3
Chuyên đề 2
SỰ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN TÁI SẢN XUẤT TRONG LỊCH SỬ CÁC
HỌC THUYẾT KINH TẾ
1. Lý luận tái sản xuất của các trường phái kinh tế chính trị trước
C.Mác
1.1. Lý luận tái sản xuất của kinh tế chính trị tư sản cổ điển
* Biểu kinh tế của F.Kene(1694-1774)
“Biểu kinh tế’ được đánh giá là một trong những cống hiến to lớn đối
với lịch sử các tư tưởng kinh tế của nhân loại. C.Mác nhận xét: Việc làm này
thực hiện vào giữa thế kỷ XVIII thuộc thời kỳ ấu trĩ của kinh tế chính trị, là
một tư tưởng hết sức thiên tài, rõ ràng, là một tư tưởng thiên tài nhất trong tư
tưởng mà khoa kinh tế chính trị đã đề ra cho đến bây giờ. Mitabeau, một
người theo trường phái trọng nông đã ca ngợi biểu kinh tế của F. Kene, xem
nó là một trong 3 phát minh quan trọng nhất: Phát minh ra tiền tệ; phát minh
ra nghề in; biểu kinh tế của F. Kene.
- Những giả định của F.Kene khi nghiên cứu tái sản xuất
+ Chỉ nghiên cứu tái sản xuất giản đơn. Bởi như C.Mác phân tích sau
này nghiên cứu tái sản xuất giản đơn là nghiên cứu yếu tố hiện thực của tích
luỹ, của tái sản xuất mở rộng.
+ Lấy tư bản hàng hoá làm điểm xuất phát, sau này C. Mác cũng đã
làm như vậy.
+ Khơng tính đến biến động về giá cả (giá cả bằng giá trị).
+ Khơng tính đến ngoại thương, đây là giả định cần thiết mà sau này
Sismondi và phái dân t Nga đã khơng hiểu khi phân tích lý luận tái sản xuất.
+ Tái sản xuất là quá trình thực hiện tổng sản phẩm xã hội cả về hiện
vật và giá trị. Q trình lưu thơng sản phẩm gắn với lưu thông tiền tệ, tiền trở
về điểm xuất phát ban đầu khi hết một chu kỳ tái sản xuất.
4
+ Trao đổi tổng sản phẩm xã hội là sự trao đổi giữa ba giai cấp: Giai
cấp sở hữu, giai cấp sản xuất, giai cấp không sản xuất.
+ Giá trị tổng sản phẩm xã hội gồm 7 tỷ Frăng, trong đó 5 tỷ là sản
phẩm nơng nghiệp, 2 tỷ là sản phẩm của giai cấp không sản xuất.
+ Trong 5 tỷ sản phẩm nơng nghiệp có: 1 tỷ bù đắp tư bản ứng trước
đầu tiên; 2 tỷ để bù đắp khoản ứng ra hàng năm (tư bản lưu động); 2 tỷ sản
phẩm thuần tuý nộp cho giai cấp sở hữu.
+ Trong 2 tỷ sản phẩm công nghiệp của giai cấp không sản xuất
được phân thành: 1 tỷ để bù đắp hao phí nguyên vật liệu; 1 tỷ để bù đắp tư
liệu tiêu dùng.
-
Để lưu thông 7 tỷ sản phẩm trên, giai cấp sản xuất có 2 tỷ tiền
mặt với tư cách là tiền tô để trả cho giai cấp sở hữu.
* Biểu kinh tế của F.Kene phân tích q trình vận động của tổng sản
phẩm xã hội trong tái sản xuất giản đơn được thể hiện thông qua 5 hành vi và
có thể minh hoạ bằng sơ đồ sau:
* Quá trình tái sản xuất diễn ra như sau:
- Giai cấp sản xuất trả cho giai cấp sở hữu 2 tỷ tiền tơ. Giai cấp sở hữu
khơng sản xuất gì chỉ tiêu dùng sản phẩm thuần tuý:
+ Hành vi 1: Giai cấp sở hữu dùng 1 tỷ mua hàng tiêu dùng ở giai cấp
sản xuất. Vậy là 1 tỷ sản phẩm nông nghiệp ra khỏi lưu thông đi vào tiêu dùng
của giai cấp sở hữu.
