ĐÔ LA HÓA
I/Khái niệm:
-Đô la hoá có thể hiểu một cách thông thường là trong một nền kinh tế
khi ngoại tệ được sử dụng một cách rộng rãi thay thế cho đồng nội tệ
trong toàn bộ hoặc một số chức năng tiền tệ, nền kinh tế đó bị coi là
đô
la
hoá
toàn
bộ
hoặc
một
phần.
2/Đo Lường Tỉ Lệ, Mức Độ Đô La Hóa :
A/CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG TỈ LỆ ĐÔ LA HÓA:
-Trước hết, cần phải thấy rằng đối với các nền kinh tế có mức độ
tiền tệ hoá cao, các khu vực của nền kinh tế có xu hướng gửi tiền vào
hệ thống ngân hàng thì việc đánh giá mức độ đô la hoá của nền kinh
tế nói chung cũng như từng khu vực nói riêng không mấy khó khăn
(dựa vào tỷ lệ giữa tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán hoặc
tổng tiền gửi; tỷ lệ giữa tín dụng ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán
hay tổng tín dụng). Theo tiêu chí đánh giá của IMF, một nước có tỷ
lệ giữa tiền gửi ngoại tệ/M2 lớn hơn 30% là nước có mức độ đô la
hóa cao khi tỷ lệ này từ 30% trở lên; trung bình khi từ 15% đến
dưới 30% và thấp khi dưới 15%. Bao gồm : tiền mặt trong lưu
thông , tiền gửi không kì hạn ,tiền gửi có kì hạn, tiền gửi ngoại tệ.
-Các nền kinh tế có mức độ tiền tệ hoá thấp, việc đánh giá
mức độ đô la hoá càng trở nên khó khăn, bởi nhiều nền kinh tế
vẫn còn hiện tượng sử dụng ngoại tệ tiền mặt cho các thanh toán
thường ngày (đánh giá mức độ đô la hóa dưới dạng tiền gửi, tiền
vay, cần đánh giá tình trạng đô la hóa tiền mặt để có những giải
pháp phù hợp hơn).
B/ MỨC ĐỘ ĐÔ LA HÓA
Gồm 2 mức độ:
Mức độ đô la hoá cao: tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/M2 lớn hơn
30%
Mức độ đô la hoá vừa phải: với tỷ lệ tiền gửi/M2 khoảng
16,4%
Theo nghiên cứu của Hệ thống dự trữ Liên bang Mỹ, hiện tại người
nước ngoài nắm giữ từ 55 đến 70% tổng số đô la Mỹ đang lưu hành
trên
thế
giới.
Ngoài đồng đô la Mỹ, còn có một số đồng tiền của các quốc gia khác
cũng được quốc tế hoá như: bảng Anh, mác Đức, yên Nhật, Franc
Thuỵ Sỹ, euro của EU... nhưng vị thế của các đồng tiền này trong giao
lưu quốc tế không lớn; chỉ có đô la Mỹ là chiếm tỷ trọng cao nhất
(khoảng 70% kim ngạch giao dịch thương mại thế giới). Cho nên
người ta thường gọi hiện tượng ngoại tệ hoá là "đô la hoá"
3/Phân loại đô la hóa:
Đô la hoá được phân ra làm 3 loại:
Đô la hoá không chính thức (unofficial Dollarization)
Đô la hoá bán chính thức (semiofficial dollarization)
Đô la hoá chính thức (official dollarization).
A/ Đô la hoá không chính thức: là trường hợp đồng đô la
được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế, mặc dù không được
quốc gia đó chính thức thừa nhận.
Được công nhận
chính thức:
Nội tệ
- Trả lương.
- Đóng thuế.
- Chi trả hàng hóa tiêu
dùng.
Không được công
nhận chính thức
(được sử dụng rộng
rãi)
Ngoại tệ
- Phương tiện cất trữ.
- Chi trả hàng hóa đắt
tiền.
