LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, thanh toán quốc tế là một dịch vụ ngày càng trở lên quan trong
đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam, nó là một mắt xích quan trọng
thúc đẩy các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng phát triển: đồng thời
nó cũng hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh n
ghiệp phát triển.
Hoạt động TTQT ngày càng khẳng định được vai trò trong hoạt động kinh tế quốc dân nói
chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng.Việt Nam đang trong quá trình phát triển
và hội nhập quốc tế, nền kinh tế mở cửa đã thực sự tạo đà phát triển mạnh mẽ cho các
hoạt động sản xuất kinh doanh, cho các doanh nghiệp và ngân hàng tham gia vào lĩnh vực
xuất nhập khẩu đặc biệt là công tác TTQT. TTQT được coi là một trong những trọng tâm
của kinh tế đối ngoại. Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán có nhiều ưu điểm hơn
so với các phương thức khác nên được sử dụng phổ biến trong TTQT. Tuy nhiên quá trình
tham gia thương mại quốc tế chúng ta chưa dáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi phức tạp về
nghiệp vụ, vì vậy gặp nhiều rủi ro khi sử dụng phương thức này.
Trong xu thế hội nhập của kinh tế thế giới, sự phát triển mạnh mẽ của thị
trường tài chính quốc tế, tác động đến sự vận động không ngừng của các
dòng vốn thông qua các hoạt động kinh tế liên quan đến thương mại quốc tế,
đầu tư quốc tế. Điều này đòi hỏi cấp thiết đối với các doanh nghiệp không
những am hiểu kinh doanh ngoại tệ mà còn phải biết và nắm chắc các
phương tiện thanh toán quốc tê. Trên thưc tế, sự quay vòng tự do cuả hàng
hóa cũng như sự gia tăng việc trao đôi qua lại giữa các nước đặt ra cho các
doanh nghiệp những vấn đề mới trỏng việc đảm bảo thanh toán trong những
thương vụ quốc tế của họ.
Ngày nay, thanh toán quốc tế là một dịch vụ ngày càng trở lên quan trong
đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam, nó là một mắt xích quan trọng
thúc đẩy các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng phát triển: đồng thời
nó còn hỗ trọ và thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của các
doanh nghiệp phát triển. Thanh toán quốc tế ra đời dựa trên nền tảng thương
mại quốc tế có tồn tại và phát triển được hay không lại còn phụ thuọc vào
khâu thanh toán có thông nhất thông suốt , kịp thời, an toàn và chính xác.
Thương mại và thanh toán quốc tế vốn dĩ là phức tạp và nhiều rủi ro hơn so
với thương mại và thanh toán nội địa, bởi nó chịu chi phôi không những
luật lệ và tập quán địa phương mà còn cả những luật lệ và tập quán quốc tê.
Chính vì vậy, việc các bên liên quan tham gia vào quá trình thươgn mại và
thanh toán quốc tế cần am hiểu thấu đáo không những về quy trình kỹ thuật
nghiệp vụ, mà còn cả các thông lệ tập quán , luật pháp của cấc địa phương
và quốc tế.
Ngày nay các ngân hàng hiện đại hoạt động đa năng nhằm tăng thu
nhập không
những từ các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống, mà ngày càng mở
rộng các nghiệp vụ ngoại bảng như kinh doanh ngoại hối, thanh
toán quốc tế, bảo lãnh… Các hoạt động ngoại bảng mang lại thu
nhập cho ngân hàng dưới dạng phí ngày một tăng không
những về mặt số lượng mà cả tỷ trọng. Trong số các nghiệp vụ
ngoại bảng, thì thanh toán quốc tế đối với các NHTM Việt Nam là
nghiệp vụ quan trọng nhất, có tốc độ tăng trưởng mạnh, mang lại
cho ngân hàng khoản thu phí ngày một tăng; thông qua nghiệp vụ
thanh toán quốc tế để chấp nối phát triển các nghiệp vụ khác như
mua bán ngoại tệ, bảo lãnh, tài trợ xuất nhập khẩu, mở rộng quan
hệ tài khoản, tín dụng…Do đó, nghiệp vụ thanh toán quốc tế có thể
được xem là nghiệp vụ ngoại bảng đặc trưng cho các NHTM Việt
Nam ngày nay.
