Tải bản đầy đủ (.pdf) (129 trang)

Hoàn thiện công tác xác định giá trị doanh nghiệp tại công ty TNHH chứng khoán ACB

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.11 MB, 129 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

VÕ LÝ ĐẠI THẮNG

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ
DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY TNHH
CHỨNG KHOÁN ACB
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số

: 60.34.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Trương Bá Thanh

Đà Nẵng - Năm 2013


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Võ Lý Đại Thắng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1


1. Tính cấp thiết của đề tài...................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.......................................................... 1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài...................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 2
5. Bố cục đề tài ....................................................................................... 2
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu ............................................................ 2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ
DOANH NGHIỆP ........................................................................................... 6
1.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN.................................... 6
1.1.1. Khái niệm công ty chứng khoán................................................... 6
1.1.2. Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán.......................... 7
1.2. CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP ............................ 8
1.2.1. Khái quát về giá trị doanh nghiệp và xác định giá trị doanh
nghiệp ................................................................................................................ 8
1.2.2. Vai trò công tác xác định giá trị doanh nghiệp........................... 11
1.2.3. Tổ chức thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp ....................... 13
1.2.4. Quy trình xác định giá trị doanh nghiệp ..................................... 14
1.2.5. Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp ............................... 20
1.2.6. Xác định mục tiêu xác định giá trị doanh nghiệp....................... 34
1.2.7. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác xác định giá trị doanh nghiệp
............................................................................................................... 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................................................ 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH
NGHIỆP TẠI CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN ACB ........................... 40
2.1. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG CỦA CÔNG TY............................. 40


2.1.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển ................................. 40
2.1.2. Hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp của ACBS trong thời
gian qua ........................................................................................................... 41

2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XĐGTDN TẠI CÔNG TY TNHH
CHỨNG KHOÁN ACB.................................................................................. 43
2.2.1. Thực trạng việc tổ chức thực hiện XĐGTDN ............................ 43
2.2.2. Thực trạng quy trình xác định giá trị doanh nghiệp ................... 45
2.2.3. Thực trạng việc lựa chọn và áp dụng phương pháp XĐGTDN . 55
2.2.4. Thực trạng việc xác định mục tiêu XĐGTDN ........................... 65
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XĐGTDN CỦA ACBS
TRONG THỜI GIAN QUA............................................................................ 66
2.3.1. Kết quả đạt được......................................................................... 66
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân............................................................. 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2................................................................................ 77
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH
NGHIỆP TẠI CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN ACB ........................... 79
3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ
DOANH NGHIỆP TRONG THỜI GIAN TỚI .............................................. 79
3.2. HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
TẠI CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN ACB ........................................... 81
3.2.1. Hoàn thiện việc tổ chức thực hiện XĐGTDN ............................ 81
3.2.2. Hoàn thiện quy trình xác định giá trị doanh nghiệp ................... 83
3.2.3. Hoàn thiện việc lựa chọn và áp dụng phương pháp XĐGTDN . 90
3.2.4. Hoàn thiện việc xác định mục tiêu xác định giá trị doanh nghiệp
phù hợp theo từng thương vụ định giá............................................................ 96
3.2.5. Nhóm giải pháp hỗ trợ công tác XĐGTDN tại ACBS ............... 97


3.3. CÁC KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ CÁC DN ĐƯỢC ĐỊNH
GIÁ ............................................................................................................. 101
3.3.1. Kiến nghị về phía Nhà nước ..................................................... 101
3.3.2. Kiến nghị về phía doanh nghiệp được định giá........................ 102
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3.............................................................................. 103

KẾT LUẬN .................................................................................................. 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................... 105
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACBS

Công ty TNHH Chứng khoán ACB

BTC

Bộ Tài Chính

CPH

Cổ phần hóa

CTCK

Công ty chứng khoán

DN

Doanh nghiệp

DNNN

Doanh nghiệp Nhà nước


ĐGTS

Định giá tài sản

GTDN

Giá trị doanh nghiệp

M&A

Mua bán sát nhập

TĐV

Thẩm định viên

TSHH

Tài sản hữu hình

TSVH

Tài sản vô hình

XĐGTDN

Xác định giá trị doanh nghiệp



DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng

Tên bảng

Trang

2.1

Tỷ trọng các loại hình dịch vụ XĐGTDN ở ACBS

41

2.2

Vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu ACBS qua các năm

42

2.3

Tỷ trọng phương pháp XĐGTDN được thực hiện tại ACBS

56

2.4

Cân đối kế toán rút gọn của Công ty 31/12/2008


60

2.5

Bảng cân đối kế toán rút gọn của Công ty 30/09/2009

63

3.1

XĐGTDN theo phương thức kết hợp của Chính phủ Pháp

92

3.2

XĐGTDN theo phương thức kết hợp của Dragon Capital

93

DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số hiệu
sơ đồ
3.1

Tên sơ đồ
Mô hình lựa chọn phương pháp XĐGTDN tại ACBS

Trang
91



1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ ngày chính thức khai trương Trung tâm Giao dịch chứng khoán
thành phố Hồ Chí Minh, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua gần 13
năm hoạt động. Khoảng thời gian ấy không phải là nhiều nhưng cũng không
thể nói là ít. Quy mô thị trường ngày càng được mở rộng với số lượng các
công ty niêm yết trên cả hai sàn ngày càng nhiều. Đây vừa là cơ hội vừa là
thách thức cho các chủ thể tham gia vào thị trường. Tại Việt Nam, các định
chế tài chính đã và đang áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định
giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên chúng ta không thể xác định được giá trị của
doanh nghiệp một cách hợp lý, mà để mua bán một tài sản thì giá cả của đối
tượng phải được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người mua và người
bán… Từ đó, nhu cầu cần phải xác định giá trị của một doanh nghiệp để tiến
hành cổ phần hoá, bán cổ phần để huy động vốn cho các mục tiêu phát triển
đất nước, hoặc chuyển nhượng phần hùn vốn giữa các bên trong công ty liên
doanh ngày một nhiều. Song, vấn đề gây nhức nhối là giá trị của không ít DN
được xác định quá sai lệch với giá trị thực; thời gian xác định quá dài; … là
những biểu hiện rõ nét về sự thiếu hoàn thiện trong công tác XĐGTDN.
Cùng với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam theo hướng
hiệu quả, theo xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các DN cần được chuyển đổi
sở hữu, cũng như giao dịch về DN (mua bán, sát nhập, hợp nhất…) sẽ ngày
càng tăng về số lượng và phức tạp loại hình, hoàn thiện công tác XĐGTDN
của tại CTCK ngày càng trở nên cấp bách. Trước yêu cầu bức xúc đó, tôi đã
chọn đề tài “ Hoàn thiện công tác xác định giá trị doanh nghiệp tại Công
ty Chứng khoán ACB ” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về công tác XĐGTDN.


2
- Đánh giá thực trạng công tác XĐGTDN tại Công ty TNHH Chứng
khoán ACB.
- Đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện công tác XĐGTDN của Công
ty TNHH Chứng Khoán ACB trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác xác định giá trị doanh nghiệp tại
ACBS.
- Phạm vi nghiên cứu: Số liệu tại đơn vị XĐGTDN và các doanh nghiệp
được XĐGTDN
- Thời gian nghiên cứu: Từ đầu năm 2008 đến cuối năm 2012(5 năm)
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp
thống kê, phân tích, lấy ý kiến chuyên gia, tổng hợp và so sánh, khảo sát thực
tế và tư duy logic kết hợp với các kiến thức tổng hợp từ nhiều lĩnh vực.
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác xác định giá trị
doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng công tác xác định giá trị doanh nghiệp tại công ty
TNHH Chứng khoán ACB.
Chương 3: Hoàn thiện công tác xác định giá trị doanh nghiệp tại công ty
TNHH Chứng khoán ACB.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hiện nay, tại Việt Nam, tầm quan trọng của việc định giá doanh nghiệp
ngày càng được khẳng định. Nó không chỉ tác động đến các doanh nghiệp
đang niêm yết và chuẩn bị niêm yết trên thị trường chứng khoán mà còn ảnh

hưởng đến các doanh nghiệp khác trong toàn bộ nền kinh tế_những doanh


3
nghiệp muốn phát triển bền vững và thu hút được sự quan tâm của giới đầu
tư. Do đó, việc định giá doanh nghiệp đang nhận được sự quan tâm mạnh mẽ
của nhiều giới, nhiều tầng lớp.
Tại Việt Nam, các định chế tài chính đã và đang áp dụng nhiều phương
pháp khác nhau để định giá doanh nghiệp. Việc định giá này không nằm
ngoài mục đích đưa kết quả ước lượng tiến gần đến giá trị thực. Vấn đề đặt ra
là trong số nhiều phương pháp định giá doanh nghiệp, phương pháp nào nên
được sử dụng trong từng trường hợp cụ thể và nó có tính thực tiễn trong điều
kiện thị trường tài chính Việt Nam hay không?
Ngoài những vấn đề mang tính lý thuyết về hình thành một phương pháp
tiếp cận khoa học cho vấn đề này thì trên các diễn đàn tranh luận của các
chuyên gia tài chính có rất nhiều vấn đề liên quan đến công tác định giá doanh
nghiệp được đưa ra như: về công tác định giá, tổ chức định giá, kiểm soát quá
trình định giá, lựa chọn tổ chức định giá, phương pháp định giá, cách thức bán
giá trị doanh nghiệp, tỷ lệ nắm giữ cổ phần nhà nước...; Tuy nhiên hiện chưa
có một đề tài nào nghiên cứu một cách tương đối toàn diện hơn về toàn bộ các
vấn đề này được công bố.
Trên thế giới, có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phương
pháp định giá doanh nghiệp. Năm 1994 tác giả Robert, Bergeth đã đề cập đến
phương pháp so sánh giá trị trường qua ấn phẩm How to sell your company
for the most profit xuất bản bởi Prentice Hall. Năm 1998, hai tác giả G. Baker
and G. Smith thuộc đại học Cambridge các nghiên cứu của mình qua Bài viết
Tạo dựng giá trị doanh nghiệp thông qua việc định giá các tài sản vô hình
(TSVH).
Đặc biệt, năm 2000, nhà xuất bản Mc Kinsey & Company Inc đã cho ra
đời các cuốn sách nói về định giá doanh nghiệp như Valuation Measuring and