Đô la hoá không chính thức có thể bao gồm các loại sau:
• Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài.
•
Tiền
gửi
bằng
ngoại
tệ
ở
nước
ngoài.
• Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước.
• Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi.
Rất khó đánh giá tình trạng này ở các nước do không thể
thống kê hết số người bản địa nắm giữ các hình thức ngoại
tệ
B/ Đô la hoá bán chính thức: là những nước có hệ thống lưu
hành chính thức hai đồng tiền. (Ở những nước này, đồng
ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợp pháp, và thậm chí có thể
chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng, nhưng đóng
vai trò thứ cấp trong việc trả lương, thuế và những chi tiêu hàng
ngày. Các nước này vẫn duy trì một ngân hàng trung ương để
thực hiện chính sách tiền tệ của họ.)
Đặc điểm:
Hai đồng tiền lưu hành song song.
Ngoại tệ được sử dụng chính thức.
Ngoại tệ chỉ đóng vai trò thứ yếu trong việc trả lương,
thuế và những chi tiêu hàng ngày.
VD: Panama sử dụng đồng thời cả đồng nội tệ Balboa (PAB) và dồng
ngoại tệ đô la Mỹ (USD)
C/ Đô la hoá chính thức(hay còn gọi là đô la hoá hoàn toàn): Xảy
ra khi đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu
hành( Nghĩa là đồng ngoại tệ không chỉ được sử dụng hợp pháp trong
các hợp đồng giữa các bên tư nhân, mà còn hợp pháp trong các khoản
thanh toán của Chính phủ. Nếu đồng nội tệ còn tồn tại thì nó chỉ có
vai trò thứ yếu và thường chỉ là những đồng tiền xu hay các đồng tiền
mệnh giá nhỏ. Thông thường các nước chỉ áp dụng đô la hoá chính
thức sau khi đã thất bại trong việc thực thi các chương trình ổn định
kinh
tế)
Đô la hoá chính thức không có nghĩa là chỉ có một hoặc hai đồng
ngoại tệ được lưu hành hợp pháp. Tuy nhiên, các nước đô la hoá chính
thức thường chỉ chọn một đồng ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp.
Đặc điểm:
Đồng tiền nội tệ đóng vai trò thứ yếu,ngoại tệ được lưu
hành hợp pháp
Không nhất thiết chỉ lưu hành 1 đồng ngoại tệ.
VD: Lúc trước, Andorra sử dụng đồng thời 2 đồng tiền của Pháp và
Tây Ban Nha. Bây giờ là đồng Euro.
Phần lớn các trường hợp là các nước thuộc địa đối với
đồng tiền ở mẫu quốc
VD: Đông timor, GreenLand,…
Có thể xảy ra khi các nước thất bại trong việc sử dụng
các chính sách kinh tế vĩ mô chống khủng hoảng.
VD: Ecuador sử dụng đô la Mỹ là đồng tiền chính thức thay cho đồng
nội tệ “Sucre” vào 9/1/2000 do khủng hoảng kinh tế năm 1999 làm
ngân sách quốc gia bị thâm hụt nặng nề (GDP giảm 7.3%; lạm phát
52.2%; đồng tiền nội tệ mất giá 65%).
4/ Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đô-la hóa trên thế giới:
Do địa vị kinh tế chung của các nước có đồng tiền mạnh:
Xuất phát nhu cầu sử dụng một “đồng tiền quốc tế”
trong giao dịch thương mại.
Một số nước dựa vào lợi thế kinh tế chủ trương đưa
đồng tiền của mình ra thế giới.
Tạo ra thế mạnh cạnh tranh.
Những lợi thế nhất định.
VD: USD được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ đầu thế kỉ 20, chiếm
70% kim ngạch giao thương mại thế giới.
Do đồng nội tệ có giá trị thấp và không ổn định:
Nhiều nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều thức
thách lớn như toàn cầu hóa, thiên tai, dịch bệnh, tham
nhũng,… làm cho nền kinh tế kém phát triển và không
ổn định đồng nội tệ bị suy yếu.
