa,
không gian kiến trúc, phát triển khoa học kỹ thuật, các ngành nghề mới. Các tiền đề
để phát triển một đô thị bao gồm:
- Tính chất của đô thị: Vai trò, nhiệm vụ của đô thị trong tổng thể chung theo
phương hướng của Nhà nước, vị trí của quy hoạch vùng lãnh thổ...
- Dân số đô thị: Là động lực chính thúc đ y sự phát triển kinh tế xã hội của đô
thị, là cơ sở để phân loại đô thị, xác định quy mô đất đai và xác định khối lượng xây
dựng nhà ở, công trình dịch vụ cũng như toàn bộ các mạng lưới kỹ thuật khác.
- Đất đai đô thị: Là nguồn tài nguyên quý giá, luôn luôn biến động với quá
trình phát triển đô thị.
Đô thị bền vững
Theo khái niệm của Liên hợp quốc năm 1990 cho rằng đô thị không thể tự nó
bền vững, mà sự bền vững đó được hình thành trên cơ sở bền vững nhiều mặt: Một
thành phố là bền vững trong bản thân nó có sự bền vững đồng thời của các mặt
quan hệ kinh tế, xã hội và môi trường.
Tại hội thảo trù bị của Hội nghị Đô thị 21 (Berlin, 7/2000) đã đưa ra quan
niệm đô thị bền vững như sau: Nâng cao chất lượng cuộc sống ở thành phố, bao
gồm các điều kiện về sinh thái, văn hóa, chính trị, tôn giáo, kinh tế và xã hội, nhưng
không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của thế hệ tương lai. Như là giảm nguồn vốn

11



tự nhiên và mang lại nợ nần. Nhiệm vụ của chúng ta là phải đưa ra các nguyên tắc,
cơ sở trong sự thống nhất về sử dụng các nguồn tài chính, vật chất và năng lượng
mang tính quyết định trong tương lai đối với những vùng đô thị.
Tổ chức phi chính phủ tại Ấn Độ cho rằng: “Thành phố bền vững là sự quan
hệ khắng khít giữa môi trường - kinh tế và vấn đề bảo vệ nguồn tài nguyên thiên
nhiên, đảm bảo chất lượng sống tối thiểu của người dân; trong đó cần hạn chế sự ô
nhiễm không khí, sự gia tăng dân số quá nhanh và phát huy các mặt tích cực, các
khu vực xanh của thành phố. Sự bền vững của các thành phố phụ thuộc vào chất
lượng môi trường, năng lực kinh tế và khả năng tìm kiếm việc làm của những người
dân” [2].
Quỹ Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường của Achentina quan niệm: “Thành
phố bền vững là một nhất thể của môi trường đối với các lĩnh vực xã hội và kinh tế
trong một khuôn khổ đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại
đối với các nhu cầu của thế hệ tương lai” [2]. Trong sự chu n mực này, cơ cấu
chính quyền cần phải tổ chức rộng rãi để thực hiện sự quản lý tự nhiên trong quá
trình phát triển bền vững. Chính quyền đóng một vai trò quan trọng trong việc thực
hiện các quyết định về bền vững và quản lý có hiệu quả các lợi ích cộng đồng địa
phương. Dĩ nhiên, việc đưa ra các quyết định về sử dụng và quản lý môi trường cần
có sự tham gia của cộng đồng.
Đô thị thông minh
Khái niệm “đô thị thông minh” ở Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ. Có người
định nghĩa cho rằng, đó là một đô thị hiện đại với đầy đủ các tính năng và tiện nghi
phục vụ cho nhu cầu của con người và công việc. Tuy nhiên, ngoài vấn đề giao
thông, điện, nước…, thì hệ thống phát triển hạ tầng mạng truyền dẫn, kết nối thông
tin theo xu hướng “kết nối thông minh”, để giúp cho việc quản lý đô thị hiệu quả,
đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của người dân, đồng thời giúp cho đô thị có thể phát
triển bền vững, tiết kiệm năng lượng… mới là yếu tố then chốt và nền tảng để làm
nên một “đô thị thông minh”.

