VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ ĐỨC THUẬN
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƢƠNG SỰ
TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Quyền con người
Mã số:..........................................
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, 2017
1
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã
hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Lê Mai Thanh
Phản biện 1: Hoàng Văn Tú
Phản biện 2: Vũ Thư
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận
thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội 10 giờ 50 phút
ngày 08 tháng 08 năm 2015
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa
học xã hội
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động thi hành án dân sự là công đoạn cuối cùng, bảo đảm
cho bản án, quyết định của Toà án được chấp hành, góp phần bảo đảm
tính nghiêm minh của pháp luật. Những năm qua công tác THADS đã
từng bước được đẩy mạnh và đã thu được những kết quả to lớn. Pháp
luật về THADS đã và đang được củng cố và hoàn thiện ngày càng phù
hợp với những yêu cầu mới đặt ra của sự phát triển kinh tế, xã hội. Tuy
nhiên, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, nền kinh tế thị trường ngày
càng phát triển, các giao lưu dân sự ngày một mở rộng thì số vụ việc
tranh chấp dân sự ngày càng gia tăng dẫn đến số lượng bản án, quyết
định phải thi hành ngày càng nhiều. Các vụ việc thi hành án dân sự
ngày một gia tăng, phức tạp, các đương sự trong THADS là những
người được thi hành án và người phải thi hành án luôn ẩn chứa những
nguy cơ bị vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp, đặc biệt là những người
phải thi hành án, xã hội thường có tâm lý xa lánh, kỳ thị xem thường,
họ không hiểu hết việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án của các đương sự
trong THADS không mất đi các quyền cơ bản của con người. Hơn nữa
hoạt động THADS luôn động chạm trực tiếp đến các quyền và lợi ích
hợp pháp của các đương sự và rất dễ bị cơ quan thi hành án dân sự và
các chủ thể có quyền khác xâm hại. Trong một số trường hợp bản án,
quyết định của tòa án được thi hành triệt để đúng quy định thì người
phải thi hành án và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan dễ bị
vi phạm đến các quyền cơ bản của con người như: quyền có chỗ ở,
quyền được học tập, quyền được nuôi dưỡng chăm sóc, quyền được bảo
vệ quyền tài sản…., còn nếu bản án, quyết định của tòa án không được
thi hành triệt để thì quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án
bị xâm hại. Đã có nhiều đề tài luận văn nghiên cứu về hoạt động THADS,
nhưng chưa có đề tài luận văn nào khai thác hoạt động THADS dưới góc độ
là quyền con người, đặc biệt là tại địa bàn tỉnh Hòa Bình là nơi có nhiều dân
tộc thiểu số cùng sinh sống, trình độ dân trí chưa cao, sự phát triển kinh tế
còn rất thấp, vì vậy việc áp dụng các quy định của pháp luật trong tổ chức
THADS nhằm bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vẫn gặp
không ít những khó khăn vướng mắc, cần tháo gỡ.
Trước tình hình đó việc nghiên cứu đề tài "Bảo đảm quyền của
đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Hòa
1
Bình" đáp ứng tính cấp thiết. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài này làm
luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Quyền con người.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý vấn đề bảo vệ quyền con người nói
chung và bảo vệ quyền của đương sự trong hoạt động THADS nói
riêng, đã có nhiều tác giả, nhà nghiên cứu hết sức quan tâm nhất là
trong thời kỳ đổi mới, hội nhập. Đã có nhiều bài viết, công trình nổi bật
được nghiên cứu từ các góc độ và mức độ khác nhau. Có thể kể đến một
số công trình nghiên cứu như sau:
Về sách, giáo trình: Giáo trình Pháp luật quốc tế về quyền con
người của Học viện khoa học xã hội do GS. TS Võ Khánh Vinh và TS.
Lê Mai Thanh chủ biên; Giáo trình cơ chế quốc tế và khu vực về quyền
con người của Học viện khoa học xã hội do GS. TS Võ Khánh Vinh và
TS Lê Mai Thanh chủ biên; Giáo trình quyền con người của Học viện
khoa học xã hội do GS. TS Võ Khánh Vinh chủ biên; Quyền con người
tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học tập II do GS. TS Võ Khánh
Vinh chủ biên; Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa
học xã hội do GS. TS Võ Khánh Vinh chủ biên; Cơ chế bảo đảm và bảo
vệ quyền con người do GS. TS Võ Khánh Vinh chủ biên; Tư tưởng về
quyền con người tuyển tập tư liệu thế giới và Việt Nam; Giáo trình lý
luận và pháp luật về quyền con người do tác giả Nguyễn Đăng Dung,
Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng chủ biên; Quyền con người trong quản
lý tư pháp do Vũ Ngọc Bình tuyển chọn...
Về bài viết, tạp chí và chuyên đề nghiên cứu: Quyền con người
trong thế giới hiện đại do PGS Phạm Khiêm Ích và GS. TS Hoàng Văn
Hảo chủ biên; Bảo vệ quyền con người trong thi hành án dân sự của tác
giả Trương Thị Hồng Hà trong cuốn Quyền con người tiếp cận đa
ngành và liên ngành luật học tập II do GS. TS Võ Khánh Vinh chủ biên;
và gần đây có đề tài “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi
hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Lào Cai”, luận văn thạc sĩ luật học Học
viện khoa học xã hội của tác giả Đào Anh Tuấn...
Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác
trong các luận án, luận văn tốt nghiệp, tập san, tạp chí chuyên ngành
như tạp chí Nhà nước và pháp luật, tạp chí Dân chủ và pháp luật nhưng
vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp và toàn diện
cả về lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động
thi hành án dân sự. Tuy vậy, các tài liệu trên là những tài liệu tham khảo
quan trọng đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn.
2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền của đương
sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình nhằm tăng
cường hiệu quả bảo đảm quyền.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên luận văn có nhiệm vụ chủ yếu sau
đây: nghiên cứu cơ sở lý luận đảm bảo quyền của đương sự trong hoạt
động thi hành án dân sự, cụ thể là: Làm rõ khái niệm, đặc điểm quyền
của đương sự; nội dung quyền của đương sự trong hoạt động thi hành
án dân sự; đánh giá được thực tiễn bảo đảm quyền của đương sự trong
thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình và đề xuất giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt
động thi hành án dân sự bao gồm: Bảo đảm quyền của người được thi
hành án, người phải thi hành án trong hoạt động thi hành án dân sự.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu về quyền của các chủ thể là đương sự trong
hoạt động THADS, bao gồm người được thi hành án và người phải thi hành
án.
