MỞ ĐẦU
Công nghiệp sản xuất ô tô là nền công nghiệp đã phát triển từ rất lâu
và ngày càng có triển vọng. Trong đó, xử lý bề mặt là một khâu quan trọng
trong quá trình sản xuất ô tô. Để đảm bảo sản phẩm chống bị ăn mòn trong
điều kiện khí hậu khắc nghiệt, bền đẹp và đảm bảo tính thẩm mĩ thì đòi hỏi
kỹ thuật công nghệ cao. Vì thế, khung xe sau khi được tạo hình sẽ được xử lý
bề mặt sau đó tiến hành phosphate hóa, cromat hóa và sơn phủ.
Vì vậy nhóm em đã chọn tìm hiểu về chủ đề “ quá trình sơn điện li và
phosphate hóa trong công nghiệp ô tô”. Để hiểu rõ hơn về quy trình tiến hành,
cơ chế và biết ứng dụng của mạ điện bằng công nghệ nêu trên.
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT Ô TÔ VÀ
PHƯƠNG PHÁP PHOSPHATE HÓA , SƠN ĐIỆN DI
1. Tổng quan về tình hình sản xuất ô tô
1.1. Lịch sử ra đời ngành ôtô thế giới
Từ những chiếc xe đầu tiên chạy bằng hơi nước ở thế kỷ 18, đến nay
làng ôtô thế giới đã cho ra đời những chiếc xe động cơ điện sang trọng, hiện
đại.
Cho đến nay để nhận định chiếc xe hơi đầu tiên ra đời khi nào vẫn còn
nhiều luồng ý kiến khác nhau trên thế giới.
Tên gọi ôtô được nhập từ tiếng Pháp (automobile), tên tiếng Pháp xuất
phát từ từ auto (tiếng Hy Lạp, nghĩa là tự thân) và từ mobilis (tiếng La Tinh,
nghĩa là vận động). Từ automobile ban đầu chỉ những loại xe tự di chuyển
được gồm xe không ngựa và xe có động cơ. Còn từ ô tô trong tiếng Việt chỉ
dùng để chỉ các loại có 4 bánh. Chữ "Xe Hơi" bắt nguồn từ chữ Hoa ?车, phát
âm theo Hán Việt là Khí Xa. Còn người Nhật gọi Xe hơi là ??? (Tự động xa)
nghĩa là Xe tự động. Các kiểu khác nhau của xe hơi gồm các loại xe, xe
buýt, xe tải.
Tới năm 2005 có khoảng 600 triệu xe hơi trên khắp thế giới (0,074 trên
đầu người). Chiếc xe hơi đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1770 do Nicolas
Joseph Cugnot chế tạo chạy bằng động cơ hơi nước.
Hình 1: Chiếc xe hơi ba bánh đầu tiên do Karl Benz chế tạo
được cấp bằng sáng chế năm 1886
Tuy Đức là đất nước đầu tiên đưa ôtô vào sản xuất hàng loạt nhưng
Mỹ mới là nơi chứng kiến công nghiệp xe hơi lên ngôi.
Trong bối cảnh ngành còn sơ khai, người dẫn đất nước cờ hoa chỉ hào
hứng vào những chiếc xe hơi xa hoa, đắt tiền mang thương hiệu Cadillac,
Pascal thì xuất hiện một nhân vật đi ngược xu hướng, đó là Henry Ford.
Người sau này trở thành nhân vật tên tuổi nhất nền công nghiệp xe hơi Mỹ.
1.2. Sự phát triển của ngành sản xuất ô tô
Tổng sản lượng ô tô trên thế giới theo tài liệu của OICA qua một số
năm được thể hiện dưới bảng 1.