Nền tảng của một đô thị thông minh sẽ là mạng lưới và những thông tin được
mạng truyền tải, cho phép tất cả các dịch vụ quan trọng, từ giao thông vận tải, an

12


ninh, tới giải trí, đào tạo, y tế… được kết nối với nhau, trở nên thông minh và thân
thiện với môi trường.
Cụ thể hơn, cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm nhà cửa, văn phòng, xe hơi, các
phương tiện giao thông công cộng, bệnh viện, trường học, năng lượng và các trang
thiết bị đều được kết nối thông qua cơ sở hạ tầng mạng vô tuyến và hữu tuyến vào
mạng Internet. Và Internet phát triển thành một "mạng lưới kết nối mọi thứ"
(internet of things), chứ không còn chỉ bó hẹp ở máy tính và các thiết bị di động
truyền thống nữa.
Các đô thị sử dụng mạng internet như là nền tảng để lập kế hoạch, xây dựng
và quản lý các hoạt động thường nhật, sẽ nâng cao đáng kể hiệu suất trong mọi khía
cạnh của cuộc sống cộng đồng, nhất là nâng cao năng suất làm việc của nhân viên,
cải tiến năng lực và khả năng truy cập vào các dịch vụ công.
Đô thị xanh
Đô thị xanh là một khái niệm nổi lên từ những năm 1990 đại diện cho sáng
kiến đô thị không khí thải và không rác thải nhằm thúc đ y phát triển đô thị sử dụng
năng lượng hiệu quả nên tìm cách chuyển đổi và tái sắp đặt lại các khu đô thị đang
tồn tại và tái tạo các trung tâm thành phố hậu công nghiệp. Cho đến nay vẫn chưa
có định nghĩa thống nhất chung về đô thị xanh.
Năm 2009, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra sáng kiến phát triển đô thị để giúp
các nước đang phát triển đạt được sự bền vững về sinh thái và kinh tế. Đây là nền
tảng bước đầu cho định hướng phát triển đô thị xanh, đô thị bền vững, đô thị sinh
thái cho đến ngày nay. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về đô
thị xanh. Ở mỗi quốc gia khác nhau có định hướng phát triển đô thị khác nhau mà
có những khái niệm khác nhau như: đô thị xanh, đô thị bền vững, đô thị sinh thái,

đô thị môi trường,… nhưng mục đích cuối cùng là tạo điều kiện tốt nhất (kinh tế, xã
hội, môi trường) cho đời sống con người một cách dài lâu.
Theo Timothy Beatley (2012) [11], đô thị xanh là loại đô thị có thể thúc đ y
sự phát triển bền vững về xã hội và môi trường; với tầm nhìn phát triển đô thị xanh
bao gồm các chương trình, chính sách, ý tưởng thiết kế sáng tạo để đổi mới môi
trường và phát triển bền vững. Beatley (2012) [11] đã đưa ra đặc điểm của đô thị

13


xanh như sau: (1) Tồn tại trong giới hạn sinh thái của thành phố và thừa nhận các
kết nối của đô thị với đô thị khác, dân cư ở các khu vực khác; (2) Được thiết kế gần
gũi với thiên nhiên; (3) Đạt được sự trao đổi theo chuỗi kh p kín hơn là sự trao đổi
theo một chiều. Ở đó nuôi dưỡng và phát triển các mối quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa
các vùng trong khu vực (khu vực, quốc gia và quốc tế); (4) Hướng tới sản xuất tự
túc ở từng vùng và khu vực, tận dụng tối đa việc sản xuất thực ph m trong
vùng/khu vực, phát triển kinh tế, năng lực sản xuất và nhiều hoạt động khác nhằm
duy trì và hỗ trợ dân cư của vùng; (5) Khuyến khích và tạo điều kiện theo lối sống
bền vững và lành mạnh hơn; (6) Nhấn mạnh tới cuộc sống chất lượng cao và tạo ra
các khu vực lân cận có mức sống tốt.
Theo ADB (2012) [8], Thành phố xanh là phát triển thành phố hướng đến mục
tiêu bền vững về môi trường trong dài hạn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Vấn đề trọng tâm là cách thức hành động xây dựng thành phố xanh để cải thiện môi
trường sống của người dân và giải quyết những thách thức về môi trường. Phát triển
thành phố xanh không chỉ là tất cả các biện pháp cải thiện thành phố mà còn đòi hỏi
góp phần vào phát triển bền vững môi trường toàn cầu.
Như vậy, đô thị xanh là đô thị mà ở đó có các điều kiện sống tốt nhất cho mọi
cư dân đô thị, với cơ hội cho tất cả mọi người là như nhau một cách lâu dài. Đô thị
xanh đảm bảo cung cấp tốt nhất các điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường cho cư
dân đô thị (bao gồm cả dịch vụ công).