+ Hành vi 2: Giai cấp sở hữu dùng 1 tỷ tiền còn lại tiếp tục mua hàng
công nghệ của giai cấp không sản xuất. Như vậy là 1 tỷ trong 2 tỷ sản phẩm
công nghiệp đi vào tiêu dùng của giai cấp sở hữu.
+ Hành vi 3: Sau khi nhận được 1 tỷ của giai cấp sở hữu, giai cấp
khơng sản xuất đem tiền đó mua tư liệu sinh hoạt của giai cấp sản xuất. Như
vậy, giai cấp sản xuất đã thực hiện được 2/5 sản phẩm của mình
5
Mua 1 tỷ nguyên liệu (Hành vi 5)
1 tỷ mua nông
sản
(Hành vi 1)
GCSH
GCSX
1 tỷ mua
hàng công
nghệ phẩm
(Hành vi
2)
2 tỷ
tiền
5 tỷ SP
GCKSX
2 tỷ
SP
Mua 1 tỷ nông sản (Hành vi 3)
1 tỷ TLSX (Hµnh vi 4)
+ Hành vi 4: Giai cấp sản xuất lại dùng 1 tỷ vừa nhận được mua tư liệu
sản xuất của giai cấp không sản xuất. Vậy là đã thực hiện xong sản phẩm của
của giai cấp không sản xuất.
+ Hành vi 5: Giai cấp không sản xuất lại đem 1 tỷ vừa nhận được mua
nguyên liệu nông nghiệp của giai cấp sản xuất. Như vậy, kết quả là giai cấp
sản xuất đã bán 3 tỷ sản phẩm, cịn 2 tỷ sản phẩm để bù đắp chi phí hàng năm
và số tiền mặt là 2 tỷ.
Như vậy có thể tiếp tục quá trình tái sản xuất giản đơn.
* Những nhận xét rút ra từ việc nghiên cứu biểu kinh tế của F.Kene:
những công lao của F. Kene là:
- Đã sử dụng khá thành thạo phương pháp trừu tượng hoá khoa học.
Đưa ra những giả định cơ bản là đúng và chỉ trên cơ sở những giả định đó
6
mới nghiên cứu được quá trình tái sản xuất tư bản xã hội.
- Đã phân tích sự vận động của tổng sản phẩm xã hội trên cả hai mặt
giá trị và hiện vật, nghiên cứu sự vận động của sản phẩm kết hợp với sự vận
động ngược chiều của tiền tệ.
- Phân tích sự lưu thơng tiền tệ phải theo quy luật tiền bỏ vào lưu thông
phải quay về điểm xuất phát ban đầu, vì nếu tiền khơng quay về điểm xuất
phát ban đầu thì quá trình tái sản xuất sẽ khơng thể diễn ra.
Tuy vậy, trong phân tích biểu kinh tế, F. Kene cịn có hạn chế là chưa
thấy được cơ sở tái sản xuất mở rộng trong nông nghiệp, thậm chí tái sản xuất
giản đơn trong cơng nghiệp cũng khó thực hiện được; đánh giá sai vai trị sản
xuất cơng nghiệp.
* Lý thuyết tái sản xuất của A.Smith(1723-1790)
A.Smíth dựa trên cơ sở lý luận về giá trị lao động để xây dựng lý luận
tái sản xuất, song cho rằng giá trị của hàng hoá bao gồm các thu nhập: tiền công, lợi nhuận, địa tô. Theo ông “tiền công, lợi nhuận và địa tô là ba cái
nguồn ban đầu của bất cứ thu nhập nào... tổng giá trị trao đổi hay giá cả của
sản phẩm hàng năm, nhất thiết phải chia thành ba bộ phận đó”. Như vậy tổng
giá trị của hàng hố chỉ có ( v + m), chỉ bằng giá trị mới sáng tạo ra, còn bộ
phận giá trị cũ tham gia vào quá trình sản xuất đã bị A.Smíth loại ra khỏi giá
trị của hàng hố. Ơng coi giá trị của tư liệu sản xuất nằm trong tiền lương, lợi
nhuận và địa tô.