Managing the Value of companies của các tác giả Tom Copeland, Tim Koller,


4
Jack Murring, cuốn Investment Valuation của tác giả Aswath Darmoleran và
cuốn Value Investing: A Balanced Approach của tác giả Martin J. Whitman.
Hầu hết các công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến phương pháp
định giá doanh nghiệp mục đích mua bán, sát nhập (Merger and Acquisition).
Gần đây nhất, tháng 8 năm 2006, tác giả Fredrik Sjoholm thuộc The European
Institute of Japanese Studies, Stockholm School of Economics đã có các
nghiên cứu của mình về doanh nghiệp nhà nước và CPH ở Việt Nam. Tuy
nhiên, nghiên cứu này chỉ công bố một số thông tin liên quan đến DNNN và
CPH ởViệt Nam.
Định giá doanh nghiệp là cung cấp thông tin hữu ích cho các cổ đông
hoặc nhà đầu tư muốn nắm bắt một cách chi tiết về tình hình hiện tại của công
ty trước khi đưa ra quyết định cuối cùng, các cơ hội và tiềm năng phát triển
cho tương lai. Định giá doanh nghiệp cho thấy cái nhìn tổng quát toàn diện
tình hình tài chính của công ty, có ý nghĩa và tác dụng quan trọng đối với
những đối tượng sử dụng thông tin về một tập đoàn. Nghiên cứu đề tài “Xác
định giá trị doanh nghiệp - trường hợp tại công ty cổ phần Đức Mạnh” của
Nguyễn Thị Kim Cúc (2011) đề tài này nghiên cứu lý luận về cách thức định
giá DN. Nhưng nghiên cứu này vẫn chưa chỉ ra được quy trình hợp nhất phù
hợp để áp dụng cho các công ty, tập đoàn khác. Phương pháp định giá trong
phạm vi hẹp chưa ứng dụng vào từng loại hình doanh nghiệp, từng hoạt động
cụ thể.
Luận án của tác giả Dương Thị Mỹ Lạng (2011) “Hoàn thiện công tác
thẩm định giá trị doanh nghiệp tại Công ty TNHH Thẩm định giá và dịch vụ
tài chính Đà Nẵng”. Trong luận án này tác giả đi vào nghiên cứu này quy
trình Thẩm định giá trị doanh nghiệp tại Công ty TNHH Thẩm định giá và
dịch vụ tài chính Đà Nẵng bằng cách tổ chức xây dựng quy trình thẩm định

GTDN từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện các phương pháp định giá áp


5
dụng vào thực tế.
Do yêu cầu và mục đích nghiên cứu khác nhau nên các công trình nghiên
cứu liên quan đến việc XĐGTDN chủ yếu dừng lại ở việc nghiên cứu phương
pháp XĐGTDN, hoặc những khía cạnh khác liên quan đến việc XĐGTDN
trong quá trình CPH DNNN. Đề tài “Hoàn thiện công tác xác định giá trị
doanh nghiệp tại Công ty TNHH Chứng khoán ACB” nhằm phân tích thực
trạng công tác xác định giá trị doanh nghiệp tại Công ty TNHH Chứng khoán
ACB, nêu đầy đủ quy trình, công việc cụ thể TĐV thực hiện XĐGTDN từ đó
chỉ ra những kết quả đạt được, những nguyên nhân dẫn đến hạn chế của công
tác XĐGTDN. Từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện
công tác XĐGTDN.


6
CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ
DOANH NGHIỆP
1.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1.1. Khái niệm công ty chứng khoán
Để hình thành và phát triển thị trường chứng khoán có hiệu quả, một yếu
tố không thể thiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường
chứng khoán. Mục tiêu của việc hình thành thị trường chứng khoán là thu hút
vốn đầu tư dài hạn cho việc phát triển kinh tế và tạo ra tính thanh khoản cho
các loại chứng khoán. Do vậy để thúc đẩy thị trường chứng khoán hoạt động
có trật tự, công bằng và hiệu quả cần phải có sự ra đời và hoạt động của các

công ty chứng khoán. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng
khoán cho thấy thời tiền sử của thị trường chứng khoán, các nhà môi giới hoạt
động cá nhân độc lập với nhau. Sau này, cùng với sự phát triển của thị trường
chứng khoán, chức năng và quy mô hoạt động giao dịch của các nhà môi giới
tăng lên đòi hỏi sự ra đời của công ty chứng khoán là tập hợp có tổ chức của
các nhà môi giới riêng lẻ.
Chúng ta có thể khái niệm công ty chứng khoán như sau: Công ty chứng
khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện nghiệp vụ trên thị
trường chứng khoán.
Ở Việt Nam, theo quyết định 04/1998/QĐ-UBCK ngày 13 tháng 10 năm
1998 của UBCKNN, công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được Uỷ ban chứng khoán
nhà nước cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh
chứng khoán.
Do đặc điểm một công ty chứng khoán có thể kinh doanh trên một lĩnh