Phát triển đô thị xanh cần đảm bảo nguồn lực tài chính, vận tải xanh, công
nghiệp xanh, kiến trúc xanh, cơ sở hạ tầng xanh (điện, nước, đường giao thông, giáo
dục, y tế), tài chính xanh, không gian xanh, năng lượng xanh, dịch vụ công xanh.
Có thể thấy rằng, phát triển đô thị xanh đòi hỏi thực hiện đồng bộ các hành động
trên tất cả các lĩnh vực nhằm mục đích cải thiện các điều kiện (vật chất và tinh thần)
sống cho cư dân của đô thị và giải quyết tất cả các thách thức về môi trường.
1.1.2. Một số khái niệm về chính sách
- Chính sách
Chính sách là sự thể hiện các chủ trương và hành động về phương diện nào đó
của Chính phủ. Nó bao gồm các mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt được và cách
thức thực hiện các mục tiêu đó.

14


Về thực chất, chính sách do Nhà nước ban hành nhưng xuất phát và căn cứ
vào các định hướng chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra.
- Chính sách phát triển đô thị xanh
Chính sách phát triển đô thị xanh là tập hợp các chủ trương và cách thức để
thực hiện mục tiêu về phát triển đô thị theo hướng xanh.
1.2. Tính tất yếu để phát triển đô thị xanh
Quy hoạch và phát triển đô thị xanh tại Việt Nam cần có tầm nhìn lâu dài để
tránh làm lãng phí tài nguyên đất, hạn chế ô nhiễm môi trường và đảm bảo mức
sống tốt hơn cho con người trong tương lai.
Hiện nay, các đô thị đang phát triển theo chiều hướng mở rộng không ngừng,
thành phố của các công trình giao thông, các phương tiện cá nhân, lãng phí tài
nguyên, giảm khả năng phát triển bền vững và mất dần tính bản địa của địa phương.
Đô thị phát triển với tiêu chí chung là mật độ thấp, dân cư dàn trải, tiêu thụ tài
nguyên và ưu tiên phát triển kinh tế bằng mọi giá. Do đó hầu hết các mô hình quy
hoạch xây dựng đô thị đều dựa trên quy hoạch phân khu chức năng và quy hoạch sử

dụng đất chức năng dẫn đến lãng phí tài nguyên đất, hiệu quả sử dụng tài nguyên
thấp, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới hệ sinh thái.
Trong tương lai, nếu các đô thị vừa và nhỏ của Việt Nam vẫn phát triển theo
hướng trên thì kết quả sẽ tạo nên những đô thị kém bền vững, tiêu tốn năng lượng,
môi trường sống bị phá vỡ. Sự phát triển của đô thị xanh là xu hướng tất yếu của
các đô thị trung bình và nhỏ. Sự phát triển của các đô thị xanh cho phép khai thác
tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững và hiệu quả, tránh tình trạng bê tông hóa
trong tương lai.
Tuy nhiên, trong văn bản chính sách ở Việt Nam còn chưa có định nghĩa r
nét về đô thị xanh, dù trong các văn bản pháp luật, quy chu n, cũng đã đề cập đến
phần xanh trong đô thị đó là hệ thống cây xanh. Cụ thể, trong Luật Quy hoạch đô
thị, tại Điều 33 về nội dung thiết kế đô thị, Luật đã quy định không gian cây xanh,
mặt nước, sân vườn là một nội dung cần thiết trong các đồ án quy hoạch. Vấn đề
cây xanh đô thị cũng được nêu tại Điều 68 “Quản lý cây xanh, công viên, cảnh quan
tự nhiên và mặt nước”. Bên cạnh đó, Nghị định 37 của Chính phủ về lập, th m định,

15


phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị có nêu tại Mục b, Khoản 5, Điều 15. Nội
dung đồ án quy hoạch chung TP trực thuộc Trung ương yêu cầu xác định công viên
cây xanh và không gian xanh, mặt nước là một trong các định hướng phát triển
không gian cho khu vực đô thị trung tâm.
Không chỉ dừng lại ở yếu tố cây xanh, để trở thành một đô thị xanh, tất yếu
còn cần thêm việc quy hoạch hợp lý để năng cao chất lượng và độ phổ biến của các
phương tiện giao thông công cộng, giảm thiểu giao thông cá nhân đồng thời tích
hợp với việc sử dụng đất có hiệu quả…
Phát triển đô thị xanh là giải pháp tổng thể bảo vệ môi trường và nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân đô thị. Trong các tiêu chí về đô thị xanh, tiêu chí về
chỉ tiêu diện tích cây xanh đô thị là tiêu chí hướng tới đô thị xanh có hiệu quả cao

