ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC THÁI NGUYÊN
----------------------------
Tiểu luận
Môn: Cơ sở khoa học quản lý
Đề tài:
Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên
nhiên tại Vườn Quốc Gia Xuân Sơn
SVTH: Nguyễn Thị Lan Phương
Mã SV: DTZ1558501010022
Lớp: Quản lí tài nguyên & môi trường k13
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2017
Mục lục
Phần mở đầu (Lý do chọn đề tài)
Nội dung:
I.
Thực trạng Vườn quốc gia Xuân Sơn
II.
Dự báo – Dự đoán phương hướng phát triển của Vườn quốc gia Xuân
Sơn
III.
Mục tiêu quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn
IV.
Xây dựng các giải pháp quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn
V.
Đánh giá các giải pháp
VI.
Lựa chọn giải pháp:
VII.
Xây dựng các kế hoạch bổ trợ.
VIII.
Chương trình hóa tổng thể
IX.
Tổ chức thực hiện
X.
Lãnh đạo
XI.
Kiểm tra
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Đặt vấn đề
Ngày nay, vấn đề môi trường ngày càng trở thành tâm điểm và thu hút
được sự quan tâm của tất cả mọi thành phần trong xã hội vì nó ảnh
hưởng trực tiếp hàng ngày đến sự sống của vạn vật trên trái đất. Trái đất
của chúng ta đáng nóng dần lên hàng ngày, hàng giờ bởi chính các tác
động xấu của con người đến môi trường tự nhiên như việc chặt phá,
khai thác rừng trái phép, săn bắn động vật trái phép,… Môi trường xấu
đã tác động tiêu cực đã tác động lại chính cuộc sống của chúng ta như:
Ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, các thiên thai… Chính vì thế việc nâng
cao đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội,duy trì và bảo tồn thiên nhiên, cải
thiên môi trường sống của khu vực vùng đệm, dần dần thay đổi sinh kế
của người dân trong khu vực vùng đệm để cuộc sống của họ ngày càng
giảm bớt sự phụ thuộc vào việc khai thác rừng tự nhiên phục vụ cho nhu
cầu cuộc sống hàng ngày, nhờ đó mà gián tiếp duy trì và bảo vệ các khu
bảo tồn thiên nhiên quốc gia Xuân Sơn.
Vườn Quốc gia Xuân Sơn thuộc địa bàn huyên Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ và
đây cũng là một trong những rừng quốc gia lớn nhất Việt Nam. Với diện
tích vùng lõi 15.048ha và 18.639ha vùng đệm. Vườn Quốc gia Xuân Sơn
có hệ sinh thái rừng khá phong phú và đa dạng của miền Bắc nói riêng và
của việt Nam nói chung. Song việc khai thác tràn lan rừng quốc gia trong
thời gian qua và công tác quản lý chưa hiệu quả đã làm xói mòn đa dạng
sinh học và suy kiệt các nguồn lực rừng quốc gia, đặc biệt ở rừng thực
vật thấp. Trong vườn quốc gia Xuân Sơn có 29 thôn, hầu hết là đồng bào
dân tộc Mường và Dao sinh sống. Phần lớn người dân ở đây tạo thu
nhập từ hoạt động nông nghiệp trong khi đó vẫn sử dụng tài nguyên từ
vườn quốc gia Xuân Sơn như một nguồn cung cấp thực phẩm, chất đốt,
cây thuốc, nước uống, nước cho sản xuất nông nghiệp và là nơi chăn thả
gia súc . Trước tình hình đó việc lập ra kế hoạch, biện pháp để quản lý
bảo tồn và phát triển đa dạng hệ thực vật và thảm thực vật ở vườn quốc
gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ là hết sức cấp bách và cần thiết. Chính vì lý do
đó, tôi đã chọn đề tài: “Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên
tại Vườn quốc gia Xuân Sơn” để làm đề tài tiểu luận của mình.
Nội dung
I.
Thực trạng Vườn quốc gia Xuân Sơn
1. Thực trạng tự nhiên
Xuân Sơn là Vườn quốc gia (VQG) đứng thứ 12 trong tổng số 25 VQG đã
được chính phủ phê duyệt nằm trên địa bàn tỉnh huyện Thanh sơn (cũ),
nay thuộc huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, cách thủ đô Hà nội 120km về
phía Bắc, nằm gần một quần thể các danh lam, thắng cảnh, như đền
Hùng, Tam Đảo, Ba Vì. Tọa độ địa lý: Từ 21ᵒ03’ Bắc đến 21ᵒ12’ vĩ Bắc và
từ 104ᵒ51’ đến 105ᵒ01’ kinh Đông. Vườn quốc gia Xuân Sơn có diện tích
vùng lõi 15.048ha vá 18.639ha vùng đệm, trong đó phân khu bảo vệ
nghiêm ngặt 9.099ha, phân khu phục hồi sinh thái 50737ha, phân khu
dịch vụ hành chính 212ha, trải dài trên địa bàn các xã Xuân Sơn, Đồng
Sơn, Tân Sơn, Lai Đồng, Kim thượng, Xuân Đài, thuộc huyện Tân Sơn,
tỉnh Phú thọ.
Vườn quốc gia Xuân Sơn có nhiều sinh cảnh quan độc đáo bao gồm rừng
nhiệt đới vẫn mang tính nguyên sinh, phân bố trên núi đất và núi đá vôi
vùng thấp; với 7 hệ sinh thái chính: rừng trên núi đá vôi; rừng trên núi
đất; tràng cỏ cây bụi, tre nứa; nông nghiệp; khu dân cư; rừng trồng và hệ
sinh thái và các thủy vực. Đặc biệt, hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi có
nhiều nét độc đáo, tuy có nhiều bị tác động nhưng vẫn giữ được dáng vẻ
nguyên sinh, với diện tích khoảng 1.661ha. Với độ cao tối đa so với mặt
nước biển là 1.386ha (đỉnh núi Voi), vùng núi đá vôi Xuân Sơn ở độ cao
700m được che phủ bởi kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh cây lá
rộng, ẩm, nhiệt đới cấu trúc 5 tầng, trong đó tầng vượt tán gồm những
cây gỗ lớn, đường kính hàng mét, cao tới 30-35m như: sáng, trai, nghiến,
…Nhiều cây quý hiêm có giá trị bảo tồn và có giá trị kinh tế cao như: lát,
kim giao, chò chỉ, nghiến, cú dóm,…Hệ thực vật ở đây thống kê được là
1.179 loài, 650 chi, 175 họ của 5 ngành thực vật bậc cao, chiếm 11%
tổng số loài, 28% tổng số chi và 57% tổng số họ của hệ thực vật Việt
Nam.
Vườn quốc gia Xuân Sơn có nhiều loài động vật đặc hữu được ghi nhận
như: vượn đen tuyền, vooc xám, sóc bay lớn, các loài khỉ, cú, lợn rừng,…
Nhiều loài động vật cóp giá trị bảo tồn cao như: hổ, báo, hươu nai, báo
gấm, gấu ngựa, sơn dương, vượn đen. Có 32 loài thực vật, 64 loài động
vật quý hiếm được ghi nhận trong sách đỏ Việt Nam và sách đỏ thế giới.