Bảng 1: Đây là danh sách sản lượng ô tô của các quốc gia dựa trên tài
liệu của OICA năm 2008
Xếp hạng
—
—
Nước/Khu vực
Thế giới
Khối EU
2007
2005
2000
73.101.695 66.482.439 58.374.162
19.717.643 18.176.860 17.142.142
1
Nhật Bản
11.596.327 10.799.659 10.140.796
2
Mỹ
10.780.729 11.946.653 12.799.857
3
Trung Quốc
8.882.456
5.708.421
2.069.069
4
Đức
6.213.460
5.757.710
5.526.615
Xếp hạng
Nước/Khu vực
2007
2005
2000
5
Hàn Quốc
4.086.308
3.699.350
3.114.998
6
Pháp
3.019.144
3.549.008
3.348.361
7
Brasil
2.970.818
2.530.840
1.681.517
8
Tây Ban Nha
2.889.703
2.752.500
3.032.874
9
Canada
2.578.238
2.687.892
2.961.636
10
Ấn Độ
2.306.768
1.638.674
801.360
11
México
2.095.245
1.684.238
1.935.527
12
Vương Quốc Anh 1.750.253
1.803.109
1.813.894
13
Nga
1.660.120
1.354.504
1.205.581
14
Ý
1.284.312
1.038.352
1.738.315
15
Thái Lan
1.238.460
1.122.712
411.721
16
Thổ Nhĩ Kỳ
1.099.414
879.452
430.947
17
Iran
997.240
817.200
277.985
18
Cộng Hòa Séc
938.527
602.237
455.492
19
Bỉ
844.030
926.528
1.033.294
20
Ba Lan
784.700
613.200
504.972
Xếp hạng
Nước/Khu vực
2007
2005
2000
21
Slovakia
571.071
218.349
181.783
22
Argentina
544.647
319.755
339.632
23
Nam Phi
534.490
525.227
357.364
24
Indonesia
419.040
500.710
292.710
25
Malaysia
413.440
563.408
282.830
26
Ukraina
402.591
215.759
31.255
27
Thụy Điển
366.020
339.229
301.343
28
Australia
334.617
394.713
347.122
29
Hungary
292.027
152.015
137.398
30
Đài loan
283.039
446.345
372.613
31
România
241.712
194.802
78.165
32
Áo
228.066
253.279
141.026
33
Philippines
213.402
187.247
98.953
34
Bồ Đào Nha
176.242
226.834
245.784
35
Venezuela
172.418
135.425
123.324
Xếp hạng
Nước/Khu vực
2007
2005
2000
36
Pakistan
169.861
153.393
102.578
37
Hà Lan
138.568
102.204
98.823
38
Uzbekistan
135.400
94.437
52.264
39
Ai Cập
103.552
123.425
78.852
40
Colombia
73.667
75.539
87.342
41
Slovenia
68.492
64.492
38.877
42
Maroc
36.671
33.992
31.314
43
Belarus
27.708
26.995
19.324
44
Ecuador
26.338
32.254
41.047
45
Phần Lan
24.303
21.644
38.926
46
Việt Nam
23.478
31.600
6.862
47
Chile
10.804
6.660
5.245
48
Serbia
9.903
14.179
12.740
49
Nigeria
3.072
2.937
7.834
50
Zimbabwe
1.611
960
792
Xếp hạng
Nước/Khu vực
51
Kenya
2007
2005
2000
705
405
288
2. Tổng quan về phương pháp phosphate hóa
2.1. Khái niệm
Phosphate hoá là một phương pháp gia công bề mặt kim loại được áp
dụng rộng rãi trong công nghiệp để xử lý bề mặt kim loại, được coi là một
trong những phương pháp chuẩn bị bề mặt kim loại tốt nhất trước khi sơn
phủ hoặc nhúng dầu mỡ nhằm bảo vệ các chi tiết kim loại đen.
Màng phosphate hoá chuyển hoá bề mặt kim loại thành một lớp bề mặt
mới không còn tính dẫn điện và tính kim loại, có khả năng chống ăn mòn.
Nhờ các tính chất đó người ta tạo ra công nghệ phosphate hoá để sử dụng
trong các nhà máy xử lý bề mặt kim loại.
2.2. Mục đích
Cải thiện bề mặt kim loại trước khi sơn phủ, sơn lót chống ăn mòn.
Tạo sự bám dính cho lớp phủ nhựa, cao su.
Để xử lý bề mặt kim loại trước khi gia công cơ khí như là cán nguội,
kéo dây...
Để tăng khả năng chống ăn mòn của các lớp dầu mỡ, sáp....
2.3. Tác dụng
Tác dụng phổ biến nhất của nó trong thực tiễn là nhằm kéo dài tuổi thọ
màng sơn phủ. Nếu nền kim loại khá trơ với các vật liệu sơn phủ thì lớp
phốt phát hoá tạo ra lớp màng có nhiều lỗ xốp bám rất chắc với nền kim loại.
Lớp này lại "thấm" sơn và như thế tạo thành lớp phủ đặc chắc gắn rất tốt
với nền.
Trong trường hợp này chức năng của màng phosphate hoá là:
Liên kết với nền kim loại
Lớp nền của màng sơn
Làm tăng độ bền bám của màng sơn
Chống ăn mòn dưới lớp sơn
Khi sử dụng màng phốtphát hóa làm lớp nền cho chất dẻo thì màng
phốt phát hóa có tính năng và cơ chế tương tự như trên.
2.4. Ứng dụng
Ở các nước công nghiệp phát triển việc xử lý bề mặt trước khi sơn phủ là
việc làm theo tiêu chuẩn bắt buộc để tăng cường độ bám của màng sơn cũng
như tăng cường khả năng bảo vệ của màng trong điều kiện khí quyển.
Trong công nghiệp được sử dụng phổ biến nhất là màng phốtphát hoá của
các kim loại nặng như kẽm, sắt, măng gan. Các chế phẩm để xử lý bề mặt
đều ở dạng thương phẩm rất thuận tiện cho người sử dụng.