nhất để tạo nên đô thị xanh. Tỷ lệ cây xanh đô thị hiện nay là 2-3m2/ người, trong
khi chỉ tiêu cây xanh tối thiểu của Liên hợp quốc là 10m2/người và chỉ tiêu của các
thành phố hiện đại trên thế giới là 20-25m2/người. Nghĩa là tỷ lệ cây xanh đô thị ở
Việt Nam chỉ bằng 1/5-1/10 so với tiêu chu n thế giới. Chính vì thế, quỹ đất vốn có
của Việt Nam đang bị lạm dụng rất lãng phí, nếu tính đến vấn đề lâu dài, vô hình
trung sẽ khiến môi trường sống bị phá vỡ.
Việc quan tâm quy hoạch và trồng cây xanh đô thị vẫn được thường xuyên
quan tâm thực hiện. Các công trình xây dựng trong thành phố có quy mô nhỏ, ít nhà
cao tầng, do đó, diện tích cây xanh và hệ thống cây bóng mát tuyến phố cũng làm
cho thành phố có độ xanh nhất định. Ý tưởng xanh hóa đô thị không phải dễ dàng
thực hiện giống nhau ở các đô thị. Mỗi nơi có điều kiện khác nhau, do đó cần phải
có các giải pháp thực tiễn hợp lý, có quyết tâm chính trị của các cấp lãnh đạo và
cộng đồng nhân dân cùng chung tay hợp sức.
Ngoài ra, sự biến đổi khí hậu với xu hướng nóng lên trên phạm vi toàn cầu
cùng với các hoạt động và nhịp sống đô thị mạnh mẽ đã và đang có ảnh hưởng đến
môi trường không gian xanh đô thị, không chỉ các mảng xanh mà còn đến cả mặt
nước và nguồn nước. Vì vậy, trong kiến trúc không gian xanh đô thị, cây xanh phải
có cấu trúc về chủng loại có thể thích ứng và chịu được những cực đoan về biến đổi
khí hậu nhằm cải thiện môi trường và chất lượng cuộc sống.

16


Trong các giải pháp chính sách phát triển đô thị, đô thị xanh hướng tới mục
tiêu sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả. Cùng với đó là giải pháp hạ tầng kĩ
thuật và giao thông theo hướng hạ tầng xanh, phát triển giao thông công cộng hạn
chế phát thải khí nhà kính (CO2). Với mạng lưới giao thông hợp lý, đô thị phát triển
tập trung hơn sẽ tạo cho các dịch vụ cung cấp hạ tầng kỹ thuật cho đô thị hoạt động
hiệu quả và giảm được chi phí năng lượng để vận hành. Cấu trúc của hệ thống giao
thông đô thị sẽ quyết định tới khả năng khai thác và sử dụng đất, đồng thời cơ cấu

sử dụng đất sẽ quyết định tới nhu cầu đi lại.
Đặc biệt, để phát triển một đô thị xanh, điều kiện tiên quyết chính là ngay
trong công tác quy hoạch cần phải có sự thống nhất và định hướng rõ nhằm đem lại
hiệu quả cao, quy định quỹ đất cây xanh và mặt nước hay trong hệ thống hạ tầng kỹ
thuật, hướng tới tính tiện ích và hiện đại, phù hợp với nhu cầu sinh hoạt đi lại của
người dân.
1.3. Tiêu chí đô thị xanh
1.3.1. Tiêu chí đô thị xanh của thế giới
Trong thời đại hiện nay, việc hình thành mô hình “Đô thị xanh” là mục tiêu
của nhiều quốc gia. Do chưa có định nghĩa thống nhất về đô thị xanh nên các quốc
gia có những bộ tiêu chí về đô thị xanh khác nhau.
Tiêu chí đô thị xanh áp dụng tại EU:
- Không gian xanh: đô thị có mật độ cây xanh cao, tỷ lệ cây xanh/người cao,
không gian công cộng, không gian công viên, mặt nước được quan tâm. Không gian
xanh đô thị cũng có thể cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái trong đó các dịch vụ giải
trí và thư giãn đặc biệt dành cho cư dân đô thị và khách du lịch.
- Công trình xanh: Xanh hóa công trình, vật liệu xanh, tiết kiệm năng lượng,
ưu tiên tiết kiệm năng lượng và tài nguyên, sử dụng năng lượng hiệu quả và vật liệu
thân thiện môi trường.
- Giao thông xanh: nâng cao tỷ lệ giao thông công cộng, giảm sử dụng các
phương tiện cá nhân, giảm khí thải CO2, sử dụng khí tái chế cho giao thông công cộng.
- Công nghiệp xanh: Công nghiệp công nghệ cao, công nghệ sạch, hạn chế ô
nhiễm.