7
vực, loại hình kinh doanh chứng khoán nhất định do đó hiện nay, có quan
điểm phân chia công ty chứng khoán thành các loại như sau: công ty môi giới
chứng khoán, công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán, công ty trái phiếu,
công ty chứng khoán không tập trung.
Hiện nay, có ba loại hình tổ chức cơ bản của công ty chứng khoán, đó là:
công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
1.1.2. Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán hoạt động theo 2 nhóm nguyên tắc cơ bản đó là
nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính.
- Nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức:
+ Công ty chứng khoán phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng
vì lợi ích của khách hành

+ Kinh doanh có kỹ năng, tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm
+ Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của
công ty
+ Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, không được tiết lộ các thông tin
về tài khoản của khách hàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằng văn bản
trừ khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước.
+ Công ty chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp
thông tin đầy đủ cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách
hàng có thể gặp phải, đồng thời họ không được khẳng định về lợi nhuận các
khoản đầu tư mà họ tư vấn.
+ Công ty chứng khoán không được phép nhận bất cứ một khoản thù lao
nào khác ngoài các khoản thù lao thông thường cho dịch vụ tư vấn của mình
+ Ở nhiều nước, các công ty chứng khoán phải đóng góp tiền vào quỹ
bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán để bảo vệ lợi ích khách hàng trong trường hợp
công ty chứng khoán mất khả năng thanh toán.


8
+ Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các công ty chứng
khoán không được phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng
khoán cho chính mình gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng.
+ Các công ty chứng khoán không được tiến hành các hoạt động có thể
làm cho khách hàng và công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của
chứng khoán hoặc các hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng.
- Nhóm nguyên tắc tài chính:
+ Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và các nguyên tắc hạch toán,
báo cáo theo quy định của UBCK Nhà nước. Đảm bảo nguồn tài chính trong
cam kết kinh doanh chứng khoán với khách hàng.
+ Công ty chứng khoán không được dùng tiền của khách hàng làm
nguồn tài chính để kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ

cho giao dịch của khách hàng.
+ Công ty chứng khoán phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách
hàng với tài sản của mình. Công ty chứng khoán không được dùng chứng
khoán của khách hàng làm vật thế chấp để vay vốn trừ trường hợp được
khách hàng đồng ý bằng văn bản.
1.2. CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
1.2.1. Khái quát về giá trị doanh nghiệp và xác định giá trị doanh
nghiệp
a. Giá trị doanh nghiệp
Để định nghĩa về GTDN, trước hết phải có những quan điểm đúng đắn
về giá trị và DN.
* Quan điểm về giá trị
Theo quan điểm của K.Maxx về giá trị hàng hóa, hàng hóa có hai thuộc
tính là giá trị và giá trị sử dụng. Khái niệm giá trị được xác định ở mặt chất và
mặt lượng. Chất của giá trị là hao phí lao động của con người. Lượng của giá


9
trị được đo bằng thời gian hao phí lao động. Khi trao đổi trên thị trường,
lượng của giá trị được đo bằng thời gian hao phí lao động xác hội cần thiết để
sản xuất ra hàng hóa. Sự cạnh tranh trong nội bộ ngành sẽ hình thành nên giá
trị thị trường, cạnh tranh giữa các ngành sẽ hình thành giá cả sản xuất.
Theo quan điểm lí thuyết hiện đại, Irving Fisher cho rằng giá trị của tài
sản tồn tại trong thời gian dài bằng giá trị hiện tại của các thu nhập tương lai.
M. Babcock đưa ra sự khác biệt giữa giá trị và giá cả: Giá trị gắn liền với lợi
ích thực sự của tài sản, còn giá cả là số tiền mà bên mua thuận trả để có, bên
bán thuận nhận để nhượng tài sản đó.
Từ các quan điểm trên: Giá trị của một tài sản là biểu hiện bằng tiền về
những lợi ích tài sản đó có thể mang lại cho chủ thể nào đó tại một thời điểm
nhất định.

* Quan điểm về DN
Thứ nhất: DN là một tổ chức, một đơn vị kinh tế chứ không phải giống
như tài sản thông thường. Nó là một thực thể hoạt động, thông qua sự hoạt
động mà người ta nhận ra DN. DN không phải là một tập hợp các tài sản vào
với nhau. Khi thực hiện phá sản, DN không còn tồn tại với tư cách một tổ
chức kinh doanh nữa. Vì vậy, GTDN là một khái niệm chỉ được dùng cho
những DN đang còn hoạt động và sẵn sàng hoạt động
Thứ hai: DN là một tổ chức, một đơn vị kinh doanh. Nhưng đồng thời
cũng là một hàng hóa. Chúng có thể được trao đổi, mua bán như những hàng
hóa thông thường khác.
Thứ ba: DN không phải là một kho hàng, doanh nghiệp không đơn giản
là tập hợp những tài sản vô tri vô giác, giá trị sử dụng của chúng bị giảm dần
theo thời gian. Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, đánh giá về doanh
nghiệp không chỉ đơn thuần nội dung đánh giá tài sản, mà điều quan trọng
hơn là phải đánh giá về mặt tổ chức