Sự đa dạng của các hệ sinh thái làm nền tảng cho sự hình thành các kiểu
thảm thực vật khác nhau. Kết hợp với các hệ sinh thái trên đã tạo cho
VQG Xuân Sơn một cảnh quang đẹp hùng vĩ và hấp dẫn. Có thể nói, đây
là mẫu rừng nguyên sinh độc đáo còn lại hiếm hoi của rừng miền Bắc
cũng như của Việt Nam. Đồng thời, đây cũng là nguồn tài nguyên quý để
phát triển loại hình du lịch sinh thái của VQG Xuân Sơn- Phú thọ nói riêng
và Du lịch Việt Nam nói chung.
Đáng chú ý là trong hệ thống núi đá vôi ở VQG Xuân Sơn đã phát hiện
được hệ thống hang động phong phú, đa dạng và độc đáo do thiên
nhiên ban tặng, đó là nhiều hang động đọc đáo và có nét hấp riêng như:
hang Lun, hang Lạng. Ngoài ra ở các xóm còn có khoảng 30 hang động
khác nằm trong những núi đá thiên tạo, được tô điểm bởi các loài thực
vật có hoa, có âm thanh dấu vết của các loài chim, thú, côn trùng,…hoàn
toàn tạo cảm giác mới mẻ cho khách du lịch và có ý nghĩa sinh học như.
Đặc biệt các hang động này nằm ở gần khu dân cư rất dễ tiếp cận. VQG
Xuân Sơn và khu vực vùng đệm 29 thôn/xóm có 12.559 người và 2.908
hộ, trong đó nằm trong vùng lõi Vườn quốc gia 2.984 người và 794 hộ. Ở
đây có 3 dân tộc đang sinh sống; Trong đó dân tộc Mường 2.324 hộ,
chiếm 79,9%; dân tộc Dao có 546 hộ, chiếm 18,7%; dân tộc Kinh có 36
hộ, chiếm 1.4%.
Trong những năm qua VQG đã xác định rõ công tác quản lý bảo vệ rừng
là trọng tâm. Vì vậy, vườn đã đưa ra các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng
hiệu quả, đã ngăn chặn kịp thời các vụ vi phạm về bảo vệ rừng và phòng
chống cháy rừng. Tuy nhiên, nhận thức của người dân sinh sống ở vùng
đệm và vùng lõi và vùng đệm ở VQG vẫn còn nhiều hạn chế do hầu hết
nguồn thu nhập của người dân ở đây còn dựa vào rừng quá nhiều. Nạn
du cư và khai thác không hợp lý dẫn đến tình trạng phá hoại rừng diễn ra
một cách nghiêm trọng, làm gia tăng diện tích đất trống, đồi trọc, phá
hủy và làm thất thoát một cách nghiệm trọng nguồn tài nguyên thực vật,
kéo theo sự mất cân bằng về sinh thái. Chính vì vậy, việc sử dụng hợp lý
và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ nguồn ghen quý một vấn
đề cấp thiết trong công cuộc quản lý ở Vườn quốc gia Xuân Sơn.
2. Thực trạng khai thác
a. Khai thác, sử dụng gỗ trái phép để làm nhà
Áp lực về dân số, mật độ người dân sống trong vùng lõi của Vườn Quốc
gia Xuân Sơn cao, truyền thống và phong tục tập quán làm nhà sàn của
người dân địa phương nên việc sử dụng gỗ trái phép để làm nhà diễn ra
rất thường xuyên, là những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến sự suy
giảm tính đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến chất lượng rừng của VQG
Xuân Sơn, đặc biệt là đối với nguồn cây gỗ quý hiếm. Cụ thể, theo thống
kê của Hạt kiểm lâm huyện Tân Sơn- Phú Thọ, trong 5 năm gần đây ( từ
2008 - 2011) số vụ vi phạm về khai thác, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng
gỗ trái phép trên địa bàn vườn rất cao, cụ thể được thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1.Thống kê tình hình khai thác, sử dụng gỗ trái phép trong VQG
Xuân Sơn
TT
1
2
3
4
1
2
3
Hành vi
Địa
Tang vật
Hình thức xử
điểm
lý
Năm 2008
Khai thác gỗ
Xã Đồng 25 m3 gỗ xẻ Khởi tố 01 vụ
trái phép
Sơn
và gỗ trong với 06 bị can;
nhóm IIA và 02 án giam,
nhóm IV
04 án treo
Khởi tố 01 vụ Xã Kim
01 cưa tay
Phạt hành
với 06 bị can; Thượng
chính, tịch
02 án giam, 04
thu tang vật
án treo
Vận chuyển gỗ Xã Đồng 01 xe máy,
Phạt Hành
trái phép
Sơn
01 hộp gỗ
chính, tịch
thu tang vật
Vận chuyển gỗ
Xã Tân
03 trâu; 15 Tịch thu tang
trái phép
Sơn
m3 gỗ
vật
nhóm IV
Năm 2009
Cất giấu gỗ trái Xã Xuân 6.7 m3 gỗ
Phạt hành
phép
Sơn
nhóm II
chính, tịch
thu tang vật
Mua bán gỗ
Xã Kim 7,023m3 gỗ Tịch thu tang
trái phép
Thượng
nhóm IV
vật gỗ vô chủ
Khai thác gỗ
Xã Xuân
0,5m3 gỗ
Tịch thu tang
Ghi
nhớ
01 vụ
06 vụ
01 vụ
10 vụ
3 vụ
4 vụ
02 vụ
trái phép
Sơn
nhóm IV
vật, phạt
hành chính
Năm 2010
1
Khai thác gỗ
Xã Đồng
1,246 m3
Phạt hành
02 vụ
trái phép
Sơn
gỗ xẻ nhóm
chính, tịch
II
thu tang vật
Năm 2011
1
Khai thác rừng
Xã Tân
1,7 m3 gỗ
Tịch thu gỗ
01 vụ
trái phép
Sơn
nhóm II
vô chủ
Nguồn: Số liệu do Hạt kiểm lâm huyện Tân Sơn-Phú thọ cung cấp tháng
1/2013
Qua số liệu của bảng cho thấy, trong 4 năm qua đã có 9 vụ vi phạm, chủ yếu
là các vụ vi phạm về khai thác, vận chuyển gỗ trái phép.
Như vậy thực tế thấy rằng,nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các vụ vi phạm là
do hộ dân khai thác để sử dụng cho mục đích làm nhà ở và sử dụng cho gia
đình. Theo thực tế thì để dựng 1 nếp nhà sàn cần 30 – 40m3 gỗ trò, mà hiện
tại hơn 600 hộ dân đang sống trong vùng lõi của Vườn thì nhu cầu sử dụng
gỗ rất lơn. Vì vậy đây là 1 vấn đề rất lớn đòi hỏi Vườn quốc gia cùng chính
quyền địa phương các cấp cần có xử lý phù hợp.
