Tải bản đầy đủ (.pdf) (103 trang)

Xây dựng chiến lược thâm nhập cho tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam VNPT vào thị trường viễn thông quốc gia Lào.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (490.25 KB, 103 trang )

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Nền kinh tế Thế giới hiện nay có xu hướng vận động theo quá trình quốc
tế hoá diễn ra trên quy mô toàn cầu, với tốc độ ngày càng cao trên mọi lĩnh
vực đời sống kinh tế, xu hướng hội nhập Quốc tế và tự do hoá thương mại
toàn cầu đã đặt ra một vấn đề tất yếu: Mỗi Quốc gia phải mở cửa thị trường
thế giới và chủ động tham gia vào phân công lao động quốc tế, tham gia vào
các tổ chức Quốc tế và khu vực để phát triển nền kinh tế của mình. Đối với
một doanh nghiệp thì điều này cũng có nghĩa là phạm vi cạnh tranh của doanh
nghiệp không chỉ trong thị trường trong nước mà cả thị trường nước ngoài với
những luật lệ Quốc tế.
Trong thời gian qua, Việt nam đã từng bước hội nhập quốc tế một cách vững
chắc bằng việc gia nhập: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tham gia
khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), gia nhập diễn đàn kinh tế châu á thái
bình dương (APEC), đàm phán ra nhập tổ chức thương mại Quốc tế (WTO). Với
việc hội nhập Quốc tế, Việt nam có nhiều cơ hội để phát triển cần được khai thác
cũng như phải đối mặt với nhiều thách thức phải vượt qua trong quá trình phát
triển nền kinh tế của mình.
Hội nhập Quốc tế, Việt nam có điều kiện thâm nhập thị trường Quốc tế,
đồng thời có tiếng nói bình đẳng trong việc thảo luận về các chính sách
thương mại thế giới, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước tiếp cận
dần với các tiêu chuẩn Quốc tế, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nền
kinh tế. Theo đó, thị trường viễn thông Việt nam sẽ hoàn toàn mở cửa trong
một thời gian sắp tới.
Hiện nay, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông trong nước đang triển khai
mạnh mẽ mạng lưới để tranh thủ chiếm lĩnh thị trường và. Tuy nhiên ở một quốc
gia với mật độ dân số hơn 88 triệu dân như Việt Nam mà có đến 6 nhà cung cấp



2

dịch vụ viễn thông thì dường như thị trường đã bão hòa và đang có xu hướng
giảm dần. Đứng trước tình hình thực trạng đó, VNPT đã tính đến phương án để
tiếp tục tăng trưởng và mở rộng thị trường, tận dụng và khai thác tối đa hạ tầng
và tiềm năng sẵn có của mình, phương án tốt nhất lúc này là vươn ra thị trường
bên ngoài quốc gia mà Lào là đất nước có nhiều khả năng nhất để VNPT tiến
hành thâm nhập và đầu tư để khai thác trong thời gian đến, thông qua phương án
tiếp cận hợp tác liên doanh với các doanh nghiệp viễn thông khác trên thị trường
Lào và tiến đến là tiến hành đầu tư khai thác từ thị trường còn nhiều triển vọng này.
Cùng thời điểm này, Tổng công ty BCVT Việt Nam chuyển sang mô hình
Tập đoàn với định hướng kinh doanh đa ngành mà ở đó chức năng kinh doanh
càng được tách bạch chủ động và linh hoạt hơn. Trong thời gian tới Tập đoàn
BCVT phải làm rất nhiều việc để ổn định mô hình tổ chức nhưng việc tập trung
vào kinh doanh dịch vụ viễn thông vốn là lĩnh vực mũi nhọn của Tập đoàn luôn
là vấn đề then chốt đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Chiến lược định hướng kinh doanh hợp tác liên doanh để khai thác thị
trường mới bên ngoài lãnh thổ Việt Nam là một chiến lược bộ phận quan trọng
trong chiến lược kinh doanh chung của Tập đoàn.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn mang tính cấp thiết và ý nghĩa
quan trọng là cần phải nghiên cứu một cách khoa học và có hệ thống, từ đó
rút ra những giải pháp, phương án phát thâm nhập thị trường quốc gia Lào
của Tập đoàn BCVT Việt nam, nội dung: "Xây dựng chiến lược thâm nhập
cho Tập đoàn Bưu chính – viễn thông Việt Nam VNPT vào thị trường viễn
thông quốc gia Lào" đã được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ quản trị kinh doanh.
2. Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn
Với mục tiêu là thông qua việc phân tích môi trường xác định điểm
mạnh, điểm yếu, cơ hội, đe doạ đối với Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt



3

Nam và các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông tại Lào và đề xuất một số giải
pháp chiến lược để tiến hành xây dựng chiến lược thâm nhập cho Tập đoàn
Bưu chính Viễn thông Việt Nam.
3/. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Lĩnh vực dịch vụ viễn thông của
VNPT và thực trạng tình hình cung cấp dịch vụ viễn thông tại Lào.
4. Phương pháp nghiên cứu
-

Phương pháp tổng hợp

-

Phương pháp phân tích.

-

Phương pháp thống kê so sánh

5. Kết quả của đề tài
- Phân tích thực trạng của VNPT hiện nay và tình hình kinh tế xã
hội cũng như sự phát triển dịch vụ viễn thông tại Lào.
- Đề xuất một số giải pháp chiến lược để tiến hành thâm nhập thị
trường quốc gia Lào cho Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.
6. Kết cấu của đề tài:
Luận văn gồm 87 trang bao gồm phần mở đầu, kết luận, ngoài ra còn có
các bảng biểu, sơ đồ, biểu đồ, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

luận văn được chia làm 3 chương chính như sau:
Chương 1: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG MÔI TRƯỜNG
TOÀN CẦU.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC HIỆN NAY CỦA TẬP ĐOÀN
BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VNPT VÀ TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG TẠI QUỐC
GIA LÀO.
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA
TẬP ĐOÀN VNPT TẠI THỊ TRƯỜNG LÀO TRONG MÔI TRƯỜNG HỘI
NHẬP TOÀN CẦU.


4

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TRONG MÔI
TRƯỜNG TOÀN CẦU
1.1. Khái quát về hoạt động kinh doanh quốc tế
Kinh doanh quốc tế thể hiện các hoạt động giao dịch xảy ra giữa một
nước với phần còn lại của thế giới. Những giao dịch này bao gồm hoạt động
mậu dịch quốc tế và hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Hiện nay khoảng 500
công ty lớn hàng đầu trên thế giới chiếm khoảng 80% lượng đầu tư nước
ngoài và trên 50% tổng giá trị mậu dịch trên toàn thế giới. Do đó việc nghiên
cứu hoạt động kinh doanh quốc tế chủ yếu đặt nặng vào các hoạt động của các
công ty kinh doanh quốc tế lớn nêu trên, những công ty này hiện nay thường
được gọi là các công ty đa quốc gia (MNCs), những công ty này ra đời và đặt
văn phòng chính tại một nơi nhưng tiến hành các hoạt động kinh doanh tại
nhiều nơi trên thế giới.
Trong những thập kỷ vừa qua các công ty đa quốc gia đã đầu tư hàng tỷ
USD ra nước ngoài theo hình thức đầu tư song phương: Hoa Kỳ đầu tư vào
Cộng đồng kinh tế Châu Au và ngược lại; Nhật bản đầu tư vào Hoa Kỳ và

ngược lại; Canada đầu tư trực tiếp vào Hoa Kỳ và ngược lại, ….Tuy trong
thời gian gần đây, các công ty đa quốc gia đã chuyển hướng đầu tư vào các
nước đang phát triển và những nước đang chuyển từ nền kinh tế tập trung
sang nền kinh té thị trường. Ví dụ từ năm 1991-1995, Công ty Volkswagen đã
đầu tư 6 tỷ USD vào nhà sản xuất ô tô Skoda của Cộng Hoà Czech; hoặc Opel
(Đức) đã đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất ô tô trị giá 680 triệu USD tại
Đông Đức. Sự chuyển hướng đầu tư này bắt nguồn từ một số lý do như sau:
triển vọng sinh lợi tại những thị trường này cao dù rằng những rủi ro về kinh


