Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

Quản lý hoạt động đào tạo Hệ trung cấp tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam (LV thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (740.33 KB, 92 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ QUỲNH

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO HỆ TRUNG CẤP TẠI
HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số

: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN THỊ MAI LAN

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công
trình nào khác.

Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Quỳnh




LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động đào tạo hệ
trung cấp tại Học viện âm nhạc Quốc gia Việt Nam” một cách hoàn chỉnh, bên cạnh
sự nỗ lực cố gắng của bản thân, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô
giáo PGS,TS. Nguyễn Thị Mai Lan đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện tốt nhất cho em hoàn thành luận văn này.
Đồng thời em cũng xin cảm ơn các thầy, cô giáo Học viện Khoa học xã hội Việt
Nam, Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam, các thầy cô giáo phụ trách giảng dạy
chuyên ngành quản lý giáo dục. Các anh chị đồng nghiệp tại Học viện Âm nhạc Quốc
gia Việt Nam, gia đình và bàn bè đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, đóng góp ý kiến quý
báu, tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành đề tài luận văn này.

Hà Nôi, tháng10 năm 2017
Tác giả luận văn


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................................ 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO HỆ
TRUNG CẤP HỌC VIỆN ÂM NHẠC....................................................................... 8
1.1. Hoạt động đào tạo hệ trung cấp .........................................................................8
1.2. Hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại Học viện Âm nhạc Quốc gia ...................18
1.3.Quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp Học viện Âm nhạc ............................19
1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp.............33
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO HỆ TRUNG
CẤP TẠI HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM ................................. 39
2.1. Địa bàn, khách thể và phương pháp nghiên cứu thực trạng ............................39

2.2. Thực trạng hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại Học viện Âm nhạc Quốc gia
Việt Nam .................................................................................................................46
2.3. Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại Học
viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam..........................................................................50
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lý đào tạo hệ trung cấp tại Học viện
Âm nhạc Quốc gia Việt Nam..................................................................................59
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO HỆ TRUNG CẤP
TẠI HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM .......................................... 63
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp..........................................................................63
3.2. Biện pháp hoàn thiện quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại Học viện Âm
nhạc Quốc gia Việt Nam.........................................................................................63
3.3. Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất........................72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................................... 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bộ máy tổ chức của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam .......................40
Bảng 2.2. Phân bổ lao động của Học viện theo các đơn vị ...........................................41
Bảng 2.3. Mức độ thực hiện mục tiêu đào tạo...............................................................46
Bảng 2.4. Mức độ thực hiện nội dung đào tạo ..............................................................47
Bảng 2.5. Mức độ thực hiện phương pháp dạy học.......................................................49
Bảng 2.6. Mức độ thực hiện nội dung quản lý hoạt động xây dựng mục tiêu, chương
trình đào tạo hệ trung cấp ..............................................................................................51
Bảng 2.7. Mức độ thực hiện nội dung quản lý lập kế hoạch đào tạo hệ trung cấp .......52
Bảng 2.8. Mức độ thực hiện nội dung quản lý tổ chức đào tạo hệ trung cấp................53
Bảng 2.9. Mức độ thực hiện nội dung quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả đào
tạo ..................................................................................................................................56
Bảng 2.10. Kết quả đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới công tác quản lý

hoạt động đào tạo trung cấp tại Học viện......................................................................60
Bảng 3.1.Kết quả khảo sát đánh giá mức độ cấn thiết và mức độ khả thi các biện pháp...73


DANH MỤC VIẾT TẮT
Viết tắt

Viết đầy đủ

BCH

Ban chấp hành

CSVN

Cộng sản Việt Nam

GD&ĐT

Giáo dục và đào tạo

HSSV

Học sinh sinh viên

LĐTB

Lao động thương bình

NQ


Nghị quyết

QGVN

Quốc gia Việt Nam

TW

Trung ương

VHTT

Văn hóa thể thao

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đã và đang trở thành một
trong những vấn đề được Đảng, Nhà nước, các bộ ban ngành trung ương và các địa
phương quan tâm. Nhiều giải pháp để phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng
đào tạo tại các nhà trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đã được xác
định trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các ngành và các địa
phương. Nghị quyết số 29-NQ/TW của BCH trung ương khóa XI về đổi mới căn bản,
toàn diện GD&ĐT đã nhấn mạnh việc khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và

phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo; tăng tỷ lệ
trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; hướng tới có
loại hình cơ sở giáo dục do cộng đồng đầu tư; đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng năng lực,
kỹ năng nghề tại cơ sở sản xuất, kinh doanh; có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử
dụng lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh
giá năng lực người học….[4]. Vì vậy, việc nghiên cứu về đào tạo các bậc học từ trung
cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học ở nước ta đang là vấn đề được quan tâm nghiên
cứu, ứng dụng triển khai trên tất cả mọi phương diện.
Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, tiền thân là Trường Âm nhạc Việt Nam
và Nhạc viện Hà Nội. Trong suốt 60 năm qua Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam
trở thành trường trọng điểm quốc gia, là trung tâm đào tạo âm nhạc có uy tín trong khu
vực, đủ năng lực để hội nhập quốc tế, tham gia vào việc định hướng, giáo dục nhằm
nâng cao đời sống âm nhạc cho toàn xã hội và có những đóng góp xứng đáng trong sự
nghiệp xây dựng nền âm nhạc, nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc. Để nâng cao chất lượng đào tạo lĩnh vực âm nhạc theo chuẩn quốc gia và khu vực
có rất nhiều vấn đề cần quan tâm như: chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở vật chất phục
vụ đào tạo, trình độ đầu vào của học sinh, sinh viên và đặc biệt và vấn đề chất lượng
đào tạo,…
Đào tạo Hệ trung cấp âm nhạc tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam được
coi là một nền móng vững chắc trong mọi sự khởi nguồn của tài năng âm nhạc, nền

1


tảng cho các bậc học tiếp theo (cao đẳng, đại học, sau đại học). Do vậy, Học viện đã
rất chú trọng tới chất lượng đào tạo hệ trung cấp. Chất lượng đào tạo hệ trung cấp của
Học viện đã từng bước được khẳng định. Tuy nhiên, vẫn còn có một số hạn chế, bất
cập về nội dung, chương trình, hình thức đào tạo,… Xuất phát từ những lí do trên
chúng tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động đào tạo Hệ trung cấp tại Học viện Âm nhạc
Quốc gia Việt Nam” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ.