Do trình độ quản lý nhà nước và chính sách tiền tệ quốc gia:
Quản lý tiền tệ nhà nước lỏng lẻo, thiếu chặt, không
kiểm soát được chi tiêu ngoại tệ trên thị trường.
Nhiều nước chủ động theo đuổi những lợi ích của việc
đô la hóa.
Chính sách tiền tệ làm đồng nội tệ yếu và bất ổn.
5/
Những
tác
động
của
đô
la
hoá
Tình trạng "đô la hoá" nền kinh tế có tác động tích cực và tác động
tiêu
cực.
A/
Những
tác
động
tích
cực:
- Đô la hóa tạo một cái van giảm áp lực đối với nền kinh tế trong
những thời kỳ lạm phát cao, bị mất cân đối và các điều kiện kinh
tế vĩ mô không ổn định(Do có một lượng lớn đô la Mỹ trong hệ
thống ngân hàng, sẽ là một công cụ tự bảo vệ chống lại lạm phát và là
phương tiện để mua hàng hoá ở thị trường phi chính thức). Bên cạnh
đó, USD là đồng tiền đáng tin cậy nhất thế giới(Bất kỳ nước nào
chấp nhận đô la hóa cũng sẽ chấp nhận chính sách tiền tệ của FED
( Cục dự trữ liên bang Mỹ)) sẽ giảm thiểu các rủi ro về khả năng
mất
giá
tiền
tệ.
-Ở các nước đô la hoá chính thức:
Bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ, họ sẽ duy trì được tỷ lệ lạm
phát gần với mức lạm phát thấp làm tăng sự an toàn đối với tài
sản tư nhân, khuyến khích tiết kiệm và cho vay dài hạn, ngân
hàng trung ương sẽ không còn khả năng phát hành nhiều tiền và
gây ra lạm phát, đồng thời ngân sách nhà nước sẽ không thể trông
chờ vào nguồn phát hành này để trang trải thâm hụt ngân sách,
kỷ luật về tiền tệ và ngân sách được thắt chặtchương trình ngân
sách
sẽ
mang
tính
tích
cực
hơn.
-Một lượng ngoại tệ lớn được gửi vào các Ngân hàng sẽ tạo thành
nguồn vốn lớn để cho vay, đầu tư vào nền kinh tế, hạn chế việc đi
vay nước ngoài ,nhưng cho vay bằng ngoại tệ của Ngân hàng gặp
khó khăn, thì với lãi suất trên thị trường quốc tế cao, các ngân
hàng trong nước đem gửi ở nước ngoài.
-Người dân cũng sẽ được hưởng từ lãi suất cao hơn là cất giữ
trong nhà và các ngân hàng cũng có thu nhập về nghiệp vụ tiền
gửi và có lợi ích. Quốc gia cũng có thêm nguồn dự trữ ngoại tệ.
- Ngân hàng có một lượng ngoại tệ lớn sẽ có điều kiện mở
rộng hoạt động của mình, nhất là hoạt động đối ngoạitạo công
cụ hội nhập thị trường trong nước với thị trường khu vực, thị
trường thế giới, giảm thiểu các chi phí giao dịch tài chính quốc tế.
-Đô la hóa giúp hạ thấp chi phí giao dịch( Ở những nước đô la hoá
chính thức, các chi phí như chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi
chuyển từ đồng tiền này sang đồng tiền khác được xoá bỏ. Các chi phí
dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng không cần thiết, các ngân hàng có thể
hạ thấp lượng dự trữ, vì thế giảm được chi phí kinh doanh.
Với nền kinh tế đô la hóa sẽ giúp thu hút đầu tư nước ngoài do các
nhà đầu tư biết rõ giá trị tài sản quy ra tiền của họ sẽ gặp ít rủi ro. Đô
la hóa có thể là yếu tố thu hút khách du lịch bởi việc mua bán và trao
đổi
ngoại
tệ
dễ
dàng.)