5

tế và chính trị còn lớn; các chương trình tư nhân hóa được tiến hành rông
khắp tại các nước Nam Mỹ và đây là một cơ hội cho các công ty đa quốc gia
thâm nhập vào khu vực này; mặt khác sự tăng trưởng mạnh mẽ và đầy triển
vọng của Nhật bản trong thập niên 80 của thế kỷ 20 đã dẩn đến việc đầu tư
vốn ra thị trường nước ngoài
Ngoài hiện tượng nêu trên, một hoạt động phổ biên của kỷ nguyên kinh
doanh quốc tế ngày nay chính là việc tiến hành các liên doanh quốc tế giữa
các MNC với nhau hoặc giữa một MNC với một công ty nội địa. Ví dụ như
công ty GMC đã liên doanh với Toyota để sản xuất xe hơi tại Hoa Kỳ; Ford
đã liên doanh Volkswagen để sản xuất xe hơi tại Nam Mỹ; Motorola cùng
phối hợp với Toshiba để phát triển và sản xuất một thế hệ chíp điện tử có độ
phân giải cao; Nissan và Hitachi đã phối hợp với nhau nhằm tạo ra một “văn
phòng di động” qua việc phát triển, sản xuất các loại diện thoại di động, máy
fax, tivi, videocassette..
1.2.Tổng quan về hoạt động kinh doanh quốc tế
1.2.1. Hoạt động xuất nhập khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu ở đây được hiểu theo một nghĩa rộng không
chỉ bao gồm các loại hàng hóa mà còn là các loại dịch vụ trong lĩnh vực hàng

không, vận tải, khách sạn… và khuynh hướng ngày nay là khối lượng dịch vụ
xuất khẩu này càng gia tăng (một trong những lĩnh vực xuất khẩu chủ yếu của
Hoa Kỳ chính là các dịch vụ về giải trí như phim, các chương trình tivi…
Xét về phương diện xuất và nhập khẩu, bằng các số liệu của các tổ chức
quốc tế trong thập niên 90 (thế kỷ 20), chúng ta nhận thấy rằng có ba cường
quốc thương mại quốc tế lớn trên thế giới: Hoa Kỳ, Nhật bản, và Cộng đồng
kinh tế Châu Au. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của ba cường quốc này
chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của toàn thế giới. Nếu xét về
chiều hướng mậu dịch thì các quốc gia này chủ yếu xuất nhập khẩu các loại


6

hàng công nghiệp như máy móc, computer, xe hơi, tivi, và các loại hàng điện
tử khác, bên cạnh đó tỷ trọng mậu dịch quốc tế về lĩnh vực mậu dịch ngày càng
gia tăng đáng kể.
Việc nghiên cứu các số liệu về xuất nhập khẩu thì rất quan trọng trong
lĩnh vực kinh doanh quốc tế vì các lý do. Thứ nhất, mậu dịch quốc tế là một
lĩnh vực cơ bản và truyền thống của kinh doanh quốc tế và việc nghiên cứu
nó sẽ cho phép chúng ta thấu hiểu được thực tiễn hoạt động và chiến lược của
các công ty đa quốc gia. Ví dụ, các số liệu về mậu dịch quốc tế trong vòng 10
năm trước đây đã cho chúng ta thấy những đối tác nhập khẩu hàng hóa của
Hoa Kỳ chính là canada, Nhật bản, Mehico, vương quốc Anh, và Đức. Các
nước này thường nhập computer, máy móc dùng trong nông trại, máy móc
thiết bị sử dụng trong các ngành nghề khác, và hàng điện tử. Ngược lại Hoa
Kỳ nhập khẩu chủ yếu từ các đối tác như Canada, Nhật bản, Mehico, Đức, và
Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa các mặt hàng như xe hơi, giầy dép, hàng
điện tử tiêu dùng, phụ tùng thay thế, và đồ trang sức. Các số liệu này cũng
cho chúng ta biết rằng 10 đối tác nhập khẩu lớn nhất của Hoa Kỳ cũng chính
là 10 đối tác xuất khẩu lớn nhất, nói cách khác Hoa Kỳ đã mua và bán với

một tỷ trọng lớn nhất trong một phạm vi một số ít các quốc gia. Thứ hai, các
số liệu về mậu dịch quốc tế cũng giúp cho chúng ta thông hiểu đuợc tác động
của hoạt động kinh doanh quốc tế đối với nền kinh tế của một quốc gia. Thật
vậy bằng những số liệu này, chúng ta có thể giải thích được các câu hỏi đặt ra
như : việc trở thành một nhà xuất khẩu lớn sẽ tác động đến nền kinh tế của
một quốc gia như thế nào? Việc lệ thuộc vào nguồn hàng nhập khẩu sẽ tác
động như thế nào đến nền kinh tế.
1.2.2. Hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài
Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thể hiện sự dịch chuyển vốn ra
hải ngoại để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Các quốc gia đã


7

công nghiệp hóa đã đầu tư với một tỷ trọng rất lớn vào các quốc gia đã công
nghiệp hóa khác và với một tỷ trọng nhỏ vào các nước kém phát triển, hoặc
các nước mới công nghiệp hóa. Các số liệu trong thời gian qua cho thấy phần
lớn vốn đầu tư trực tiếp tập trung vào Hoa Kỳ, Cộng đồng Châu Au, và Nhật
bản. Ví dụ: vào năm 1990, Hoa kỳ đã tiếp nhận một lượng vốn đầu tư xấp xỉ
1.500 tỷ USD và nó đã đầu tư ra nước ngoài khoảng 1.200 tỷ USD. Các nhà
đầu tư lớn nhất tại Hoa Kỳ vào năm 1992 bao gồm Nhật bản, Anh, Hà Lan,
Canada, và Đức; vốn đầu tư của 5 nước này chiếm trên 70% tổng lượng vốn
đầu tư mà Hoa Kỳ tiếp nhận. Trong số những nhà đầu tư này, tốc độ đầu tư
của Nhật bản là nhanh nhất, tuy nhiên tổng vốn đầu tư của Cộng đồng kinh tế
Châu Au (EC) thì lớn gấp 3 lần so với Nhật Bản. Đồng thời Hoa Kỳ cũng là
một nhà đầu tư lớn trên thế giới nhưng nó chỉ đầu tư tập trung vào EC,
Canada, và Nhật Bản.
Khi các quốc gia đã phát triển ngày càng trở nên giàu có hơn, họ
thường tiến hành đầu tư tại những khu vực có tiềm năng tăng trưởng. Chẳng
hạn Nhật Bản trong những năm gần đây đã đầu tư rất nhiều vào thị trường của