2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong cuốn "Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới", tác giả Thái Duy
Tuyên đã xác định vai trò chủ đạo của người thầy trong quá trình dạy học hiện đại: là
người xác định mục tiêu, nội dung giảng dạy; thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học;
dự kiến các tình huống có thể xảy ra và đề ra được phương hướng, cách thức giải
quyết. Chức năng chính của người thầy trong quá trình dạy học hiện đại là người tổ
chức, hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho người học hoạt động, để tự người học thu
lượm tri thức, chiếm lấy làm tài sản sở hữu của mình. Người dạy trang bị cho các đối
tượng học phương pháp học hiệu quả”[25;tr 414]. Như vậy, vai trò của người thầy
không chỉ truyền thụ nội dung kiến thức, mà còn là người tạo hứng thú học tập, hướng
dẫn người học về phương pháp học và cũng là người kiểm tra, đánh giá kết quả tự học
của đối tượng học trên cơ sở hướng dẫn người học tự đánh giá, tự điều chỉnh.
Dạy học vừa được cho là một khoa học vừa mang tính nghệ thuật bởi trên thực
tế không có những người thầy sáng tạo thì cũng sẽ không có những học trò sáng tạo.
Trong cuốn "Nghệ thuật và khoa học dạy học" của tác giả Robert J. Marzano, đã đưa
ra một quan điểm mới, đó là: "...một nền giáo dục tiên tiến không đặt trọng tâm vào
việc giúp người học tiếp thu các tri thức khoa học mà nhà trường đưa lại cho họ.
Ngược lại, mục tiêu của nền giáo dục đó là giúp người học nhận ra được những năng
lực trí tuệ của mình để đi tìm tiếp những lời giải cho những vấn đề chưa hẳn hoàn toàn
đã biết theo con đường phù hợp nhất với năng lực trí tuệ của cá nhân..." [32; tr 7] .
Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng yếu tố quyết định nhất là quan niệm về
vai trò của người thầy.
Trong quá trình giảng dạy và học tập âm nhạc ở bậc trung cấp, đại học và trên
đại học, tầm quan trọng của ‘phương pháp tư duy” đều mang lại cho người học và

2


người dạy những thông tin mới trong hoạt động âm nhạc, chủ động và sáng tạo với các
phương tiện hiện đại của công nghệ thông tin hiện nay. Với công trình nghiên cứu “

phương pháp tư duy tích cực và sáng tạo trong giáo dục âm nhạc” của tác giả Lê Anh
Tuấn (chủ biên) và Nguyên Phúc Linh (2016)[24]. Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu
lĩnh vực tư duy tích cực, điều được nói tới khá nhiều trong đổi mới giáo dục hiện nay
và đổi mới âm nhạc nói riêng. Công trình nghiên cứu đã phân tích về phương pháp tư
duy sáng tạo trong các hoạt động khác nhau của âm nhạc như: sáng tác, biểu diễn,
nghiên cứu…và tính cấp thiết của phương pháp này đối với sự phát triển nền giáo dục
âm nhạc hiện nay.
Trong những công trình nghiên cứu những vấn đề về bảo tồn phát huy bản sắc
dân tộc trong nội dung và quy trình đào tạo âm nhạc thì đề tài trọng điểm cấp bộ” Đa
dạng hóa mô hình đào tạo âm nhạc Việt Nam trong gia đoạn mới” của tác giả Nguyễn
Trung Kiên (2009) chủ nhiệm công trình[14]. Tác giả đã đề xuất những quan niệm về
đào tạo nói chung và giáo dục – đào tạo âm nhạc nói riêng, khẳng định vị trí của hệ
thống đào tạo âm nhạc trong tiến trình xây dựng nền âm nhạc Việt Nam tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc. Tổng kết đánh giá hệ thống đào tạo âm nhạc Việt Nam từ năm
1956 đến nay. Xây dựng hệ thống đào tạo âm nhạc Việt Nam với mô hình đa dạng,
phù hợp với giai đoạn mới. Chuẩn hóa và phát triển đội ngũ giảng viên, tăng cường
hợp tác quốc tế và hội nhập được với khu vực và thế giới.
Đối với vấn đề hỗ trợ nghiên cứu chuyên sâu các ngành học, làm cơ sở để góp
phần xây dựng hướng đào tạo mang tính chiến lược, luận án tiến sỹ Âm nhạc học của
tác giả Hà Mai Hương (2016) đề tài "Vai trò của Piano trong nâng cao mặt bằng kiến
thức chung của các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam"[11], tác giả đã đi
sâu phân tích sự khác biệt giữa giảng dạy Piano phổ thông với giảng dạy Piano chuyên
ngành, đánh giá thực tế vấn đề trang bị kỹ năng Piano phổ thông tại Việt Nam (về giáo
trình, Phương pháp giáo dục, kết quả đạt được...), so sánh về chương trình giảng dạy
môn Piano phổ thông của các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp trong nước với
một số nhạc viện nước ngoài...từ đó có cơ sở đề xuất hướng xây dựng giáo trình Piano
phổ thông phù hợp với đặc thù của từng ngành học.