Sai lầm của A.Smíth là ơng lẫn lộn tồn bộ giá trị của sản phẩm với
giá trị mới sáng tạo ra; ông không thấy được tính chất hai mặt của lao động
sản xuất hàng hố, khơng thấy được sự chuyển dịch giá trị cũ và sự sáng tạo
ra giá trị mới. A.Smíth đã vấp phải vấn đề cần phải phân biệt trong lý luận, đó
là hai hình thức lao động, một thứ cung cấp những vật phẩm tiêu dùng, còn
một thứ cung cấp những sản phẩm khơng phải để tiêu dùng (máy móc, công
7
cụ). Lênin cho rằng, chỉ cần tiến một bước nữa là thừa nhận hai hình thức tiêu
dùng. Tiêu dùng cho cá nhân và tiêu dùng cho sản xuất.
Như vậy, A.Smíth đã có một bước tiến dài so với những người trước
ơng. Ở ơng đã có mầm mống thiên tài về sự phân chia nền sản xuất thành hai
khu vực. Chính K.Marx đã bắt gặp “gợi ý” của A.Smíth và đã phát triển lên
thành một lý luận đặc sắc về sự thực hiện sản phẩm xã hội trong xã hội tư bản
chủ nghĩa. Về tái sản xuất mở rộng, C. Mác đánh giá cao A.Smith đã phân
biệt được tích luỹ và cất trữ, tích luỹ thì phải giành một phần giá trị thặng dư
để thuê thêm công nhân. Luận điểm này của A.Smith nói rõ nguồn gốc của
tích luỹ tư bản là lao động. Nhưng ông đã phạm sai lầm cho rằng việc tích luỹ
tư bản chỉ là việc biến giá trị thặng dư thành tư bản khả biến phụ thêm, khơng
có tư bản bất biến phụ thêm.
Lý luận tái sản xuất của A.Smith đã đề cập đến sản phẩm - chia làm hai
nhóm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng; giá trị sản phẩm gồm có c + v +
m, phân chia nền sản xuất xã hội 2 khu vực, nhưng phân tích lý giải đầy đủ,
đúng đắn những vấn đề này phải chờ đến Mác mới giải quyết được.
- Đánh giá những sai lầm của A.Smith về lý luận tái sản xuất của
C.Mác: A.Smith mắc phải sai lầm mà C.Mác gọi là sai lầm “Tính điều” là đã
bỏ C ra ngồi giá trị hàng hố. Ơng xây dựng lý luận tái sản xuất trên cơ sở
cho rằng giá trị của hàng hoá gồm các khoản thu nhập: Tiền lương, lợi nhuận,
địa tô. Đôi lúc ông thấy sự trái ngược sai lầm “Tính điều”, ơng đã dùng khái
niệm tổng thu nhập “Để lén lút”đưa C vào.
Nguồn gốc sai lầm của A.Smith là ơng đã lẫn lộn tồn bộ giá trị của sản
phẩm với giá trị mới sáng tạo ra, ơng khơng thấy được tính chất 2 mặt của lao
động sản xuất hàng hoá.
* Lý luận tái sản xuất của D.Ricardo(1772-1823)
- Không hiểu được sự phân chia C, V nên đã sai lầm giống như A.
8
Smith đã bỏ qua C, không thể hiểu được ảnh hưởng C/V của tư bản.
- D. Ricardo cũng không phát triển được lý luận tái sản xuất (V.I.Lênin
đã nhận xét: Các nhà kinh tế học sau A.Smith đã lặp lại sai lầm của A.Smith,
nên không tiến thêm được một bước nào cả).