EC, cụ thể trong thập niên 1980 họ đã gia tăng tỷ trọng đầu tư lên gấp 3 lần so
với những năm đầu. Trong cơ cấu đầu tư theo ngành thì tỷ trọng đầu tư hàng
và bảo hiểm. Một trong những lý do khiến Nhật Bản gia tăng đầu tư tại đây là
do họ dự báo rằng sẽ có một sự tăng trưởng lớn của nề kinh tế EC trong thập
niên 1990, một lý do khác đó chính là rào cản thuế quan và phi thuế qua tại
EC rất chặt chẻ và điều này sẽ đảm bảo một lợi nhuận đáng kể cho các công
ty khi đầu tư trực tiếp vào đây.
1.3. Lý do tiến hành các hoạt động kinh doanh tồn cầu.
Thông thường nhiều người cho rằng các công ty tiến hành quốc tế hóa
hoạt động kinh doanh của nó đều dựa trên một lý do duy nhất đó là việc tìm
kiếm và khai thác lợi nhuận từ các cơ hội kinh doanh trên thị trường hải


8

ngoại. Tuy nhiên trong thực tế có rất nhiều động lực dẩn đến hoạt động quốc
tế hoá hoạt động kinh doanh của các công ty. Các động lực này có thể được
phân chia thành hai dạng: chủ động và thụ động. Trong từng dạng như vậy
người ta còn phân ra thành các nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài.
1.3.1.Phản ứng chủ động
A. Nhân tố bên trong


Vấn đề quản trị: Có lẽ một trong những nguyên nhân quan trọng

khiến cho một công ty đi vào hoạt động kinh doanh quốc tế đó chính là sự tìm
kiếm những thị trường mới để kinh doanh nhằm thỏa mãn những động cơ về
quản trị; điều này không chỉ diễn ra đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn
mà còn là một động lực quan trọng đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ
nơi những người quản lý, đồng thời cũng là người chủ luôn có một tinh thần

mạo hiểm, chấp nhận rủi ro của một nhà doanh nghiệp.


Hiệu quả kinh tế theo quy mô: Quá trình mở rộng các hoạt đông kinh

doanh quốc tế có lẽ là một con đường nhanh nhất để gia tăng doanh số, và
như vậy nó sẽ tác đông đến quy mô sản xuất của đơn vị. Trong một số ngành
công nghiệp có tầm quan trọng của hiệu quả kinh tế theo quy mô rất lớn thì
việc đạt được điều này sẽ giúp cho công ty hạ thấp phí tổn cho một đơn vị sản
phẩm, làm gia tăng khả năng cạnh tranh của công ty không những tại thì
trường nội địa mà còn cả ở thị trường hải ngoại. Hiệu quả kinh tế theo quy mô
không chỉ diễn ra trong lĩnh vực sản xuất mà còn bao trùm sang những chức
năng khác của công ty. Ví dụ: chi phí nghiên cứu và phát triển phân bổ cho
một đơn vị sản phẩm sẽ nhỏ đi, các hoạt động quảng cáo trên tivi có thể sử
dụng không chỉ cho một thị trường.


Hiệu quả kinh tế theo phạm vi (economies of scope): Thậm chí trong

trường hợp hiệu quả kinh tề theo quy mô không thể đạt được do công ty tiến
hành hoạt động kinh doanh quốc tế phải điều chỉnh sản phẩm nhằm thích nghi


9

với yêu cầu riêng của từng quốc gia thì họ vẫn có thể đạt hiệu quả kinh tế theo
phạm vi bởi vì họ có thể sử dụng các nguồn lực, kỹ năng của nhân công và kỹ
thuật hiện có để tạo ra sản phẩm mới cho thị trường nước ngoài. Tuy nhiên
hiệu quả kinh tế theo phạm vi đôi lúc không xác thực một khi công ty mở
rộng hoạt động kinh doanh ra thị trường nước ngoài nó phải đầu tư mới hoàn

toàn vào các nguồn lực và kỹ năng.


Hiệu ứng kinh nghiệm: Sự cần thiết để phát triển kỹ năng mới để có thể

thành công trên thị trường nước ngoài cũng có thể là một lợi thế của quá trình
quốc tế hoá hoạt động kinh doanh quốc tế nếu như những kỹ năng mới này có
thể chuyển giao cho các đơn vị hoạt động tại thị trường trong nước. Đối với một
số công ty việc học tập kinh nghiệm từ thị trường hải ngoại đôi khi lại là một
nhân tố chủ yếu quyết định hành vi quốc tế hoá hoạt động kinh doanh.
B. Nhân tố bên ngoài


Cơ hội sinh lợi: Một lý do cổ điển khiến các công ty đi vào hoạt động

kinh doanh quốc tế đó là việc có thể bán thêm nhiều hàng hoá ở thị trường
nước ngoài với một mức sinh lợi cao. Vì thế nếu công ty nhận định rằng thị
trường hải ngoại có rất nhiều thuận lợi cho phép công ty gia tăng thêm lợi
nhuận từ việc bán hàng (khách hàng triển vọng, mức độ cạnh tranh không gay
gắt, rào cả khi gia nhập dể dàng vượt qua) thì động lực này sẽ tác động mạnh
mẽ đến quá trình quốc tế hoá hoạt động kinh doanh quốc tế.


Cơ hội gia tăng sản lượng: Bên cạnh cơ hội sinh lợi cao của thị

trường nước ngoài việc có cơ hội gia tăng sản lượng cũng là một nhân tố
quyết định hành vi mở rộng thị trường hải ngoại của công ty đa quốc gia. Nếu
hiệu quả kinh tế theo quy mô và phạm vi rất lớn thì công ty đa quốc gia sẵn
lòng mở rộng thị trường ở hải ngoại thậm chí trong trường hợp tỷ suất lợi
nhuận cho đơn vị ở mức thấp.



10



Phục vụ các khách hàng đã quốc tế hoá: Với tư cách là những khách

hàng quốc tế, các khách hàng này thường mua cùng loại sản phẩm hay dịch
vụ một cách độc lập với các quốc gia mà họ đang hoạt động. Ví dụ các nhà
sản xuất xe hơi khi thiết lập chi nhánh tại nước ngoài họ thường yêu cầu các
nhà cung cấp các bộ phận, chi tiết cung cấp nguồn lực đầu vào cho các nhà
máy ở hải ngoại của họ. Tương tự như vậy, các công ty quốc tế thường thích
làm việc với cùng một cơ quan quảng cáo tại mọi quốc gia mà nó hoạt động.
Các công ty không sẵn làng quốc tế hoá với các khách hàng của mình thì họ
có thể mất những khách hàng trung thành của mình vào những đối thủ cạnh
tranh chào mời những dịch vụ đa quốc gia.


Lợi thế của việc phân bố địa lý: Sự hấp dẩn của thị trường hải ngoại

không chỉ ở chỗ nó cho phép các công ty kinh doanh quốc tế một cơ hội gia
tăng doanh số, bên cạnh đó nó còn cho phép các công ty này một lợi thế trong
việc sử dụng các nguồn lực đặc biệt rẽ tiền (con người, cơ sở vật chất, cơ sở
vật chất cho hoạt động nghiên cứu, sự hổ trợ của nhà nước, các nguồn lực tự
nhiên khác..). Nếu những nguồn lực ở hải ngoại này tương đối không dịch
chuyển trong khi việc sử dụng nó có thể dẩn đến một sự cải thiện đáng kể về
phương diện chi phí hoặc chất lượng sản phẩm của công ty thì việc quốc tế
hoá một số chức năng của công ty (thường là chức năng sản xuất và đôi khi là
chức năng nghiên cứu và phát triển) cần phải được xem xét.