10
Thứ tư: Các nhà đầu tư thành lập ra DN không nhằm vào việc sở hữu các
tài sản của DN hay sở hữu một bộ máy kinh doanh năng động mà nhằm vào
mục tiêu chủ yếu là tìm kiếm lợi nhuận và tìm kiếm thu nhập. Tiêu chuẩn để
nhà đầu tư đánh giá hiệu quả hoạt động, quyết định bỏ vốn và đánh giá giá trị
doanh nghiệp là các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà
đầu tư trong tương lai
Nói tóm lại, GTDN là sự biểu hiện bằng tiền về các thu nhập mà DN
mang lại cho nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh tại một thời điểm nhất định.
b. Xác định giá trị doanh nghiệp
Xác định GTDN: hay còn gọi là định giá doanh nghiệp là việc ước tính
bằng tiền với độ tin cậy cao nhất về các khoản thu nhập mà DN có thể tạo ra
trong quá trình sản xuất kinh doanh, làm cơ sở cho các hoạt động giao dịch

thông thường của thị trường.
Từ khái niệm trên, có thể đưa ra 4 đặc trưng cơ bản về XĐGTDN:
- XĐGTDN chính là quá trình đánh giá hay ước lượng quyền được sở
hữu tài sản của DN hoặc quyền được nhận các khoản thu nhập cụ thể được
hình thành trong hoạt động kinh doanh
- XĐGTDN là một quá trình xác định giá trị cho một DN mà giá trị này
có thể được người mua, người bán hoặc nhà đầu tư chấp nhận làm cơ sở đàm
phán để đi đến các quyết định có lợi nhất.
- XĐGTDN là việc thiết lập một hệ thống qui trình, thủ tục và phương
pháp thích hợp nhất nhằm có được giá trị của DN hoặc giá trị lợi ích của DN
trong từng tình huống, mục đích, cơ sở định giá nhất định
- XĐGTDN là quá trình xác định mức độ hữu ích của DN trên cơ sở hiểu
biết sâu sắc về nó trong một môi trường xác định, theo một phương pháp nhất
định và trên quan điểm một bên nhất định.
Trong nền kinh tế thị trường, DN được coi như một hàng hóa. Chúng có


11
thể được mua bán, trao đổi. Vì vậy mà nhu cầu XĐGTDN xuất hiện là một
đòi hỏi hoàn toàn tự nhiên. Các hoạt động mua bán, sát nhập, hợp nhất, chia
nhỏ, giải thể, phá sản DN, phát hành cổ phiếu mới, tham gia đầu tư trên thị
trường chứng khoán, góp vốn vào DN khác,… luôn đặt ra yêu cầu cần thiết
phải XĐGTDN. Tuy nhiên XĐGTDN là một vấn đề không đơn giản, xét trên
cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
1.2.2. Vai trò công tác xác định giá trị doanh nghiệp
a. Công tác xác định giá trị doanh nghiệp
Cùng với khái niệm về XĐGTDN đã nêu ở trên, thì công tác xác định
giá trị là tổng thể các nguyên tắc, phương pháp, qui trình, cách thức tổ chức
thực hiện công việc XĐGTDN được kết hợp chặt chẽ, mang tính khoa học bắt
buộc phải tuân thủ nhằm có được GTDN hợp lý với độ tin cậy cao nhất.

Đặc trưng của công tác XĐGTDN:
- Tính đồng bộ
Công tác XĐGTDN không phải là sự kết hợp rời rạc các nguyên tắc,
phương pháp, quy trình, các thức tổ chức thực hiện công việc XĐGTDN, mà
chúng có mối quan hệ với nhau, cái này là tiền đề cho cái kia, vận hành một
cách thống nhất mang tính hệ thống
- Tính mục tiêu
Công tác XĐGTDN phải nhằm đạt được các mục tiêu nhất định và mục
tiêu cụ thể nào đó
- Tính năng động
Công tác XĐGTDN chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, khi các nhân tố
thay đổi thì công tác thay đổi theo. Ví dụ như công tác khi định giá DN sản
xuất sẽ khác với công tác định giá DN dịch vụ tư vấn tài chính. Nói cách
khác, công tác XĐGTDN chỉ được coi là thích hợp khi nó được đặt trong điều
kiện và hoàn cảnh cụ thể. Trong hoàn điều kiện hoàn cảnh khác nhau về


12
không gian và thời gian, mà không có sự vận động sáng tạo, hoặc điều chỉnh
một cách thích hợp thì rất có thể sẽ không đạt được kết quả như mong muốn,
thậm chí có thể gặp thất bại trong việc XĐGTDN.
b. Vai trò công tác xác định giá trị doanh nghiệp.
- Góp phần đưa ra được GTDN tin cậy, trung thực, tuân theo nguyên tắc
thị trường
Công tác XĐGTDN hướng dẫn sử dụng các phương pháp XĐGTDN phù
hợp với đặc điểm DN được định giá, áp dụng quy trình XĐGTDN khoa học
được cụ thể hóa thành những qui định, nguyên tắc thực hiện dịch vụ
XĐGTDN. Đó là những điều kiện quan trọng để hoạt động XĐGTDN được
tiến hành thuận lợi, từ đó giúp cho nhà đầu tư yên tâm khi sử dụng GTDN.
- Góp phần giúp cho Ban lãnh đạo và các nhà đầu tư kiểm tra, giám sát hoạt