Mặt khác, việc sử dụng củi làm chất đốt phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng
ngày cũng rất lớn.Hơn nữa, việc khai thác và sử dụng gỗ của người dân nơi
đây chủ yếu lựa chọn những loài gỗ quý hiếm để sử dụng. Việc khai thác
trên chủ yếu xảy ra tại khu vực xóm Bến Thân, xã Đồng Sơn, Xã Xuân Sơn,
Kim Thượng. Như vậy, việc khai thác gỗ trái phép đã ảnh hưởng trực tiếp
đến nguồn tài nguyên cây gỗ và ảnh hưởng đến nhiều loài thực vật khác
trong cùng sinh cảnh sống, nhiều cây gỗ lớn bị chặt hạ và gây ảnh hưởng lớn
đến tính đa dạng thực vật ở Vườn quốc gia Xuân Sơn.
b. Khai thác lâm sản ngoài gỗ trái phép
Ngày nay, nhu cầu sử dụng lâm sản ngoài gỗ của con người rất cao, đặc biệt
với các loài lâm sản ngoài gỗ sử dụng làm thuốc chữa bệnh, thảo dược, thực
phẩm hàng ngày, cây cảnh, hoa,... cùng với sự khai thác quá mức, không có
sự điều chỉnh đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến tính đa dạng của tài nguyên
thực vật trong Vườn quốc gia Xuân Sơn.
Bảng 1.2.Bảng thống kê các loài lâm sản ngoài gỗ do người dân khai thác ở
VQG Xuân Sơn
TT
Loại lâm sản
Thời gian khai Mục đích sử Tình trạng
thác
Quanh năm
Quanh năm
dụng
1
Lan
Bán
Hiếm
2
Cây thuốc
Sử dụng và Hiếm
bán
3
Măng
Tháng 2 - 9
Sử dụng và Trung bình
bán
4
Nứa
Quanh năm
Sử dụng và Trung bình
bán
5
Cây chuối
Quanh năm
Sử dụng
Trung bình
Nguồn: Số liệu đánh giá của phòng QLR&BTTN VQG Xuân Sơn năm 2012
c.Thiếu đất canh tác và thiếu việc làm
Nguyên nhân dẫn đến sự đói nghèo của các hộ dân sống trong vùng lõi
Vườn quốc gia Xuân Sơn là thiếu đất canh tác. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều
diện tích đất canh tác đã bị bạc màu, còn chịu ảnh hưởng của khí hậu khắc
nghiệt nên việc sản xuất còn nhiều khó khăn. Khi tỷ lệ đói nghèo cao, người
dân cần phải sống phụ thuộc vào rừng để tìm kiếm những thứ có thể bán
được phục vụ nhu cầu thiết yếu mưu sinh, điều này đã gây ảnh hưởng rất
lớn đến công tác quản lý, bảo vệ rừng gây ra tác động đến tiêu cực đến tài
nguyên thiên nhiên.
d. Sự gia tăng dân số
Sự gia tăng dân số này dẫn theo nhu cầu đất canh tác, các nhu cầu sinh sống
hàng ngày như củi, gỗ làm nhà. Đây là một trong những nguy cơ lớn ảnh
hưởng đến tài nguyên thiên nhiên và là một trong những nguyên nhân gây
suy giảm đa dạng sinh học, đặc biệt là sự đa dạng về thực vật ở VQG Xuân
Sơn.
e. Nhận thức của người dân
Do cộng đồng dân cư trong khu vực VQG Xuân Sơn có trình độ dân trí không
đồng đều, nhận thức về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong khu vực vẫn
còn kém, họ còn chưa rõ chức năng nhiệm vụ, các quy định cấm ở VQG. Tuy
nhiên vì cuộc sống mưu sinh nên cố ý làm trái quy định về bảo vệ rừng.Có
thể nói cộng đồng địa phương trong VQG có nhận thức cao trong trong
công tác quản lý bảo vệ rừng. Tuy nhiên, họ không có nhiều lực chọn cho
cuộc sống mưu sinh, vì vậy việc tác động vào tài nguyên là không tránh khỏi.
f. Tác động mặc trái của phát triển du lịch
Hàng năm VQG Xuân Sơn đón từ 5.000 – 10.000 lượt khách du lịch đến làm
việc, nghiên cứu và tham quan, trung bình khoảng 7000 khách/năm.
Thực tế hiện nay, khách du lịch đến với Vườn Quốc gia Xuân Sơn chủ yếu
mang tính chất tự phát, chưa theo một hệ thống bài bản ( chưa có ban du
lịch sinh thái của VQG) và chưa có sự quản lý chặt chẽ, cùng với sự thiếu ý
thức của khách tham quan đã gây tác động xấu đến môi trường sinh thái
như bẻ hoa, bẻ cây, đập phá nhũ đá trong hang động, xả rác bừa bãi,…
Những việc làm trên đã ảnh hưởng xấu đến tài nguyên thiên nhiên, môi
trường sinh thái, đặc biệt ảnh hưởng đến đa dạng thực vật tại VQG Xuân
Sơn và tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây cháy rừng. Vì vậy, nếu không không có sự
quản lý chặt từ Ban quản lý Vườn quốc gia và chính quyền địa phương thì
sự phát triển du lịch sinh thái là một nguy cơ rất lớn tác động đến tài
nguyên thiên nhiên tại đây.
g. Cơ sở vật chất thấp kém
Các tráng thiết bị phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Vườn quốc
gia Xuân Sơn còn hạn chế.Trang thiết bị hỗ trợ cho công tác quản lý, bảo vệ
rừng và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) tại Vườn quốc gia Xuân Sơn
hầu như không có, điển hình như công cụ hỗ trợ để thực thi pháp luật và
bảo vệ an toàn cho cán bộ thi hành công vụ cũng không có. Đây là một
thách thức lớn cho lực lượng cán bộ tham gia công tác quản lý, bảo vệ rừng.
hiện nay còn 4/9 thôn bản trong Vườn quốc gia chưa có điện lưới, việc này
ảnh hưởng rất nhiều đến công tác tuyên truyền bảo vệ rừng và PCCCR, hạn
chế nhận thức của người dân ít khi được tiếp cận với các phương tiên thông
tin để nâng cao dân trí và nâng cao nhận thức.
h. Hiệu lực pháp luật chưa cao
Trong tổng số vụ vi phạm đã thống kê từ năm 2008 – 2012, trên địa bàn
Vườn quốc gia Xuân Sơn chủ yếu được xử lý vi phạm hành chính, vì vậy
chưa có tính răn đe đối với người dân trong khu vực.
Mặt khác, Vườn quốc gia Xuân Sơn là đơn vị duy nhất trong tổng số 30
Vườn quốc gia trên cả nước không có Hạt kiểm lâm để thừa hành pháp luật
trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Lực lượng vệ rừng chính của Vườn
quóc gia Xuân Sơn là Đội chuyên trách bảo vệ rừng bị hạn chế về thẩm
quyên trong thi hành công vụ. Việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ rừng
của Vườn quốc gia phải được sự phối hợp của Hạt kiểm lâm cấp huyện, vì
vậy đôi khi làm mất đi tính cấp bách của vụ việc.
II.