- Tuy nhiên, D.Ricardo cũng đã đưa ra được một số luận điểm đúng, ví
dụ, xem tiêu dùng là do sản xuất quyết định và muốn mở rộng sản xuất thì
phải tích luỹ, phải làm cho sản xuất vượt quá tiêu dùng, sản xuất tạo ra thị
trường. Nhưng ông khơng nhìn thấy được mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu
dùng dưới chủ nghĩa tư bản, D.Ricardo cho rằng, chủ nghĩa tư bản khơng có
hạn chế trở ngại gì trong việc mở rộng sản xuất, trừ phi có sự giảm sút. Ông
phủ nhận khả năng khủng hoảng sản xuất thừa, trong chủ nghĩa tư bản mua,
bán là thống nhất. Cho nên nếu có mất cân đối chỉ là mất cân đối cục bộ,
D.Ricardo mất 1823, bản thân chưa nhìn thấy được khủng hoảng đầu tiên của
chủ nghĩa tư bản vào năm 1825. Đó là lý do lịch sử tha thứ cho quan điểm sai
lầm trên của ông.
1.2. Lý luận tái sản xuất của kinh tế chính trị tầm thường và tiểu
tư sản
Kinh tế Chính trị Tư sản Tầm thường xuất hiện vào những năm 30 của
thế kỹ XIX. Lúc này, CNTB đã giữ địa vị thống trị ;cách mạng công nghiệp
thành công ở hầu hết các nước tư bản phát triển, giai cấp cơng nhân bị bóc lột
thậm tệ, phong trào đấu tranh tăng nhanh, khủng hoảng kinh tế nổ ra. Lý luận
KTCT tư sản cổ điển khơng ịn phù hợp, khách quan cần có lý luận mới.
KTCTTS tầm thường ra đời, nó khơng phát triển tư tưởng kinh tế tư sản cổ
điển mà đi vào biện hộ cho chủ nghĩa tư bản. C. Mác gọi là “Tầm thường hóa
kinh tế chính trị tư sản cổ điển”.
1.2.1. Lý luận tái sản xuất của kinh tế chính trị tầm thường
9
* Lý luận tái sản xuất của Malthus(1766-1340
Malthes cho rằng khối lượng hàng hóa sản xuất ra nếu chỉ trong chờ
vào những người đảm nhiệm sản xuất (giai cấp tư sản và cơng nhân) thì
khơng thể tiêu thụ hết, khơng thể tìm ra lượng cầu có khả năng thanh tốn
phần lượng cung. Do đó tình trạng thừa hàng hóa sẽ xuất hiện, dẫn đến khủng
hoảng sản xuất thừa. Để khắc phục tình trạng khủng hoảng sản xuất thừa phải
có giai cấp thứ ba, tầng lớp không sản xuất như tăng lữ, quân đội, cảnh sát,
viên chức nhà nước... Ông gọi đó là “người thứ ba” để chống khủng hoảng
sản xuất thừa. Ông đề nghị tăng thuế cho nhà nước, địa tơ cho địa chủ và chi
phí cho qn đội và chiến tranh.
* Lý luận tái sản xuất của J.B.Say(1766-1832)
J.B.Say muốn chứng minh cho tái sản xuất tư bản chủ nghĩa là nhịp
nhàng khơng có khủng hoảng kinh tế, chỉ có sản xuất thừa bộ phận. Theo ông
trong xã hội TB, sản phẩm bao giờ cũng được trao đổi lấy sản phẩm. Lợi ích
của tất cả những người sản xuất hình như là trao đổi sản phẩm này lấy sản
phẩm khác, tiền chỉ đóng vai trị trung gian nhất thời. Cuối cùng hàng hóa chỉ
được đổi bằng hàng hóa, vì người ta chỉ mua một hàng hóa nào đó bằng tiền
nhận được do bán những hàng hóa khác. Một khi sản phẩm được trao đỏi lấy
sản phẩm khác thì người bán đồng thời là người mua. Do đó mỗi sản phẩm
được sản xuất ra không chỉ tạo ra lượng cung mà cịn tạo ra lượng cầu, nó tự
mở thị trường tiêu thụ cho sản phẩm khác.
Ơng thừa nhận là, có thể mất cân đối giữa cung và cầu, xẩy ra ở một
vài loại hàng hoá riêng lẻ do những người muốn mua hàng hóa ấy khơng đủ
phương tiện để mua. Điều đó có nghĩa họ khơng đủ vật phẩm để đổi lấy vật
phẩm mà họ cần. Trường hợp này do có sự sản xuất yếu kém ở một bộ phận
hoặc một ngành nào đó. Đây là nguyên nhân mất cân đối. Có thể giải quyết
tình trạng này bằng đẩy mạnh sản xuất ở những ngành yếu kém ấy.