-Các nước thực hiện đô la hoá chính thức có thể loại bỏ rủi ro cán
cân thanh toán và những kiểm soát mua ngoại tệ, khuyến khích
tự do thương mại và đầu tư quốc tế. Các nền kinh tế đô la hoá có
thể được chênh lệch lãi suất đối với vay nợ nước ngoài thấp hơn, chi
ngân sách giảm xuống và thúc đẩy tăng trưởng và đầu tư.
-Thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và phi
chính thức. Tỷ giá chính thức càng sát với thị trường phi chính
thức, tạo ra động cơ để chuyển các hoạt động từ thị trường phi
chính thức (bất hợp pháp) sang thị trường chính thức (thị trường
hợp
pháp).
B/
Những
tác
động
tiêu
cực:
Một nền kinh tế bị đô la hóa cao càng dễ bị tổn thương và nhạy cảm
hơn với những thay đổi liên quan đến đồng đô la, cũng như các cú sốc
kinh tế như sự dao động của giá dầu. Ngành xuất khẩu sẽ chịu tác
động trực tiếp. Do đó, đô la hóa sẽ ảnh hưởng đến việc hoạch định các
chính sách kinh tế vĩ mô. Với một nền kinh tế có tỷ trọng ngoại tệ lớn
thì việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính
sách tiền tệ sẽ bị mất tính độc lập mà chịu nhiều ảnh hưởng bởi diễn
biến
kinh
tế
quốc
tế.
Đô la hóa làm giảm hiệu quả điều hành của chính sách tiền tệ :
• Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện
thanh toánquyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiền trong
lưu
thông
kém
chính
xác
và
kịp
thời.
• Đồng nội tệ nhạy cảm hơn đối với các thay đổi từ bên ngoài
chính sách tiền tệ nhằm tác động đến tổng cầu nền kinh tế thông
qua việc điều chỉnh lãi suất cho vay trở nên kém hiệu quả.
• Tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá. (Đô
la hoá có thể thực thi chính sách tỷ giá. Đô la hoá có thể làm cho cầu
tiền trong nước không ổn định, do người dân có xu hướng chuyển từ
đồng nội tệ sang đô la Mỹ, làm cho cầu của đồng đô la Mỹ tăng mạnh
gây sức ép đến tỷ giá.Khi các đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế
giới thực hiện phá giá đồng tiền, thì quốc gia bị đô la hoá sẽ không
còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của khu vực xuất khẩu thông
qua
việc
điều
chỉnh
lại
tỷ
giá
hối
đoái).
• Ở trong các nước đô la hoá không chính thức, nhu cầu về nội tệ
không ổn định. (Trong trường hợp có biến động, mọi người bất ngờ
chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu
một chu kỳ lạm phát. Khi người dân giữ một khối lượng lớn tiền gửi
bằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi suất trong nước hay nước ngoài
có thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác
(hoạt động đầu cơ tỷ giá). Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho
ngân hàng trung ương trong việc đặt mục tiêu cung tiền trong nước và
có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngân hàng.Trường hợp
tiền gửi của dân cư bằng ngoại tệ cao, nếu khi có biến động làm cho
người dân đổ xô đi rút ngoại tệ, trong khi số ngoại tệ này đã được
ngân hàng cho vay, đặc biệt là cho vay dài hạn, khi đó ngân hàng nhà
nước của nước bị đô la hoá cũng không thể hỗ trợ được vì không có
chức năng phát hành đô la Mỹ.