động XĐGTDN
Sự hình thành và phát triển của TTCK, một mặt sẽ đóng góp tích cực vào
sự phát triển lĩnh vực tài chính – tiền tệ nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói
chung. Mặc khác, chúng có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực như: làm sai
lệch GTDN, hiện tượng “thổi giá”, gây mất lòng tin của các nhà đầu tư khi
đầu tư vào thị trường chứng khoán.
Công tác XĐGTDN đã phát huy vai trò kiểm tra giám sát chất lượng
hoạt động XĐGTDN thông qua việc tổ chức thực hiện việc XĐGTDN nhằm
phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những hiện tượng tiêu cực có thể nảy sinh
trong hoạt đông của CTCK.
- Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
Một trong những yếu tố quyết định làm nên thành công của CTCK đó là
uy tín trong hoạt động kinh doanh. Việc xác lập một công tác XĐGTDN đúng
đắn giúp cho CTCK nâng cao được chất lượng dịch vụ XĐGTDN của đơn vị,
nâng cao uy tín của đơn vị, thu hút thêm nhiều khách hàng đến sử dụng dịch


13
vụ XĐGTDN, từ đó tăng thêm được thu nhập từ dịch vụ XĐGTDN
- Góp phần thúc đẩy sự phát triển của các DN được xác định giá trị và
thị trường tài chính
Công ty có công tác XĐGTDN hoàn thiện thực hiện sẽ làm tăng độ tin
tưởng vào GTDN, làm giảm thiểu rủi ro trong việc sử dụng kết quả đó để ra
các quyết định liên quan đến hoạt động kinh doanh của DN như: góp vốn, tái
cấu trúc DN…
Đối với thị trường tài chính, hoạt động mua bán chứng khoán, hoạt động
M&A phát triển khiến cho dòng vốn chảy trong thị trường tài chính ngày
càng gia tăng mạnh mẽ. Để thực hiện các giao dịch đó, đòi hỏi phải có sự
đánh giá trên một phạm vi rộng lớn các yếu tốt tác động tới DN, trong đó,
GTDN là yếu tố có tính chất quyết định, là căn cứ trực tiếp để tiến hành giao

dịch. Do vậy , công tác XĐGTDN phải hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu cần có
các thông tin về GTDN có chất lượng cao, tạo điều kiện hoạt động thị trường
tài chính hoạt động hiệu quả.
1.2.3. Tổ chức thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp
Một trong những vấn đề hết sức quan trọng để XĐGTDN thành công ngoài
việc lựa chọn phương pháp XĐGTDN hợp lý, một quy trình XĐGTDN chặt chẽ,
còn phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức thực hiện XĐGTDN khoa học.
Để việc tổ chức thực hiện XĐGTDN một cách khoa học và hợp lý cần
phải làm tốt những vấn để chủ yếu sau:
- Tổ chức hợp lý nhóm XĐGTDN để thực hiện được toàn bộ công việc
XĐGTDN với sự phân công rõ ràng cho từng bộ phận, từng con người trong
nhóm.
Gắn liền với sự phân công, phân nhiệm là xây dựng chế độ lương,
thưởng nhằm khuyến khích động viên con người. Ngược lại lương hợp lý sẽ
bắt buộc con người gắn bó với tổ chức hơn, có trách nhiệm trong công việc.


14
- Xác định rõ mối quan hệ giữ các bộ phận trong CTCK, trong quá trình
thực hiện XĐGTDN và mối quan hệ với khách hàng.
- Tổ chức kiểm soát chất lượng hoạt động XĐGTDN.
Kiểm soát chất lượng hoạt động XĐGTDN là toàn bộ chính sách, quy
định nhằm hướng dẫn, kiểm tra, soát xét và đánh giá sự đầy đủ, hiệu lực và
đúng đắn đối với các công việc trong từng cuộc định giá cũng như toàn bộ
hoạt động CTCK. Đồng thời cũng đảm bảo rằng các công việc đã thực hiện là
phù hợp với các quy định, chuẩn mực.
Trên đây là những nội dung cơ bản của công tác XĐGTDN. Các nội
dung này cần được sử dụng một cách đồng bộ, phối hợp chặt chẽ với nhau
trong một chỉnh thể thống nhất nhằm tác động tới hoạt động XĐGTDN.
1.2.4. Quy trình xác định giá trị doanh nghiệp