Dự báo – Dự đoán phương hướng phát triển của Vườn quốc gia Xuân
Sơn
1. Dự báo tác động từ việc khai thác của con người
Sự gia tăng dân số đi kèm với nhu cầu sử dụng các tài nguyên sinh học
tăng lên.Các phương tiện sử dụng cho khai thác ngày càng hiện đại, Công
nghiệp trong khai thác tài nguyên ngày một cao nên năng suất khai thác
tăng. Điều đói đồng nghĩa với việc tài nguyên đa dạng sinh học sẽ bị suy
thoái, cạn kiệt cả về số lượng và chất lượng.
2. Dự báo tác động của ô nhiễm môi trường
Một lượng lớn khách du lịch đến VQG Xuân Sơn tạo khó khăn trong việc
quản lý, giữ gìn vệ sinh môi trường. Đồng thời, việc dân cư thả rác thải ra
suối cùng những phân bón hóa học, thuốc trừ sâu làm thay đổi chất
lượng và số lượng thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời
sống của con người và thiên nhiên cùng các loài sinh vật khác cư trú ở
VQG Xuân Sơn.
3. Dự báo tác động của biến đổi khí hậu
Với sự thay đổi nhiệt độ và lượng mưa cực đoan, biến đổi khí hậu sẽ
thúc đẩy sự suy thoái đa dạng sinh học nhanh hơn, đặc biệt hệ sinh thái
rừng nhiệt đới không còn nguyên vẹn và các loài nguy cấp với số lượng
cá thể ít. Các hệ sinh thái, sinh cảnh cần thiết cho các loài di cư hoặc các
loài nguy cấp có phân bố hẹp, các loài đặc hữu sẽ bị biến mất.
4. Dự báo diễn biến các hệ sinh thái tự nhiên
Trong tương lai, độ che phủ rừng ở VQG Xuân Sơn có thể tăng lên nhưng
chất lượng rừng sẽ bị suy giảm. Diện tích độ che phủ rừng trồng sẽ
chiếm chủ yếu, còn diện tích rừng tự nhiên có tính đa dạng sinh học cao
có nguy cơ giảm mạnh.
5. Dự báo các loài và các nguồn gen quý hiếm
Các nguồn gen quý có nguy cơ tuyệt chủng do các hoạt động khai thác
trái phép. Mặt khác, tác động của biến đổi khí hậu có thể làm môi trường
sống của các loài bị biến đổi. Các cá thể có nguồn gen quý không thích
nghi được với môi trường dần dần bị loại bỏ.
III.
Mục tiêu quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn
Hạn chế sự săn bắt các loài động thực vật quý hiếm trong VQG
nhằm bảo tồn đa dạng sinh học ở VQG.
Nâng cao chất lượng và diện tích rừng nhằm cung cấp them thức
ăn, nơi sống cho các loài động vật trong VQG. Ngoài ra việc tăng
cường chất lượng và diện tích rừng còn làm hạn chế sự bốc hơi
bước, sói mòn, bạc màu của đất.
Bảo vệ hệ sinh thái rừng và các loài động vật, thưc vật trong khu
vực VQG, các loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng từ đó
có thể bảo tồn được các nguồn gen quý hiếm giúp cho việc nghiên
cứu khoa học.
Tăng cường năng lực cho Ban quản lý khu bảo tồn và bảo tồn đa
dạng sinh học.
Quản lý bền vững đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí
hậu.
Xây dựng các Vườn thực vật, vườn thú, trạm cứu hộ, thuân
dưỡng. Xây dựng cơ sở dữ liệu về các loài vật nuôi, cây trồng bản
địa quý và hiếm. Đánh giá sự hiện diện các nhóm sinh vật ngoại lai
và sự xâm lấn của chúng đối với nhóm sinh vật bản địa.
IV.
Xây dựng các giải pháp quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn
1. Xây dựng một hệ thống, chương trình có cơ sở giữ liệu vê Quy
hoạch đa dạng sinh học – bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS) của
Vườn quốc gia.
2. Xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng đồng trong công tác quản
lý bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học.
3. Nâng cao nhận thức về bảo về bảo vệ đa dạng sinh học cho cộng
đồng trong và lân cận ở Vườn quốc gia.
4. Nâng cao năng lực quản lý và nhận thức môi trường trong khu vực
Vườn quốc gia, từ đó xây dựng và phát triển 1 ngành du lịch mang
tính môi trường bền vững, đem lại lợi ích trực tiếp cải thiện sinh
kế của người dân địa phương.
5. Tăng cường biện pháp bảo vệ, hỗ trợ không chỉ việc bảo vệ vườn
mà còn tái sinh và bảo tồn các loài động, thực vật đang bị đe dọa.
V.
Đánh giá các giải pháp
Giải pháp 1:
+ Ưu điểm: Có thể ngăn chặn được sự tuyệt chủng của các loài động
thực vật trong Vườn quốc gia, đồng thời có thể kiểm soát được
diễn biến sinh học của mỗi loài trong Vườn quốc gia.
+ Nhược điểm: Rất khó để thực hiện do cần một nguồn kinh phí rất
lón. Các loài động vật hay di chuyển nên việc găn chíp vào các loài
động vật để kiểm soát rất khó khăn trong khi Vườn quốc gia lại rất
rộng lớn.
Giải pháp 2:
+ Ưu điểm: Giảm được sức ép đói nghèo cho cộng đồng dân cư
tại khu vực, tạo thêm nguồn thu nhập và nâng cao đời sống cho
người dân sống ở VQG. Vì là cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng
đồng sẽ làm cho tính tự giác và chủ động hơn trong công tác
quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học. Rất dễ thực
hiện.
Giải pháp 3:
+ Ưu điểm: Người dân sẽ nắm rõ được các luật bảo vệ và phát
triển rừng, các quy định, quy chế, quyền lợi và trách nhiệm của
mình tham gia vào công tác quản lý bảo vệ rừng.
+ Nhược điểm: Đa số người dân là dân tốc thiểu số nên việc nhận
biết được lợi ích của việc bảo vệ VQG còn yếu. Còn nhiều thôn
trong VQG vẫn chưa có điện nên việc nâng cao nhận thức cho
người dân qua phương tiện truyền thông còn nhiều khó khăn.
Trong đó người dân ở khu vực còn giữ các truyền thống lâu đời
như làm nhà sàn, hái thuốc chữa bệnh nên việc thay đổi nhận
thức của người dân rất khó.
Giải pháp 4:
+ Ưu điểm: Tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân,
đồng thời giữ gìn được các giá trị di sản, lịch sử, bản sắc văn
hóa dân tộc đặc biệt của cộng đồng dân cư địa phương tại
VQG. Đồng thời sẽ tạo thêm nguồn vốn có từ các hoạt động
du lịch.
+ Nhược điểm: Nếu không có sự quản lý chặt chẽ của Ban
quản lý VQG và chính quyền địa phương thì phát triển du
lịch sinh thái là một nguy cơ rất lớn tác động đến tài nguyên
thiên nhiên tại đây.
Giải pháp 5:
+ Ưu điểm: Kiểm soát chặt chẽ được các hệ sinh thái, động
thực vật trong khu vực Vườn quốc gia, cung cấp các nguồn
gen quý hiếm phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học.