- Bảo đảm các quyền con người đặc thù của đương sự dễ bị
xâm hại trong quá trình thi hành án. Luận văn không tham vọng nghiên
cứu tất cả các quyền con người của đương sự.
- Địa bàn nghiên cứu: quyền của đương sự trong hoạt động
THADS tại địa bàn tỉnh Hòa Bình.
- Thời gian nghiên cứu: giai đoạn luật thi hành án dân sự năm
2008 có hiệu lực ngày 01/7/2009 và được sửa đổi, bổ sung năm 2014
đến tháng 7 năm 2017.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về Nhà nước và
pháp luật, quan điểm của Đảng và nhà nước về vấn đề bảo đảm và thực
hiện quyền con người ở nước ta.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
3
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra; trong
quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng một số phương pháp luận và
phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
Việc nghiên cứu thực hiện đề tài được dựa trên cơ sở phương
pháp phân tích và thống kê kết quả thi hành án, phương pháp đàm thoại
với những người làm công tác lâu năm trong ngành thi hành án.
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu cụ thể như sau: Phương pháp phân tích, bình luận, diễn giải,
phương pháp lịch sử; Phương pháp so sánh luật học, phương pháp đánh
giá; tổng hợp, thống kê, phương pháp khảo sát thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài này là đề tài mới nghiên cứu lý luận và thực tiễn bảo đảm
quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa
Bình.
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ đóng góp cho các cơ quan bảo vệ
pháp luật nói chung, cho ngành thi hành án dân sự nói riêng nâng cao
nhận thức “Bảo vệ quyền con người” trong thực thi pháp luật. Luận văn
sẽ đóng góp một phần lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho việc thực
hiện có hiệu quả đảm bảo trong thi hành án dân sự, bảo đảm quyền của
đương sự khi các cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành pháp
luật.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của
luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận bảo đảm quyền của đương sự trong
hoạt động thi hành án dân sự
Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt
động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình
Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm quyền của
đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƢƠNG SỰ
TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và nội dung quyền của đƣơng sự
trong hoạt động thi hành án dân sự
4
1.1.1. Khái niệm quyền của đương sự trong hoạt động thi
hành án dân sự
Trong tiếng việt “đương sự” được hiểu “là người, là đối tượng
trong một sự việc nào đó được đưa ra giải quyết”[34, tr.159]. Như vậy
theo nghĩa chung nhất thì đương sự chỉ là người, là đối tượng trong một
vụ việc nào đó được đưa ra giải quyết trong cuộc sống hàng ngày.
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật THADS thì các đương sự trong
THADS chỉ bao gồm: Người được thi hành án và người phải thi hành
án [22].
Khái niệm quyền của đương sự xuất phát từ khái niệm quyền
con người. Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có
và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật
quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm: “Quyền của
đương sự là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của đương sự được
ghi nhận và bảo đảm bởi các quy định của pháp luật về thi hành án dân
sự”.
1.1.2. Đặc điểm quyền của đương sự trong hoạt động thi
hành án dân sự
Đương sự là con người nên trước hết quyền của đương sự mang
các đặc điểm chung của quyền con người bao gồm:
- Tính phổ biến.
- Tính không thể tước đoạt.
- Tính không thể phân chia.
- Tính liên hệ và phục thuộc lẫn nhau của quyền con
người.[48].
Ngoài các thuộc tính kể trên, quyền của đương sự chỉ dưới góc
độ trong quá trình thi hành án dân sự nên có những đặc điểm riêng sau:
- Nhóm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự
chủ yếu khu trú ở nhóm quyền dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và dễ bị
xâm hại. Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động tác động trực tiếp
đến tài sản của người phải thi hành án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người được thi hành án. Do đó, quyền của người được thi
hành án thường được tôn trọng và bảo đảm nhiều hơn so với quyền của
người phải thi hành án. Để bảo đảm quyền lợi cho người được thi hành
án thì cơ quan thi hành án phải thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để xử
lý các tài sản, quyền tài sản... của người phải thi hành án.
5
- Nhóm người được thi hành án thường là người có quyền và
lợi ích bị xâm phạm trong các giao dịch dân sự trước đó cho nên người
được thi hành án cần được bảo vệ về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh
dự và nhân phẩm trong quá trình thi hành án. Hoạt động này thực chất
là để bù đắp những thiệt hại, tổn thất mà họ phải gánh chịu trong các
giao dịch dân sự trước đó. Tuy nhiên, trong quá trình thi hành án họ dễ
gặp phải rào cản từ phía cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan Tòa án và
cá nhân, tổ chức khác nhằm hạn chế một số quyền vốn có của họ như:
không được nhận bản án, quyết định; không được nhận thông báo về thi
hành án, không được nhận trở lại làm việc hay không được nhận tài sản
do phía người phải thi hành án cố ý chây ỳ, trốn tránh nghĩa vụ thi hành
án.
- Nhóm người phải thi hành án là những đối tượng phải thực
hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định. Mặc dù họ có quyền nhưng
thường không được trao quyền và quyền của họ không được các cơ
quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Do vậy, quyền
của người phải thi hành án dễ bị xâm hại từ phía các cơ quan thi hành
án dân sự trong quá trình thi hành án để bảo vệ quyền của bên được thi
hành án.
1.1.3. Nội dung quyền của đương sự trong hoạt động thi hành
án dân sự
Trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người, Luật THADS có một
giá trị vô cùng to lớn khi Điều 5 Luật THADS ghi nhận: “Trong quá
trình thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”[22].
Luận văn nghiên cứu về các quyền con người được bảo đảm trong lĩnh
vực thi hành án dân sự gồm:
Quyền tiếp cận thông tin của đương sự: Trong hoạt động thi
hành án dân sự, quyền tiếp cận thông tin của đương sự là quyền được
tiếp cận hồ sơ, tài liệu của các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ. Ngoài ra nó còn là quyền chủ động của đương sự
được yêu cầu và nghĩa vụ của cơ quan thi hành án, các tổ chức, cá nhân
có liên quan phải công bố. Quyền tiếp cận thông tin của đương sự thể
hiện ở các nội dung chủ yếu sau:
- Tìm kiếm thông tin: Đương sự có quyền chủ động để có được
thông tin cần thiết mà mình quan tâm. Đương sự có quyền yêu cầu và
đề nghị các cơ quan, tổ chức, đơn vị nắm giữ thông tin có nghĩa vụ cung
cấp thông tin đó cho mình.
6
- Tiếp nhận thông tin: Đương sự được nhận thông tin qua các
kênh khác nhau và trách nhiệm của cơ quan nắm giữ thông tin là phải
cung cấp thông tin để đương sự biết, kể cả khi không có yêu cầu. Vì
vậy, Luật THADS đã quy định cơ quan đã ra bản án, quyết định phải có
trách nhiệm cấp bản án, quyết định cho đương sự (Điều 27) và cơ quan
thi hành án phải thực hiện việc thông báo về thi hành án cho đương sự
để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.