10
Cũng như D.Ricardo, việc J.B.Say phủ nhận khủng hoảng kinh tế là
một sai lầm. Thực tế sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bác bỏ quan điểm của Say.
Trong lý luận tái sản xuất, J.B.Say đã đánh tráo đối tượng nghiên cứu:
Thay quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng sản xuất hàng hố giản đơn, từ
đó rút ra kết luận cho sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong sản xuất hàng hố giản
đơn thì khủng hoảng sản xuất thừa chỉ là mầm mống, khả năng; nhưng trong
sản xuất tư bản chủ nghĩa thì khả năng ấy tất yếu trở thành hiện thực. Sản xuất
thừa ở đây không phải là sản xuất thừa sản phẩm mà là sản xuất thừa hàng
hoá, nghĩa là thừa so với khả năng thanh tốn của đa số nhân dân lao động,
chứ khơng phải thừa so với nhu cầu tự nhiên của họ.
1.2.2. Lý luận tái sản xuất của kinh tế chính trị tiểu tư sản
Ra đời vào giai đoạn CNTB bắt đầu phát triển mạnh (cuối thế kỷ
XVIII, đầu thế kỷ XIX. Đại công nghiệp phát triển làm phá sản hàng loạt
những người sản xuất nhỏ. Lý luận KT tiển tư sản ra đời nhằm khôi phục ,
bảo vệ sản xuất nhỏ, bảo vẹ giai cấp tiểu tư sản
Lý thuyết tái sản xuất của Símondi(1773-1842)
Đây là lý thuyết trung tâm của Símondi. Ơng cho rằng mục đích của
sản xuất là tiêu dùng. Từ “tín điều” Smith, ơng đi đến kết luận là sản xuất phù
hợp với thu nhập, mà thu nhập quyết định tiêu dùng, nên sản xuất phải phù
hợp với tiêu dùng. Đó là điều kiện để thực hiện sản phẩm. Nếu sản xuất vượt
quá tiêu dùng, hay nói cách khác, là “tiêu dùng khơng đầy đủ’, thì có một bộ
phận sản xuất thừa ra, khơng thực hiện được giá trị. Vì vậy, dẫn đến sản xuất
thừa, khủng hoảng kinh tế.
Theo ông, trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thị trường trong nước
thường xuyên bị thu hẹp. Nguyên nhân của nó là người công nhân bị bần
cùng thất nghiệp, nên thu nhập của họ bị giảm sút, nhà tư bản không tiêu dùng
hết thu nhập của họ, mà cịn tích luỹ lại một phần thu nhập đó. Người sản xuất
11
nhỏ bị phá sản, nên cũng bị giảm thu nhập và giảm tiêu dùng. Như vậy, sản
xuất tăng lên mà tiêu dùng lại không đầy đủ, nên thị trường trong nước không
thể thực hiện được “siêu giá trị”.
Muốn thực hiện được “siêu giá trị” ơng thấy là phải có ngoại thương.
Ơng cho rằng, ngoại thương như “lỗ thơng hơi” của chủ nghĩa tư bản. Nhờ đó
mà “siêu giá trị” có thể được thực hiện. Song, vì nước nào cũng đẩy mạnh
hoạt động ngoại thương, nên việc thực hiện “siêu giá trị” vẫn khó khăn. Do
vậy, ơng cho rằng, phải có tầng lớp “người thứ ba” để tăng sức mua, tăng tiêu
dùng. “người thứ ba” này không phải là giai cấp công nhân, không phải là nhà
tư bản, mà là giai cấp tiểu tư sản, những người thợ thủ công, nông dân cá thể,
tiểu thương.
Như vậy, nguyên nhân khủng hoảng kinh tế sản xuất thừa là do giai cấp
tiểu tư sản bị phá sản. Con đường giải quyết khủng hoảng sản xuất thừa là
củng cố phát triển sản xuất nhỏ.