+ Nhược điểm: Cần nguồn kinh phí rất lớn mới có thể thực
hiện được.
VI.
Lựa chọn giải pháp:
Xét vể tính khả thi của tất cả các giải pháp, lựa chọn các giải pháp sau:
Nâng cao nhân thức bảo vệ đa dạng sinh học cho cộng đồng trong
và lân cận Vườn quốc gia:
Hiện nay, một bộ phận người dân ở VQG còn chưa nhận thức đầy
đủ về vai trò, tầm quan trọng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh
học hoặc đã hiểu nhưng cố ý làm trái. Vì vậy, để nâng cao ý thức
cộng đồng cần thực hiện tốt những giải pháp sau:
Đa dạng các hình thức tuyên truyền: Cộng đồng dân cư
trong khu vực có trình độ dân trí không đồng đều vì vậy
việc lực chọn hình thức tuyên truyền rất quản trong như:
Mở các lớp tuyên truyền để người dân nắm rõ được Luật
bảo vệ và phát triển rừng, các quy định bảo vệ quản lý
vườn quốc gia. Tập trung đối tượng tuyên truyền trọng tâm
là phụ nữ, vì ngoài việc ngăn chặn và hạn chế việc khai thác
và sử dụng tài nguyên, đối tượng này còn hướng tới giáo
dục, tuyên truyền nhận thức cho thế hệ sau này. Đồng thời,
gắn các bảng thông tin đường dây nóng thông báo số điện
thoại trực ban về công tác quản lý, bảo vệ rừng tại các thôn,
trong và bản lân cận Vườn quốc gia để tiếp nhận và kịp thời
xử lý các thông tin về các vụ vi phạm. Có cơ chế thưởng
phạt đối với người tham gia công tác quản lý bảo vệ rừng
tại địa phương.
Tăng cường công tác bảo vệ rừng: Việc thành lập lực lượng
Kiểm lâm trong Vườn quốc gia Xuân Sơn là việc làm cấp
thiết để tăng cường năng lực thực thi pháp luật và hieju
quả trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Xây dựng củng cố
thêm các trạm quản lý bảo vệ rừng, đặc biệt dối với khu
vực giáp ranh với tỉnh Hòa Bình và Sơn La.
Xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng đồng trong công tác quản
lý bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học.
Việc cần thiết phải xây dựng một cơ chế chia sẻ lợi ích với người
dân trong công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên một
cách bền vừng ở đây nhằm đảm bảo lợi ích hài hòa giữa cộng
đồng địa phương với Ban quản lý VQG. Từ đó, cộng đồng có tính
tự giác và chủ động hơn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và
bảo tồn đa dạng sinh học. Chia sẻ lợi ích trong việc sử dụng tài
nguyên một cách hợp lý và bền vững thông qua việc thỏa thuận:
Xác định khu vực được phép khai thác và sử dụng tài
nguyên.
Xây dựng cơ chế kiểm soát việc khai thác và sử dụng tài
nguyên thiên nhiên để đảm bảo việc khai thác một cách hợp
lý, không ảnh hưởng đến sự phát triển và phục hồi của các
loại tài nguyên được khai thác.
Nâng cao năng lực quản lý và nhận thức môi trường trong khu vực
Vườn quốc gia, từ đó xây dựng và phát triển 1 ngành du lịch mang
tính môi trường bền vững, đem lại lợi ích trực tiếp cải thiện sinh
kế của người dân địa phương.
Sự ô nhiễm môi trường trong tương lai phần lớn xuất phát từ hoạt
dộng xây dựng, các chất thải từ khu nhà nghỉ, nhà hàng, rác thải từ
các du khách tham quan đến vườn quốc gia vì thế việc đầu tư cho
các dịch vụ làm sạch môi trường rất là cần thiết ở đây. Việc quản lý
chặt chẽ các cơ sở hạ tầng được xây theo quy định của Nhà nước
là rất cần thiết. Các khu nghỉ dưỡng cần bố trí hài hòa với cảnh
quan mà vẫn giữ được giá trị nhiên nhiên vốn có.
Sự tham gia của cộng dồng địa phương cũng có ý nghĩa vô cùng to
lớn, đa số dân cư ở khu vực VQG thuộc các xã, vùng núi đặc biệt
khó khăn, kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí thấp nên việc
tham gia vào các hoạt dộng du lịch của vườn quốc gia sẽ đem lại
lợi ích rất lớn trong việc phát triển ngành du lịch mang tính chất
môi trường bền vững. Hỗ trợ người dân phát huy phong tục, tập
quán của từng dân tộc để phục vụ khách tham quan du lịch cũng
thúc đẩy ngành du lịch ở đây phát triển.
VII.
Xây dựng các kế hoạch bổ trợ.
+ Hỗ trợ đào tạo nghề, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát
triển du lịch sinh thái và dịch vụ đối với cộng đồng địa phương
trong lân cận của Vườn quốc gia. Cụ thể như: Thúc đẩy các ngành
nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, đào tạo mới nghề thủ công
mỹ nghệ. Hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực về hướng dẫn
viên du lịch.
+ Có cơ chế thưởng, phạt đối với người tham gia công tác quản lý
bảo vệ rừng tại địa phương.
+ Nhân rộng mô hình quản lý bảo vệ rừng theo quy ước đang thực
hiện, đặc biệt đối với mô hình theo dòng họ và cộng đồng.
+ Tăng cường phối hợp với các đơn vị liên quan như chính quyền đia
phương, Hạt kiểm lâm các huyện giáp ranh thông qua quy chế
phối hợp, từ đó tạo sức mạnh liên kết trong tập thể tương trợ lẫn
nhau.
+ Đầu tư trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ rừng,
đặc biệt đối với công tác điều tra, giám sát đa dạng sinh học.
+ Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học và bảo tồn đa dạng sinh
học ở Vườn quốc gia Xuân Sơn.
VIII.
Chương trình hóa tổng thể
+ Chủ thể tiến hành công việc: Bộ NN & PTNT phối hợp các cấp lãnh
đạo UBND tỉnh Phú Thọ phân công công tác quản lý, các biện pháp để
bảo tồn đa dạng sinh học cho Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn.
Qua những kế hoạch mà đón thì Ban quản lý sẽ xây dựng các biện
pháp để vân động các thôn/ xóm cùng cộng đồng dân cư ở VQG tham
gia.
+ Nội dung công việc: Thực hiện các giải pháp, biện pháp mà các cấp
lãnh đạo, lực lượng kiểm lâm an ninh và người dân cùng nhau xây
dựng một cách tích cực và đạt hiệu quả cao.
+ Nguồn tài chính để thực hiện công việc này: Chủ yếu từ nguồn vốn
đầu tư từ Nhà nước, sự đóng góp từ cộng đông dân cư, cùng nguồn
lợi từ khai thác du lịch. Đồng thời kêu gọi các nguồn vốn từ đầu tư
nước ngoài cũng như kêu gọi vận động các quỹ từ thiện về bảo vệ đa
dạng sinh học trên thế giới, quỹ bảo vệ động vật quý hiếm…
+ Thời gian hoàn thành công việc: Thời gian hoạt động của dự án là 3
năm. Bắt đầu từ tháng 5/2017 đến tháng 5/2019.