•
•
•
Chính sách tiền tệ bị phụ thuộc nặng nề vào nước
Mỹ(Trong trường hợp đô la hoá chính thức, chính sách
tiền tệ và chính sách lãi suất của đồng tiền khi đó sẽ do
nước Mỹ quyết định. Trong khi các nước đang phát triển
và một nước phát triển như Mỹ không có chu kỳ tăng
trưởng kinh tế giống nhau, sự khác biệt về chu kỳ tăng
trưởng kinh tế tại hai khu vực kinh tế khác nhau đòi hỏi
phải có những chính sách tiền tệ khác nhau)
Nước thực hiện đô la hóa sẽ đánh mất ưu quyền tiền tệ
của mình. (Về cơ bản, ưu quyền tiền tệ là lợi nhuận thu
được từ phát hành tiền. Đây là một hoạt động kinh tế rất có
lãi vì chi phì in tiền, phát hành tiền thấp hơn rất nhiều so
với giá trị hàng hóa mà giấy bạc phát hành thu mua được.
Chính phủ Mỹ thu được 25 tỉ USD mỗi năm từ ưu quyền
tiền tệ. Và khi người dân các nước khác giữ tờ đô la trong
tay, họ đang góp phần làm giàu cho Bộ tài chính Mỹ.)
Đô la hoá chính thức sẽ làm mất đi chức năng của ngân
hàng trung ương là người cho vay cuối cùng của các
ngân hàng(Trong các nước đang phát triển chưa bị đô la
hoá hoàn toàn, mặc dù các ngân hàng có vốn tự có thấp,
song công chúng vẫn tin tưởng vào sự an toàn đối với các
khoản tiền gửi của họ tại các ngân hàng. Nguyên nhân là
do có sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước đối với các khoản
tiền này. Điều này chỉ có thể làm được đối với đồng tiền
nội tệ, chứ không thể áp dụng được đối với đô la Mỹ. Đối
với các nước đô la hoá hoàn toàn, khu vực ngân hàng sẽ
trở nên bất ổn hơn trong trường hợp ngân hàng thương mại
bị phá sản và sẽ phải đóng cửa khi chức năng người cho
vay cuối cùng của Ngân hàng Trung ương đã bị mất. Tất
nhiên, Ngân hàng Trung ương các nước này có thể đề nghị
FED hỗ trợ tài chính khẩn cấp. Nhưng trong lịch sử tiền tệ
thế giới, FEG chưa hề có sự giúp đỡ hệ thống ngân hàng
của nước thực hiện đô la hóa chính thức khi họ gặp cơn
nguy
khốn.)
C/
Thực
trạng
đô
la
hóa
trên
thế
giới
-Theo đánh giá của IMF năm 1998, 19 nước có mức độ
đô la hoá cao với tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/M2 lớn hơn
30%,
bao
gồm
các
nước:
Argentina,
Belarus,Bolivia,Cambodia,.v.v..35 nước có mức độ đô
la hoá vừa phải với tỷ lệ tiền gửi/M2 khoảng 16,4%,
bao
gồm
các
nước:
Bulgaria,Mexico,Russia,ViệtNam.v.v.
-Ecuador, Campuchia, Zimbabwe, hay Panama là những
quốc gia bị đô-la hóa toàn phần khi sử dụng đồng USD
làm đồng tiền chính thức. Trong khi đó, đã có nhiều quốc
gia khác bị đô-la hóa một phần hoặc đô-la hóa phi chính
thức. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nếu tỉ lệ tiền gửi
ngoại tệ trên tổng lượng tiền gửi vào ngân hàng vượt quá
50% thì được coi là đô-la hóa cao, từ 15-30% là mức trung
bình và dưới mức này được coi là đô-la hóa thấp.
5/Giải pháp:
-Cần phải xây dựng một hệ thống ngân hàng vững mạnh,
độc lập và một khung pháp lý hoàn chỉnh( trong đó phát triển đa
dạng các dịch vụ ngân hàng, tạo điều kiện tốt nhất cho phát triển
kinh tế)
-Nâng cao vai trò của NHNN và các cơ quan chức năng
trong việc điều hành chính sách tiền tệ, ổn định thị trường, quản
lý và điều tiết nền kinh tế vĩ mô.