3



Để làm rõ được các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo ở các trường dạy
nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội, trong luận án tiến sỹ quản lý giáo dục,
Trường đại học giáo dục – Đại học quốc gia Hà Nội, tác giả luận án Nguyễn Thị Hằng
(2013) với đề tài“Quản lý đào tạo nghề ở các trường dạy nghề theo hướng theo hướng
đáp ứng nhu cầu xã hội”[8]. Tác giả đã đánh giá nhận thức của cán bộ quản lý và giáo
viên đối với đào tạo nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội còn hạn chế, còn gặp
khó khăn do chưa có một bộ phận chuyên trách gồm những người có năng lực để thực
hiện công việc mới mẻ, đầy khó khăn và phức tạp. Tác giả cũng đã xây dựng được nội
dung quản lý đào tạo nghề và đào tạo nghề ở các trường dạy nghề theo chu trình đào
tạo đáp ứng nhu cầu xã hội.
Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý giáo dục dưới góc độ đề xuất các tiêu
chí, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả quản lý giáo dục đào tạo,luận văn thạc sỹ Giáo dục
học, Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh,tác giả Huỳnh Lê Tuấn (2004)
với đề tài “ Nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục đào tạo của Trường cao
đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh”[23]. Luận văn đã đưa ra 5 giải
pháp với mục đích hoàn thiện hơn về quản lý giáo dục đào tạo tại Trường cao đẳng
Văn hóa Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ một số nghiên cứu mà chúng tôi đưa ra ở trên, mỗi tác giả, mỗi đề tài đều
chỉ ra được các cách tiếp cận khác nhau về quản lý hoạt động đào tạo. Nhưng do đặc
thù đào tạo nghề của Học viện Âm nhạc thì chưa có một đề tài nào đi sâu vào nghiên
cứu quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại trường Học viện Âm nhạc Quốc gia
Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp
tại Học viện âm nhạc Quốc gia Việt Nam, đề xuất biện pháp quản lý hoạt động này tại
Học viện nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại Học
viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp.

4


- Chỉ rõ thực trạng quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại Học viện Âm
nhạc Quốc gia Việt Nam.
- Đề xuất và làm rõ tính khả thi một số biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ
trung cấp tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả quản lý hoạt động đào tạo tại Học viện âm nhạc Quốc gia Việt Nam
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại Học viện Âm
nhạc Quốc gia Việt Nam. Trong đó, tập trung vào việc nghiên cứu thực trạng hoạt
động đào tạo và quản lý đào tạo hệ trung cấp tại Học viện trong thời gian từ tháng 3
đến tháng 7 năm 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
5.1.1. Nghiên cứu theo nguyên tắc hệ thống
Tiếp cận nghiên cứu hệ thống trong quản lý hoạt động đào tạo được xem xét
trong mối quan hệ biện chứng của các thành tố quy định nhau và phụ thuộc nhau theo
trình tự logic nhất định.
5.1.2. Nghiên cứu vấn đề theo nguyên tắc hoạt động
Quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp dựa trên nghiên cứu quá trình đào tạo hệ
trung cấp tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam đáp ứng nhu cầu đổi mới đào tạo
nghề hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Với nhiệm vụ nghiên cứu và mục đích nghiên cứu đã đưa ra và cần được làm

sáng tỏ vấn đề, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
- Phương pháp điều tra bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

5


- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Vấn đề nghiên cứu về hoạt động đào tạo rất quan trọng, thể hiện được chất lượng
và hiệu quả của một cơ sở đào tạo, vì vậy luận văn có những đóng góp về mặt lý luận
và thực tiễn sau:
6.1. Về lý luận
Luận văn đã phân tích, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động
đào tạo hệ trung cấp (khái niệm, nội dung quản lý) cũng như ảnh hưởng của một số yếu
tố đến quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp và quan điểm về việc đề xuất các biện
pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp trong
thực tiễn. Kết quả nghiên cứu lý luận của của luận văn góp phần bổ sung một số vấn đề
lí luận cơ bản về quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp vào khoa học quản lý giáo dục
ở nước ta hiện nay.
6.2. Về thực tiễn
Luận văn đã phân tích được thực trạng hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại Học
viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và thực trạng quản lý hoạt động này. Chỉ rõ những
ưu điểm, những hạn chế và những nguyên nhân dẫn tới hạn chế quản lý hoạt động
này. Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn luận văn đã nêu ra các nguyên tắc đề
xuất biện pháp và đưa ra các biện pháp thực trạng quản lý hoạt động đào tạo hệ trung
cấp tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Trong đó, tác giả đã phân tích khá chi

tiết mục đích, ý nghĩa; nội dung; tổ chức thực hiện; điều kiện thực hiện biện pháp. Các
biện pháp này cũng được tác giả luận văn tìm hiểu mối liên hệ giữa các biện pháp,
khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất. Kết quả nghiên cứu thực tiễn của
luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích cho cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên Học viện
Âm nhạc Quốc gia Việt Nam góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo hệ trung
cấp tại Học viện.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được
chia thành 3 chương:

6


Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại Học viện Âm
nhạc Quốc gia Việt Nam
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại Học viện Âm nhạc
Quốc gia Việt Nam.