Kiểm soát đối thủ cạnh tranh: Thị trường hải ngoại bên cạnh việc

chào mời những cơ hội kinh doanh mới còn đặt ra những mối đe dọa đối với
các đơn vị kinh doanh hải ngoại. Hơn thế nửa thị trường hải ngoại còn là quê
nhà của những đối thủ cạnh tranh rất mạnh của công ty đa quốc gia tại thị
trường quốc tế. Do đó việc tiến hành thiết lập những chi nhánh kinh doanh tại
quê nhà của đối thủ cạnh tranh còn là một hành vi nhằm kiểm soát đối thủ
cạnh tranh ngay chính thị trường của họ. Bằng cách này họ có thể nhận định


11

những phương thức cạnh tranh mà đối thủ sẽ thực hiện để có thể đưa ra các
đối sách phù hợp trong hoạt động cạnh tranh không những tại thị trường quốc
tế mà ngay chính tại thị trường quê nhà của đối thủ cạnh tranh.
1.3.2. Phản ứng thụ động
A. Nhân tố bên trong


Tác động kéo: Nếu như sự thúc đẩy của những động cơ về quản trị ở

phần nêu trên thể hiện một hành vi chủ động khi tham gia vào thị trường quốc
tế của các công ty đa quốc gia thì tác động kéo thể hiện một hành vi thụ động
của nhà quản trị. Một khi họ nhận thấy có rất nhiều công ty trong ngành đi
vào thị trường quốc tế thì nhiều nhà quản trị cũng cố gắng làm theo để không
phải mang tiếng là người lỗi thời hay là người đi sau các đơn vị khác



Tồn kho quá mức : Là một lý do khá phổ biến ở nhiều công ty. Thật

vậy, chỉ có một số ít công ty thì hiếm khi đối đầu với việc thặng dư tồn kho,
nhưng trong một số ngành, tình trạng này luôn luôn phổ biến ở nhiều công ty.
Thật vậy, những công ty với chu kỳ sản xuất ngắn, ví dụ như ngành sản xuất
quần áo thời trang hay sản phẩm điện tử gia dụng, thường cố gắng tránh tình
trạng sản phẩm của mình trở nên lỗi thời (bởi vì điều này có thể huỷ hoại thị
phần và danh tiếng của nó) do đó các nhà sản xuất cố gắng xuất khẩu các
hàng hóa trở nên lỗi thời sang thị trường nước khác. Mặt khác, trong một số
ngành mà chất lượng sản phẩm khó lòng đạt được sự ổn định trong quá trình
sản xuất thì họ sẽ cố gắng bán số sản phẩm không đạt chất lượng cao vào các
thị trường các nước không có yêu cầu cao về phương diện chất lượng. Điều
này cũng nhằm bảo vệ tiếng tăm và mức giá ở các thị trường chủ yếu hay thị
trường mục tiêu của họ.


Dư thừa công suất : Để đối phó với vần đề tồn kho quá mức, nhiều

công ty đã chọn giải pháp hoạt động dưới mức công suất thiết kế; tuy nhiên
giải pháp này là một giải pháp kém hiệu quả bởi vì chi phí cố định tính cho


12

một đơn vị sản phẩm sẽ cao. Ngoài giải pháp này, công ty đa quốc gia có thể
chọn lựa cách giảm quy mô, sa thải công nhân. Tuy nhiên, có lẽ giải pháp có
lợi nhất chính là việc sử dụng phần công suất dư thừa cho thị trường hải ngoại.
Giải pháp này thường được ưa thích bởi các công ty mà việc giảm quy mô sản
xuất dẩn đến việc gia tăng chi phí kinh tế và xã hội. Đây cũng là một cách mà
các công ty có tình trạng dư thừa công suất theo mùa vụ thường sử dụng



Phân tán rủi ro: Một số công ty thường quan niệm trong kinh doanh

rằng không nên đặt tất cả trứng vào một rổ vì như vậy sẽ gặp rất nhiều rủi ro.
Để né tránh rủi ro, các công ty có thể đa dạng hoá hoạt động kinh doanh bằng
cách đa dạng hóa chủng loại sản phẩm hay đa dạng hóa thị trường theo khu
vực hay quốc gia. Những công ty nào muốn tập trung duy nhất vào một lĩnh
vực kinh doanh thì họ thường chọn giải pháp né tránh rủi ro bằng cách quốc
tế hóa hoạt động kinh doanh của mình.
B. Nhân tố bên ngoài


Đơn hàng gia công đột xuất: Trong nhiều tình huống, ban đầu một

công ty nào đó không có ý định đi vào thị trường quốc tế nhưng vì một dịp
tình cờ nào đó, họ nhận được đơn hàng từ khách hàng nước ngoài và sản
phẩm của họ được thị trường chấp nhận. Từ đó họ bắt đầu xem thị trường
nước ngoài như là một bộ phận chiến lược của nó.


Sự không hấp dẫn của thị trường trong nước: Nhiều nhà kinh doanh

quốc tế cho rằng nếu như cơ hội kinh doanh có hiệu quả ở thị trường nước
ngoài gây nên tác động “kéo” một công ty đi vào thị trường quốc tế thì việc
thiếu những cơ hội gia tăng doanh số tại thị trường nội địa là một nhân tố gây
tác động “đẩy” công ty đi vào thị trường nước ngoài. Sự không hấp dẩn của
thị trường trong nước có thể do n



Hiểu nguyên nhân thuộc về cấu trúc của thị trường ví dụ như: thị

trường quá nhỏ, có rất ít cơ hội tăng trưởng; hoặc nhu cầu tại thị trường nội


13

địa bị giảm sút; hoạt động cạnh tranh rất gay gắt; rào cản vào ngành rất thấp;
đối thủ cạnh tranh rất nhiều; áp lực rất mạnh của tổ chức công đoàn…..Sự
không hấp dẩn của thị trường bị gây ra bởi những nhân tố này đã làm tăng
động cơ đi vào thị trường quốc tế của công ty đa quốc gia.


Phản công trước đối thủ cạnh tranh: Thông thường khi một công ty

bị tấn công bởi công ty cạnh tranh nước ngoài họ sẽ hành động theo hai cách:
phòng thủ hoặc phản công. Chiến lược phòng thủ bao hàm việc tìm cách bảo
vệ thị phần, né tránh cạnh tranh trực diện…Tuy nhiên cách phòng thủ tốt nhất
chính là việc tấn công đối thủ ngay trên quê hương của đối thủ. Theo cách này
công ty nội địa sẽ tiến hành quốc tế hóa hoạt động kinh doanh và cạnh tranh,
sẽ tiến hành trận chiến ngay trên quê hương của đối thủ.