IX.
Tổ chức thực hiện
Cơ cấu tổ
chức
Bộ NN &
PTNT
UBND tỉnh
Phú Thọ
Vườn quốc gia
Xuân Sơn
Ban giám đốc
Trung tâm
cứ hộ,
bảo tồn
và phát
triển sinh
Phòng
khoa
học và
hợp tác
quốc tế
Hạt
kiểm
lâm
8 trạm
Phòng
tổ
chức
hành
chính
Phòng
kế
hoạch
tài
chính
Trung
tâm du
lịch
sinh
thái và
Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức của Vườn quốc gia Xuân Sơn
1) Ban Giám đốc
Gồm 1 Giám đốc và 1 phó Giám đốc:
Giám đốc:
Giám VQG Xuân Sơn là người được Nhà nước giao nhiệm vụ quản lý và
thực hiên điều hành các hoạt động của đơn vị theo Luận chứng kinh tế
kỹ thuật đã được phê duyệt và một số chương trình, dự án của Vườn.
Giám đốc chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và Phát
triển nông thôn về mọi hoạt động của Vườn; đồng thời chịu sự chỉ đạo
về chuyên môn nghiệp vụ của Cục kiểm lâm.
Giám đốc do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn bổ
nhiệm.
Phó giám đốc: Là người giúp việc cho Giám đốc và được giám đốc
phân công phụ trách một số lịch vực công tác cụ thể. Phó giám đốc
chịu trách nhiệm trước Giám đốc và pháp luật về các lĩnh vực
được phân công. Phó giám đốc do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn bổ nhiệm, miễn nhiệm theo dề nghị của giám
đốc.
2) Phòng tổ chức hành chính.
Phòng tổ chức hành chính có chức năng tham mưu giúp việc cho Giám
đốc về công tác tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, hành chánh quản
trị. Phòng Tổ chức – Hành chính có nhiệm vụ sau:
Công tác tổ chức:
Đề xuất với giám đốc Vườn xây dựng bộ máy hoạt động, quản lý
nhân sự của cơ quan. Giúp Giám đốc quản lý và thực hiện công tác
tổ chức cán bộ theo phân công của UBND tỉnh gồm:
+ Đề xuất công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ, đề bạt bố trí và sử
dụng cán bộ đào tạo.
+ Quản lý chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ cán bộ, công chức, viên
chức.
+ Làm thủ tục bổ nhiệm, đánh giá cán bộ theo định kỳ, đề nghị
nâng lương, điều động, khen thưởng, kỷ luật, nghỉ hưu, mất sức,
thôi việc… cho cán bộ, công chức.
+ Hướng dẫn thủ tục cho cán bộ thi tuyển công chức và thi nâng
ngạch, chuyển ngạch công chức, viên chức.
+ Đề xuất bố trí nhân sự tại các phòng và đơn vị trực thuộc Vườn
theo biên chế được UBND tỉnh giao.
+ Đề xuất cho Giám đốc giải quyết các chế độ chính sách, đời sống
cho cán bộ công chức, viên chức của Vườn (tiền lương, khen
thưởng, kỷ luật, BHXH, BHYT…) theo đúng quy định của nhà nước.
+ Theo dõi, quản lý, tổng hợp hồ sơ nhân sự và các hồ sơ liên quan
đến công tác tổ chức cán bộ.
+ Chủ trì và phối hợp với các phòng, đơn vị trực thuộc, thực hiện
công tác tổng hợp báo cáo liên quan đến công tác tổ chức, cán bộ,
báo cáo các hoạt động của Vườn, tham mưu cho Ban giám đốc
sọan thảo các văn bản, báo cáo tỉnh, trung ương… và thực hiện các
công việc khác do Giám đốc phân công.
Công tác hành chính quản trị:
+ Thực hiện công tác quản lý văn thư, lưu trữ của Vườn.
+ Phối hợp các phòng, đơn vị trực thuộc về tổ chức quản lý tài sản,
giữ gìn an ninh trật tự.
+ Tổ chức đón tiếp, hướng dẫn khách tham quan đến làm việc
theo đúng yêu cầu.
+ Lập dự trù mua sắm trang, thiết bị, văn phòng phẩm… lập kế
hoạch sửa chữa các công trình xây dựng cơ bản, quản lý điều
hành, kế hoạch bảo dưỡng các phương tiện đi lại.
+ Phối hợp với phòng Kế hoạch – Tài chính xúc tiến công tác xây
dựng cơ bản, giám sát, kiểm tra tiến độ thi công các công trình.
+ Theo dõi, đôn đốc các hoạt động hành chính trong Vườn.
+ Tổng hợp báo cáo định kỳ và phương hướng nhiệm vụ của đơn
vị, báo cáo bình xét thi đua khen thưởng về thành tích chung của
Vườn.
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc giao.
3) Phòng Kế hoạch – Tài chính:
Phòng Kế hoạch – Tài chính có chức năng tham mưu giúp việc cho Giám
đốc Vườn về công tác kế hoạch, kế toán tài chính, đầu tư xây dựng cơ
bản và có nhiệm vụ sau:
- Xây dựng kế hoạch dài hạn, ngắn hạn (năm, tháng, quí) về lĩnh vực
kinh tế, tài chính của Vườn trình UBND tỉnh phê duyệt.
- Quản lý trật tự, tài sản và các nguồn kinh phí của Vườn.
- Thực hiện chế độ báo cáo tài chính và hướng dẫn các phòng thực
hiện đúng theo quy định của Nhà nước.
- Làm các thủ tục hợp đồng thiết kế các công trình xây dựng cơ bản
trình UBND tỉnh phê duyệt đối với các công trình lớn.
- Kiểm tra, giám sát các công trình xây dựng cơ bản của Vườn
- Theo dõi, cấp phát và thanh quyết toán các nguồn vốn của Vườn
đúng quy định.
- Tổng hợp hồ sơ thanh toán, lập các báo cáo tài chính để quyết toán
với cơ quan quản lý cấp trên theo qui định. Cung cấp thông tin và tài
liệu cần thiết phục vụ cho việc lập dự toán, xây dựng định mức chỉ
tiêu thanh tra, kiểm trá và đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn kinh
phí trong Vườn.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc phân công.
4) Phòng Khoa học và Hợp tác Quốc tế.
Phòng Khoa học và Hợp tác Quốc tế có chức năng tham mưu giúp Giám
đốc về lĩnh vực khoa học và hợp tác Quốc tế, thực hiện các nhiệm vụ
sau:
- Công tác khoa học:
+ Tham mưu giúp Giám đốc quản lý và tổ chức thực hiện các đề tài
nghiên cứu khoa học trong lịch vực được giao.
+ Lập chương trình, kế hoạch điều tra cơ bản, theo dõi tình hình diễn
biến tài nguyên rừng, động thực vật trong Vườn quốc gia, xây dựng
và quản lý dữ liệu khoa học của Vườn.