3. Công nghệ sơn điện ly
3.1. Khái niệm sơn điện ly
Sơn điện ly (ED) hay còn tên gọi khác là sơn điện di là chất polymer
hữu cơ được tạo ra bám vào bề mặt thân xe dưới một hiệu điện thế trung
bình (khoảng 250 350 V) và dòng điện tương đối cao (800 1000 A).
Lớp sơn điện di có tác dụng chống ăn mòn rất tốt và là lớp sơn đầu tiên
trong số vài lớp phủ trên xe ô tô. Trong quy trình sơn ED, thân xe được nhúng
hoàn toàn xuống bể sơn. Dòng điện một chiều sẽ chạy qua hệ thống và tạo ra
lớp sơn mỏng bao phủ toàn bộ các chi tiết thân xe kể cả những khu vực ngóc
nghách nhất. Cũng như quy trình mạ điện phân, dung dịch sơn chính là dung
dịch điện ly và thân xe chính là cực âm của quá trình mạ đó.
3.2. Quá trình hình thành và phát triển của sơn điện ly
3.2.1. Lịch sử của sơn điện ly
Những nghiên cứu phát triển của sơn điện ly được hãng Ford Motor bắt
đầu từ năm 1957 dưới sự lãnh đạo của tiến sĩ George Brewer. Mục đích của
những nghiên cứu này là để tìm ra 1 phương pháp chống ăn mòn tốt nhất cho
các chi tiết, bộ phận của thân xe ô tô.
Các nhà chế tạo ô tô đã nhận thức rõ ràng rằng quá trình rỉ sét xảy ra
bên trong sẽ dần phá hỏng các cấu kiện của khung xe. Mặc dù lớp sơn thông
thường đã có thể thâm nhập vào tận cùng các hốc của khung xe nhưng chúng
lại thường bị tẩy bởi hơi của dung môi trong khi sấy sơn. Vì vậy, nhóm của
Tiến sĩ Brewer đã cố gắng tạo nên 1 lớp sơn mà dung môi không thể tẩy
chúng được trong suốt quá trình. Những công việc này dẫn đến sự phát triển
của sơn điện ly.
Bể sơn đầu tiên của hãng Ford hoạt động vào 4/ 7/ 1961 dùng để sơn
Lagiang của bánh xe. Bể sơn nhúng cho thân xe được lắp đặp vào năm 1963.
Cả 2 bể này đều sử dụng kiểu kết tủa dương cực.
Mặc dù thị trường của sơn điện ly sau khi ra đời phát triển một cách
vững chắc, nhưng cho đến tận năm 1973, sơn điện ly kiểu kết tủa âm cực ra
đời, thị trường mới thực sự bùng nổ. Vào năm 1965, chỉ có 1/100 xe được sơn
lót bằng sơn điện ly; đến năm 1970, đã có 10/100 xe và đến nay, hầu hết các
xe đều được sơn lót bằng phương pháp sơn điện ly.
3.2.2. Ưu nhược điểm của sơn điện ly
Tạo màng bảo vệ để chống rỉ sét tại tất cả các hốc, các vùng bên trong thân
xe.
Hiệu quả sử dụng sơn cao, lên đến 95%. Giảm thiểu lượng sơn thất thoát,
đặc biệt nếu đem so sánh với phương pháp sơn phun.
Do độ nhớt của bể sơn thấp (ngang bằng với nước) cho nên dễ dàng cho
việc bơm và xả trong quá trình sơn.
Do lớp sơn mới không hòa tan trong nước nên cho phép rửa và thu hồi được
cặn sơn.
Sơn chưa sấy đủ khô để có thể sờ tay được, dễ dàng cho thao tác bằng tay.
Khác với sơn bằng phương pháp phun, sơn điện ly không bị chảy trong khi
sấy.
Khác với sơn phun, sơn điện ly không bị tẩy bởi hơi dung môi trong khi sấy.
Lớp kết tủa được sinh ra một cách liên tục từ phần này đến phần kia.
Từ khi quá trình là tự động hóa, nhân công lao động trực tiếp giảm rõ rệt.
PHẦN 2: CƠ CHẾ CỦA QUÁ TRÌNH PHOSPHATE HÓA VÀ
SƠN ĐIỆN DI
1. Cơ chế của quá trình phosphate hóa
Phosphate là quá trình hình thành trên bề mặt kim loại 1 lớp photphat
kim loại không tan trong nước. Quá trình này thường sử dụng đề phủ cho kim
loại đen như sắt, thép hay thép tráng kẽm.
Màng được tạo thành dựa trên phản ứng giữa kim loại với dung dịch
dihidrophotphat dẫn tới sự kết tủa của muối phosphate ít tan trên bề mặt kim
loại. Hiện nay, các quá trình phosphate hóa thường tiến hành bằng phương
pháp phun trực tiếp lên bề mặt kim loại dung dịch muối dihydrophosphat của
kim loại như Zn2+, Mn2+, Fe2+, Ca2+, Na2+,… hoặc nhúng kim loại trong những
dung dịch này.