Quy trình XĐGTDN là một nội dung rất quan trọng trong công tác
XĐGTDN. Quy trình XĐGTDN là trình tự tiến hành công việc của mỗi cuộc
định giá. Trình tự đó đã được sắp xếp theo thứ tự khoa học, logic phù hợp với
diễn biến khách quan của hoạt động XĐGTDN, được quy định áp dụng thống
nhất cho các cuộc định giá mà các TĐV phải tuân thủ khi tiến hành xác định
giá trị, nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả của các cuộc định giá.
Căn cứ vào phương pháp đã được lựa chọn, quy mô, đặc điểm DN mà
quy trình XĐGTDN có thể có sự thay đổi cho phù hợp. Tuy nhiên xét về mặt
lý luận bất kỳ một cuộc định giá nào cũng cần phải được tiến hành thông qua
bốn bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị XĐGTDN
Chuẩn bị XĐGTDN là một loạt những công việc phải thực hiện nhằm
mục đích đánh giá những thông tin sơ bộ về khách hàng, đối tượng định giá
và khả năng cung cấp dịch vụ.
Khi thực hiện các công việc trong giai đoạn này, tổ chức định giá cần


15
phải đánh giá toàn bộ khách hàng và đặc điểm cơ bản của khách hàng, xác
định yêu cầu cung cấp dịch vụ và khả năng chấp nhận cung cấp dịch vụ. Việc
thực hiện tốt các công việc giai đoạn này sẽ giúp tổ chức định giá xác định
đúng nhu cầu khách hàng, khả năng cung cấp dịch vụ nhằm đảm bảo chất
lượng XĐGTDN. Chuẩn bị XĐGTDN về cơ bản bao gồm:
Thứ nhất: Xem xét các yêu cầu XĐGTDN của khách hàng trên khía cạnh
chủ yếu như: nội dung yêu cầu, mục đích XĐGTDN, đối tượng định giá,
phạm vi XĐGTDN, thời gian thực hiện, phí XĐGTDN và hình thức báo cáo,
cũng như các điều kiện kèm theo khác của khách hàng.
Thứ hai: Tìm hiểu thông tin sơ bộ về đối tượng cần định giá liên quan
đến: Loại hình DN, cơ cấu tổ chức, quy mô, phạm vi hoạt động sản xuất kinh
doanh; Ngành nghề kinh doanh chủ yếu; Môi trường pháp lý liên quan đến

hoạt động kinh doanh, tranh chấp kiện tụng; Tổ chức công tác tài chính – kế toán.
Thứ ba: Chuẩn bị các nội dung đàm phán, thực hiện đàm phán, ký kết
hợp đồng cung cấp dịch vụ XĐGTDN với khách hàng. Các nội dung chủ yếu
liên quan đến hợp đồng được đưa ra dựa trên sự phân tích đánh giá những
thông tin ở trên.
Bước 2: Lập kế hoạch XĐGTDN
Sau khi có thông tin sơ bộ về khách hàng, đối tượng cần định giá và chấp
nhận XĐGTDN bằng hình thức là ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ
XĐGTDN, CTCK thực hiện lập kế hoạch XĐGTDN.
Lập kế hoạch XĐGTDN là việc dự kiến trước các công việc cần phải
làm khi thực hiện XĐGTDN một cách có hệ thống, theo thứ tự nhất định,
trong một thời gian nhất định với mục tiêu nhất định. Lập kế hoạch XĐGTDN
xuất phát từ yêu cầu của cuộc định giá và đòi hỏi tổ chức định giá phải tuân
theo đầy đủ nhằm đảm bảo việc XĐGTDN có hiệu quả và chất lượng.


16
Kế hoạch định giá bao gồm các nội dung chủ yếu như: dự kiến người
phụ trách thực hiện định giá, các tài liệu cần thiết, phương tiện vật chất, nhân
lực thích hợp cho cuộc định giá, những phương pháp XĐGTDN được áp
dụng, phạm vi, quy mô, nguồn thông tin cho việc XĐGTDN, thời gian bắt
đầu và kết thúc cuộc định giá.
Bước 3: Thực hiện XĐGTDN
Thực hiện XĐGTDN là quá trình thu thập, đánh giá, phân tích thông tin
và sử dụng các công thức, mô hình toán học phù hợp theo phương pháp
XĐGTDN đã được lựa chọn để đưa ra kết quả XĐGTDN. Đó là quá trình
triển khai một cách chủ động và tích cực các kế hoạch nhằm đạt được mục
tiêu XĐGTDN.
Việc thực hiện XĐGTN mang tính khoa học đòi hỏi phải tuân thủ những
nguyên tắc cơ bản gồm: phải tuyệt đối tuân thủ kế hoạch đã xây dựng và điều

chỉnh trong quá trình XĐGTDN, TĐV phải thường xuyên thu thập, đánh giá
bằng chứng nhằm đảm bảo kết quả XĐGTDN được xây dựng dựa trên đầy đủ
các căn cứ có tính khoa học và thực tiễn từ đó giúp cho việc hình thành các
nhận xét về kết quả XĐGTDN. Đây là bước rất quan trọng ảnh hưởng tới sự
thành công hay thất bại của việc XĐGTDN.
Thứ nhất: Thu thập tài liệu
Thu thập tài liệu là khâu rất quan trọng trong bước thực hiện XĐGTDN.
Tài liệu thu thập được là nguồn thông tin để phân tích, ước tính GTDN, lập
báo cáo XĐGTDN và trả lời theo các yêu cầu giải trình cho khách hàng hay
bất kỳ bên thứ ba nào.
GTDN chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố bao gồm nhân tố bên trong
cũng như nhân tố bên ngoài DN. Các nhân tố bên ngoài tác động đến GTDN
là các nhân tố không thuộc phạm vi kiểm soát của chính DN, chịu tác động
bởi diễn biến kinh tế xã hội của quốc gia và những quy định, luật của Nhà