17


- Chất lượng môi trường đô thị xanh: Môi trường không khí sạch, giảm rác
thải, khói, bụi, độ ồn trong đô thị.
- Bảo tồn cảnh quan văn hóa lịch sử danh lam thắng cảnh, cảnh quan thiên

nhiêu.
- Cộng đồng dân cư sống thân thiện với môi trường.
Tiêu chí Thành phố môi trường theo Hiệp định Thành phố Môi trường của
Liên Hiệp Quốc-2005
Tại thành phố San Francisco (Hoa Kỳ), vào ngày 5 tháng 6 năm 2005, nhân
dịp Ngày Môi trường Thế giới UNEP đã tổ chức Hội nghị quốc tế về phát triển
thành phố bền vững môi trường, có hơn 100 nước và rất nhiều tổ chức quốc tế tham
dự. Trong Hội nghị này “Hiệp định Thành phố Môi trường của Liên Hợp Quốc 2005” (2005, United Nations Urban Environmental Accords) đã được thông qua và
công bố. Hội nghị quốc tế này đã đưa ra nhận thức chung là các thành phố trên thế
giới đang phải đối mặt với thách thức về ô nhiễm môi trường ngày càng tăng, và
cần phải lưu tâm đến tác động xấu của suy thoái môi trường và tài nguyên đối với
đời sổng cùa dân đô thị và sức khỏe của nền kinh tế của các thành phố. Hiệp định
này có thời hạn thực hiện đầu tiên là 7 năm (từ năm 2005 đến năm 2012) để thực
hiện chương trình hành động bao gồm 7 lĩnh vực như sau:
- Năng lượng: Năng lượng tái tạo; Hiệu quả năng lượng; Biến đổi khí hậu.
- Giám chất thải: Thành phố không chất thải; Trách nhiệm cùa nhà sàn xuất;
Trách nhiệm của người tiêu dùng.
- Thiết kế thành phố: Công trình Xanh; Quy hoạch đô thị.
- Thiên nhiên của thành phố: Công viên, vườn hoa; Phục hồi nơi sinh cư của
các loài; Động vật hoang dã.
- Giao thông vận tải: Giao thông công cộng; Phương tiện giao thông sạch;
Giảm tắc nghẽn.
- Sức khỏe môi trường: Chất độc giảm; Hệ thống thực ph m an toàn sức khỏe;
Không khí sạch.
- Nước: Cấp nước & hiệu quả; Bảo tồn nguồn nước; Giảm thiểu nước thải.
Tiêu chí phát triển đô thị và inh tế xanh của Diễn đàn đô thị Cari