1.1 . Sự hình thành lớp phủ phosphate trên bề mặt kim loại
Như đã trình bày ở trên, các quá trình phosphat hóa thường tiến hành
trong dung dịch muối dihydrophosphat của kim loại hóa trị 2. Trong dung dịch
này luôn tồn tại các cân bằng sau:
3M(H2PO4)2 3MHPO4 + 3H2PO4 (1)
3MHPO4 M3(PO4)2 + H3PO4 (2)
3M(H2PO4)2 M3(PO4)2 + 4H3PO4 (3)
Theo Machu, quá trình phosphate hóa là một quá trình hóa, trong đó:
Tại anot: Me Men+ + ne (Me là kim loại nền)
Tại catot: 2H2+ + 2e H2
Quá trình ăn mòn xảy ra nhanh thành một lượng lớn ion kim loại tại lớp
dung dịch sát vùng anot. Cùng lúc đó, một lượng tương đương ion H + (do
H3PO4 phân li) bị khử thành H2 tại catot làm giảm nhanh nồng độ H+ tại vùng
này. Do tốc độ của quá trình khuếch tán ion H+ từ lớp dung dịch ngoài vào
cũng như quá trình khuếch tán của ion kim loại từ lớp dung dịch bên trong ra
không theo kịp tốc độ hòa tan kim loại và khử H+ dẫn đến việc kết tủa
phosphate kim loại trên bề mặt các vùng catot.
Mô hình quá trình hình thành lớp phủ phosphat trên bề mặt thép được
thể hiện theo hình 2.1.
Hình 4: Mô hình quá trình hình thành lớp phủ phosphat trên bề mặt thép
Các mầm tinh thể phosphate hình thành tại vùng catot tiếp tục phát triển
và tạo thành màng che kín toàn bộ bề mặt kim loại, ngăn cản quá trình hòa tan
kim loại, khi đó quá trình phosphate hóa sẽ chấm dứt. Màng tạo thành bám
chắc trên bề mặt kim loại được giải thích do sự xâm nhập và đan xen nhau
của các tinh thể phosphate vào những phần gồ ghề trên bề mặt kim loại.
Tuy nhiên, sự bám dính này còn được giải thích do sự tương thích giữa
cấu trúc tinh thể bề mặt kim loại nền và tinh thể phosphate, trong đó kim loại
nền đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng sự phát triển các tinh thể
phosphate. Độ sai lệch giữa mạng kim loại và mạng tinh thể phosphate càng
cao, tính bám dính càng kém.
Có thể nhận thấy rằng lớp phủ phosphate chỉ được hình thành khi tốc
độ các quá trình điện hóa đủ lớn để làm thay đổi đột ngột pH tại lớp dung
dịch sát bề mặt kim loại dẫn đến sự dịch chuyển mạnh các cân bằng (2) và
(3) về bên phải làm kết tủa các muối ít tan lên bề mặt kim loại. Sự dịch
chuyển này cũng xảy ra khi tăng nhiệt độ. Để đạt được điều kiện này, quá
trình phosphate hóa phải được tién hành ở nhiệt độ khoảng 96 99 với thời
gian phosphate hóa 50 60 phút. Phương pháp phosphate hóa nóng thường có
chi phí cao do tốn năng lượng.
Để giảm nhiệt độ cũng như rút ngắn thời gian phosphate hóa, người ta
thêm chất gia tốc vào trong dung dịch. Các chất gia tốc thường được sử dụng
gồm 2 dạng:
Một là những chất oxi hóa như: nitrit,nitrat,clorat,cromat, các hợp chất
nito hữu cơ…
Hai là muối của các kim loại có thế dương hơn kim loại nền như muối
Cu(II).
Vai trò những chất này được giải thích do tác dụng khử phân cực hay
do hình thành trên bề mặt kim loại những vùng microcatot.
Trong trường hợp gia tốc bằng chất oxi hóa, các chất này đóng vai trò
chất khử tại catot thay cho H+ nên không có hoặc giảm lượng khí H2 sinh ra.
Với một số chất gia tốc phổ biến như nitrit, nitrat, phản ứng ăn mòn thép xảy
ra:
4Fe + N + 10H+ 4Fe2+ + + 3H2O
3Fe + N + 8H+ 3Fe2+ + + 2H2O
Với tác dụng của gia tốc, quá trình phosphate hóa có thể tiến hành nhiệt độ
thấp thậm chí ngay ở nhiệt dộ phòng với thời gian phosphate chỉ trong vài
phút.
1.2. Tác dụng chống ăn mòn của lớp phosphate dưới màng sơn
Lớp phủ phosphate được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực làm nền cho
sơn.