Tuy nhiên, thanh toán quốc tế cũng như các hoạt động ngoại bảng
khác, tiềm ẩn
khá nhiều rủi ro vì sự phức tạp và đa dạng của yếu tố quốc tế đem
đến; đặc biệt, khi một số người cho rằng hoạt động thanh toán
quốc tế mang lại thu nhập hấp dẫn nhưng ngân hàng không hề phải
bỏ vốn, càng làm cho họ chủ quan lơ là, bất chấp những rủi ro tiềm ẩn
có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các nội dung và biện
pháp nhằm
quản lý các rủi ro trong các phương thức thanh toán quốc tế để nâng
cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng phù hợp
với yêu cầu phát triển kinh tế đối ngoại là một nhu cầu khách quan
và hợp với quy luật. Đề tài với tiêu đề “Giải pháp hạn chế rủi ro
trong thanh toán quốc tế tại Việt Nam” hy vọng sẽ giải quyết các
yêu cầu của vấn đề đặt ra.
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ RỦI RO TRONG
THANH TOÁN QUỐC TẾ
1.1. THANH TOÁN QUỐC TẾ
1. Phương thức chuyển tiền (remittance)
•
Trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, theo phương thức này, nhà nhập
khẩuyêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu
(người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do nhà
nhập khẩu quy định.
•
Phương thức chuyển tiền có thể là bộ phận của phương thức thanh toán khác như
phương thức nhờ thu, tín dụng dự phòng, tín dụng chứng từ… nhưng cũng có thể
là một phương thức thanh toán độc lập.
•
Thực tế, nhiều trường hợp, nhà nhập khẩu sẽ không chuyển tiền hàng cho nhà xuất
khẩu cho đến khi nhận đầy đủ hàng. Đây là một lợi thế của nhà nhập khẩu nhưng
lại là rủi ro của nhà xuất khẩu khi hàng hóa đã được chuyển giao nhưng tiền hàng
không được thanh toán, bị chậm trễ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ. Tuy
vậy, bên nhập khẩu cũng có thể gánh chịu rủi ro, đặc biệt trong trường hợp chuyển
tiền trước khi giao hàng như: nhận toàn bộ tiền hàng trước khi giao hàng, đặt cọc,
tạm ứng… Trong trường hợp này nhà nhập khẩu có thể sẽ phải gánh chịu rủi ro
nếu tiền đã chuyển mà hàng không được giao đúng thời hạn, đúng chất lượng hoặc
số lượng…
Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:
- X ây dựng rõ lộ trình chuyển tiền: Ví dụ: chuyển trước bao nhiêu % tại thời điểm nào?;
Thanh toán nốt phần còn lại tại thời điểm nào?…
- Thỏa thuận thời điểm chuyển tiền trùng với thời điểm giao hàng.
- Quy định rõ về phương tiện chuyển tiền, chi phí chuyển tiền ai chịu?
2. Phương thức ghi sổ (open account)
•
Đây thực chất là một hình thức mua bán chịu. Phương thức này áp dụng trong mua
bán hàng hóa quốc tế như sau: Nhà xuất khẩu (người ghi sổ) sau khi hoàn thành
nghĩa vụ của mình (thường là nghĩa vụ giao hàng) quy định trong hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế (hợp đồng cơ sở) sẽ mở một quyển sổ nợ để ghi nợ. Nhà
nhập khẩu (người được ghi sổ), bằng một đơn vị tiền tệ nhất định và đến từng định
kỳ nhất định do hai bên thỏa thuận, sử dụng phương thức chuyển tiền thanh toán
cho người ghi sổ
•
Phương thức này hoàn toàn có lợi cho nhà nhập khẩu (người được ghi sổ). Nhà
xuất khẩu sẽ phải gánh chịu rủi ro khi bên nhập khẩu không thanh toán hoặc chậm
trễ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.
•
Để hạn chế rủi ro, chỉ áp dụng phương thức này khi cả hai bên là các bạn hàng có
mối quan hệ làm ăn lâu dài, thực sự tin cậy lẫn nhau. Để bảo đảm an toàn cho nhà
xuất khẩu, các bên có thể áp dụng biện pháp bảo đảm như thư bảo lãnh ngân hàng,
thư tín dụng dự phòng, đặt cọc…
3. Phương thức nhờ thu (collection)
•
Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán mà bên có các khoản tiền từ các
công cụ thanh toán (chủ nợ) ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ghi trên công cụ
thanh toán đó từ phía người nợ.