18

an



Diễn đàn đô thị Caribbean lần đầu tiên đã tổ chức một cuộc họp khu vực tại
Georgetown, Guyana trong tháng 4 năm 2011 nhằm mục đích tạo ra một cuộc đối
thoại về cơ chế tăng cường quy hoạch và quản lý đô thị Caribbean. Diễn đàn đã nêu
bật các cách để giải quyết vấn đề phát triển đô thị xanh và kinh tế xanh trong
CARICOM. Trong đó chú trọng đến áp dụng khái niệm về nền kinh tế xanh tại các
đô thị trung tâm vùng Caribbean và đã xác định được 7 lĩnh vực tiềm năng đóng
vai trò chính trong sự phát triển bao gồm:
- Kiến trúc xanh: thiết kế các tòa nhà mới và phục hồi những tòa nhà cũ để có
năng lượng hiệu quả hơn và sử dụng ít nước hơn, cả trong quá trình xây dựng và
sau khi hoàn thành.
- Chính sách mua sắm của Chính phủ: liên kết việc mua hàng hóa và dịch vụ
như một sự cam kết một phần của nhà thầu cũng như các nhà cung cấp về vấn đề
môi trường.
- Năng lượng: các thành phố đều dựa vào các nguồn năng lượng vượt quá ranh
giới của họ, do đó hệ thống phân phối năng lượng hiệu quả là rất cần thiết. Giảm
tiêu thụ năng lượng và áp dụng hệ thống năng lượng tái tạo ở cả tầm vĩ mô và vi mô
rất quan trọng trong cảnh quan xanh của đô thị.
- Quản lý nước: giảm thiểu sự mất nước trong quá trình thu hoạch và phân
phối, hệ thống lưu trữ nước giảm áp lực lên nguồn cung cấp nước uống. Phủ xanh
môi trường đô thị làm giảm tác động của lũ lụt đô thị.
- Vận tải: giảm số lượng xe và tăng hiệu quả của giao thông công cộng có thể
làm giảm ô nhiễm và giảm phát thải khí nhà kính.
- Quản lý chất thải: thực hiện tái chế và chuyển đổi chất thải thành năng
lượng.
- Hiện trạng kiến trúc cảnh quan: không gian xanh cung cấp một loạt các dịch
vụ hệ sinh thái, ch ng hạn như không khí lọc, môi trường sống cho động vật hoang
dã, lưu trữ carbon… cũng như lợi ích giải trí. Kết hợp không gian xanh vào thiết kế
đô thị cần phải xem xét các hình thức toàn bộ đô thị và bố trí cũng như các chính

sách sử dụng đất phù hợp.

19


Hình thức và cấu trúc đô thị: khu vực phát triển các chính sách đô thị và giao
thông vận tải tích hợp thúc đ y sử dụng đất hiệu quả hơn. Các nguồn năng lượng
thay thế và hiệu quả năng lượng là quan trọng, nhưng việc giảm nhu cầu về giao
thông đô thị thông qua các chính sách đô thị tốt hơn và lập kế hoạch là rất quan
trọng.
Theo Phạm Ngọc Đăng (2013) [12], Chủ tịch Hội Môi trường Xây dựng Việt
Nam đề xuất 7 tiêu chí, bao gồm: (1) Không gian xanh; (2) Công trình xanh; (3)
Giao thông xanh; (4) Công nghiệp xanh; (5) Chất lượng môi trường đô thị xanh; (6)
Bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, công trình lịch sử, văn hóa;
(7) Cộng đồng dân cư sống thận thiện với môi trường và thiên nhiên. Trong đó có
lưu ý các pháp quy hoạch đô thị, thiết kế công trình phải tính đến các yếu tố sử
dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và tận dụng nguồn năng lượng tái tạo.
1.3.2. Tiêu chí đô thị xanh ở Việt Nam
Ở Việt Nam cho đến nay vẫn còn chưa có một khái niệm r ràng cụ thể về đô
thị xanh và do vậy, về quản lý và chính sách, cũng chưa có tiêu chí r ràng cụ thể về
đô thị xanh, tuy rằng trong các quy chu n, tiêu chu n về đô thị cũng có đề cập đến
phần xanh trong đô thị, đó là hệ thống cây xanh mặt nước. Theo Hội Quy hoạch
phát triển đô thị Việt Nam (2011) [13], một đô thị xanh phải đạt các tiêu chí: không
gian xanh; công trình xanh; giao thông xanh; công nghiệp xanh; chất lượng môi
trường đô thị xanh; bảo tồn cảnh quan thiên nhiên và cộng đồng dân cư sống thân
thiện với môi trường, với thiên nhiên.
Các nhà nghiên cứu và quản lý cho rằng, đối với loại đô thị trung bình và nhỏ
(loại III, IV và V) trong quản lý phát triển hướng vào các tiêu chí xanh cần chú ý tới:
- Xây dựng đô thị n n (compact city) kết hợp không gian mở. Đây là một lựa
chọn quan trọng của đô thị xanh hướng tới mục tiêu sử dụng năng lượng tiết kiệm

hiệu quả, bao hàm sự hợp lý về mối liên hệ giữa các thành tố của đô thị có đủ điều
kiện bảo đảm chất lượng tiện nghi đô thị và môi trường sống mà vẫn tiết kiệm được
nguồn đầu tư và năng lượng cung cấp cho mạng lưới hạ tầng kỹ thuật vận hành
phục vụ đô thị. ựa chọn mô hình phát triển theo hướng tập trung để tiết kiệm đất
đai, không chỉ cần thiết vận hành đối với các đô thị mới mà cả các đô thị cải tạo

20


×