Đối với các lớp sơn chống ăn mòn, hai đặc trưng quan trọng nhất là:
khả năng ức chế ăn mòn và độ bám dính. Lớp phủ phosphate có tác dụng nâng
cao hai tính chất này cho màng sơn bề mặt kim loại do chúng có cấu trúc xốp
đồng thời do độ bám dính và độ che phủ cao trên bề mặt kim loại. Lớp phủ
phosphate vừa làm tăng độ bám dính của màng sơn với kim loại nền vừa có
tác dụng ngăn cản sự xâm nhập các tác nhân ăn mòn, hạn chế quá trình ăn
mòn dưới màng sơn. Chính vì vậy khi kết hợp màng phosphate với lớp sơn
phủ, độ bền và khả năng bảo vệ của màng sơn tăng lên đáng kể.
Cơ chế của màng kết hợp với màng sơn
Khi màng sơn bị hỏng làm cho thép tiếp xúc với môi trường ăn
mòn( như nước, không khí, muối) do mức độ tiếp xúc với môi trường ăn mòn
khác nhau dẫn đến việc hình thành cặp vi pin tại nơi bị hư hỏng. Vùng thép
tiếp xúc nhiều với tác nhân ăn mòn sẽ đóng vai trò catot, trong khi vùng bị lớp
sơn phủ tiếp xúc với môi trường ít hơn sẽ trở thành anot. Khi nền thép không
có lớp phosphat bảo vệ quá trình ăn mòn không bị cản trở. Ví dụ: với tác nhân
ăn mòn là oxi quá trình ăn mòn xảy ra như sau:
Tại anot: Fe Fe2+ + 2e
Tại catot: O2 + 2H2O + 4e 4OH
Sự kết tủa hydroxit sắt: Fe2+ + 4OH 2Fe(OH)2
Sự hình thành gỉ: 4Fe(OH)2 + O2 + 2H2O 4Fe(OH)3
Trong trường hợp có lớp phủ phosphate giữa màng sơn và bề mặt thép
thì dòng ăn mòn bị ngăn cản do lớp phosphate có tính cách điện. Dòng ăn mòn
chỉ có thể xuất hiện qua lỗ xốp trong lớp phủ phosphate do đó quá trình ăn
mòn bị cản trở mạnh.
Do đó, có thể thấy rằng khả năng chống ăn mòn của màng sơn tăng khi
chiều dày lớp phosphat tăng và độ xốp của nó giảm. Hiện tượng này có thể
do tính giòn của lớp phủ phosphate.
2. Cơ chế của quá trình sơn điện di
Sơn điện di: là loại dung dịch chống gỉ có khả năng bám vào bề mặt
kim loại dưới tác dụng của dòng điện một chiều. Do được nhúng vào trong
dung dịch sơn, nên trên bề mặt cần sơn, các phần tử sơn sẽ bám đều, kể cả
tại các khe nhỏ nhất. Tạo bề mặt có độ cứng, khả năng chống mòn và khả
năng kháng axit rất cao.
Sơn điện di phân làm hai loại là sơn điện di catot và sơn điện di anot.
Thành phần dung dịch sơn điện di gồm: dung môi, chất hoạt động bề
mặt, chất hữu cơ, chất chống keo tụ, chất nhũ hoá, chất xúc tác và ion cân
bằng.
2.1. Quá trình sơn điện di
Cơ chế của quá trình sơn điện di được trình bày qua các giai đoạn:
Electrolysis/Sự điện phân: Sự điện phân là sự phân ly chất lỏng thành
các ion âm và ion dương khi có dòng điện một chiều chạy qua.
Anot:
2 H2O O2 + 4H+ + 4e
Catot:
2 H2O + 2 e H2 + 2 OH
Electrophoresis/Sự điện di: Sự điện di là sự di chuyển các phần tử sơn,
keo nhựa mang điện tích trong môi trường dẫn điện bởi tác động của
một hiệu điện thế. Các phần tử sơn sẽ dịch chuyển đến các điện cực
theo
qui
trình
CH3COOH + RNH2 > CH3 COO + RNH3+
sau:
CH3COO move towards the anode
RNH3+ move towards the cathode
CH3COO +H+ CH3COOH
Anot:
Catot: RNH3+ + 2 OH RNH2 + H2O
Electrodeposition/Sự kết tủa điện phân: Sự kết tủa điện phân là sự kết
dính những phân tử sơn tại một điện cực. Các phần tử mang điện tích
dương sẽ kết tủa tại cực dương, các phân tử mang điện tích âm sẽ tụ
tập tại cực dương. Vì là quá trình sơn âm cực, nên sự kết tủa chỉ sảy ra
tạ i
Catot:
cực
âm
mà
thôi.
RNH3+ + 2 OHRNH2 + H2O
Electroendosmosis/Sự điện thẩm: Sự điện thấm là bước cuối cùng của
quy trình này. Các hạt sơn bị hút về phía cực âm và kết dính tại đó, tạo
nên lớp sơn bán thấm semipermeable. Nước tại khu vực xung quanh âm
cực sẽ bị đẩy qua lớp màng sơn này, đó là nguyên nhân khử nước của
lớp sơn. Tạo ra màng sơn có khả năng chống lại sự va chạm vật lý (ta có
thể chạm tay vào bề mặt sơn mà không bị hỏng).