7


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO
HỆ TRUNG CẤP TẠI HỌC VIỆN ÂM NHẠC
1.1. Hoạt động đào tạo hệ trung cấp
1.1.1.Khái niệm đào tạo
Trước hết khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, đào
tạo là đề cập đến giai đoạn sau của quá trình giáo dục, khi một người đã đạt đến một
độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định. Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ

bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ
xa, tự đào tạo.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: "Đào tạo là quá trình tác động đến
con người nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống
và khả năng nhận một sự phân công nhất định góp phần của mình vào việc phát triển
xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Về cơ bản đào tạo là
giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách"[26].
Theo tác giả Đặng Thành Hưng thì: “Đào tạo là cơ cấu, quá trình quyết
định mang lại cho giáo dục tính tổ chức, kế hoạch, hướng đích và điều khiển
được”[10;tr 289].
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: "Đào tạo là quá trình hoạt động có
mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo, giá trị, thái độ…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân để tạo tiền đề cho họ
có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả"
Từ việc phân tích các khái niệm khác nhau về đào tạo, chúng tôi đưa ra khái niệm
đào tạo như sau: Đào tạo là một hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành
cho cá nhân hệ thống tri thức, kĩ năng, giá trị, thái độ,… để hoàn thiện nhân cách.
1.1.2. Khái niệm đào tạo hệ trung cấp
Đào tạo hệ trung cấp hay còn gọi đào tạo trung cấp nghề là một khâu quan
trọng trong hệ thống giáo dục của các quốc gia. Nó tác động mạnh mẽ và rõ rệt đến
chất lượng đội ngũ lao động tại các cơ sở trực tiếp sản xuất trong nền kinh tế.
8


a. Khái niệm nghề
Thuật ngữ nghề để chỉ một hình thức lao động sản xuất nào đó trong xã hội.
Tác giả E.A.Klimov viết: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất
và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công
lao động xã hội mà có. Nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để

thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển” [27;tr 17].
Theo tác giả Nguyễn Hùng :“ Những chuyên môn có những đặc điểm chung,
gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề. Nghề là
tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau. Chuyên môn là một
dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh
thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng
đó theo hướng phục vụ mục”[9;tr 11]. Từ điển Tiếng Việt (1998) định nghĩa: “ Nghề
là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội”[15; tr702]. Theo tác
giả Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu định nghĩa nghề như sau:” Nghề là một dạng
xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội. là toàn bộ kiến
thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động
xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định.”[2 ;tr 45]
Từ những khái niệm và định nghĩa nêu trên cho thấy, nghề được coi như là một
hình thức lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân
(nhu cầu bản thân), trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để
thoả mãn những yêu cầu nhất định của xã hội và cá nhân.
Trong xã hội bất cứ loại nghề nghiệp nào cũng đều hàm chứa một hệ thống giá
trị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại. Bởi
vì nghề là cơ sở giúp cho con người có “ nghiệp” - việc làm, sự nghiệp.
Nghề nghiệp được coi là một dạng lao động đòi hỏi con người phải có một quá
trình đào tạo chuyên biệt để có những kiến thức chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo nhất
định. Như vậy: Nghề được cho là một lĩnh vực hoạt động lao động, nhờ được đào tạo
trong môi trường học tập từ cơ bản đến chính quy mà người học có được tri thức, kỹ
năng, thái độ để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó để đáp ứng
được những nhu cầu của xã hội.

9


b. Đào tạo nghề

Hiện nay có nhiều khái niệm về đào tạo nghề hay còn gọi là dạy nghề. Một
số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số khái niệm: Đào tạo là một
lĩnh vực bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trường nhằm cung cấp kiến thức và
giáo dục cho học sinh, sinh viên. Đây là công việc kết nối giữa mục tiêu đào tạo, nội
dung chương trình đào tạo, tổ chức thực hiện chương trình và các vấn đề liên quan đến
tuyển sinh, đào tạo, giám sát, đánh giá, kiểm tra, tổ chức thực tập, thi tốt nghiệp cùng
các quy trình đánh giá khác, các chính sách liên quan đến chuẩn mực và cấp bằng ở
lĩnh vực đào tạo chuyên nghiệp trong các cơ sở đào tạo nghề nghiệp.
Luật dạy nghề 2006 đã định nghĩa:” Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm
trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có
thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”[20;tr 2]
Ông Max Forter(1979) đưa ra khái niệm Dạy nghề là đáp ứng bốn điều kiện;
Gợi ra những giải pháp cho người học; Phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ; Tạo ra
sự thay đổi trong hành vi; Đạt được những mục tiêu chuyên biệt.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: “Dạy nghề là cung cấp cho người
học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc
nghề nghiệp được giao”. Qua đó, ta có thể thấy Dạy nghề là khâu quan trọng trong
việc giải quyết việc làm cho người lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay
nhưngnó lại là yếu tố cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công
việc. Dạy nghề giúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ
nghề nghiệp để từ đó họ có thể xin làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp, hoặc có
thể tự tạo ra công việc sản xuất cho bản thân. Dạy nghề hiện nay có ba cấp trình độ
đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề. Hình thức dạy nghề bao gồm
dạy nghề chính quy, dạy nghề thường xuyên.
Phân tích các khái niệm nêu trên chúng tôi đồng tình với khái niệm đào tạo nghề
(dạy nghề) của ILO và sử dụng khái niệm này làm khái niệm công cụ của đề tài luận văn.
1.1.3. Mục tiêu đào tạo hệ trung cấp
Tại Mục 3, Điều 33, Luật giáo dục năm 2005, quy định về mục tiêu của giáo dục
nghề nghiệp như sau: “Mục tiêu của giáo dục tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng


10


nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, có sức
khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng t́m được việc làm, tự tạo việc
làm hoặc tiếp tục hoặc tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế, xã hội củng cố quốc phòng, an ninh”[17;tr 1] .
Như vậy, mục tiêu của giáo dục Trung cấp chuyên nghiệp nhằm tạo điều kiện
cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Học sinh sau khi tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp có kiến thức, kỹ năng thực hành
nghề cơ bản, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ
vào công việc, đồng thời có các phẩm chất cần thiết của một người lao động hiện đại
trong xu thế cạnh tranh của nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế, có
khả năng tự học và tiếp tục học lên ở bậc cao hơn như cao đẳng, đại học.
a.Kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp:
Xác định yêu cầu, chuẩn mực đạt tới sau khóa học đào tạo về kiến thức, kỹ
năng nghề nghiệp chuyên môn ở trình độ trung cấp đối với hệ đào tạo trung học
chuyên nghiệp hoặc bậc thợ đối với hệ dạy nghề đạt được theo nghề chính và các nghề
có liên quan. Nếu có chuẩn quốc gia về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và nghề
nghiệp thì xác định mục tiêu đào tạo theo các chuẩn này với các yêu cầu về năng lực
hành nghề.
- Về kiến thức: Bao gồm kiến thức lý thuyết, kiến thức thực tế (Khoa học xã hội, khoa
học cơ bản, kiến thức về nghề cốt lõi, kiến thức về nghề, nghề nâng cao…).
- Về kỹ năng: Đó là kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, kỹ năng giao
tiếp…Những kỹ năng đó phải được rèn luyện để trở thành năng lực của bản thân người
học, được nhận thức (nhớ, sàng lọc, lựa chọn) và áp dụng phù hợp vào tình huống cụ
thể trong hoạt động thực tiễn.Ví dụ như kỹ năng giao tiếp: ngoài kỹ năng giao tiếp
thông thường trong quá trình làm việc còn được được thể hiện ở khả năng trình bày
báo cáo, ý tưởng bằng tiếng việt và ngoại ngữ về một vấn đề.

b.Thái độ, ý thức nghề nghiệp:
Khi đề cập đến năng lực thái độ, ý thức nghề nghiệp, được diễn giải chung là ý
thức trách nhiệm, sự chuyên nghiệp cũng như lòng yêu nghề. Bởi vì những quan niệm

11


đó nên phần “thái độ” thường được đề cập không đầy đủ và mang tính chung chung,
trong khi đó yêu cầu có ý nghĩa quyết định đối với “Chuẩn đầu ra” thì đây là một nội
dung rất quan trọng mà người học phải tích lũy được để chuẩn bị tâm lý cho sự hòa
nhập với công việc thực tế. Vì vậy, nội dung này cần được hiểu một cách đầy đủ để
người học phải hình thành được:
- Tố chất cá nhân, thái độ chuyên nghiệp, khả năng giao tiếp, khả năng làm
việc nhóm, năng lực hình thành ý tưởng, lập kế hoạch tổ chức triển khai và vận hành.
- Phân định được năng lực chung và năng lực cốt lõi của từng nghề, từng vị trí
việc làm.
- Khả năng vị trí làm việc sau tốt nghiệp phải định vị một cách chính xác.
- Sau khi đã tốt nghiệp, xác định được khả năng tiếp tục học tập nâng cao của
bản thân như học tiếp lên cao đẳng, đại học.
- Thường xuyên cập nhật những thời điểm khác nhau, bối cảnh khác nhau để hệ
thống các tiêu chí của chuẩn đầu ra có thể được sao cho phù hợp với nhu cầu thực tế.
1.1.4. Nội dung đào tạo hệ trung cấp
Về yêu cầu của nội dung đào tạo nghề tại Điều 34. Khoản 1 của Luật giáo dục
năm 2005 quy định yêu cầu về nội dung giáo dục nghề nghiệp như sau: “Nội dung
giáo dục nghề nghiệp phải tập trung đào tạo năng lực thực hành nghề nghiệp, coi trọng
giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khỏe, rèn luyện kỹ năng theo yêu cầu của từng nghề,
nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo”. Có thể nói, nội dung đào tạo phải
luôn phù hợp với mục tiêu đào tạo, đảm bảo tính cân đối, toàn diện giữa các yếu tố:
kiến thức, kỹ năng, thái độ, đạo đức, lương tâm nghề nghiệp cần thiết”[18.tr 22].
Bên cạnh đó, nội dung phải gắn liền với thực tế sản xuất, phải đảm bảo tính

khoa học, cơ bản, hiện đại, tính liên thông phù hợp với trình độ của người học. Trên cơ
sở đó hình thành thế giới quan và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để khi người học
bước vào cuộc sống và lao động để thực hiện được mục đích giáo dục nghề nghiệp nói
riêng và thực hiện các nhiệm vụ dạy học nói chung.
a.Năng lực thực hành nghề nghiệp.
Năng lực thực hành nghề nghiệp phải đo được, thiết lập các tiêu chí đo năng lực
của học sinh ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, có đánh giá và các biện pháp nâng

12


cao kỹ năng cho học sinh yếu kém. Cơ sở đào tạo cần trao đổi, liên lạc với các doanh
nghiệp, nhà tuyển dụng với phương châm: “trăm hay không bằng hay quen”. Ngoài ra
cần thực hiện việc mang các bài giảng từ trường học đến nơi làm việc thông qua thực
tế, thực hành, trao đổi với các doanh nghiệp, để được học tập và giải quyết các tình
huống thực tại doanh nghiệp, tổ chức.
Tại các nước phát triển, việc nhà trường và doanh nghiệp liên kết, hợp tác trao
đổi các hoạt động chuyên ngành là rất phổ biến. Học sinh được đi thực tế, tham gia các
buổi tham quan, thậm chí được tham gia giải quyết các tình huống công việc, các dự
án thực tế của doanh nghiệp. Nhà trường cần kết hợp với doanh nghiệp trong công tác
nghiên cứu khoa học, tạo điều kiện cho giảng viên và học sinh thực hiện các dự án
nghiên cứu. Ngược lại, cũng cần mang nơi làm việc đến giảng đường thông qua các
xưởng thực hành, xưởng mô phỏng, tùy ngành nghề mà sử dụng các mô hình mô
phỏng khác nhau, tạo điều kiện cho học sinh học tập và nghiên cứu các tình huống
thực tế, tăng kiến thức và kỹ năng xử lý tình huống thực tiễn.
b.Giáo dục đạo đức
Đạo đức nghề nghiệp cũng có những nguyên tắc, chuẩn mực được dư luận xã
hội thừa nhận và quy định những hành vi ứng xử trong mối quan hệ xã hội. Bản thân
nó lại có những nét đặc thù riêng, phản ánh đầy đủ phẩm chất cần có của một ngành,
một nghề cụ thể. Đó là những qui tắc, chuẩn mực của một nghề nghiệp hoặc một nhóm