•
Các công cụ thanh toán quốc tế thường gồm: hối phiếu (bill of exchange); kỳ phiếu
thương mại (Promissory Note), séc quốc tế (International cheque), hóa đơn thu tiền
(Financial Invoice).
3.1. Phương thức nhờ thu trơn (clean collection)
•
Phương thức nhờ thu trơn là một trong các phương thức thanh toán áp dụng trong
hợp mua bán hàng hóa quốc tế mà trong đó nhà xuất khẩu ủy thác cho ngân hàng
thu hộ tiền ghi trên công cụ thanh toán mà không kèm với điều kiện chuyển giao
chứng từ.
Trong quy trình nghiệp vụ của phương thức thanh toán này có một đặc điểm liên quan đến
lợi ích của nhà xuất khẩu, cần đặc biệt lưu ý:
•
Nhà xuất khẩu giao hàng và gửi trực tiếp chứng từ cho nhà nhập khẩu. Như vậy
thông thường hoạt động này diễn ra trước thời điểm thanh toán. Đây có thể là một
bất lợi cho nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu chưa phải thanh toán tiền hàng nhưng đã
nắm giữ được chứng từ để nhận hàng từ nhà chuyên chở nhưng sau đó cố ý chiếm
dụng vốn, thanh toán chậm, thiếu, từ chối thanh toán. Ngân hàng chỉ là một tổ
chức trung gian thu hộ và có thể bị nhà nhập khẩu từ chối.
•
Vì vậy, trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế cần hạn chế áp dụng phương
thức này. Nếu áp dụng phương thức thanh toán này, thì chỉ nên áp dụng khi cả hai
bên là đối tác tin cậy của nhau, đồng thời trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế cần có các chế tài nghiêm ngặt để bảo đảm nhà nhập khẩu thanh toán. Ví dụ:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do không thanh toán, chậm thanh toán hoặc thanh
toán không đầy đủ; chịu lãi suất chậm trả, chịu phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán…
3.2. Phương thức nhờ thu kèm chứng từ (documentary collection)
•
Phương thức nhờ thu có kèm theo chứng từ là một trong các phương thức thanh
toán áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà trong đó nhà xuất khẩu
ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ghi trên công cụ thanh toán với điều kiện sẽ giao
chứng từ nếu nhà nhập khẩu thanh toán, chấp nhận thanh toán hoặc thực hiện các
điều kiện khác đã quy định.
Trong quy trình nghiệp vụ của phương thức thanh toán này có một điểm cần lưu ý:
•
Nhà xuất khẩu không giao trực tiếp chứng từ cho nhà nhập khẩu. Nhà nhập khẩu
phải trả tiền thì Ngân hàng mới giao chứng từ để mang chứng từ đi nhận hàng.
Như vậy, phương thức này bảo vệ được lợi ích của nhà xuất khẩu, tránh được tình
trạng bị nhà nhập khẩu chiếm dụng vốn, chậm thanh toán, thanh toán không đầy đủ
hoặc từ chối thanh toán.
•
Dưới đây là một mẫu điều khoản phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ
trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
•
“Bên mua thanh toán ngay khi hối phiếu do bên bán phát hành được xuất trình.
Thanh toán xong giao chứng từ.”
4. Phương thức ủy thác mua hàng (Authority to purchase – A/P)
•
A/P là một phương thức thanh toán áp dụng trong hoạt động mua bán hàng hóa
quốc tế, theo đó Ngân hàng của nhà nhập khẩu, theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, ra
văn bản yêu cầu ngân hàng đại lý ở nước xuất khẩu phát hành một A/P cam kết sẽ
mua hối phiếu của nhà xuất khẩu ký phiếu với điều kiện chứng từ xuất trình phù
hợp với các điều kiện đặt ra trong A/P và phải được đại diện của nhà nhập khẩu
xác nhận thanh toán.
•
Phương thức này áp dụng chủ yếu trong các hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị,
các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật và công nghệ cao.
•
Bản chất của phương thức này là nhà nhập khẩu thông qua ngân hàng của mình ở
nước nhập khẩu chuyển tiền sang một ngân hàng ở nước xuất khẩu để ủy thác cho
ngân hàng này trả tiền hối phiếu của nhà xuất khẩu ký phát.