Một dây chuyền sơn điện ly bao gồm các bể xử lý được chế tạo bằng
thép không gỉ. Nếu sử dụng sắt thường, độ bền của bể chỉ vào khoảng 23
năm.
2.2. Dây chuyền sơn điện ly
Một dây chuyền sơn điện ly đạt chuẩn phải tuân thủ đầy đủ các bước
sau:
Làm sạch bề mặt kim loại bằng cách bơm dầu hôi để lấy hết dầu mỡ và
vụn kim loại sinh ra trong các công đoạn hàn gắn. Sau đó vỏ xe được
nhúng vào bể dung dịch xút. Bước này sẽ giúp lấy đi khoảng 8590%
dầu mỡ còn bám trên bề mặt kim loại.
Tiếp đó, vỏ xe sẽ được nhúng vào bể nước để làm sạch làm xút bám trên
kim loại.
Vỏ xe được đưa vào bể dung dịch hoạt hoá để làm mịn.
Vỏ xe được chuyển sang bể phốt phát kẽm, có tác dụng chống gỉ. Lớp
phosphate này rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới việc lớp sơn tĩnh
điện sau đó có "ăn" hay không.
Vỏ xe được chuyển sang bể dung dịch kiềm để loại bỏ các yếu tố không
bền vững.
Đây là khâu quan trọng nhất: sơn điện ly. Vỏ xe sẽ được nhúng trong bể
sơn khoảng 6 phút, sao cho có một lớp sơn dày chừng 2030 phần nghìn
milimét bám đều trên bề mặt kim loại. Tiếp đó vỏ xe sẽ được làm sạch
những sơn thừa bám trên bề mặt.
Cuối cùng, vỏ xe được đưa vào lò sấy ở nhiệt độ chừng 170 độ C trong
khoảng 40 phút. Sức nóng sẽ giúp lớp sơn điện ly bám chắc vào vỏ xe.
Sơn điện di catot được ứng dụng cho nhiều kim loại như đồng kẽm,
đồng thiếc, niken, vàng, magie. Sơn điện di catot có các loại sơn epoxy, sơn
acrylat,,…Hạt keo sơn điện di catot mang điện tích dương dưới tác dụng điện
trường di chuyển về catot.
Sơn điện di anot mang điện tích âm nên dưới tác dụng điện trường di
chuyển về phía anot. Có một loại sơn điện di của công ty ALBRIFIN sau khi
điện di có thể nhuộm được các màu giả đồng kẽm, giả đồng, giả vàng,… độ
dày lớp màng đồng đều, màu sắc cũng đồng đều. Ưu điểm của nó là trong
cùng một thùng được các màu khác nhau, tiết kiệm đầu tư thiết bị. Sơn điện
di anot chỉ được ứng dụng trên bề mặt nhôm và nilen, không sử dụng được
trên đồng, bạc.
2.3. Ưu điểm và nhược điểm của quá trình sơn điện di
Ưu điểm:
Tạo ra được lớp màng sơn chui sâu vào trong các hốc, ngóc ngách trong
thân xe bảo vệ chống gỉ sét cho thân xe.
Hiệu suất chuyển đổi tốt hơn, giảm được đến 95% lượng sơn thất thoát
trong quá trình làm việc, đặc biệt khi so sánh với phương pháp phun.
Là loại sơn gốc nước nên giảm thiểu được những mối nguy hiểm cháy
nổ, ô nhiễm môi trường trong khi vận chuyển cũng như sản xuất. Và
đương nhiên giảm được chi phí lắp đặt hệ thống PCCC, xử lý chất
thải.
Độ nhớt của dung dịch thấp (tương đương với nước), dễ dàng bơm vận
hành cũng như khả năng thoát nhanh khỏi xe sau khi nhúng.
Lớp màng sơn sau khi tạo thành không thể hòa tan trong nước, cho phép
rửa và thu hồi lượng sơn bám trên xe.
Lớp sơn này đủ khô cho phép chạm vào khi vận chuyên vào lò sấy.
Không giống như sơn phun, lớp sơn tĩnh điện này sẽ không bị chảy sệ
trong khi sấy khô.
Qui trình này hoàn toàn tự động, giảm được chi phí lao động trực tiếp
cho doanh nghiệp.
Nhược điểm
Mặc dù những ưu điểm của quá trình sơn điện ly hoàn toàn lấn át
những nhược điểm của nó, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế.
Sơn điện ly chỉ có thể thực hiện được trên các vật liệu có tính dẫn điện.
Khi một chi tiết đã được sơn phủ và sơn điện ly lớp thứ hai là không thể
thực hiện được.
Vì thế lớp sơn điện ly chỉ được sử dụng cho lớp sơn lót đầu tiên,
những lớp sơn màu tiếp theo sẽ sử dụng những phương pháp công nghệ khác.