nghề nghiệp nào đó, nó qui định những hành vi ứng xử của những cá nhân khi hoạt
động trong lĩnh vực nghề nghiệp đó.
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp được hiểu là sự tác động qua lại giữa các hoạt
động giáo dục đạo đức với người học nghề, nhằm mục đích hình thành lên những
phẩm chất nghề nghiệp cần thiết ở người học.
c.Rèn luyện kỹ năng, nâng cao trình độ học vấn
Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực tế theo nhiều người lao động đã qua
quá trình đào tạo và hiện đang làm việc tại các doanh nghiệp nhận định: Ngoài trách
nhiệm của nhà trường, người học cũng cần cải thiện kỹ năng, tự nâng cao trình độ học
vấn tiếp cận nghề nghiệp của mình.

13


Tại các trường nghề hiện nay học sinh vẫn còn thụ động, phụ thuộc quá trình
đào tạo tại trường, chưa có ý thức trang bị và muốn được trang bị các kỹ năng cần thiết
sau khi tốt nghiệp. Ngoài ra, khả năng ngoại ngữ còn thấp, thường nản chí và bỏ nghề
hoặc chuyển nghề sau khi tốt nghiệp. Để giải quyết những vấn đề này học sinh cần chủ
động tìm kiếm thông tin về chuyên ngành mà mình đã lựa chọn để có cái nhìn rộng và
sâu hơn khi ngồi trên ghế nhà trường. Ngoài việc học và thực hành các chương trình
của nhà trường, người học cần tìm hiểu thêm các kiến thức thực tế thông qua mối quan
hệ của nhà trường, cựu học sinh...Rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp giúp người học đánh
giá đúng năng lực cá nhân, thị trường công việc từ đó có thể xác định và theo đuổi
hướng đi phù hợp với bản thân.
Rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và nâng cao trình độ học vấn để có khả năng
ứng dụng thành thạo tri thức và kỹ thuật, công nghệ mới trong quá trình lao động
sản xuất; đồng thời có khả năng ứng biến linh hoạt trong mọi hoàn cảnh, trong những
biến đổi không ngừng của môi trường và điều kiện sống… để lao động sáng tạo.
Trong đó, kỹ năng chủ yếu thuộc về năng lực của mỗi người, giúp cho sự thành
công trong công việc và nghề nghiệp của mỗi người. Nếu thiếu kỹ năng nghề

nghiệp, người học sau khi tốt nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế cơ hội tìm
kiếm việc làm và phát triển. Kỹ năng không phải tự nhiên mà có, nó là kết quả của
quá trình học tập rèn luyện không ngừng từ khi học sinh còn ngồi trên ghế nhà
trường, từ sự trải nghiệm và tích lũy kinh nghiệm trong quá trình học tập, trong
cuộc sống hàng ngày với một sự tận tụy, tâm huyết của từng cá nhân trên con
đường lựa chọn nghề nghiệp của mình.
1.1.5.Hình thức đào tạo hệ trung cấp
a.Đào tạo chính quy:
Theo quy định luật dạy nghề, đào tạo chính quy thực hiện với các chương trình
sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề. Học sinh được đào tạo một cách bài bản
toàn diện từ khâu lý thuyết đến khâu thực hành, để nắm vững được nghề, thời gian để
đào tạo với hệ chính quy tương đối dài phụ thuộc vào từng ngành nghề cụ thể.Trường
trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học có đăng ký dạy nghề trình

14


độ trung cấp. Khi tốt nghiệp, người học nghề được cấp bằng tốt nghiệp trung cấp nghề
theo quy định của pháp luật.
Đào tạo nghề chính quy là loại hình đào tạo tập trung tại các trung tâm dạy
nghề, trường nghề và quy mô đào tạo tương đối lớn, chủ yếu là đào tạo các công nhân
kỹ thuật có trình độ lành nghề cao.
Việc đào tạo thường được chia ra làm hai giai đoạn:
Giai đoạn học tập cơ bản : là giai đoạn đào tạo nghề theo diện rộng thường
chiếm 70% đến 80% nội dung giảng dạy và tương đối ổn định.
Giai đoạn học tập chuyên môn: Người học được trang bị những kiến thức
chuyên sâu và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo để nắm vững nghề đã chọn.
Với hình thức đào tạo chính quy học sinh được học một cách có hệ thống từ
đơn giản đến phức tạp, từ lý thuyết đến thực hành, tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu
kiến thức một cách nhanh chóng và dễ dàng. Đào tạo tương đối toàn diện cả về thực

hành và lý thuyết. Sau khi được đào tạo, học sinh có thể chủ động, độc lập giải quyết
công việc, có khả năng đảm nhận các công việc tương đối phức tạp đòi hỏi trình độ
nghề cao. Bên cạnh những ưu điểm của hình thức đào tạo chính quy thì nhược điểm
của hình thức này là thời gian đào tạo tương đối dài, đòi hỏi phải đầu tư nhiều hơn về
cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các cán bộ quản lý… dẫn đến kinh phí đào tạo cho
một học sinh là rất lớn.
b.Đào tạo không chính quy:
Đào tạo không chính quy là loại hình đào tạo ngắn hạn thường đối tượng học
chủ yếu là phổ cập nghề cho thanh thiếu niên và người lao động, loại hình này thu hút
được đông đảo người học vì thời gian học hợp lý và khối kiến thức học cũng đơn giản
hơn, đáp ứng khả năng thích ứng nhanh với nhu cầu của người học và nhu cầu thị
trường lao động.
- Hình thức đào tạo trực tiếp (đào tạo nghề tại nơi làm việc): Người học sẽ
được dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế thực hiện
công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của người lao động có trình độ cao hơn,
thiên về thực hành ngay trong quá trình sản xuất và thường là do các doanh nghiệp
(hoặc các cá nhân sản xuất) tự tổ chức. Hình thức đào tạo này không đòi hỏi điều kiện