Có hai cách thức chuyển tiền sang ngân hàng của nước xuất khẩu để mua hàng:
•
Một là, nhà nhập khẩu thông qua ngân hàng của mình chuyển tiền đặt cọc 100%
sang ngân hàng nước xuất khẩu để ngân hàng này phát hành A/P.
•
Hai là, nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng của mình phát hành A/P cho ngân hàng
đại lý ở nước xuất khẩu hưởng và đặt cọc 100% trị giá của A/P. Trên cơ sở A/P đó,
ngân hàng nước xuất khẩu phát hành một A/P đối ứng cho người thụ hưởng là nhà
xuất khẩu.
5. Phương thức tín dụng chứng từ (Letter of Credit – L/C)
•
Theo phương thức này thì một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng), theo yêu
cầu của khách hàng (bên yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho
một người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối
phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho
ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những qui định của thư tín
dụng.
•
Thực chất trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, phương thức thanh toán thư
tín dụng đã chuyển trách nhiệm thanh toán từ nhà nhập khẩu sang ngân hàng bảo
đảm nhà xuất khẩu giao hàng và nhận tiền hàng an toàn, nhanh chóng, nhà nhập
khẩu nhận được hóa đơn vận chuyển hàng đúng hạn. Vì vậy, ở một mức độ nhất
định, L/C là phương thức thanh toán cân bằng được lợi ích của cả hai bên xuất
khẩu và nhập khẩu và giải quyết được mâu thuẫn không tín nhiệm nhau của cả hai
bên. Vì vậy, phương thức này được sử dụng phổ biến trong hoạt động mua bán
hàng hóa quốc tế.
•
Đây là một phương thức thanh toán khá an toàn, tuy nhiên, trong quá trình áp dụng
các bên cần lưu ý các đặc điểm pháp lý sau đây của thư tín dụng để tránh áp dụng
sai, gây thiệt hại cho chính bản thân mình.
1.2. RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
1.2.1. Rủi ro quốc gia, chính trị pháp lý
a) Rủi ro quốc gia:
Rủi ro quốc gia là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi về chính trị, kinh tế, về chính
sách quản lý ngoại hối- ngoại thương của một quốc gia, khiến cho nhà xuất khẩu không
nhận được tiền hàng. Nhà nhập khẩu không nhận được hàng hóa.
Nguyên nhân:
Mâu thuẫn về sắc tộc, đãng phái, tôn giáo đe dọa sự ổn định nội bộ của một nước.
Xung đột xã hội thông qua các cuộc biểu tình, đình công, bạo động chiến tranh.
Vấn đề nợ nước ngoài chống chất khiến cho chính phủ nước nhập khẩu buộc phải đưa ra
biện pháp cấm thanh toán hoặc chuyển ngoại tệ, ngoại hối ra nước ngoài.
Sự cấm vận về kinh tế của quốc tế đối với nước nhập khẩu khiến cho mọi hoạt động
thương mại quốc tế và các tài khoản NOSTRO của nước đó ở nước ngoài bị khiểm soát
gắt gao.
Chính sách quản lý ngoại hối của nước nhập khẩu đột ngột thay đổi, thực hiện chính sách
ngoại hối thắt chặt hay cấm vận trong thanh toán.
b) Rủi ro pháp lý:
Xảy ra trong trường hợp có tranh chấp hay khiếu kiện giữa các bên tham gia thanh toán.
Nguyên nhân:
Môi trường pháp lý và luật pháp của các nước khác nhau.
Luật quốc gia không phải là hoàn toàn không có mâu thuẫn với thông lệ quốc tế.
1. Rủi ro về quản lý ngoại hối:
Là rủi ro xảy ra khi việc thanh toán được ấn định bằng một ngoại tệ nào đó. Khi tỷ giá
biến động sẽ gây ra tổn thất cho một trong hai phía đối tác tham gia thanh toán.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá và phát sinh rủi ro:
Các yếu tố bên ngoài: tình hình kinh tế, tình hình tài chính quốc tế.
Chính sách kinh tế, tài chính tiền tệ của các nước.
Trạng thái của cán cân TTQT.
Sức mua của các đơn vị tiền tệ và tốc độ lạm phát của các nước hữu quan.
Mức chênh lệch lãi suất.
Các tác nhân khác.