3. Các yếu tố ảnh hưởng và hóa chất dùng trong quá trình phosphate hóa
3.1. Các yếu tố ảnh hưởng
Trong quá trình công nghệ sẽ không tránh khỏi những vấn đề gây ảnh
hưởng đến quá trình mạ cũng như làm ảnh hưởng đến chất lượng của sản
phẩm. Sau đây là một số các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình:
Hàm lượng Cl, SO42 nếu vượt quá 0,5g/l sẽ gây lỗ ở màng phosphate do
độ bẩn chống gỉ giảm.
Khi photphat ở nhiệt độ cao, tránh để photphat ở trạng thái sôi
Điều chỉnh độ axit dung dịch photphat:
Độ axit tự do chính là: H3PO4 tự do, nó làm sắt hòa tan, hình thành
nhiều mầm tinh thể, màng mịn. Nếu độ axit thấp, màng phosphate
mỏng, có khi không tạo màng. Nhưng nếu độ axit cao, phản ứng
chậm, màng thô có nhiều lỗ, kết tủa nhiều.
Độ axit tổng chỉ tổng độ axit, muối nitrat, muối photphat. Độ axit tổng
giới hạn ở nồng độ quy định sẽ làm tăng phản ứng photphat, làm màng
kết tinh mịn. Nếu ngược lại, phosphate hóa chậm, màng dày, thô.
Ảnh hưởng của tính chật vật liệu: Tính chật vật liệu ảnh hưởng rõ ràng
đến màng photphat.
Ví dụ: Thép hợp kim thấp, thép cacbon cao trung bình dễ dàng photphat
hóa, màu sắc màng đậm và dày nhưng kết tinh thô. Với thép cacbon thấp,
màng phosphate có màu nhạt, kết tinh mịn. Thép đúc chưa tôi, màng kết tinh
thô; thép đúc qua thô, màng kết tinh mịn....
Ảnh hưởng gia công bề mặt: Phương pháp gia công bề mặt khác nhau
ảnh hưởng lớn tới việc tạo màng photphat.
Ví dụ: Những chi tiết qua phun cát nhưng qua tẩy rửa axit, chất lượng
màng tốt, kết tinh mịn, chống gỉ tốt. Những chi tiết qua tẩy dầu hóa học,
màng photphat khác nhau theo tính chất kiềm của dung dịch tẩy (tẩy trong
dung dịch kiềm mạnh, màng kết tinh thô,thời gian phosphate dài; những chi
tiết qua tẩy axit mạnh, mang kết tinh thô, khí H2 thoát ra nhiều). Bề mặt gia
công nguội có độ cứng, trước khi phosphate cần phải tẩy axit mạnh để hoạt
hóa bề mặt, nếu không màng không đều, chống gỉ kém...
3.2. Các hóa chất dùng trong phosphate hóa
Dưới đây là một số hóa chất được sử dụng trong quá trình phosphate
hóa:
Zn2+: làm nâng cao tốc độ photphat, làm màng mịn, dung dịch photphat có
kẽm có thể hoạt động trong 1 khoảng rộng. Nhưng nếu hàm lượng ion
kẽm thấp, màng phosphate thô, tối; nhưng ngược lại, nếu hàm lượng ion
kẽm cao màng phosphate sẽ bị thô, giòn.
Mn2+: có thể nâng cao độ cứng, độ bền bám chắc và độ chống gỉ. Giúp
màng phosphate màu sắc đậm, kết tinh đồng đều. Nhưng nếu ở nhiệt độ
trung bình và thường, hàm lượng Mn2+ cao, màng khó sinh ra. Nhìn chung,
dung dịch phosphate ở nhiệt độ trung bình, Zn2+/Mn2+ = 1,5 ~2 :1 là vừa
phải.
Fe2+: tăng độ dày màng phosphate, tính năng cơ khí và phạm vi làm việc
rộng. Điều kiện để Fe2+ tương đối ổn định là dung dịch không vượt quá
70oC, hàm lượng gốc nitrat tương đối cao và hàm lượng Mn2+ ở mức
nhất định.
NO3: làm tăng tốc độ phosphate hóa, nâng cao độ khít lớp màng. Trong
điều kiện thích hợp, gốc nitrat tác dụng với Fe, tạo thành 1 lượng nhỏ
NO giúp ion Fe2+ ổn định.
F: là chất hoạt hóa tốt, giúp tăng sự hình thành hạt nhân kết tinh, độ hạt
mịn, chống gỉ tốt. Khi làm việc ở nhiệt độ thường, ion F rất cần thiết.
Nhưng khi hợp chất flo cao, làm việc ở nhiệt độ trung bình dễ sinh ra
màng trắng xốp, tuổi thọ dung dịch giảm.
NO2: ở nhiệt độ thường làm tăng tốc độ màng phosphate, giảm lỗ xốp,
kết tinh mịn, nâng cao độ bền chống gỉ. Nhưng nếu hàm lượng cao quá,
dễ sinh điểm trắng.