- Phổ biến thông tin: Sau khi nhận được thông tin từ các cơ
quan có thẩm quyền, đương sự có quyền truyền thông tin. Trong hoạt
động thi hành án dân sự, khi nắm bắt được thông tin, đương sự có
quyền bày tỏ quan điểm của mình về việc tiếp nhận thông tin hoặc
truyền tin đến cơ quan thi hành án qua hình thức tự nguyện thi hành án
hoặc không tự nguyện thi hành án và thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo
của đương sự.
Quyền tự do lựa chọn phương thức thi hành án của đương
sự: Trong hoạt động THADS đương sự có thể hành động theo ý chí,
nguyện vọng của mình phù hợp với các quy phạm pháp luật và đạo đức
xã hội mà không bị cản trở bởi bất cứ chủ thể hay yếu tố nào, cụ thể:
đương sự có quyền tự do lựa chọn thời điểm thích hợp để yêu cầu cơ
quan thi hành án tổ chức thi hành án hay đương sự có quyền tự do thỏa
thuận thời gian, địa điểm, phương thức, cách thức thi hành án cả trong
giai đoạn trước khi yêu cầu cơ quan thi hành án hoặc trong khi yêu cầu
cơ quan thi hành án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo
yêu cầu của đương sự, Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc
thỏa thuận về thi hành án (khoản 1 Điều 6 Luật THADS). Tuy nhiên,
trong quá trình thi hành án dân sự quyền tự do của đương sự cũng có
những hạn chế nếu như tự do thỏa thuận của đương sự ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích của người thứ ba hay tự do lựa chọn thời điểm yêu cầu
thi hành án bị giới hạn bởi thời hiệu yêu cầu thi hành án.
Một số quyền dân sự của đương sự: Hoạt động thi hành án là
hoạt động liên quan đến các vấn đề về tài sản và nhân thân trong các
bản án dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình. Các phán quyết
của Tòa án trong nhóm quyền này thường là trả lại tài sản, quyền có
việc làm, quyền có chỗ ở và quyền được chăm sóc, giáo dục. Để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, pháp luật quy định các chế tài
đối với người phải thi hành án trong trường hợp không tự nguyện thi
hành án như áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế
(khoản 1 Điều 46 Luật THADS). Bên cạnh việc bảo đảm quyền và lợi
7
ích hợp pháp của người được thi hành án thì cũng phải chú trọng bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án như quy định về
% khấu trừ vào thu nhập để bảo đảm cuộc sống tối thiểu của người phải
thi hành án và người được nuôi dưỡng (Điều 78 Luật THADS) hay
không được tiến hành kê biên tài sản của người phải thi hành án là
những vật dụng thiết yếu phục vụ cho cuộc sống tối thiểu của người
phải thi hành án và gia đình (Điều 87 Luật THADS)
Quyền khiếu nại, tố cáo của đương sự: Khiếu nại, tố cáo là
một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân được ghi nhận
trong Hiến pháp 2013, Luật khiếu nại 2011, Luật tố cáo 2011 và Luật
THADS. Thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là hình thức dân chủ trực
tiếp để đương sự giám sát hoạt động của cơ quan, công chức nhà nước;
đồng thời là một biện pháp để công dân, tổ chức bảo vệ mình trước sự
vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền. Việc
Luật THADS quy định khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo
về thi hành án dân sự là một phương thức để đương sự thực hiện quyền
kiểm tra, giám sát, hướng tới bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
1.2. Khái niệm bảo đảm quyền của đƣơng sự và các điều
kiện bảo đảm quyền của đƣơng sự trong hoạt động thi hành án dân
sự
1.2.1. Khái niệm bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt
động thi hành án dân sự
Các quyền của con người là những giá trị tự nhiên được con
người nhận thức, thừa nhận và dần thể chế hóa trong các văn kiện quốc
tế về quyền con người và được các quốc gia thừa nhận, cam kết thực
hiện. Nhà nước là chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm
quyền con người.
Như vậy, bảo đảm quyền con người là việc tạo ra các tiền đề,
điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội, pháp lý và tổ chức để các cá nhân,
công dân, các tổ chức của công dân thực hiện được các quyền, tự do, lợi
ích chính đáng của họ. Nói cách khác, bảo đảm quyền con người là quá
trình tạo lập các cơ chế và triển khai các hoạt động thực tiễn để hiện
thực hóa quyền pháp định.
Thuật ngữ “bảo đảm” trong tiếng Việt được hiểu là “làm cho
chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần
thiết” [42, tr.120].
8
Theo Từ điển tiếng việt của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP
Hồ Chí Minh năm 2008 thì “bảo đảm” là : 1. Cam đoan chịu trách
nhiệm về việc gì đó; 2. Là cho có được điều gì [35, tr.52].
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu khái niệm: “Bảo
đảm quyền của đương sự là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm pháp
luật và các điều kiện bảo dảm từ phía Nhà nước nhằm hiện thực các
quyền của đương sự trên thực tế”.
1.2.2. Các điều kiện bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt
động thi hành án dân sự
Trong THADS, các điều kiện bảo đảm quyền của đương sự bao
gồm:
Điều kiện bảo đảm về mặt pháp lý
Bảo đảm quyền của đương sự trong thi hành án dân sự được
xây dựng trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và các luật chuyên
ngành. Bảo đảm quyền của đương sự trong THADS được quy định tại
Điều 14 và Điều 106 Hiến pháp năm 2013.
Bảo đảm quyền của đương sự trong THADS còn là sự cụ thể
hóa các quy định về nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự được
quy định tại Điều 2 Bộ luật Dân sự 2015. Cụ thể là theo quy định tại
Khoản 1 Điều luật này thì tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp
nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ...
Bảo đảm quyền của đương sự trong THADS được ghi nhận tại
Điều 5 Luật THADS, cụ thể: trong quá trình thi hành án, quyền, lợi ích
hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được
tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Theo đó, cơ quan thi hành án, Thừa
phát lại và các chủ thể có trách nhiệm hỗ trợ, phối hợp trong thi hành án
dân sự phải tổ chức thi hành án dân sự theo đúng pháp luật và đúng nội
dung bản án, quyết định, không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp
của đương sự và bảo đảm cho họ thực hiện quyền.