+ Thu thập thông tin khoa học, thu mẫu làm thành các tiêu bản (động
thực vật rừng, bò sát, ếch nhái, cá và côn trùng…) để phục vụ cho
công tác nghiên cứu khoa học, tham quan học tập.
+ Phối hợp với các phòng, đơn vị liên quan và các cơ quan tổ chức có
lien quan thức hiên chức năng chuyên môn về theo dõi diễn biến
rừng, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học.
+ Tổ chức hướng dẫn các đối tượng đến nghiên cứu và thực tập tại
Vườn quốc gia.
+ Tổ chức bồi dưỡng kiến thức liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh
học và phát triển tài nguyên rừng cho cán bộ nhận viên của Vườn
quốc gia. Phối hợp với Trung tâm Du lịch sinh thái và Giáo dục Môi
trường biên soạn tài liệu giáo dục môi trường.
+ Tổ chức quản lý vườn thực vật, vườn ươm, các điểm nghiên cứu,
phòng tiêu bản.
+ Theo dõi, giám sát quy trình điều tiết mực nước, dự báo quy cơ
cháy rừng; các chương trình bảo vệ môi trường.
+ Thiết kế các công trình trồng rừng, chăm sóc rừng trồng, khoanh
nuôi…
+ Lập kế hoạh xây dựng các công trình lâm sinh và tổ chức thực hiện
các công trình lâm sinh được phê duyệt hàng năm.
+ Tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án dân sinh kinh tế
vùng đệm.
- Công tác hợp tác quốc tế:
+ Xây dựng, trình Giám đốc phê duyệt các chương trình hợp tác quốc
tế về nghiên cứu khoa học; tổ chức tọa đàm, theo dõi việc triển khai
thực hiện chương trình hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học. Tổ
chức đánh giá kết quả theo định kỳ và tổng kết đánh giá kết thúc
chương trình hợp tác quốc tế.
+ Phối hợp, tổ chức thực hiện các chương trình, dự án có vốn đầu tư,
hỗ trợ quốc tế và bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển cộng đồng.
+ Phối hợp với Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã và phát triển sinh
vật hợp tác quốc tế về cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật.
5) Trung tâm Du lịch sinh thái và Giáo dục Môi trường.
Trung tâm Du lịch sinh thái và Giáo dục Môi trường có chức năng kết hợp
sử dụng môi trường đặc dụng để tổ chức các hoạt động dịch vụ du lịch
sinh thái và giáo dục môi trường trong Vườn quốc gia Xuân Sơn; tư vấn,
tham gia các hoạt động tuyên truyền, giáo dục môi trường và phát triển
dịch vụ du lịch thuộc Khu dự trữ sinh quyển Phú Thọ. Nhiệm vụ của
Trung tâm Du lịch sinh thái và Giáo dục Môi trường:
- Xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, dự án
phát triển dịch vụ môi trường, du lịch sinh thái của Vườn và tổ chức
thực hiện; tư vấn thiết kế, thi công các công trình liên quan dến du
lịch sinh thái; hợp tác du lịch sinh thái.
- Tuyên truyền, giáo dục môi trường nâng cao nhân thức về bảo tồn
thiên nhiên, môi trường cho khác du lịch và cộng đồng; thực hiện các
hoạt động quảng bá, tiếp thị để thu hút khách du lịch.
-
Tổ chức liên doanh, liên kết, cho thuê môi trường rừng để kinh
doanh du lịch sinh thái theo quy hoạch và quy định hiện hành; tư vấn,
kiểm trá, giám sát các hoạt động dịch vụ, du lịch sinh thái của tổ chức,
các nhân theo hợp đồng đã ký kết thực hiện theo đề án, quy hoạch
được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tạo nguồn thu từ du lịch để đầu
tư cho công tác quản lý, bảo vệ, bảo tồn và phát triển rừng.
- Quản lý tài chính, tài sản được giao và Vườn quốc gia thu nhỏ, bảo
tàng văn hóa, di thích lịch sử; thực hiện các quy chế về chế độ tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về tài chính; thực hành tiết kiệm, chốn lãng phí,
chống tham nhũng, cải cách hành chính theo quy định của Nhà nước.
- Quản lý tổ chức bộ máy, cán bộ, viên chức, người lao động; chế độ
tiền lương; khen thưởng, kỷ luật theo phân cấp của UBND tỉnh, Vườn
quốc gia và các quy định hiện hành của Nhà nước.
- Phối hợp với các đơn vị, phòng ban trong Vườn quốc gia thực hiện
quản lý, bảo tồn và khai thác hợp lý, hiệu quả các giá trị sẵn có của
nguồn tài nguyên Vườn quốc gia Xuân sơn; tham mưu cho Ban Giám
đốc và thực hiện công tác phối hợp với các tổ chức, cơ quan, cá nhân
bên ngoài theo thẩm quyền để hoàn thành nhiệm vụ.
- Thực hiên các nhiệm vụ khác do Giám đốc VQG Xuân Sơn giao.
6) Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật.
Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật có chức năng cứu hộ
các loài bản địa hoặc các loài phù hợp với sinh cảnh tự nhiên của Vườn
quốc gia để tái thả sinh vật về môi trường tự nhiên và phục vụ nghiên
cứu khoa học và giáo dục môi trường. Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát
triển sinh vật có nhiệm vụ sau:
- Tiếp nhận các cá thể sinh vật tịch thu từ các vụ vi phạm pháp luật; tự
nguyện giao nộp của các tổ chức, cá nhân để điều trị, nuôi phục hồi
chức năng của sinh vật điều trị.
- Tái thả sinh vật về môi trường sống tự nhiên của chúng sau cứu hộ.
- Lưu trữ, bảo tồn nguồn gen các loài nguy cấp, quý, hiêm, có nguy cơ
tuyệt chủng.
- Nghiên cứu, thu thập các số liệu, thông tin về sinh học và sinh lý của
các loài sinh vật được bảo tôdn
- Tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên,
đa dạng sinh học.
- Phát triển bền vững các loài sinh vật và cung ứng nguồn giống cho
phát triển cây nuôi bền vững.
- Thông tin, tuyên truyền, phát hành tài liệu hướng dẫn kỹ thuật cho
các tổ chức, cá nhân nuôi hợp pháp các loài động vật rừng.
- Cung ứng nguồn giống sinh vật, dịch vụ về thú y cho các tổ chức và cá
nhân để gây nuôi phát triển bền vững theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức thực hiện công tác nghiên cứu khoa học theo các đề tài, dự
án nghiên cứu, thực nghiệm khoa học về cứu hộ.
7) Hạt kiểm lâm.
a) Chức năng, nhiệm vụ:
Hạt kiểm lâm có chức năng tham mưu cho giám đốc và trực tiếp
thực hiện quản lý bảo vệ tài nguyên thiên thiên, bảo vệ các di sản,
lịch sử trong phạm vi ranh giới Vườn theo pháp luật hiện hành.
Giúp chính quyền địa phương thực hiện quản lý Nhà nước về bảo
vệ rừng, đảm bảo chấp hành pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng.
Hạt kiểm lâm có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng để thực hiên
công vụ theo quy định của pháp luật.