Áp lực chính trị: Trong một số quốc gia, công ty còn bị áp lực của

chính phủ trong quá trình quốc tế hóa hoạt động kinh doanh quốc tế. Sự can
thiệp này có thể xuất phát từ những mục tiêu kinh tế ví dụ như chính phủ này
mong muốn có nhiều ngoại tệ để thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế thông
qua xuất khẩu. Tuy nhiên nhiều công ty bị áp lực quốc tế hóa hoạt động kinh
doanh vì những lý do như tạo công ăn việc làm, hoặc mục tiêu chính trị (địa

vị và quyền lực quốc gia trên bình diện quốc tế).
1.4

. Chiến lược toàn cầu của các công ty

1.4.1. Chiến lược quốc tế.
Các công ty theo đuổi chiến lược quốc tế nghĩa là nó cố gắng tạo giá trị
bằng việc chuyển giao các kỹ năng và sản phẩm có giá trị cho thị trường nước
ngoài, nơi mà tất cả các đối thủ cạnh tranh bản xứ thiếu các kỹ năng và sản
phẩm này.
1.4.2. Chiến lược đa nội địa.
Các công ty theo đuổi chiến lược đa nội địa định hướng để đạt được tối
đa hóa việc đáp ứng địa phương. Đặc tính cơ bản để phân biệt các công ty đa
nội địa là họ cá biệt hóa một cách rộng rãi cả việc cung cấp sản phẩm và


14

chiến lược marketing của họ để đáp ứng với các điều kiện quốc gia khác
nhau.
1.4.3. Chiến lược xuyên quốc gia.
- Chiến lược đa quốc gia tập trung các nỗ lực chuyển giao các kỹ năng
và cung cấp theo nhiều chiều giữa các công ty con trên toàn cầu
- Chiến lược đa quốc gia có ý nghĩa khi các công ty phải đối mặt với
sức ép giảm thấp chi phí cao và sức ép đáp ứng địa phương cao.
1.4.4. Chiến lược toàn cầu.
- Công ty theo đuổi chiến lược toàn cầu tập trung khả năng sinh lợi
bằng cách thu hoạch lợi ích của sự giảm chi phí do hiệu ứng đường cong kinh
nghiệm và tính kinh tế của vị trí. Thực chất, họ đang ráo riết theo đuổi chiến
lược chi phí thấp.

1.5. Những thách thức khi các công ty tiến hành thâm nhập thị trường
toàn cầu.
1.5.1. Sức ép giảm chi phí
Các công ty quốc tế càng ngày càng nhận rõ và phải đương đầu với sức
ép giảm chi phí. Sức ép giảm chi phí đặc biệt gay gắt trong các ngành sản
xuất các sản phẩm bình thường, những thứ mà rất khó có thể tạo ra khác biệt
nào khác ngoài giá. Nói khác đi, sức ép giảm chi phí đang đè nặng lên các
ngành sử dụng giá là vũ khí cạnh tranh chủ yếu. Sản phẩm phục vụ cho nhu
cầu phổ biến thường ở trong loại này. Các nhu cầu phổ biến tồn tại, khi thị
hiếu và sở thích khách hàng ở các quốc gia tương tự nhau, nếu không muốn
nói là giống hệt nhau. Điều này hiển nhiên với các sản phẩm hàng hóa thông
thường như hóa chất, dầu lửa, sắt thép, đường khối lượng lớn…Nó cũng có
thể đúng với nhiều sản phẩm tiêu dùng hay công nghiệp, ví dụ máy tính cầm
tay, chíp bán dẫn, máy tính cá nhân…
Sức ép giảm thấp chi phí cũng gay gắt trong các ngành mà các đối thủ
cạnh tranh chính đặt ở các vị trí có chi phí thấp, những nơi mà liên tục có


15

năng lực sản xuất thừa, những nơi mà khách hàng có năng lực thương lượng
cao và có chi phí chuyển đổi thấp.
Để đáp ứng với sức ép chi phí, hiện nay hầu hết các công ty đang cố gắng
hợp lý hóa các hoạt động của họ theo cách thức đẩy hạ thấp chi phí và cung cấp
các sản phẩm tiêu chuẩn hóa toàn cầu để thực hiện kinh tế và đường cong kinh
nghiệm.
1.5.2. Các sức ép địa phương.
1.5.2.1. Những khác biệt về thị hiếu và sở thích khách hàng.
Đây là sức sức ép mạnh mẽ về đáp ứng địa phương. Sự khác biệt về thị
hiếu và sở thích giữa các nước có thể là do các nguyên nhân về văn hóa và

lịch sử. Trong những trường hợp như vậy, sản phẩm cũng như các thông điệp
marketing phải được khác biệt hóa để hấp dẫn sở thích và thị hiếu của khách
hàng địa phương. Nói chung điều này tạo ra sức ép giao phó các chức năng
sản xuất và marketing cho các công ty con theo quốc gia.
1.5.2.2. Những sự khác biệt về cấu trúc hạ tầng và thói quen truyền thống.
Sức ép của đáp ứng địa phương phát sinh từ cấu trúc hạ tầng và hoặc
các thói quen truyền thống giữa các nước tạo ra nhu cầu về các sản phẩm cá
biệt hóa tương ứng. Việc thỏa mãn các nhu cầu này có thể đòi hỏi phải giao
phó các chức năng chế tạo và sản xuất cho các công ty con nước ngoài.
1.5.2.3. Những khác biệt về kênh phân phối.
Các chiến lược marketing của một công ty có thể phải đáp ứng các khác
biệt về kênh phân phối giữa các quốc gia. Điều này có thể đòi hỏi phải ủy thác
các chức năng marketing cho các công ty con theo quốc gia.
1.5.2.4. Nhu cầu của các chính phủ sở tại
Các nhu cầu kinh tế chính trị của chính phủ sở tại có thể đòi hỏi một
mức độ đáp ứng địa phương. Ví dụ các chính sách về chăm sóc sức khỏe trên
thế giới yêu cầu các công ty được chế tạo ở nhiều vị trí.


16

Khái quát hơn nữa, đe dọa của chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa dân tộc và
các quy tắc cấu tạo địa phương (yêu cầu một tỷ lệ nội địa hóa) đã ra mệnh
lệnh cho các hoạt động kinh doanh quốc tế chế tạo theo địa phương.
1.6. Chọn lựa cách thức thâm nhập
Quá trình quốc tế hóa hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty
không những khác biệt với nhau về phương diện lý do mà còn ở hình thức mà
các công ty đó tiến hành các hoạt động kinh doanh quốc tế. Một số công ty
chỉ quốc tế hóa một số hoạt động tạo giá trị gia tăng, trong khi đó một số khác
thì quốc tế hóa toàn bộ các hoạt động của mình. Điều này có thể được hình

dung qua việc khảo sát các nội dung của các hình thức quốc tế hóa hoạt động
kinh doanh quốc tế như: Cho thuê bản quyền, xuất khẩu gián tiếp, trực tiếp,
và sản xuất tại chỗ.
1.6.1. Cho thuê bản quyền
Theo hình thức này công ty cho thuê bản quyền sẽ cho phép một công
ty ở nước ngoài sử dụng tên tuổi, nhản hiệu sản phẩm để sản xuất và kinh
doanh tại một khu vực địa lý, hay quốc gia trong một thời gian nhất định.
Những công ty tiến hành quốc tế hóa hoạt động kinh doanh theo hình thức
cho thuê bản quyền thì hiếm khi trở thành một đơn vị kinh doanh quốc tế trọn
vẹn theo ý nghĩa thực của nó, bởi vì hầu như không có hoạt động chủ yếu nào
của nó cần phải điều chỉnh cho thích hợp với điều kiện ở thị trường nước
ngoài. Nhìn chung lợi thế của hình thức cho thuê đó là nhu cầu thay đổi của tổ
chức thì tốt hơn, rủi ro thấp vì không cần phải tiến hành hoạt động đầu tư
mới, tốc độ sản sinh lợi nhuận cũng có thể nhanh hơn. Hình thức này được sử
dụng khi chính phủ ở nước ngoài áp đặt những giới hạn về nhập khẩu, hoặc
chi phí vận chuyển làm cho hoạt động xuất khẩu của công ty đa quốc gia trở
nên khó khăn hơn.