Nhằm tạo thêm công cụ pháp lý để người dân tự bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia vào các giao dịch dân sự, kinh
tế, Quốc hội đã có Nghị quyết số 107/2015/QH13 về thực hiện chế định
Thừa phát lại đã chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chính thức chế
định Thừa phát lại từ 1/1/2016. Đây là một trong những đảm bảo về mặt
pháp lý nhằm tăng cường hiệu quả bảo đảm quyền của đương sự.
Điều kiện bảo đảm về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Để nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của đương sự trong
THADS, cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cần tăng cường hơn nữa
9
công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự các
cấp; xác định công tác thi hành án dân sự là nhiệm vụ của cả hệ thống
chính trị, phải được cả xã hội quan tâm và ủng hộ; gắn công tác thi hành
án dân sự với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội và bảo
đảm an ninh trật tự ở từng địa phương. Tăng cường công tác lãnh đạo,
chỉ đạo kiện toàn về tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của tổ chức Đảng, đoàn thể, tạo điều kiện để cơ quan thi hành án
dân sự hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ chính trị của địa phương; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự. Chỉ đạo các cấp cơ quan Công an, Tòa án, Viện kiểm sát
và các cơ quan liên quan phối hợp chặt chẽ với cơ quan thi hành án dân
sự trong việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu
lực pháp luật. Kiện toàn và hoạt động có hiệu quả Ban Chỉ đạo Thi hành
án dân sự, ban hành quy chế hoạt động trên cơ sở xác định rõ trách
nhiệm của các thành viên. Tăng cường công tác giám sát của Hội đồng
nhân dân, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đối với công tác
thi hành án dân sự; chú trọng giám sát việc chấp hành pháp luật, đạo
đức nghề nghiệp của chấp hành viên, công chức và việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo trong công tác thi hành án dân sự, phát hiện và xử lý
kịp thời, nghiêm minh đối với những cán bộ, công chức có hành vi vi
phạm trong việc thực thi nhiệm vụ.
Hàng năm có kế hoạch hỗ trợ kinh phí cho các cơ quan thi hành
án dân sự trong việc đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, phương tiện và
trang thiết bị làm việc như: trụ sở, xe ô tô, xe máy, điện thoại, máy tính,
máy photocoppy, máy in...
Ngoài ra phong tục tập quán của mỗi dân tộc khác nhau tác
động dến hiệu quả của việc bảo đảm quyền của đương sự. Tuy các
quyền con người có tính tự nhiên và phổ biến nhưng mỗi cá nhân con
người lại sống trong những nền văn hóa khác nhau thể hiện ở sự khác
biệt về truyền thống, phong tục tập quán, nhận thức và lối sống... do đó,
cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau, ảnh hưởng đến việc bảo đảm
quyền con người.
1.3. Cơ chế bảo đảm quyền của đƣơng sự trong hoạt động
thi hành án dân sự
Bảo đảm quyền của đương sự trong việc thi hành án dân sự
xuất phát từ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan thi hành
án dân sự. Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân (TAND) đã
có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
10
chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng;
những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành. Cơ
quan THADS là cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong
việc thi hành các bản án, quyết định dân sự. Để tăng cường hiệu quả
công tác THADS, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân,
tổ chức, các cơ quan THADS phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ
tục, thời hạn thi hành án mà pháp luật quy định, không cá nhân, cơ quan
tổ chức nào, kể cả các cơ quan quản lí thi hành án được can thiệp không
đúng chức năng, nhiệm vụ vào hoạt động tác nghiệp của của cơ quan
THADS. Các quyết định của cơ quan THADS có giá trị bắt buộc các
chủ thể khác phải chấp hành. Mọi hành vi chống đối, cản trở trong việc
thi hành các quyết định của cơ quan THADS đều bị xử lý theo quy định
của pháp luật.
Để bảo đảm tốt quyền của đương sự cần cơ chế phối kết hợp
giữa cơ quan thi hành án với Tòa án và các cơ quan hữu quan khác. Tuy
đóng vai trò trung tâm, nhưng để tổ chức thi hành án thành công cơ
quan thi hành án cần phải phối hợp chặt chẽ với nhiều chủ thể khác.
Nhằm tăng cường hiệu quả bảo đảm quyền của đương sự thì
không thể thiếu được đội ngũ Chấp hành viên. Điều 17 Luật THADS đã
quy định: Chấp hành viên là người được giao trách nhiệm thi hành án,
quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật. Qua đó cũng có thể
hiểu được vai trò vô cùng quan trọng của Chấp hành viên trong việc tổ
chức thi hành án nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự. Tóm lại, bảo đảm quyền của đương sự là nguyên tắc cơ bản và có
tầm quan trọng lớn trong pháp luật thi hành án dân sự nước ta hiện nay.
Tất cả các nguyên tắc còn lại đều có quan hệ gắn bó mật thiết với
nguyên tắc trên, ngoài việc tạo tính công bằng, minh bạch trong hoạt
động thi hành án thì còn đều hướng tới bảo vệ quyền lợi cho đương sự.
11
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG
HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH HÒA BÌNH
2.1. Đặc thù của Hòa Bình tác động đến quyền của đƣơng
sự trong hoạt động thi hành án dân sự
Hòa Bình là một tỉnh miền núi, với 7 dân tộc anh em sinh sống
gồm: dân tộc Mường; dân tộc Việt (Kinh); dân tộc Thái, dân tộc Dao,
dân tộc Tày, dân tộc Mông và các dân tộc khác; mỗi dân tộc có bản sắc
văn hóa và có phong tục tập quán khác nhau, trình độ dân trí thấp dẫn
đến việc hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên không tự nguyện thi hành
án. Là một tỉnh nghèo, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, toàn
tỉnh có 02 huyện vùng cao (Mai Châu và Đà Bắc), cơ sở vật chất phục
vụ cho công tác thi hành án còn hạn chế nên ảnh hưởng đến hiệu quả
bảo đảm quyền của đương sự. Các đường giao thông quan trọng trên địa
bàn tỉnh như quốc lộ 6, 12A, 15A, 21, đường Hồ Chí Minh chạy song
song với quốc lộ 21. Các tuyến đường chính này nối với hệ thống đường nối liền các huyện, xã trong tỉnh với thị xã và với các huyện, tỉnh
bạn rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế - xã hội. Vì vậy, tình hình an ninh
trật tự diễn ra hết sức phức tạp, nhất là tội phạm ma túy trên tuyến Tây
Bắc, trộm cắp tài sản và tranh chấp đất đai kiện tụng dân sự ngày càng
gia tăng. Do vậy các cơ quan Thi hành án dân sự hoạt động trong phạm
vi địa bàn khó khăn và rộng. Với những điều kiện tự nhiên và phong tục
tập quán khác nhau nên phần nào cũng tác động đến việc bảo đảm
quyền lợi hợp pháp của đương sự trong quá trình thi hành án.