2. Rủi ro tác nghiệp:
Là những rủi ro sai sót kỹ thuật do chính các bên tham gia gây nên. Đặc biệt xảy ra nhiều
trong phương thức tín dụng chứng từ.
Nguyên nhân:
Do trình độ ngoại thương và thanh toán quốc tế của các bên tham gia còn yếu.
Trình độ nghiệp vụ và ý thức thực hiện nghiệp vụ của các bên tham gia.
3. Rủi ro tín dụng:
Là rủi ro mất khả năng thanh toán của một trong các bên tham gia vào thanh toán đặc biệt
trong phương thức tín dụng chứng từ.
Rủi ro của nhà nhập khẩu:
Nhà nhập khẩu bị vỡ nợ, phá sản mất khả năng thanh toán.
Gây khó khăn, tổn thất cho ngân hàng phát hành L/C.
Rủi ro của nhà xuất khẩu:
Xảy ra trong trường hợp ngân hàng thực hiện chiết khấu chứng từ đối với hàng xuất khẩu.
Là những sai sót trong khâu kiểm tra chứng từ, làm cho hồ sơ thanh toán bị từ chối thanh
toán.
Nếu người xuất khẩu mất khả năng thanh toán, ngân hàng chiết khấu sẽ gặp rủi ro.
Rủi ro của ngân hàng phát hành:
Xảy ra khi ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán.
Dẫn đến rủi ro cho ngân hàng chiết khấu và người xuất khẩu.
Nguyên nhân:
Do điều kiện khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường, việc các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ
dẫn đến phá sản là điều không tranh khỏi.
Do thông tin không cân đối.
4. Rủi ro đối tác trong các phương thức TTQT:
Là những rủi ro xảy ra khi một bên tham gia cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của
mình gây thiệt hại tới quyền lợi người khác.
Rủi ro của nhà nhập khẩu:
Nếu khách hàng không phải bạn hàng lâu năm, dễ xảy ra trì hoãn, từ chối thanh toán bằng
những thủ đoạn nghiệp vụ bắt lỗi sai sót chứng từ, ép giá người bán để thu lợi cho mình.
Đẩy ngân hàng vào tình thế khó khăn trong xử lý vốn, đặc biệt trong nghiệp vụ trả chậm.
Rủi ro của nhà xuất khẩu:
Nhà xuất khẩu cố ý giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng hoặc không giao hàng
nhưng vẫn xuất bộ chứng từ hoàn hảo phù hợp với các điều khoản hợp đồng đã kí kết.
Nếu ngân hàng tài trợ cho nhà nhập khẩu thì ngân hàng phải gánh chịu rủi ro này.
Rủi ro của người chuyên chở:
Người bán hàng giao hàng cho người chuyên chở nhưng bị họ lừa đảo, nhận hàng lấy tiền
rồi biến mất hoặc bán mất hàng.
Ngân hàng vẫn phải thanh toán cho người bán hàng theo hồ sơ chứng từ.
Rủi ro của ngân hàng:
Trong trường hợp ngân hàng trì hoãn, hoặc từ chối thanh toán bộ chứng từ cho nhà xuất
khẩu. hoặc đối với sự thiếu trung thực của ngân hàng chiết khấu.
Ngân hàng phát hành tin tưởng thanh toán sẽ gặp rủi ro.
Nguyên nhân:
Do thông tin không đầy đủ, không cân xứng.
Sự tách biệt giữa thanh toán theo hồ sơ và hàng hóa.
1.3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ NHỮNG RỦI RO TRONG TTQT CỦA CÁC
NHTM THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
THOẢ THUẬN GIAO DỊCH TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI
Lễ Ký kết thỏa thuận hợp tác giữa hai bên diễn ra nhân dịp Diễn đàn Kinh doanh Nhân
dân tệ Trung Quốc – ASEAN và Khai trương Trung tâm Kinh doanh Nhân dân tệ Trung
Quốc – ASEAN do ABC chủ trì trong 2 ngày 24 và 25/04/2014 tại Khách sạn Quốc tế
Wharton, TP. Nam Ninh, thủ phủ Khu Tự trị Dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc.