17

Hạn chế của hình thức này đó là việc thương lượng cho thuê bản quyền
có thể kéo dài trong khi đó những thỏa thuận về việc cho thuê bản quyền thì
rất khó khăn để quản lý. Hơn thế nửa, người thuê bản quyền có thể làm tổn
hại đến người cho thuê ở một số khía cạnh như: làm rò rĩ bí quyết công nghệ
hay làm tổn hại đến uy tín của người cho thuê khi họ sử dụng tên tuổi nhản
hiệu sản phẩm một cách không khôn ngoan; người thuê nhản hiệu sản phẩm
có thể trở thành một đối thủ cạnh tranh tiềm năng với người cho thuê.
1.6.2. Xuất khẩu
Đặc trưng của hình thức xuất khẩu đó là sản phẩm vật chất sẽ vượt ra

khỏi biên giới quốc gia trong quá trình kinh doanh quốc tế. Phạm vi, mức độ
xâm nhập vào thị trường nước ngoài cũng như việc những hoạt động chủ yếu
của công ty cần phải điều chỉnh cho phù hợp với thị trường nước ngoài lệ
thuộc vào hình thức xuất khẩu mà công ty lựa chọn. Trong trường hợp xuất
khẩu gián tiếp , phần lớn các nhiệm vụ hoạt động quốc tế được thực hiện bởi
đối tượng thứ ba (các đơn vị trung gian xuất khẩu) và công ty kinh doanh này
không thể nào biết được sản phẩm của mình được tiêu thụ như thế nào tại thị
trường hải ngoại. Trong trường hợp xuất khẩu trực tiếp, công ty sẽ tiến hành
các chức năng marketing và bán hàng sẽ được thực hiện trực tiếp với đối tác
nước ngoài. Điều này đòi hỏi cơ cấu tổ chức và chiến lược của công ty phải
thay đổi cho phù hợp, và đáp ứng với nhu cầu riêng biệt của thị trường hải
ngoại. Đối với công ty nhỏ, sự hấp dẩn của hình thức này xuất phát từ chỗ đây
là một hình thức quốc tế hóa hoạt động kinh doanh đơn giản, ít tốn kém, và
mang tính chất tuần tự trong phát triển. Đối với những công ty lớn, với kinh
nghiệm quốc tế rộng khắp, nó có thể thực hiện việc tập trung hóa sản xuất tại
quốc gia phù hợp nhất. Tuy nhiên bản thân hình thức này có những nhược
điểm của riêng nó : nó rất nhạy cảm đối với chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch và
những rào cản mậu dịch khác; mặt khác sự thay đổi của tỷ giá hối đoái cũng
gây ra những tác động bất lợi cho hoạt động xuất khẩu. Hơn thế nửa, sự cách


18

biệt về khoảng cách địa lý giũa hai địa điểm sản xuất sẽ gia tăng chi phí vận
chuyển, gây khó khăn cho việc phân phối hàng hóa; việc khác biệt về triết lý,
văn hóa sẽ dẩn đến việc khó khăn trong việc đáp ứng những nhu cầu của thị
trường địa phương.
1.6.3 Sản xuất tại chỗ
Đặc trưng cơ bản của hình thức này đó là cơ sở sản xuất được dịch
chuyển ra nước ngoài chứ không chỉ là sản phẩm. Có rất nhiều hình thức để

tiến hành hoạt động sản xuất tại chỗ, chúng bao gồm:
• Sản xuất theo dự án (Projects): Trong trường hợp này công ty kinh

doanh quốc tế sẽ phái những đơn vị di động đến nước ngoài để thực hiện
những hợp đồng ngắn hạn
• Hợp đồng sản xuất tại chỗ (Contract product) : Đối với dạng này,

công ty kinh doanh quốc tế sẽ tiến hành hợp đồng với một công ty nội địa để
sản xuất các mặt hàng mang nhản hiệu và tên tuổi của mình.
• Thiết lập cơ sở sản xuất mới tại nước ngoài: Đơn vị mới này có thể

thuộc sở hữu 100% vốn của công ty kinh doanh quốc tế hoặc ở dạng liên doanh.
• Mua cổ phần: Theo hình thức này, công ty kinh doanh quốc tế sẽ tiến

hành việc mua cổ phần của một công ty nội địa hiện đang có sẵn. Thông qua
việc nắm cổ phần chi phối, công ty kinh doanh quốc tế có thể đưa dần việc
sản xuất các mặt hàng của mình tại thị trường của công ty nội địa.
Trong hình thức sản xuất tại chỗ, hàng loạt các hoạt động tạo giá trị gia
tăng được thực hiện tại nước ngoài, điều này đòi hỏi công ty kinh doanh quốc
tế phải có những sự thay đổi thích hợp trong cơ cấu tố chức. Thuận lợi của
hình thức này chính là việc giảm chi phí vận chuyển, rút ngắn thời gian phân
phối, né tránh được các rào cản đối với mậu dịch, tạo lập được mối quan hệ
với khách hàng và các kênh phân phối hàng hóa tại địa phương… Tuy nhiên
nhược điểm cơ bản của hình thức này đó là sự phức tạp của cơ cấu tổ chức để


19

thực hiện việc quản lý ra khỏi phạm vi quốc gia, hiệu quả kinh tế theo quy mô
có thể thấp, mức độ rủi ro trong đầu tư có thể cao hơn.


1.6.4. Cấp phép kinh doanh.
Trên nhiều góc độ, cấp phép kinh doanh tương tự như việc bán bảng
quyền, mặc dù cấp phép kinh doanh có khuynh hướng về các cam kết dài hạn
hơn so với bán bảng quyền. Cấp phép kinh doanh về cơ bản là một dạng đặc
biệt của bán bảng quyền, trong đó người cấp phép không chỉ bán các tài sản
vô hình cho người được phép mà còn đòi hỏi người được cấp phép chấp nhận
tôn trọng các quy tắc chặt chẽ về các hình thức kinh doanh. Thông thường,
những người cấp phép cũng sẽ đòi hỏi những người được cấp phép một cơ sở
nền tảng để vận hành kinh doanh.
1.6.5. Liên doanh
Lập ra liên doanh với một công ty nước ngoài từ lâu đã là cách thức
được ưa chuộng nhất để thâm nhập vào thị trường mới.
Các liên doanh có một số lợi thế:
Thứ nhất, công ty có thể cảm thấy rằng nó có thể hưởng lợi từ hiểu biết
của đối tác địa phương về các điều kiện cạnh tranh, văn hóa, ngôn ngữ, hệ
thống chính trị và hệ thống kinh doanh ở nước chủ nhà.
Thứ hai, khi chi phí phát triển và rủi ro mở thị trường mới ở nước ngoài
cao, công ty có thể lợi bởi việc chia sẻ một phần chi phí và rủi ro với một đối
tác địa phương
Thứ ba, trong một số công ty, những đánh giá chính trị có thể làm cho
hình thức liên doanh mới là cách thâm nhập khả thi.
Tuy nhiên, hình thức liên doanh có thể khó thiết lập và vận hành bởi vì
nó có 2 bất lợi chủ yếu sau:


20

Thứ nhất, giống như trường hợp bán bảng quyền, một công ty mà gia
nhập vào một liên doanh có nguy cơ mất quyền kiểm soát về công nghệ của

nó trước đối tác liên doanh.
Thứ hai, liên doanh không tạo điều kiện cho công ty kiểm soát chặt chẽ
công ty con, trong khi đó nó rất cần làm điều đó để thực hiện các hiệu ứng
kinh tế của các đường cong kinh nghiệm và tính kinh tế của vị trí.
1.6.6. Các công ty con sở hữu hoàn toàn.
Một công ty con sở hữu hoàn toàn là một công ty mà công ty mẹ sở hữu
100% cổ phiếu của các công ty con. Để thiết lập một công ty con ở thị trương
nước ngoài, một công ty có thể hoặc thiết lập ra một hoạt động hoàn toàn mới
ở quốc gia đó hoặc mua một công ty đã thiết lập ở nước chủ nhà và sử dụng
nó để xúc tiến các sản phẩm của mình ở thị trường nước chủ nhà.
1.7. Các quyết định thâm nhập thị trường cơ bản.
1.7.1. Lựa chọn thị trường.
Tính hấp dẫn của một quốc gia như một thị trường tiềm năng về kinh tế
quốc tế tùy thuộc vào sự cân đối lợi ích, chi phí và các rủi ro liên quan đến
hoạt động kinh doanh ở nước đó
Các thị trường hấp dẫn nhất thường là những thị trường có chính trị ổn
định ở các quốc gia phát triển và đang phát triển với hệ thống kinh tế thị
trường tự do nhưng không có sự đột biến đáng kể về lạm phát và mức độ nợ
trong khu vực tư nhân.
1.7.2. Định vị thời hạn thâm nhập.
Sau khi nhận diện một loạt các thị trường hấp dẫn, điều quan trọng là
xem xét các thời điểm thâm nhập. Về thời điểm nhập cuộc, chúng ta có thể
nói rằng, việc kinh doanh quốc tế nhập cuộc là sớm nếu như nó thâm nhập
trước các công ty nước ngoài khác, và là muộn nếu như nó thâm nhập sau khi
kinh doanh quốc tế của các công ty khác đã thiết lập trên thị trường đó.


21

Một số lợi ích của việc thâm nhập sớm:

Thứ nhất, công ty nhập cuộc sớm có thể có ưu tiên hơn so với các đối
thủ và nắm được nhu cầu bằng việc thiết lập một nhãn hiệu mạnh.
Thứ hai, nó sớm có khả năng tạo ra doanh số trong nước đó và trượt
nhanh xuống phía dưới đường cong kinh nghiệm trước đối thủ. Tới mức độ
nào đó, điều này có thể giúp người nhập cuộc sớm có một ưu thế về chi phí so
với người nhập cuộc sau.
Thứ ba, người nhập cuộc sớm có thể tạo ra các chi phí chuyển đổi, như
sợi dây trói buộc khách hàng vào các sản phẩm hay dịch vụ của họ.
1.8. Lợi thế cạnh tranh quốc tế:
1.8.1. Lợi thế cạnh tranh và nguồn lực tạo lợi thế cạnh tranh
Sự thành công của một công ty bất kể ở thị trường trong hay ngoài
nước sẽ lệ thuộc rất lớn vào việc nó có tạo dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh
so với các đối thủ của nó hay không. Theo Michael Porter, có hai loại lợi thế
cạnh tranh cơ bản: lợi thế dựa vào việc duy trì một chi phí sản xuất thấp và lợi
thế dựa trên việc khác biệt hóa sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh; trên cơ sở
của việc khác biệt hóa đó, công ty có thể đặt một giá cao để bù đắp cho việc
tạo ra sự khác biệt đó. Một công ty tồn tại và phát triển trên thị trường quốc tế
có thể dựa vào một trong hai lợi thế này hoặc sở hữu cả hai loại lợi thế cạnh
tranh đó.
Để thông hiểu về lợi thế cạnh tranh của công ty kinh doanh quốc tế ,
điều quan trọng nhất theo De Wit và Mayer (1994) đó là việc một mặt phải
xác định cho được vị thế cạnh tranh tương đối của công ty so với ngành mà
nó đang hoạt động (triển vọng về vị trí), mặt khác phải xác định những nguồn
lực bên trong để phát triển vị thế cạnh tranh này. Các nguồn lực bên trong bao
gồm tài sản, tài năng (competences), và năng lực (capabilities).


22

Tài sản của công ty được hiểu ở đây bao gồm các loại tài sản vô hình

và hữu hình mà nhà quản trị có thể sử dụng được. Những loại tài sản này
được thể hiện trên bản tổng kết tài sản của công ty; các loại tài sản hữu hình
sẽ bao gồm: máy móc thiết bị, tiền bạc, nhà xưởng, vật tư,…. Và tài sản vô
hình sẽ bao gồm: nhản hiệu, sự độc quyền về phát minh, tên tuổi công
ty..Những loại tài sản này có thể xác định giá trị thị trường của nó và có thể
bán cho những công ty khác.
Riêng đối với yếu tố tài năng của công ty, ngược lại, nó bao gồm những
tài sản vô hình mà việc chuyển giao chúng cho một công ty khác thì rất khó
khăn. Yếu tố tài năng ở đây bao gồm tất cả những bí quyết về kỹ thuật, công
nghệ , và kỹ năng mà công ty đang sở hữu. Ví dụ Công ty Honda thì rất nổi
tiếng về việc am hiểu các bí quyết trong ngành sản xuất xe gắn máy, Sony thì
sở hữu các bí quyết kỹ thuật trong sản xuất các sản phẩm điện tử thu nhỏ,
Phillips thì rất nổi tiếng trong lĩnh vực điện tử cảm quang. Những yếu tố
thuộc về tài năng này của một công ty không thể nào trao đổi hay mua bởi bởi
hai lý do:
(i) Chỉ có một số ít tài năng này thuộc về một vài con người nào đó
trong công ty, trong khi đó phần lớn tài năng này được gắn liền với một tập
thể lao động, với cấu trúc và quy trình của hệ thống sản xuất.
(ii) Những yếu tố tài năng thông thường dựa trên một khối lượng kiến
thức ngầm được tích lũy lâu dài, chúng không thể mã hóa hay phân loại được,
và cũng không thể nào diễn đạt ra bằng văn bản được, do đó việc bàn chúng
là một điều rất khó khăn.
Cũng tương tự như yếu tố về tài năng, yếu tố về năng lực cũng là một
yếu tố không thể mua bán được. Nếu như yếu tố tài năng thể hiện những kỹ
năng về phương diện kỹ thuật, thì yếu tố thể hiện các kỹ năng về phương diện
quản trị; yếu tố này thể hiện khả năng quản trị quy trình kinh doanh của công