Símondi là đại biểu cho lợi ích của giai cấp tiểu tư sản. Lý luận tái sản
xuất của ơng có nhiều sai lầm: đã đồng nhất sản xuất với thu nhập nên không
phân biệt được sự khác nhau giữa tư bản và thu nhập quốc dân (theo A.Smith,
ông cho sản xuất hàng năm và thu nhập quốc dân bằng nhau và hơn nữa ông cho
rằng thu nhập quyết định sản xuất); không phân biệt được tiêu dùng cho sản xuất
và tiêu dùng cá nhân và do đó khơng thấy được vai trị của tích luỹ sản xuất.
1.3. Lý luận tái sản xuất của C.Mác và Ph.Ănghen
Lý luận tái sản xuất của C.Mác đã vạch rõ quy luật vận động của tổng
sản phẩm xã hội, mâu thuẫn của quá trình tái sản xuất và những nguyên lý của
một nền sản xuất lớn.
Về mặt nội dung, tái sản xuất có những nội dung chủ yếu: Tái sản xuất
của cải vật chất, tái sản xuất sức lao động, tái sản xuất quan hệ sản xuất và tái
sản xuất môi trường. Về mặt quy mô, tái sản xuất được chia thành 2 loại: Tái
sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
12
* Những giả định theo phương pháp trừu tượng hoá khoa học của
C.Mác.
Khi nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội, C.Mác đã nêu ra 5 giả
định sau:
Thứ nhất: Toàn bộ nền kinh tế trong nước là nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa thuần tuý, nghĩa là nền kinh tế tư bản chỉ có hai giai cấp cơ bản là tư
bản và cơng nhân.
Thứ hai: Hàng hố được mua và bán theo đúng giá trị, giá cả phù hợp
với giá trị.
Thứ ba: Cấu tạo hữu cơ của tư bản (c/v) khơng đổi.
Thứ tư: Tồn bộ tư bản cố định chuyển hết giá trị của nó vào sản phẩm
trong một năm.
Thứ năm: Không xét đến ngoại thương.
Nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội là nghiên cứu điều kiện thực hiện
tổng sản phẩm xã hội, do đó C. Mác đã sử dụng phương pháp trừu tượng hoá
với năm giả định trên.
Ví dụ: C.Mác đã chứng minh quy luật cấu tạo hữu cơ c/v nâng cao,
nhưng ở đây C.Mác lại giả định c/v không đổi để cho vấn đề không trở nên
phức tạp.
Chính C.Mác đã khẳng định khơng thể hình dung nổi chủ nghĩa tư bản
mà khơng có ngoại thương, thị trường dân tộc tất yếu gắn với thị trường thế
giới. Nếu đưa ngoại thương vào chỉ làm cho vấn đề thêm phức tạp hơn, cịn
bản chất vẫn khơng đổi.
* Điều kiện thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
- Điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất giản đơn
+ Sơ đồ của C. Mác:
Khu vực I: 4000 c + 1000v + 1000m = 6000 (TLSX)
13
Khu vực II: 2000c + 500v + 500m = 3000 (TLTD)
+ Điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất giản đơn
Điều kiện thứ nhất: I (v + m) = IIc; Cung về TLSX của khu vực I về
TLSX mới ra (Ngoài phần bù đắp TLSX của khu vực I) phải bằng cầu về
TLSX của II.. Điều này phản ánh quan hệ cung – cầu về TLSX và TLTD của
2 khu vực trong nền kinh tế.
Điều kiện thứ hai: I (c + v + m) = Ic + IIc ; Tổng cung về TLSX của xã
hội bằng tổng cầu về TLSX trong năm của cả hai khu vực.
Điều này phản ánh quan hệ cung cầu về TLSX trong xã hội.
Điều kiện thứ ba: II (c + v + m) = I (v + m) + II (v + m). tổng cung về
TLTD của xã hội bằng tổng cầu về tư liệu tiêu dùng trong năm của xã hội.
Phản ánh quan hệ cung cầu về TLTD trong xã hội.
Có đủ 3 điều kiện đó thì tái sản xuất giản đơn tư bản xã hội mới được
tiến hành trôi chảy.
- Điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất mở rộng
+ Sơ đồ tái sản xuất tư bản xã hội của C.Mác
I: 4000c + 1000v + 1000m = 6000 (TLSX)
II: 1500c + 750v + 750m = 3000 (TLTD)
Điều kiện tiên quyết của tái sản xuất mở rộng là phải tích luỹ tư bản
+ Điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất mở rộng:
Điều kiện thứ nhất: I (v + m) > IIc; khu vực I phải sản xuất nhiều
TLSX hơn so với với tái sản xuất giản đơn, để khu vực II có thêm TLSX mở
rộng sản xuất.
Điều kiện thứ hai: I (c + v + m) > Ic + IIc
Nhằm đảm bảo cung cấp TLSX cho cả hai khu vực. Toàn bộ giá trị sản
phẩm của I > giá trị TLSX đã tiêu dùng của cả 2 khu vực.
Điều kiện thứ ba: II (c + v + m) < I (v + m) + II (v + m). Thu nhập
14
quốc dân phải lớn hơn phần tiêu dùng của xã hội, có như vậy mới có tích
lũy cho TSX mở rộng. Giá trị mới của hai khu vực phải lớn hơn giá trị sản
phẩm của khu vực II.
Ba điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất mở rộng
tư bản xã hội, trong đó điều kiện thứ nhất được coi là điều kiện cơ bản, còn
điều kiện thứ hai và thứ ba là điều kiện thực hiện tổng sản phẩm trong tái sản
xuất tư bản xã hội.
1.4. V.I. Lênin phát triển lý luận tái sản xuất tư bản xã hội
V.I.Lênin đã vận dụng lý luận tái sản xuất của C.Mác để nghiên cứu sự
hình thành thị trường TBCN do kết quả trực tiếp của việc phát triển lực lượng
sản xuất dưới tác động của tiến bộ kỹ thuật.
- V.I.Lênin đã nêu lên nội dung của quy luật ưu tiên phát triển sản xuất
TLSX. Quy luật này là quy luật kinh tế của tái sản xuất mở rộng trong điều
kiện kỹ thuật tiến bộ.
- V.I.Lênin chia khu vực I thành 2 khu vực nhỏ: Khu vực sản xuất TLSX
để chế tạo TLSX và khu vực sản xuất TLSX để chế tạo TLTD. Điều kiện này
thể hiện lao động cơ khí hố đã thay thế lao động thủ công.
- V.I.Lênin đã cho cấu tạo hữu cơ của tư bản (c/v) tăng lên, sẽ thấy sản
xuất TLSX tăng nhanh hơn sản xuất TLTD.
Như vậy, sản xuất TLSX để chế tạo TLSX tăng nhanh nhất; sau đến
sản xuất TLSX để chế tạo TLTD và chậm nhất là sự phát triển của sản xuất
TLTD. Từ sự nghiên cứu của C.Mác trình bày thì có thể rút ra một kết luận
duy nhất đúng là: Trong một xã hội TBCN, sản xuất TLSX tăng nhanh hơn
sản xuất TLTD.
V.I.Lênin đưa ra các kết luận quan trọng mang ý nghĩa thực tiễn:
Một là, CNTB đã thực hiện được tái sản xuất mở rộng vì nó tự tạo ra
thị trường cho nó (chủ yếu là thị trường TLSX)
15
Hai là, muốn tái sản xuất mở rộng phải tích luỹ tư bản.
Ba là, muốn tái sản xuất mở rộng phải có quan hệ tỷ lệ thích hợp giữa
hai khu vực (I và II), giữa các ngành.
TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1. Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế. Nxb thống kê. HN. 2003.
2. Lịch sử các học thuyết kinh tế. Nxb thống kê. HN. 1996.
3. Lịch sử các học thuyết kinh tế (tập bài giảng). Nxb chính trị quốc
gia. HN. 1997.
4. Lịch sử các học thuyết kinh tế. Nxb thống kê. HN. 1996.
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Vai trò của tái sản xuất đối với tăng trưởng và phát triển nền kinh tế
ở nước ta hiện nay?
2. Từ nghiên cứu lý luận tái sản xuất của chủ nghĩa Mác – Lênin, phân
tích thực trạng tái sản xuất trong thời gian vừa qua, chỉ ra những bất cập và
đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy tái sản xuất ở nước ta trong thời
gian tới?