- Xây dựng niềm tin của người dân vào đồng nội tệ bằng
cách duy trì một hệ thống tiền tệ ổn định và vững mạnh(thực hiện
được bằng cách thức phát triển vĩ mô, kiềm chế lạm phát và duy
trì ở mức chấp nhận đc từ đó ổn định giá trị của đồng nội tệ )
-Ổn định chính trị , nâng cao chất lượng của bộ máy quản lý
nhà nước.
II/ Thực trạng đô la hóa hiện nay ở việt nam:
1/ Đôi nét khái quát về quá trình đô la hoá ở Việt Nam từ những
năm 80 đến nay:
a/Diễn biến:
Năm 1988, các ngân hàng VN bắt đầu được phép nhận tiền gửi
bằng USD.
Trong suốt khoảng thời gian từ 1988 đến 1992, lượng USD gửi
vào hệ thống ngân hàng ngày càng tăng nhanh chóng.
Cuối năm 1991, lãi suất tiền gửi USD bắt đầu giảm mạnh, các
NHTM nhanh chóng rút lượng tiền gửi ở các ngân hàng thương
mại về. cuối năm này, lượng ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng
đã chiếm 41% tổng lượng tiền gửi.
Trong những năm 2000 đến 2004 đồng USD giảm giá dần dần
Một số yếu tố kinh tế chính trị tác động vào nước Mỹ khiến cho
đồng USD không còn sử dụng rộng rãi như trước ở một số nước
mà thay vào đó là đồng EUR.
Khả năng sụt giảm giá của đồng USD so với ngoại tệ khác là rất
cao ,trong khi lượng USD trong hệ thống ngân hàng thương mại
Việt Nam lại lớn, dẫn đến nguy cơ rủi ro về tỷ giá.
Trong các năm đó tình trạng đô la hóa được kiềm chế dần .
Cuối 2000, nhiều ngân hàng thương mại đồng loạt tăng lãi xuất
tiền gửi VND và hạ lãi xuất huy động USD.
Động thái này giúp đưa tỉ lệ tiền gửi ngoại tệ xuống mức 31,7%
vào cuối năm 2001, 23,6% vào cuối năm 2003 và 24,3% vào
cuối năm 2004.
Sự giảm giá của tỷ lệ này phản ánh lượng vốn nhàn rỗi trong
dân đã dần dần dịch chuyển vào hệ thống ngân hàng.
Những năm tiếp theo, tỉ lệ đô có xu hướng giảm chậm nhưng
vẫn ở mức cao, khoảng 20-25%.
Lượng USD trôi nổi trên thị trường lại trở nên khó kiểm soát. Sự
tăng nhanh tỉ giá USD/VND những năm gần đây làm cho người
dân chuyển sang dự trữ bằng USD với khối lượng lớn.
b/ Một số tồn tại:
• Niêm yết giá bằng USD:
-Mặc dù nhà nước có nhiều quy định nhưng tình trạng sử
dụng ngoại tệ dường như lại lan rộng vượt ra khỏi mọi
quy định hành chính.
•
- Các mặt hàng hay được yết giá bằng ngoại tệ: xe máy
đắt tiền , ô tô, giá phòng khách sạn,..vvv..
Công cụ thanh toán trong xuất nhập khẩu :
•
-70% hợp đồng xuất nhập khẩu hiện nay ở việt nam là
thanh toán bằng USD tăng cầu về USD tăng tỷ giágóp
phần gây hiện tượng đô la hóa.
Bất cập hệ thống ngân hàng:
-Hệ thống ngân hàng thương mại chưa đủ mạnh để đáp
ứng nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp cần thanh
toán ngay với đối tác nước ngoài làm doanh nghiệp có
khuynh hướng dự trữ ngoại tệ.
-Mặc dù chính sách quản lý ngoại hối hiện hành không
cho phép ngoại tệ được sử dụng ngoài hệ thống ngân
hàng , nhưng lại cho phép người dân được nhận kiều hối
bằng ngoại tệ , được gửi ngoại tệ không kể nguồn gốc tại
các ngân hàng và được rút cả gốc và lãi bằng ngoại tệ.