15


về trường lớp, giáo viên chuyên trách, bộ máy quản lý, thiết bị học tập riêng… nên tiết
kiệm chi phí đào tạo. Nhưng việc truyền đạt và tiếp thu kiến thức không có tính hệ
thống. Người dạy là những có kinh nghiệm do làm nhiều, làm lâu năm mà không có
nghiệp vụ sư phạm nên hạn chế trong quá trình hướng dẫn, việc tổ chức dạy lý thuyết
gặp nhiều khó khăn dẫn đến kết quả học tập bị hạn chế, người học dễ bị ảnh hưởng
những thói quen không tốt của người hướng dẫn. Vì vậy hình thức đào tạo này chỉ phù
hợp với công việc đơn giản không đòi hỏi trình độ cao.
- Hình thức đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề: Đối tượng chủ yếu của
hình thức này là đào tạo phổ cập nghề cho thanh niên và người lao động. Nghề đào tạo

đa dạng và thường các trung tâm đào tạo nghề gắn với giới thiệu việc làm, hỗ trợ được
cho người lao động trong tìm việc làm, khả năng thích ứng nhanh với nhu cầu thị
trường lao động, nhu cầu người học. Chi phí đầu tư đào tạo không lớn nên thu hút
được số lượng người học đông đảo. Nhưng hình thức đào tạo này bị hạn chế mức độ
hiểu biết về kiến thức lý thuyết còn thấp, thiếu đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, thiếu
các máy móc thiết bị, phương tiện hiện đại cho thực hành, đào tạo đa số là công nhân
bán lành nghề.
1.1.6.Phương pháp đào tạo hệ trung cấp
Luật giáo dục năm 2005 quy định yêu cầu về phương pháp giáo dục nghề
nghiệp như sau: “Phương pháp giáo dục nghề nghiệp phải kết hợp rèn luyện kỹ năng
thực hành với giảng dạy lý thuyết để giúp người học có khả năng hành nghề và phát
triển nghề nghiệp theo yêu cầu của từng công việc”. Nghị quyết Trung ương IV ghi rõ
về đổi mới phương pháp đào tạo: “Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học.
Kết hợp tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu
khoa học; gắn nhà trường và xã hội. Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để
bồi dưỡng học sinh năng lực giải quyết vấn đề”[19].
Phương pháp dạy học được chia thành các nhóm đó là: Nhóm phương pháp dạy
học dùng lời, nhóm phương pháp dạy học trực quan, nhóm phương pháp thực hành và
nhóm phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học sinh. Như vậy, mỗi phương pháp có
một phạm vi nhất định, nó quy định trình tự kế tiếp của các bước riêng rẽ của tư duy
và hành động. Các phương pháp dạy học trên không những có ý nghĩa đối với công tác

16


giáo dưỡng, mà còn phải góp phần vào việc giáo dục đạo đức, ý thức nghề nghiệp cho
học sinh học nghề. Có thể nói phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt
động của thày và trò nhằm thực hiện tối qua mục đích, nhiệm vụ dạy học. Trong thực
tiễn giảng dạy mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng cho nên để có lựa
chọn và vận dụng phối hợp tốt nhất các phương pháp dạy học, cần căn cứ vào mục

đích yêu cầu, nội dung và đặc trưng từng môn học; căn cứ vào đặc điểm nhận thức,
đặc điểm lứa tuổi người học, điều kiện cơ sở vật chất...Trên cơ sở đó giáo viên lựa
chọn phương pháp cho phù hợp tổ chức điều khiển tốt hoạt động dạy học, hướng dẫn
học sinh tự tổ chức hoạt động học nhằm đạt được hiệu quả đào tạo nghề.
1.1.7.Cơ sở vật chất đào tạo hệ trung cấp
Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để có thể phát triển,
mọi lĩnh vực kinh tế -xã hội đều phải chú ý đến cơ sở hạ tầng và nếu nói riêng ngành
giáo dục và đào tạo và các trường dạy nghề, chủ yếu bao gồm các cấp khối công trình
của trường sở (phòng học, phòng thí nghiệm, khu thể dục thể thao, khu hành chính,
xưởng thực hành, thư viện…) và các trang thiết bị phục vụ cho các hoạt động dạy học từ các loại bàn ghế, bảng, dụng cụ dạy học đơn giản đến các thiết bị giáo dục hiện
đại như đèn chiếu, máy vi tính, máy projector…Đó là những điều kiện quan trọng góp
phần để bảo đảm chất lượng giáo dục của nhà trường, bên cạnh các điều kiện bảo đảm
khác như đội ngũ giáo viên, chương trình và nội dung tài liệu học tập. Nghị quyết
Đảng CSVN đã xác định nhiệm vụ: “…Nâng cao chất lượng giáo dục, phấn đấu sớm
có một số trường học đạt tiêu chuẩn quốc tế trên cơ sở xây dựng đội ngũ giáo viên
mạnh, tiêu chuẩn hóa và hiện đại hóa các điều kiện dạy và học.” và cũng đã đưa
ra những giải pháp chủ yếu quan trọng nhất, có tính khả thi cao, để phát triển giáo dục:
“…Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục, tăng cường cơ sở vật chất– kỹ
thuật các trường học. Từng bước áp dụng các phương pháp giáo dục tiên tiến và sử
dụng phương tiện hiện đại. Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật là một yếu tố rất quan
trọng để nâng cao chất lượng giáo dục”[5].
Hiện nay, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học được xem như những công cụ
điều kiện quan trọng, là một thành tố để thực hiện nhiệm vụ dạy học trong các trường
dạy nghề.