17
nước. Những nhân tố này là tốc độ tăng trưởng kinh tế, tình trạng làm phát, lãi
suất tín dụng, đặc biệt là lãi suất ngân hàng, hoạt động thị trường chứng
khoán…Những nhân tố đó đều tác động đến lãi suất chiết khấu, thu nhập dự
kiến, mức độ rủi ro và do đó có ảnh hưởng đến GTDN. Các nhân tố bên trong
của DN là các nhân tố ảnh hưởng lớn và quyết định đến GTDN. Nhân tố bên
trong là các nhân tố thuộc về chủ quan, tức là thuộc về sự kiểm soát của
chính bản thân doanh nghiệp.
Do vậy việc thu thập tài liệu phục vụ cho XĐGTDN chính là việc đi thu
thập thông tin những nhân tố ảnh hưởng nói trên bao gồm:
Một là, thu thập thông tin về môi trường kinh doanh tổng quát: môi
trường kinh tế, môi trường chính trị - pháp luật, môi trường văn hóa – xã hội
và môi trường khoa học – công nghệ
Hai là, thu thập thông tin về môi trường đặc thù của DN: quan hệ DN

với khách hàng, quan hệ DN với nhà cung cấp, quan hệ của DN với đối thủ
cạnh tranh, quan hệ DN với cơ quan Nhà nước.
Ba là, thu thập thông tin về yếu tố nội tại DN: hiện trạng tài sản trong
DN, vị trí kinh doanh, uy tín kinh doanh, trình độ kỹ thuật và tay nghề người
lao động trong DN, năng lực quản trị kinh doanh.
Bốn là, thu thập thông tin về tình hình tài chính của DN: các báo cáo tài
chính DN gồm: báo cáo lưu chuyển tiền tệ, bảng cân đối kế toán, báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh.
Trong trường hợp đánh giá các thông tin, tài liệu chưa đảm bảo đầy đủ
và tin cậy để đảm bảo mục tiêu XĐGTDN thì cần phải mở rộng thêm phạm vi
tìm kiếm thông tin khác. Đồng thời, TĐV phải chịu trách nhiệm về mọi bằng
chứng đã thu thập cho dù có từ nguồn nào và ở dạng nào.
Thứ hai: Khảo sát đối tượng định giá
Sau khi thu thập tài liệu, để có cái nhìn khách quan về các tài liệu thu


18
thập cũng như có thêm những dữ liệu về đối tượng định giá, tổ chức định giá
phải tiến hành khảo sát đối tượng định giá – DN đang được định giá.
Quá trình khảo sát đối tượng định giá là việc hình thành mối quan hệ
giữa các dữ liệu đã thu thập được về DN, môi trường kinh doanh với tình hình
hiện tại cũng như triển vọng trong tương lai của DN.
Qui mô cuộc khảo sát phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mục đích định
giá, đặc điểm hoạt động của DN, quy mô và mức độ phức tạp của hợp đồng
cung cấp dịch vụ XĐGTDN. Để đảm bảo cho việc khảo sát thành công, tổ
chức định giá phải chuẩn bị danh sách những câu hỏi trước khi định giá. Khi
chuẩn bị bảng câu hỏi khảo sát, bắt buộc tổ chức định giá phải xem xét trước
các báo cáo tài chính và những thông tin cơ bản của DN, từ đó có được cái
nhìn khái quát về DN và mới có câu hỏi chi tiết để làm rõ các vấn đề cần thiết
cho cuộc định giá.

Thứ ba: Phân tích tài liệu
Phân tích tài liệu là khâu rất phức tạp đòi hỏi cần có những TĐV có kinh
nghiệm để thực hiện. Đó chính là quá trình sàn lọc, lựa chọn những tài liệu
quan trọng nhất, có nguồn dữ liệu tin cậy để nghiên cứu, đánh giá tìm ra
những thông tin hữu ích nhất phục vụ cho việc ước tính GTDN hợp lý và tin
cậy nhất. Do vậy, về cơ bản CTCK cần có những bước phân tích sau:
+ Phân tích môi trường bên ngoài có thể nhận dạng được cơ hội và hiểm
họa của DN, nhờ đó có thêm thông tin để dự báo viễn cảnh phát triển của DN.
+ Phân tích bên trong nhằm nhận dạng chuỗi giá trị của DN, năng lực
khác biệt của nó, từ đó phát hiện được các điểm mạnh và điểm yếu của DN.
+ Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp đang được định giá. Mục
đích của việc phân tích này là để hiểu rõ hơn nguồn gốc thu nhập của DN và
khả năng tạo ra thu nhập của DN, hiểu rõ được tình hình tài sản của DN.
Thông qua việc phân tích BCTC DN để tổ chức định giá có những điều chỉnh


×