•
-Các ngân hàng chỉ tập trung dự trữ USD mà chưa chủ
động đến các ngoại tệ khác.
Chế tài xử phạt các vi phạm quy định chưa nghiêm:
-Mặc dù các quy định đã có từ lâu và liên tục được cập
nhập nhưng việc thực hiện vẫn còn nhiều bất cập.
-Các hình thức vi phạm chủ yếu là : thu đổi, niêm yết
giá ,công bố giải thưởng ,khuyến mại…vv..
-Các chế tài chưa đầy đủ và nghiêm khắc , phải đến gần
đây nhà nước mới cập nhật các mức phạt cụ thể cho các
vi phạm.
VN thuộc hình thức đô la hóa không chính thức
Mức độ đô la hóa: cao vừa phải.
2/Nguyên nhân
•
•
•
•
Biến động lạm phát và thay đổi tỷ giá:
Đồng việt nam có giá trị không ổn định bằng đồng Đô
la Mỹ.
Tỷ giá USD/VND thay đổi thất thường theo từng ngày.
Do thu nhập bằng USD của các tầng lớp dân cư:
Người Việt Nam làm việc cho công ty nước ngoài.
Lượng kiều hối chuyển về Việt Nam.
Thu nhập từ dịch vụ, du lịch: lượng khách đến Việt Nam
ngày càng tăng.
Thu nhập từ người nước ngoài sinh sống ở Việt Nam
(chủ yếu là cho người nước ngoài thuê nhà).
Tình trạng buôn lậu , nhất là buôn bán qua biên giới và trên
biển khá phát triển và quản lý lỏng lẻonhu cầu lớn về sử dụng
ngoại tệ
Yếu tố tâm lý:
Xuất phát từ tâm lý “chuộng ngoại” và sợ VND mất giá.
Có thói quen sử dụng ngoại tệ trong việc tiết kiệm cũng
như những giao dịch quan trọng như mua nhà cửa, đất
đai, xe hơi, gửi ngân hàng…
3/Tác động:
•
•
Tích cực:
Giảm chi phí giao dịch ngoại hối:
Giảm chi phí chuyển đổi ngoại tệ.
Các ngân hàng có thể dự trữ ít hơn tiết kiệm chi phí.
Thu hẹp khoảng cách về tỉ giá giữa thị trường chính thức
và phi chính thức.
Giảm lạm phát:
Có thể đưa mức lạm phát về gần mức của nước phát
hành tiền.
Lãi suất ngân hàng ổn định ở mức thấp.
Tăng độ mở và tính minh bạch của nền kinh tế:
Tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Tạo thuận lợi cho hoạt động các ngân hàng.
Hạn chế rủi ro cán cân thanh toán.
Tiêu cực
Mất tính chủ động :
Nhà nước mất tính chủ động trong việc thực hiện chính
sách kinh tế.
Dễ bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế thế giới.
Giảm hiệu quả chính sách tiền tệ:
Chính sách tiền tệ phụ thuộc vào quốc gia phát hành
tiền.
Lượng ngoại tệ do người dân nắm giữ lớn khó tính
tổng phương tiện thanh toán.
Cầu nội tệ và ngoại tệ không ổn định, nhạy cảm với các
yếu tố bên ngoài.
Ngân hàng nhà nước không đóng vai trò là người cho
vay cuối cùng.
Áp lực rủi ro tỉ giá:
Hệ thống ngân hàng thương mại chịu nhiều áp lực về tỉ
giá phải dành nhiều chi phí cho bảo hiểm rủi ro hoặc
đứng trước nguy cơ bị thua lỗ.
Việc tiêu dùng hàng hóa sinh hoạt của người dân cũng
dễ bị ảnh hưởng.