P2O5 : làm tăng tốc độ tạo màng, làm lớp màng mịn. Nếu hàm lượng thấp
quá, độ mịn của màng và độ chống gỉ kém nhưng nếu cao quá, kết tinh
không đều, độ bám chắc giảm, dễ sinh điểm trắng.
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sơn điện di [1]
4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến độ dày sơn điện ly
Độ dày của sơn điện di chỉ chủ yếu phụ thuộc vào điện thế: điện thế
càng cao lớp màng sơn càng dày.
Quan hệ giữa độ dày lớp sơn với thời gian sơn là: trong vài giây đầu,
độ dày càng tăng lên theo thời gian, nhưng khi thời gian đạt đến 90 giây, độ
dày không tăng lên nữa.
Ảnh hưởng của các nhân tố khác đến độ dày sơn điện di xem bảng 5.1
Bảng 3: Ảnh hưởng của các nhân tố khác đến độ dày sơn điện di
Nhân tố
Ảnh hưởng đến độ dày sơn điện di
Hàm lượng chất rắn trong nhựa Nếu hàm lượng cao, màng sơn dày
Nhiệt độ sơn điện di
Nếu nhiệt độ cao sơn càng dày
Dẫn điện
(Nhiệt độ sơn điện di thường từ 23 280C)
Nếu cao quá màng sơn dày
Hàm lượng axit
Nếu cao quá màng sơn mỏng
Độ hạt nhựa
Nếu lớn quá sơn dày, thô
pH
Nếu thấp quá sơn mỏng
4.2. Các sự cố và nguyên nhân xảy ra trong quá trình sơn điện di
Trong quá trình sơn điện di không tránh khỏi những sự cố xảy ra trong
quá trình. Sau đây là những sự cố và nguyên nhân xảy ra trong quá trình sơn
điện di xem bảng 5.2.
Bảng 4: Các sự cố và nguyên nhân xảy ra trong quá trình sơn điện
di
Sự cố
Châm kim
Nguyên nhân
Hàm lượng dung môi thấp.
Lượng axit quá cao.
Hàm lượng chất rắn thấp.
Chỗ không mạ
Sấy gia nhiệt nhanh.
Thuốc đánh bóng chưa làm sạch.
Màu cầu vồng
Chi tiết có dầu.
Lớp sơn mỏng.
Đóng cục
Lớp sơn quá dày.
Hàm lượng dung môi thấp.
Trong buồng sấy không khí không đủ hoặc đối
Sắp xếp không có quy luật
lưu không tốt.
Xử lý trước khi sơn khồng tốt
Bong
Dung môi nhiều
Độ cứng không đủ
Thời gian sấy không đủ, hoặc khồng đạt đến
độ sấy.
PHẦN 3: ỨNG DỤNG VÀ QUY MÔ CÔNG NGHỆ TRÊN THỊ TRƯỜNG
1. Ứng dụng
Sơn điện ly là công nghệ bảo vệ bề mặt tiên tiến. Có thể sử dụng trên
tất cả các bề mặt dẫn điện. Tạo ra lớp bảo vệ có độ cứng, khả năng chống
mòn và khả năng kháng axit rất cao.
Hình 5: Một số sản phẩm từ công nghệ sơn điện ly
Sơn điện ly được ứng dụng nhiều nhất trong sơn lót ô tô với số lượng
lớn trên dây truyền tự động..
Lớp sơn điện ly có tác dụng chống ăn mòn rất tốt và là lớp sơn đầu tiên
trong số một vài lớp phủ trên thân cũng như các chi tiết xe ôtô. Do vậy, sản
phẩm xe ôtô của hãng xe nổi tiếng thế giới audi có thời gian bảo hành hai
năm nhưng riêng nước sơn được bảo hành với thời hạn tới 10 năm.
2. Quy mô thị trường và hạn chế của công nghệ
2.1. Quy mô thị trường
Quy mô thị trường sơn điện ly phụ thuộc chủ yếu vào sản lượng các
loại xe ô tô mới như xe chở khách, xe thương mại, các thiết bị xây dựng công
suất cao, các thiết bị nông nghiệp. Do hiệu quả hơn trội, chi phí sản xuất
thấp và có khả năng đáp ứng các yêu cầu chặt chẽ về bảo vệ môi trường nên
sơn điện ly luôn có nhu cầu cao từ các lĩnh vực ứng dụng công nghiệp như
sản xuất xe ô tô, dụng cụ thiết bị, xây dựng, nội thất.
2.2. Hạn chế của công nghệ
Công nghệ sơn điện ly có nhiều ưu điểm và được ứng dụng lớn trong
công nghiệp. Nhưng nó vẫn tồn tại điểm hạn chế, trong đó hạn chế lớn cho
sự phát triển rộng khắp của công nghệ sơn điện ly là chi phí vốn đầu tư cao.
Đầu tư cho một dây chuyền sơn điện ly ở những hãng xe ô tô lớn trên thế
giới có thể lên tới hàng trăm triệu USD.