LienVietPostBank đã chính thức triển khai nghiệp vụ thanh toán biên mậu từ năm 2012
trên cơ sở hợp tác với Ngân hàng Công Thương Trung Quốc (ICBC) tại địa bàn tỉnh Lạng
Sơn.Việc thiết lập quan hệ hợp tác giữa LienVietPostBank với Ngân hàng Nông nghiệp
Trung Quốc lần này sẽ giúp LienVietPostBank triển khai được đồng loạt hoạt động thanh
toán biên mậu tại cả 3 địa bàn Lạng Sơn, Lào Cai và Móng Cái (Quảng Ninh).
Với thế mạnh về mạng lưới chi nhánh của ABC rộng khắp Trung Quốc tới tận các thôn
bản, huyện, ABC có thể giúp chuyển tiền đến các khách hàng đều diễn ra nhanh chóng và
dễ dàng. Từ đó, LienVietPostBank tăng khả năng cạnh tranh với các ngân hàng đang triển
khai dịch vụ thanh toán biên mậu tại Lạng Sơn, Lào Cai và sắp tới là Móng Cái. Hầu hết
các ngân hàng Việt Nam cũng như doanh nghiệp đều đánh giá dịch vụ thanh toán biên
mậu của ABC là nổi trội hơn hẳn so với các ngân hàng khác, vì vậy LienVietPostBank có
thể sử dụng dịch vụ của ABC đi kèm với chế độ chăm sóc khách hàng, chính sách tốt về
tín dụng để cạnh tranh với những ngân hàng tên tuổi, đã có thâm niên hoạt động tại các
địa bàn biên giới.
Bên cạnh đó, hợp tác với Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc cũng sẽ giúp các Chi
nhánh LienVietPostBank khắc phục được những bất lợi và bị động về tỉ giá mua bán
ngoại tệ, để đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của khách hàng, không phải đi mua ngoại tệ
với giá cao, ảnh hưởng đến tỉ giá bán ngoại tệ cho khách hàng.
Hệ thống mạng lưới với hơn 23.000 Chi nhánh và Phòng giao dịch tới tận các xã, huyện
của ABC tại Trung Quốc chắc chắn sẽ góp một phần không nhỏ trong việc mở rộng và
phát triển mạng lưới ngân hàng đại lý của LienVietPostBank, cũng như giúp phá bỏ
những rào cản địa lý giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp Trung Quốc; góp
phần thúc đẩy giao dịch thương mại, xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc, mang
lại những giá trị tốt nhất cho khách hàng của LienVietPostBank.
Ngoài ra không thể không kể đến những thuận lợi trong việc sử dụng hệ thống, hạ tầng
công nghệ thông tin được phát triển và xây dựng một cách chuyên nghiệp bài bản của
ABC. Hệ thống này đảm bảo được yếu tố an toàn bảo mật, phòng ngừa rủi ro và phòng
chống rửa tiền. Bên cạnh đó hệ thống này cũng cung cấp những tiện ích tốt nhất cho
LienVietPostBank trong việc sử dụng, quản lý và duy trì tài khoản.
Tại các tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn và Quảng Ninh hiện nay, 100% các ngân hàng tại Việt
Nam triển khai dịch vụ thanh toán biên mậu trên các địa bàn này đều mở tài khoản Nhân
dân tệ và sử dụng dịch vụ của ABC. Đặc biệt tại tỉnh Lào Cai, Chi nhánh Huyện Hà Khẩu
của ABC chiếm lĩnh đến trên 70% tổng doanh số thanh toán biên mậu qua cửa khẩu Lào
Cai, tương đương với hơn 15.000 tỉ VND (trên 700 triệu USD). Tại Lạng Sơn và Móng
Cái, Chi nhánh Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của ABC cũng chiếm lĩnh trên 60%
tổng doanh số thanh toán biên mậu qua các cửa khẩu của tỉnh Lạng Sơn và thành phố
Móng Cái.
Năm 2013 vẫn là một năm đầy khó khăn và thách thức đối với hoạt động của hệ thống
ngân hàng Việt Nam nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng. Tuy nhiên, với
những lợi thế về thương hiệu, sản phẩm và nguồn nhân lực chất lượng cao, hoạt động
thanh toán quốc tế của Ngân hàng Bưu điện Liên Việt vẫn duy trì được những chỉ tiêu
quan trọng, đồng thời giữ vững được đà tăng trưởng đáng khích lệ về quy mô cũng như
tính đa dạng của sản phẩm, tạo được lòng tin vững chắc trong lòng khách hàng và các
ngân hàng đại lý trong và ngoài nước.