2.2. Thực trạng bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của
đƣơng sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình
Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản nhất
của con người, thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị đã được ghi nhận
trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc năm
1948, và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm
1966 (ICCPR).
Điều 25 Hiến pháp 2013 có quy định về quyền tiếp cận thông
tin của công dân[21].
Nội dung bảo đảm quyền tiếp cận thông tin bao gồm:
Tìm kiếm thông tin: Người được thi hành án có quyền xác
minh, cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi
hành án[22]. Thực tiễn công tác thi hành án dân sự cho thấy, kết quả
xác minh điều kiện thi hành án có ý nghĩa hết sức quan trọng, ảnh
12
hưởng trực tiếp đến hiệu quả bảo đảm quyền của đương sự. Kết quả xác
minh điều kiện thi hành án có ý nghĩa như chứng cứ để chứng minh,
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bên yêu cầu trong vụ án dân sự.
Tiếp nhận thông tin: Cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung
cấp thông tin do mình tạo ra, trừ những thông tin công dân không được
tiếp cận. Trong hoạt động THADS, quyền tiếp nhận thông tin của
đương sự bao gồm: được cấp bản án; được thông báo về thi hành án
- Được cấp bản án, quyết định
Điều 27 Luật thi hành án dân sự quy định: Tòa án, Hội đồng xử
lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại đã ra bản án, quyết định
phải cấp cho đương sự bản án, quyết định có ghi “Để thi hành”[22].
Tuy nhiên, trên thực tế tại tỉnh Hòa Bình, quyền được cấp bản
án, quyết định mới chỉ được bảo đảm cho người được thi hành án.
Người phải thi hành án đa số đều không được cấp bản án, quyết định để
thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án. Vì vậy không
đảm bảo được quyền tiếp nhận thông tin về kết quả xét xử để thực hiện
nghĩa vụ của người phải thi hành án.
- Được nhận thông báo về thi hành án
Thông báo về thi hành án dân sự là một hình thức chuyển tải
nội dung thông tin nhất định đến đối tượng được thông tin, nhằm làm
cho đối tượng được nhận thông tin biết được thông tin để thực hiện
những hành vi nhất định liên quan đến việc thi hành án. Chấp hành viên
chịu trách nhiệm chính trong việc thông báo về thi hành án. Thư ký,
Chuyên viên và công chức khác được giao giúp việc cho Chấp hành
viên có trách nhiệm thực hiện.
Trong tổ chức THADS, việc thông báo thi hành án có ý nghĩa
rất quan trọng. Qua thông báo, người được thông báo biết được quyền,
nghĩa vụ thi hành án của mình để thực hiện. Vì vậy, để tổ chức THADS
thì Chấp hành viên cơ quan thi hành án phải tiến hành thông báo thi
hành án cho các đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
tham dự việc thi hành án.
- Phổ biến thông tin (truyền tin)
Sau khi đương sự tiếp nhận được thông tin thì sẽ có những phản
hồi lại đối với cơ quan thi hành án như: đồng ý hoặc không đồng ý đối
với bản án, quyết định của Tòa án và quyết định của cơ quan thi hành
án từ đó có những hành vi trong quá trình thi hành án hoặc là tự nguyện
thi hành hoặc là cố ý trây ỳ và tìm mọi cách để chống đối nghĩa vụ phải
thi hành án, từ đó quyền của người được thi hành án bị xâm hại.
13
2.3. Thực trạng bảo đảm quyền tự do lựa chọn phƣơng thức
thi hành án của đƣơng sự trong hoạt động thi hành án tại tỉnh Hòa
Bình
- Quyền tự do thỏa thuận của đương sự
“1. Đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa
thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức
xã hội. Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận.
Theo yêu cầu của đương sự, Chấp hành viên có trách nhiệm
chứng kiến việc thỏa thuận về thi hành án.
2. Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thỏa thuận thì
có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần nghĩa vụ
chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định”. [22]
Pháp luật dân sự nói chung và pháp luật THADS nói riêng luôn
tôn trọng sự tự định đoạt và thỏa thuận của các đương sự. Nó xuất phát
từ việc các quan hệ dân sự được xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt trên cơ
sở tự nguyện, tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm và bình đẳng giữa các
chủ thể.
Tuy nhiên, quyền thỏa thuận của đương sự cũng bị hạn chế theo
quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền tự do lựa chọn thời điểm thực hiện quyền
Đương sự có quyền lựa chọn thời điểm yêu cầu cơ quan thi
hành án tổ chức thi hành Bản án, quyết định của Tòa án.
Luật THADS năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật THADS năm 2014 đã quy định theo hướng mở rộng quyền
làm đơn yêu cầu thi hành án đối với cả người phải thi hành án. Mục
đích của việc bổ sung quy định này là nhằm khuyến khích ý thức tự
giác chấp hành pháp luật của người phải thi hành án cũng như để đảm
bảo quyền lợi của họ trong trường hợp cần thiết (ví dụ: Nếu thi hành án
xong thì họ sẽ được xác nhận và đảm bảo thủ tục xuất nhập cảnh, hoặc
để làm điều kiện xét giảm án phạt tù...).
THADS cũng đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu đó. Do vậy,
pháp luật THADS đã có những quy định về trách nhiệm của các cơ
quan, tổ chức ra bản án, quyết định phải giải thích cho các đương sự
quyền, nghĩa vụ thi hành án của họ, thời hiệu yêu cầu THADS và giải
thích bản án, quyết định trong trường hợp không chính xác, rõ ràng.
Đây là yếu tố cơ bản để các đương sự và những người liên quan thực
hiện và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong THADS.
14
Quyền yêu cầu THADS được giới hạn bởi thời hiệu yêu cầu thi
hành án theo quy định của Luật THADS. Việc quy định kéo dài thời
hạn 5 năm.
Có thể thấy được kết quả này qua bảng sau:
Bảng: Kết quả thi hành án theo yêu cầu giai đoạn 2014-2017
Tổng số
Số việc đã
Số việc có điều
Tỷ lệ
Năm
việc
giải quyết
kiện thi hành
(%)
thụ lý
xong
2014
327
284
248
87
2015
309
253
220
87
2016
361
304
250
82
9 tháng
402
311
253
81
/2017
Nguồn: Cục THADS tỉnh Hòa Bình
Năm 2016, với quyết tâm tạo ra chuyển biến để hoạt động của
Hệ thống THADS trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn,
Tổng cục THADS đã có những nỗ lực và đạt được một số kết quả nhất
định trong triển khai thí điểm hỗ trợ trực tuyến yêu cầu thi hành án;
triển khai thí điểm cơ chế một cửa trong tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả
thủ tục hành chính.