23


ty. Ví dụ như công ty McDonald thì rất nổi tiếng trong lĩnh vực quản trị hệ
thống đại lý độc quyền của mình, Honda thì nổi tiếng trong việc thực hiện và
giới thiệu các sản phẩm của mình một cách nhanh chóng. Những yếu tố thuộc
về năng lực này thậm chí còn khó chuyển đổi, mua bán hơn cả yếu tố tài năng
bởi vì chúng được hình thành gắn liền với phong cách, văn hóa của công ty.
Do đó việc bắt chước một hệ thống quản lý mới và thành công của một công
ty khác sẽ đòi hỏi công ty đang xem xét phải thay đổi cách tiếp cận trong vấn
đề kinh doanh và đây là một quá trình vô cùng khó khăn.
1.8.2. Nhân tố tác động đến việc hình thành lợi thế cạnh tranh
Để có thể sử dụng các nguồn lực bên trong nhằm phát huy lợi thế cạnh
tranh của mình trên thị trường quốc tế, các công ty không những cần phải cố
gắng phát triển hay sở hữu cho được những nguồn lực đặc thù riêng biệt từ đó
mới có thể tạo lợi thế trên cơ sở phí tổn thấp hay sự khác biệt về sản phẩm mà
còn phải không ngừng nâng cao năng lực học tập và cải tiến. Về nguyên tắc,
mỗi công ty hình như đều có một cơ hội ngang bằng nhau trong trong việc cải
tiến và phát triển lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên thực tế cho thấy trong mỗi
ngành công nghiệp chỉ tồn tại một vài công ty thành công và chúng ít khi nào
phân tán một cách ngẫu nhiên trên thế giới. Thật vậy, trong nhiều ngành công
nghiệp, các công ty thành công thường phát sinh chỉ từ một số ít quốc gia dẩn
đầu trong lĩnh vực này trên thế giới. Ví dụ như ngành công nghiệp điện ảnh
thì tập trung cao độ tại Hollywood, việc sản xuất máy ghi hình thường tập trung
vào một vài công ty hàng đầu của Nhật bản, và gần như 75% sản lượng hoa
xuất khẩu thì xuất phát từ Hà lan. Điều này đã tạo nên một giả thuyết đó là chỉ có
một vài quốc gia hay khu vực thì thích hợp cho việc phát triển lợi thế cạnh tranh
đặc biệt cho một ngành nào đó so với các quốc gia và khu vực còn lại.
Theo quan điểm truyền thống của các nhà kinh tế cổ điển, họ thường
nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các nhân tố sản xuất như là một nguồn lực


24


để tạo lợi thế cạnh tranh. Họ thường coi trọng đến sự sẵn có của các yếu tố
sản xuất như đất đai, vốn, và lao động (những yếu tố thuộc về tài sản hữu
hình). Tuy nhiên, sự khác biệt trong việc phân bố trên bình diện quốc tế các
yếu tố này chỉ lý giải một phần rất nhỏ hoạt động mậu dịch quốc tế và lợi thế
cạnh tranh. Rõ ràng Hollywood không có những yếu tố thuận lợi cho việc sản
xuất phim ảnh, và chúng ta cũng rất khó khăn để giải thích tại sao Nhật bản
lại thành công trong việc sản xuất máy ghi hình nếu xét theo sự thuận lợi về
việc phân bố các yếu tố sản xuất truyền thống. Càng khó khăn hơn nửa khi
giải thích sự thành công của ngành công nghiệp trồng hoa tại Hà lan bởi vì đất
đai và lao động tại Hà Lan thì không rẽ nếu so sánh với những nơi khác.
Để giải thích hiện tượng này, Michael Porter (1990) cho rằng chi phí và
sự sẵn có của các yếu tố sản xuất chỉ là một trong nhiều nguồn lực tại chỗ
quyết định lợi thế cạnh tranh, và yếu tố nầy không phải là một yếu tố quan
trong nếu xét trên phạm vi tương đối so với các yếu tố khác. Theo quan điểm
của Michael Porter, năng lực cạnh tranh về phương diện dài hạn của công ty
phụ thuộc nhiều vào khả năng cải tiến một cách liên tục, do đó ông ta nhấn
mạnh đến sự tác động của môi trường quốc gia đến việc thực hiện các cải tiến
liên tục của công ty. Kết luận của Michael Porter về vấn đề này đó là các điều
kiện của một quốc gia sẽ có một tác động rất lớn đến khả năng cải tiến và phát
triển năng lực cạnh tranh của công ty. Các điều kiện đó bao gồm các nhân tố
như sau:


Điều kiện về các nhân tố sản xuất: các nhân tố sản xuất thì không bao

giờ đồng nhất, chính vì sự không đồng nhất đó nó sẽ giúp cho một công ty tại
quốc gia nào đó sẽ có lợi thế cạnh tranh về phương diện chi phí hoặc do sự
sẵn có của nguồn lực tài nguyên đó. Ví dụ như một quốc gia có hệ thống giáo
dục tốt có thể sẽ gia tăng được năng lực cải tiến chất lượng của lao động,

trong khi đó một hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển


25

của các hệ thống kinh doanh mới. Nói tóm lại, một tình trạng hoàn hảo của
các yếu tố sản xuất sẽ có một tác động tích cực vào năng lực cải tiến của một
quốc gia.Điều kiện về nhu cầu: Tình trạng hoàn hảo của khách hàng và các
kênh phân phối cũng có một tác động tích cực đến việc tạo lợi thế cạnh tranh
cho một ngành công nghiệp tại một quốc gia. Nhu cầu của khách hàng càng
phức tạp và càng đặc thù thì càng thúc đẩy các công ty phải gia tăng cải tiến;
nếu khách hàng càng có những phản ảnh về sản phẩm, hệ thống phân phối
…..của công ty thì công ty càng có điều kiện không những nhận dạng những
điểm yếu của mình để khắc phục mà còn xác định được nhu cầu mới trong
tương lai tại thị trường nội địa và hải ngoại.


Các ngành công nghiệp hổ trợ và có liên quan: Năng lực thực hiện

cải tiến của các công ty luôn được hổ trợ và khuyến khích bởi tình trạng hoàn
hảo của các nhà cung cấp. Một công ty có quan hệ cùng phối hợp hoạt động
với những nhà cung cấp hàng đầu tại địa phương thì càng có điều kiện và cơ
hội thực hiện các cải tiến của mình. Ví dụ những hảng sản xuất phim tại
Hollywood luôn có những cải tiến trong phim ảnh bởi vì nó có mối quan hệ
phối hợp chặt chẻ với các đơn vị cung cấp các phương tiện hoạt động hàng
đầu tại địa phương, đội ngũ những diễn viên đóng thế, và các công ty xây
dựng chuyên thiết kế phim trường theo những yêu cầu đặc biệt khác; Hoặc
các nhà trồng hoa Hà Lan có thể đạt được vị thế dẩn đầu nhờ vào một mối
quan hệ rất tốt với các nhà cung cấp giống mới, các nhà xây dựng nhà kính để
trồng hoa, các công ty sản xuất thuốc diệt côn trùng. Bên cạnh những nhà

cung cấp (hay các ngành công nghiệp hổ trợ), sự phát triển của các ngành có
liên quan cũng tạo động lực cho việc thực hiện các cải tiến liên tục, ví dụ
trong trường hợp ngành công nghiệp giải trí tại California đã được hổ trợ rất
nhiều bởi các ngành có liên quan như: các công viên văn hóa, hệ thống các
ban nhạc rock, hệ thống trò chơi điện tử.


×