•
•
•
•
4/Giải pháp khắc phục hiện tượng đô la hóa ở Việt Nam hiện
nay:
•
Quan điểm, chủ trương:
“Đẩy nhanh tiến độ thực hiện nguyên tắc trên dất nước
Việt Nam phải thanh toán bằng tiền mặt Việt Nam”
Nghị
quyết
IV
của
Ban
chấp
hành
Trung Ương Đảng Khóa VIII
Xoá bỏ đô la hoá trong nền kinh tế - xã hội nước ta phải
được thực hiện từng bước, từng khâu thích ứng với từng
giai đoạn đổi mới, phát triển của đất nước
Phải bằng nhiều giải pháp vừa kinh tế, vừa hành chính
kết hợp với giáo dục pháp luật, điều chỉnh tâm lý xã hội
Nâng vị thế của đồng tiền Việt Nam trong các chức năng
thuộc tính của tiền tệ.
Cần thu hút vốn đôla trong dân vào hệ thống ngân hàng,
đầu tư cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội
“Ngày 4/7/2007, Thủ tướng Chính Phủ đã ký Quyết định
số98/2007/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Nâng cao tính chuyển
đổi của đồng tiền Việt Nam, khắc phục hiện tượng đô la hóa
trong nền kinh tế”
Giải pháp:
Đề ra mục tiêu thực hiện đến năm 2010:
Nâng cao hiệu lực pháp lý của cac quy định quản lý ngoại
hối:
Xóa bỏ chế độ thanh toán bằng ngoại tệ trong nước:
Có biện pháp thu hút số ngoại tệ trôi nổi vào hệ thống ngân
hàng:
Xóa bỏ các chính sách gây tâm lý đô la hóa.
•
•
•
Nâng cao hiệu lực pháp lý của cac quy định quản lý ngoại hối:
Điều hành chính sách tỷ giá cần linh hoạt hơn ,chứa
đựng nhiều yếu tố thị trường hơn.
Sử dụng công cụ tiền tệ để tác động đến điều kiện thị
trường nhằm làm cho đồng VND hấp dẫn hơn đồng đô la
Mỹ.
Trong điều kiện hiện nay, lãi suất cơ bản không thay đổi,
NHNN có thể thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất tái cấp
•
•
•
vốn và lãi suất tái chiết khấu nhằm phát tín hiệu để các
NHTM tăng lãi suất huy động đồng VND.
Nghiêm cấm giao dịch bằng ngoại tệ trên lãnh thổ VN,
ngoại trừ các tổ chức kinh doanh được phép thu ngoại tệ.
Xóa bỏ chế độ thanh toán bằng ngoại tệ trong nước:
Nâng cao năng lực hệ thống ngân hàng, đa dạng hóa các
loại ngoại tệ nắm giữ.
Đáp ứng đầy đủ nhu cầu thanh toán bằng đô la của các
doanh nghiệp trong nước.
Hạn chế tối đa, tiến đến nghiêm cấm mua bán ngoại tệ
trên thị trường chợ đen, ngăn chặn các hoạt động kinh tế
ngầm làm phát sinh cầu ngoại tệ.
Có biện pháp thu hút số ngoại tệ trôi nổi vào hệ thống ngân
hàng:
Thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho
đầu tư dưới mọi hình thức.
Khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế
vào các dự án lớn cần nguồn vốn bằng ngoại tệ.
Phát triển các công cụ tài chính trong nước để người dân
có thêm nhiều kênh đầu tư cũng như dự trữ giá trị mà
không phải ngoại tệ.
Xóa bỏ các chính sách gây tâm lý đô la hóa.
Việc người dân mạnh tay mua vào USD thời gian qua có
nguyên nhân từ việc lo sợ tiền Việt mất giá, từ những
căng thẳng trên thị trường tiền tệ.
Ta cần tạo niềm tin của người dân vào sự ổn định của
nền kinh tế, vào tăng trưởng ổn định, kiềm chế được giá
cả, lạm phát…
Được như vậy đồng tiền VN sẽ tạo được chỗ đứng vững
chắc trong mỗi con người VN.