2.4. Thực trạng bảo đảm một số quyền dân sự, kinh tế, văn
hóa, xã hội của đƣơng sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại
tỉnh Hòa Bình
Nhóm quyền dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội chủ yếu liên quan
đến người được thi hành án, người phải thi hành án chỉ có quyền giữ lại
những tài sản đảm bảo cho cuộc sống tối thiểu của họ và gia đình.
Nhóm quyền bao gồm:
2.4.1. Quyền được bảo vệ quyền tài sản của đương sự
Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động thực thi phán quyết
của Tòa án liên quan đến các vấn đề về tài sản và nhân thân, trong các
bản án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình...có thể
nói hoạt động thi hành án dân sự là giai đoạn cuối cùng của hoạt động
tố tụng. Hoạt động thi hành án dân sự đối tượng liên quan đến thi hành
án là tài sản, nhân thân, trong đó tài sản có tài sản vô hình, tài sản hữu
hình, tài sản cố định và tài sản có thể dịch chuyển được; tài sản có thể ở
nhiều địa bàn, nhiều địa phương khác nhau; tài sản có tài sản thuộc sở
hữu chung, tài sản thuộc sở hữu riêng; có loại tài sản phân chia được, có
loại tài sản không thể phân chia, tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau.
15
Để đảm bảo quyền được bảo vệ quyền tài sản, pháp luật quy
định người được thi hành án có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp bảo
đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án.
Bên cạnh việc bảo đảm quyền của người được thi hành án,
Chấp hành viên các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình cũng đã
chú trọng tới việc bảo đảm quyền của người phải thi hành án thể hiện:
Thứ nhất, Khoản 2 Điều 46 Luật THADS quy định không tổ
chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 6 giờ sáng
ngày hôm sau và các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, Khoản 2 Điều 87 Luật THADS quy định một số tài sản
của người phải thi hành án không được kê biên để đảm bảo cuộc sống
bình thường của họ và những người họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng.
Thứ ba, Khoản 1 Điều 95 Luật THADS quy định việc kê biên
nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được
thực hiện sau khi xác định người phải thi hành án không có tài sản khác
hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi
hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án.
Thứ tư, để tránh những chi phí không cần thiết, bảo đảm quyền
lợi của người phải thi hành án, khoản 5 Điều 101 Luật THADS quy
định trước khi mở cuộc bán đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi
hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh
toán các chi phí thực tế, hợp lí đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành
án và tổ chức đấu giá [22].
2.4.2. Quyền được làm việc của đương sự
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền làm việc được chế định
chủ yếu trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (1948), Công
ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR, năm 1966) và Công
ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR, năm
1966). Các điều ước quốc tế, nhìn chung, xác định nội dung quyền làm
việc của tất cả mọi người, không loại trừ ai.
Điều 35 Hiến pháp 2013 có quy định về quyền làm việc của
công dân. Quyền được làm việc của công dân được pháp luật bảo hộ.
Trong hoạt động thi hành án dân sự, để đảm bảo quyền làm việc
của đương sự, Điều 121 Luật Thi hành án dân sự quy định:
“1. Trường hợp người sử dụng lao động không nhận người lao
động trở lại làm việc theo bản án, quyết định thì Chấp hành viên ra
quyết định phạt tiền đối với người sử dụng lao động là cá nhân hoặc
người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng lao động, đồng thời ấn định
16
thời gian 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người sử dụng
lao động thực hiện việc nhận người lao động trở lại làm việc. Hết thời
hạn đã ấn định mà người sử dụng lao động không thực hiện thì Chấp
hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật hoặc truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
2. Trường hợp không thể bố trí người lao động trở lại làm việc
theo nội dung quyết định thì người sử dụng lao động phải bố trí công
việc khác với mức tiền lương tương đương theo quy định của pháp luật
lao động.
Trường hợp người lao động không chấp nhận việc được bố trí
và yêu cầu người sử dụng lao động thanh toán các chế độ theo quy định
của pháp luật lao động thì người sử dụng lao động phải thực hiện việc
thanh toán để chấm dứt nghĩa vụ thi hành án.
3. Người sử dụng lao động phải thanh toán cho người lao động
khoản tiền lương trong thời gian chưa bố trí được công việc theo bản
án, quyết định, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi người
lao động được nhận trở lại làm việc hoặc được giải quyết theo quy định
tại khoản 2 Điều này”[22].
Đối với quy định tại khoản 2 Điều 121 Luật THADS đã cho
phép người sử dụng lao động tùy thuộc vào tình hình thực tế của mình
sẽ có nhiều cách lựa chọn để thực hiện nghĩa vụ nhận người lao động
trở lại làm việc theo bản án, quyết định của Tòa án, theo đó có ba cách
như sau:
Thứ nhất, người sử dụng lao động nhận người lao động trở lại
làm việc theo đúng nội dung bản án, quyết định.
Thứ hai, người sử dụng lao động có thể bố trí một việc khác
cho người lao động trở lại làm việc với mức lương tương ứng.
Thứ ba, người sử dụng lao động có thể thanh toán các chế độ
cho người lao động trở lại làm việc theo quy định của pháp luật lao
động để chấm dứt nghĩa vụ thi hành án nếu người lao động không chấp
nhận công việc được bố trí và có yêu cầu người sử dụng lao động thanh
toán.
Đối với quy định tại Khoản 3 Điều 121 Luật THADS đã quy
định một chế tài xác đáng đối với người sử dụng lao động (người phải
thi hành án) khi không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản
án, quyết định của Tòa án. Chế tài nhằm “đánh” vào kinh tế đối với
những người có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án
trong việc nhận người lao động trở lại làm việc. Lần đầu tiên Luật thi
17
hành án dân sự đã bổ sung nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi
không nhận người lao động trở lại làm việc theo bản án, quyết định của
Tòa án đã nhận nhưng chưa bố trí được việc làm cho người lao động.
2.4.3. Quyền được chăm sóc, giáo dục
Điều 36 Hiến pháp 2013 quy định: Nhà nước bảo hộ quyền lợi
của người mẹ và trẻ em [21].