17


1.2. Hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam
1.2.1. Mục tiêu đào tạo hệ trung cấp tại Học viện Âm nhạc

Học viện Âm nhạc có 3 chức năng chính là đào tạo, nghiên cứu khoa học và
biểu diễn. Do vậy, đối với hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại Học viện đã xác định
mục tiêu đào tạo cụ thể như sau:
- Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo, giảng viên. Tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ về quy mô cũng như chất lượng đào tạo như: Mở thêm một số
ngành, chuyên ngành mới đáp ứng nhu cầu của xã hội; đổi mới chương trình, giáo
trình, phương pháp đào tạo tiên tiến; đưa một số ngành học mũi nhọn đạt chuẩn quốc
tế;tăng cường đào tạo tài năng âm nhạc đỉnh cao tham gia các cuộc thi trong âm nhạc
trong và ngoài nước.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học thông qua các công trình
nghiên cứu khoa học các cấp và các dự án, hồ sơ quốc gia về di sản âm nhạc…
- Nâng cao chất lượng các hoạt động biểu diễn âm nhạc của giảng viên, sinh viên,
các dàn nhạc, dàn hợp xướng…. Mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế.
- Nâng cấp cơ sở hạ tầng, trung tâm thông tin thư viện hiện đại;đầu tư trang thiết
bị và hệ thống nhạc cụ chuẩn quốc tế. Đưa học viện âm nhạc Quốc gia Việt Nam trở
thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, biểu diễn âm nhạc hàng đầu Việt Nam,
có uy tín trong khu vực và quốc tế.
1.2.2. Nội dung đào tạo hệ trung cấp tại Học viện Âm nhạc
Nội dung đào tạo theo 3 khối kiến thức sau: Kiến thức về chuyên ngành, kiến
thức về âm nhạc và kiến thức đại cương hoặc văn hóa tùy cấp học. Thi, kiểm tra theo
học kỳ.
+Kiến thức chuyên ngành: Với lý do đặc thù, việc trả bài chuyên ngành lên lớp
của học sinh là một thầy một trò trong suốt quá trình đào tạo cho đến khi kết thúc
chương trình học (tốt nghiệp ra trường). Mục đích của nội dung đào tạo trung cấp là
nhằm giúp học sinh hiểu biết những kiến thức cơ bản về khoa học xã hội và nhân văn,
nắm vững hệ thống kiến thức về lĩnh vực âm nhạc nói chung và biểu diễn nhạc cụ,
sáng tác, chỉ huy, phê bình âm nhạc nói riêng, nắm vững kỹ thuật biểu diễn ở trình độ
trung cấp. Sau khi tốt nghiệp, học sinh có thể sẽ trở thành các nghệ sĩ chuyên nghiệp

18



tại các đơn vị nghệ thuật và tham gia giảng dạy ở các trường phổ thông và đủ khả năng
học tiếp lên trình độ cao hơn như:cao đẳng, đại học…
+ Kiến thức về âm nhạc và kiến thức đại cương: Trong hệ thống môn học của
Học viện các môn kiến thức âm nhạc và kiến thức đại cương đều góp phần cung cấp tri
thức cũng như đạo đức và sự phát triển hoàn thiện của người học. Nhất là đối với khối
kiến thức âm nhạc vì tri thức chuyên sâu về âm nhạc không chỉ giúp người học phát
triển năng khiếu âm nhạc mà còn nhằm phát triển đến mức cao nhất khả năng thực
hành chuyên môn của các nghệ sỹ biểu diễn, nhạc sỹ sáng tác, nhà chỉ huy, lý luận…
sau khi tốt nghiệp.
1.2.3. Hình thức đào tạo hệ trung cấp tại Học viện Âm nhạc
Do đặc thù của lĩnh vực nghệ thuật nói chung cũng như đào tạo âm nhạc nói
riêng, hệ trung cấp Học viện âm nhạc Quốc gia việt Nam chỉ có duy nhất một hình
thức đào tạo là hệ chính quy và được chia thành các cấp độ khác nhau theo từng khối
các chuyên ngành:
- Hệ 4 năm bao gồm các chuyên ngành: Lý thuyết âm nhạc; Sáng tác; Chỉ huy
hợp xướng; Contrebass; Flute; Oboe; Clarinette; Fagotte; Cor; Trompette; Trombone;
Tuba; Thanh nhạc; Nhóm Nhạc cụ truyền thống: Bầu, Nhị, Sáo trúc, Nguyệt, Tỳ bà,
Tranh, 36 dây, Gõ dân tộc.
- Hệ 6 năm bao gồm các chuyên ngành nhạc cụ truyền thống: Bầu, Nhị, Sáo
trúc, Nguyệt, Tỳ bà, Tranh, 36 dây, Gõ dân tộc.
- Hệ 7 năm bao gồm các chuyên ngành (biểu diễn nhạc cụ phương Tây): Viola;
Cello; Contrebasse; Flute; Oboe; Clarinette; Fagotte; Trumpette; Cor; Trombone;
Tuba; Gõ giao hưởng; Accordeon; Electronic Keyboard (Phím điện tử); Guitare;
Saxophone; Guitare jazz; Bass jazz; Gõ jazz; Piano jazz.
- Hệ 9 năm bao gồm các nhạc cụ: Piano; Violon.
1.3.Quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại Học viện Âm nhạc
1.3.1. Khái niệm quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp tại Học viện Âm nhạc
1.3.1.1. Khái niệm quản lý

Có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý khác nhau tùy theo cách tiếp cận
khác nhau. Nhìn chung, quản lý là một khái niệm gắn với quyền lực ở một mức độ

19


×