Hạt kiểm lâm có nhiệm vụ chính sau đây:
Hạt kiểm lâm chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc Vườn và
chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Cục Kiểm lâm và các
Chi cục kiểm lâm có liên quan theo phân cấp.
Lập chương trình, phương án, biện pháp về bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên, môi trường sinh thái của Vườn và tổ chức thực hiện
chương trình, phương án, biện pháp đã được phê duyệt.
Trực tiếp chỉ đạo các Trạm kiểm lâm, các Đội Kiểm lâm cơ động
thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng, các hoạt đông tuần tra,
điều tra.
Trực tiếp xử lý theo thẩm quyền các hành vi vi phạm Luật bảo vệ
và phát triển rừng, quy chế bảo vệ rừng đặc dụng trong phạm vi
Vườn.
Tổ chức công tác tuyên truyền giáo dục nhân dân trên địa bàn của
Vườn và những văn bản pháp lý về bảo vệ rừng đặc dụng. Đóng
bảng mốc ranh giới Vườn và niêm yết bảo vệ rừng.
Bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức pháp luật cho lực lượng kiểm lâm
của Vườn.
Phối hợp với cơ quan chức năng trên địa bàn xây dựng phương án,
kế hoạch bảo vệ rừng.
Tổng hợp tình hình quản lý bảo vệ rừng trong phạm vi Vườn để
báo cáo Giám đốc và các cơ quan trên theo quy định hiện hành.
Thực hiên các nhiệm vụ khác do Giám đốc Vườn giao.
b) Tổ chức bộ máy:
Hạt kiểm lâm có Hạt trưởng và từ một đến ba Phó Hạt trưởng; có
8 trạm Kiểm lâm và 02 Đội cơ động.
Mỗi trạm Kiểm lâm có 1 Trạm trưởng
Mỗi Đội cơ động có một đội trưởng
8) Mối quan hệ giữa VQG Xuân Sơn và Bộ Nông nghiệp và PTNT:
Bộ chi phối VQG Xuân Sơn trên các lĩnh vực:
- Quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Vườn.
- Phê chuẩn quy chế hoạt động, các nội dung sửa đổi, bổ sung quy chế
của Vườn.
- Quản lý cán bộ theo quy định hiện hành của Bộ với các đơn vị trực
thuộc.
- Đầu tư kinh phí cho các hoạt động xây dựng, quản lý bảo về rừng,
nghiên cứu khoa học, chi trả lương và các chế độ cho công nhân nhân
viên.
- Thực hiện các chương trình hợp tác quốc tế, tổ chức triển khai các dự
án trong và ngoài nước trên phạm vi Vườn.
- Phối hợp với UBND các tỉnh và các Bộ, Ngành liên quan trong triển
khai thực hiện các dự án di dời dân đang sống trong phạm vi Vườn
quốc gia Xuân Sơn, tổ chức lại sản xuất để đảm bảo đời sống cho số
dân cư này.
- Thanh tra, kiểm tra mọi hoạt động của VQG Xuân Sơn.
Các cục, Vụ thuộc cơ quan Bộ, theo chức năng, nhiệm vụ của mình
giúp Bộ quản lý và chỉ đạo VQG Xuân Sơn thực hiện các nhiệm vụ
được giao.
9) Mối quan hệ giữa VQG Xuân Sơn với chính quyền địa phương.
Đối với UBND tỉnh Phú Thọ: UBND các cấp với tư cách là cơ quan
quản lý Nhà nước trên địa bàn lãnh thổ, VQG Xuân Sơn phải chịu
sự kiểm tra, giám sát của UBND các cấp trên địa bàn theo quy định
của pháp luật. Vườn có trách nhiệm thực hiện các Nghị quyết của
Đảng bộ, các quyết định khác của địa phương có liên quan đến
Vườn.
Đối với UBND các huyện, xã:
- VQG Xuân Sơn có trách nhiêm phối hợp chặt chẽ trong việc xây dựng
hệ thống quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn của từng địa phương và tổ
chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục, vận động quần chúng
nhân dân cùng tham gia tích cực vào quản lý và bảo vệ Vườn.
- Phối hợp để thực hiện các chính sách, chế độ quản lý của Nhà nước
về quản lý bảo vệ rừng ở VQG Xuân Sơn và vùng đệm.
X.
Lãnh đạo
Giải pháp về cơ chế, chính sách:
- Chính sách về thuế: Thực hiện các chính sách miễn giảm thuế theo
quy định của các luật thuế hiện hành, đặc biệt đối với hoạt động kinh
doanh dịch vụ gắn với bảo tồn, phát triển cộng đồng, có ứng dụng các
công nghệ thân thiện với môi trường và công nghệ hiện đại mà Việt
Nam chưa có.
- Chính sách thu hút vốn đầu tư: Tạo điều kiện thuận lợi nhất về thủ
tục đầu tư, mặt bằng xây dựng, hạ tầng và đảm bảo hài hòa lợi ích.
- Chính sách thị trường khách: Tạo môi trường dịch vụ công tốt nhất
(bảo hiểm, y tế, ngân hàng, viễn thông…) và điều kiện đi lại thuận lợi
nhất để khách du lịch tiếp nhận VQG Xuân Sơn.
- Chính sách về phát triển cộng đồng: Hỗ trợ nâng cao năng lực tham
gia của cộng đồng vào các hoạt động du lịch, bảo tồn đa dạng sinh
học; khuyến khích sử dụng nhân lực từ địa phương.
- Chính sách về bảo vệ tài nguyên môi trường: Miễn giảm hoặc không
thu thuế trong thời gian nhất định với các hình thức đầu tư thuần túy
cho việc bảo vệ môi trường du lịch hoặc đầu tư kinh doanh du lịch với
các công nghệ đồng bộ về bảo vệ môi trường; khuyến khích sử dụng
các công nghệ tiết kiệm năng lượng, nước sạch và tái sử dụng chất
thải trong cơ sở dịch vụ du lịch, sử dụng phương tiện vận chuyển
khách du lịch thân thiện với môi trường.
Quý chế, chính sách này trợ giúp cho việc bảo tồn đa dạng sinh học,
bảo vệ và sử dụng hợp lý các hệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên, môi
trường, bảo tồn các giá trị văn hóa – lich sử, phục vụ phát triển bền
vững tại VQG Xuân Sơn.
Đối tượng áp dụng:
Quy chế, chính sách này áp dụng với các tổ chức, cá nhân có hoạt
động liên quan đến Vườn quốc gia Xuân Sơn, trừ trường hợp các
quy định pháp luật khác và Điều ước quóc tế mà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia có quy định.
Khen thưởng, xử lý vi phạm:
1. Các tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc giữ gìn, bảo vệ
Vườn quốc gia hoặc phát hiện, khắc phục sự cố môi trường,
bảo vệ đa dạng sinh học và tái táo nguồn lợi sinh vật trong khu
vực Vườn quốc gia thì được khen thưởng theo quy định của
pháp luật.
2. Tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định tại Quy chế thì tùy theo
tính chất, mức độ vi phạm mà xử lý, nếu gây thiệt hại vật chất
thì phải bồi thường theo quy đinh của pháp luật.