Ly hôn là việc chấm dứt mối quan hệ giữa vợ và chồng khi có
bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Khi ly hôn, vợ
chồng phải tiến hành thỏa thuận việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định theo
quy định của pháp luật. Về việc nuôi con sau ly hôn, Tòa án phải căn cứ
vào quyền lợi, sự phát triển về mọi mặt và hướng tới tương lai tốt đẹp
của người con để quyết định vợ hoặc chồng sẽ là người trực tiếp nuôi
con sau khi ly hôn. Tuy nhiên, trên thực tế kể cả khi vợ chồng thỏa
thuận được với nhau về việc chăm sóc, giáo dục con nhưng sau đó lại
không thực hiện theo thỏa thuận. Để đảm bảo quyền lợi của trẻ em,
trong trường hợp người phải giao con không tự nguyện giao thì pháp
luật có quy định về biện pháp cưỡng chế giao người chưa thành niên
cho người được nuôi dưỡng, giáo dục theo bản án, quyết định.
Luật THADS đã quy định tương đối cụ thể về trình tự, thủ tục
khi tiến hành giải quyết việc thi hành án giao người chưa thành niên,
tuy nhiên khi áp dụng các quy định trên, chấp hành viên các cơ quan
thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình vẫn còn gặp nhiều khó khăn, chưa
đảm bảo được quyền lợi của đứa trẻ và của người được giao nuôi
dưỡng.
Khó khăn đầu tiên khi tổ chức thi hành các vụ việc giao người
chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết
định là ở tính chất phức tạp của vụ việc. Đối tượng thi hành án ở đây
không phải là tiền hay tài sản mà là con người. Do đó, việc cưỡng chế
thi hành án rất nhạy cảm, có thể gặp phải sự cản trở, chống đối từ rất
nhiều phía như gia đình, họ hàng, dư luận địa phương, thậm chí từ
chính người chưa thành niên ….
Khó khăn thứ hai là việc áp dụng các quy định pháp luật vẫn
còn một số bất cập. Căn cứ theo quy định tại điều luật thì trong trường
hợp người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành
niên không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi
dưỡng, Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền, ấn định thời hạn 05
ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó giao
18
người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng. Tuy nhiên, khi
áp dụng quy định về xử lý vi phạm hành chính thì chấp hành viên lại
gặp phải khó khăn. Vì theo quy định, hành vi không thực hiện việc giao
người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án,
quyết định không thuộc thẩm quyền xử phạt hành chính của chấp hành
viên và Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự mà thuộc thẩm
quyền của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh.
Ngoài ra, khó khăn trong việc cưỡng chế thi hành án: Theo
Điều 39 Luật Thi hành án dân sự quy định thông báo về thi hành án, khi
chấp hành viên thực hiện cưỡng chế thi hành án thì phải thực hiện thông
báo cưỡng chế thi hành án cho các đương sự. Do được biết trước về
việc cưỡng chế nên người phải thi hành án thường đem người chưa
thành niên đi bỏ trốn.
2.4.4. Quyền có nơi ở của đương sự
Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định “Công dân có quyền có nơi
ở hợp pháp (Điều 22), “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp
pháp, của cải để dành, nhà ở…” (Điều 32) và Nhà nước phải “có chính
sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở” (Điều
59)[21].
Tuy nhiên, khi xảy ra các tranh chấp về quyền sở hữu nhà ở,
mọi người có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan Tòa án giải quyết.
Trong hoạt động thi hành án, để bảo đảm quyền lợi của người
được thi hành án theo Bản án, pháp luật có quy định biện pháp cưỡng
chế trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành
án đồng thời cũng bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của người phải thi
hành án: Trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người
phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy
sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi
hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước
khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích
lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê
nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn
01 năm”[22]. Tuy nhiên, việc xác định khoản tiền thuê nhà thế nào là
“phù hợp” với giá nhà thuê nhà trung bình ở từng địa phương cũng là
rất khó và Luật chỉ quy định trong trường hợp tài sản là nhà ở duy nhất
của người phải thi hành án được đưa ra bán đấu giá nhưng lại không
quy định đối với trường hợp tài sản phải giao trả theo bản án là nhà ở
duy nhất. Việc cưỡng chế giao nhà, trả nhà là nhà ở duy nhất theo bản
19
án không quy định được trích lại số tiền để thuê nhà như vậy không
đảm bảo được quyền có nơi ở của người phải thi hành án và gia đình.
2.5. Thực trạng bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của đƣơng
sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình
Xuất phát từ đặc thù của hoạt động THADS là luôn tác động
trực tiếp đến các quyền, lợi ích vật chất của đương sự, các hoạt động
THADS ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản, quyền và lợi ích thiết thân của
các đương sự cũng như gia đình họ, do đó trong giai đoạn này các bên
đương sự thường khiếu nại, tố cáo một cách quyết liệt nhằm thúc đẩy
việc thi hành án nhanh hoặc làm cản trở việc thi hành án.
2.5.1. Bảo đảm quyền khiếu nại của đương sự
Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân
được ghi nhận trong Điều 30 khoản 1 Hiến pháp năm 2013 “Mọi người
có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”[21].
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 2 Luật khiếu nại 2011 thì: Khiếu nại là
việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do
Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan
hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành
chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ
cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền,
lợi ích hợp pháp của mình[19]. Có thể nói, khiếu nại về thi hành án là
phương thức để các cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình. Thông qua hành vi khiếu nại, các cá nhân, cơ quan,
tổ chức yêu cầu người có thẩm quyền nhanh chóng áp dụng các biện
pháp cần thiết để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm,
kịp thời ngăn chặn và khắc phục hậu quả của các hành vi trái pháp luật
của thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên nếu có.
2.5.2. Bảo đảm quyền tố cáo của đương sự
Quyền tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân
được ghi nhận tại Điều 30 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật tố cáo.
Trong quá trình THADS, ngoài việc cá nhân, cơ quan, tổ chức có
quyền, lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc THADS có quyền khiếu nại
thì cũng có quyền tố cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan
THADS và người có thẩm quyền THADS hoặc bất cứ cá nhân nào
thuộc cơ quan đó nếu quyết định, hành vi trái pháp luật đó gây thiệt hại
hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
20
pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Tố cáo là công cụ để vạch rõ những
hiện tượng tiêu cực trong xã hội, để có biện pháp xử lí kịp thời, nghiêm
minh đối với những vi phạm, bảo vệ được lợi ích của nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của đương liên quan đến THADS, cơ quan, tổ chức,
công dân và qua đó góp phần ổn định trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, tố
cáo về THADS có ý nghĩa nâng cao trách nhiệm của cơ quan THADS,
Chấp hành viên trong THADS, giúp người có thẩm quyền kịp thời xử lí
được các hành vi vi phạm trong THADS. Việc này gián tiếp bảo vệ
quyền lợi hợp pháp cho các đương sự trong THADS.
2.6. Thực trạng cơ chế bảo đảm quyền của đƣơng sự trong
hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình
Trong những năm qua, công tác thi hành án dân sự của tỉnh Hòa
Bình đạt kết quả ổn định và bền vững, tỷ lệ giải quyết thi hành án về
việc và tiền qua các thời kỳ khá cao, hoàn thành chỉ tiêu do Tổng cục
THADS giao. Tuy nhiên, kết quả thi hành án dân sự còn phụ thuộc vào
điều kiện tự nhiên, điều kiện chính trị - kinh tế- xã hội của từng thời kỳ.
Những năm gần đây, do sự phát triển của xã hội nói chung và của tỉnh
Hòa Bình nói riêng số lượng việc, tiền phải thi hành án tăng, tính chất
vụ việc ngày càng phức tạp, nhiều vụ việc phải qua nhiều cấp xét xử tại
Tòa án nên số vụ việc chống đối ngày càng tăng gây khó khăn cho công
tác thi hành án.
Để tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong công tác
thi hành án dân sự, ngày 28/10/2015 Ban thường vụ Tỉnh ủy Hòa Bình
ban hành Chỉ thị số 02-CT/TU; Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình ban
hành Kế hoạch số 121/KH-UBND ngày 09/12/2015 thực hiện Chỉ thị số
02-CT/TU ngày 28/10/2015 của Ban thường vụ Tỉnh ủy Hòa Bình.
Thực hiện Kế hoạch số 121/KH-UBND, Cục THADS tỉnh Hòa
Bình đã xây dựng Kế hoạch số 543/KH-CTHADS ngày 31/12/2015 tổ
chức phổ biến, quán triệt nội dung Chỉ thị đến cán bộ, đảng viên các công
chức, viên chức, các phòng chuyên môn, thuộc Cục và Chi cục THADS
các huyện, thành phố. Cục THADS tỉnh đã tập trung chỉ đạo, huy động
lực lượng, tổ chức nhiều đợt cao điểm về thi hành án. Được sự quan tâm
ủng hộ của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, sự phối hợp tạo điều
kiện của các cơ quan có liên quan trên địa bàn; kết quả đã giải quyết dứt
điểm được nhiều bản án, quyết định tồn đọng, bảo đảm tốt nhất quyền
của các đương sự.
Các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình thường xuyên giữ
mối liên hệ phối hợp với các cơ quan như: Tòa án nhân dân các cấp trong
21
việc giao, nhận Bản án, quyết định, giải thích, đính chính, trả lời kiến
nghị của cơ quan thi hành án đối với bản án, quyết định chưa rõ, có sai
sót, không phù hợp với thực tiễn; phối hợp với Viện kiểm sát trong việc
kiểm sát hoạt động thi hành án nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự; phối hợp chặt chẽ với cơ quan Công an trong công tác đặc
xá, thu, trả tiền, tài sản thi hành án đối với người phải thi hành án đang chấp
hành hình phạt tù; xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án
đang chấp hành hình phạt tù; phối hợp trong công tác chuyển giao vật chứng
và bảo vệ cưỡng chế thi hành án.
Trong những năm qua, Cục THADS tỉnh Hòa Bình đã thực hiện cơ
bản các nhiệm vụ công tác được giao, kết quả thi hành án có sự chuyển biến
tích cực.
Chƣơng 3
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA
ĐƢƠNG SỰ TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TẠI TỈNH HÒA BÌNH
Việc bảo đảm quyền của đương sự trong thi hành án dân sự
trong thực tiễn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan
khác nhau. Để nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của đương sự, tác giả
luận văn đưa ra một số phương hướng, giải pháp sau:
3.1. Phƣơng hƣớng bảo đảm quyền của đƣơng sự trong hoạt
động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ
sở pháp lý cho việc bảo đảm quyền của đương sự trong thi hành án
dân sự
Trước tình hình đó cần phải tiếp tục rà soát các văn bản quy
phạm pháp luật có nội dung còn chồng chéo, bất cập để sửa đổi, bổ
sung cho phù hợp với thực tiễn để hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp
luật thi hành án dân sự tạo hành lang pháp lý chặt chẽ đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự được đảm bảo trên thực tiễn một cách
tốt nhất.
Pháp luật thi hành án dân sự được hoàn thiện theo hướng xác
định trách nhiệm xác minh thi hành án thuộc về cơ quan THADS. Bên
cạnh việc hoàn thiện pháp luật, việc sử dụng mô hình thừa phát lại sẽ hỗ
trợ cho người được thi hành án bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của
mình, chủ động thu thập các thông tin về tài sản hoặc nhờ các tổ chức
có thẩm quyền xác minh các thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành
22
án của người phải thi hành án, chia sẻ gánh nặng công việc với các cơ
quan thi hành án.
Thứ hai, cần đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Chấp hành viên, cán bộ thi hành
án.
Thứ ba, tăng cường cơ chế phối hợp giữa cơ quan thi hành
án dân sự với các cơ quan liên quan
3.2. Giải pháp bảo đảm quyền của đƣơng sự trong hoạt
động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình
Sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật thi hành án dân sự
Trên cơ sở các phương hướng hoàn thiện trên, tác giả kiến nghị
sửa đổi, bổ sung pháp luật cụ thể như sau:
Hoàn thiện quy định về biện pháp bảo đảm phong tỏa tài khoản
Hoàn thiện các quy định về phối hợp thực hiện biện pháp bảo
đảm, biện pháp cưỡng chế
Hoàn thiện các quy định về thông báo khi áp dụng biện pháp
cưỡng chế giao con
Hoàn thiện các quy định về nâng cao vai trò của Tòa án trong
hoạt động THADS
Từng bước thực hiện việc xã hội hóa hoạt động thi hành án dân
sự
Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan trong bảo đảm quyền
của đương sự
KẾT LUẬN
Trong thi hành án dân sự thì vấn đề bảo đảm quyền con người
thực chất là bảo đảm cho quyền của người được thi hành án, người phải
thi hành án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được thực hiện đầy
đủ các quyền của mình theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự,
thông qua những người làm công tác thi hành án dân sự. Đây là hình
thức bảo đảm cho quyền của các đương sự bằng quyền lực Nhà nước
một cách công khai, dân chủ, bình đẳng và khách quan nhất, nên có
hiệu lực và hiệu quả cao nhất. Đối với các cơ quan thi hành án dân sự ở
tỉnh Hòa Bình, trong hoạt động thi hành án dân sự, nhìn chung đã bảo
đảm tốt trong việc thực hiện các quyền cơ bản của công dân, trong đó
đảm bảo thực hiện các quyền của người được thi hành án, người phải
thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Làm được điều đó
trong thực tế cũng cần phải có cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các ngành
23