Đến cuối năm 2013, doanh số thanh toán quốc tế đạt trên 500 triệu USD, trong đó giá trị
nhập khẩu chiếm 61% và giá trị xuất khẩu chiếm 37% tổng giá trị. Đặc biệt lượng kiều
hối tăng 25% so với cùng kỳ năm 2012 đã thể hiện sự tăng trưởng, lớn mạnh về lượng
khách hàng cá nhân đã và đang tin tưởng, sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân
hàng Bưu điện Liên Việt.
Bên cạnh đó, hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu thương mại của Ngân hàng Bưu điện
Liên Việt trải rộng trên khắp các thị trường Mỹ, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và khu vực EU… với mạng lưới gồm 402 ngân hàng tại 46
thị trường trên toàn cầu. Dự kiến trong giai đoạn 2013-2014, số lượng ngân hàng đại lý sẽ
tăng trưởng mạnh mẽ, đạt trên 500 ngân hàng đại lý trên toàn thế giới, đảm bảo cung cấp
tất cả các dịch vụ thanh toán quốc tế tốt nhất cho khách hàng tới hầu hết các thị trường
trọng điểm và truyền thống về lĩnh vực xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Trong năm 2014, Ngân hàng Bưu điện Liên Việt sẽ chú trọng phấn đấu duy trì và giữ
vững thị phần thanh toán xuất nhập khẩu tại Việt Nam, trong đó đặc biệt đẩy mạnh nghiệp
vụ xuất khẩu bằng việc tăng khả năng cạnh tranh về sản phẩm dịch vụ, mở rộng và phát
triển quan hệ đại lý với các Ngân hàng uy tín trên toàn thế giới.
Trải qua hơn 6 năm hình thành và phát triển, LienVietPostBank tự hào đã và đang khẳng
định được vị thế của một ngân hàng trẻ nhưng năng động, hiện đại, luôn nỗ lực vì khách
hàng, cộng đồng, hoàn thiện mục tiêu trở thành “Ngân hàng của mọi người”. Tính đến
thời điểm cuối năm 2013, vốn điều lệ của LienVietPostBank là 6.460 tỷ đồng, tổng tài sản
đạt gần 80.000 tỷ đồng, huy động vốn đạt hơn 70.000 tỷ đồng, dư nợ tín dụng đạt trên
30.000 tỷ đồng, mạng lưới hơn 70 Chi nhánh, Phòng Giao dịch trực thuộc và quyền khai
thác hơn 10.000 Phòng Giao dịch Bưu điện trên toàn quốc
Về mạng lưới, LienVietPostBank đã lên kế hoạch thành lập các Chi nhánh cấp tỉnh/thành
tại 63 tỉnh thành trong cả nước trước cuối năm 2014 .
Với thế mạnh là ngân hàng đầu tiên triển khai dịch vụ thanh toán biên mậu tại Trung
Quốc, ABC là ngân hàng dẫn đầu toàn hệ thống ngân hàng Trung Quốc về dịch vụ thanh
toán biên mậu với giá trị giao dịch năm 2013 đạt trên 600 tỷ CNY.
VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG THANH TOÁN QUỐC TÊ
Dịch vụ thanh toán thẻ bằng thiết bị di động MPOS là một sản phẩm công nghệ thẻ vượt
trội trong lĩnh vực ngân hàng, được ra đời trên cơ sở kết hợp triển khai giữa Vietinbank,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Tổ chức Thẻ Quốc tế Visa.
Dịch vụ thanh toán thẻ bằng thiết bị di động MPOS là một sản phẩm công nghệ thẻ vượt
trội trong lĩnh vực ngân hàng, được ra đời trên cơ sở kết hợp triển khai giữa Vietinbank,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Tổ chức Thẻ Quốc tế Visa.
Để sử dụng dịch vụ, các đơn vị chấp nhận thẻ của VietinBank chỉ cần cài đặt ứng dụng
thanh toán lên các thiết bị di động như điện thoại Smart Phone, Ipad... và lắp thêm một
thiết bị MPOS nhỏ gọn để thanh toán cho khách hàng sử dụng các loại thẻ nội địa và quốc
tế khi khách hàng mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại đơn vị.
Đây là một bước đột phá lớn, biến những thiết bị di động nhỏ gọn thông dụng hàng ngày
thành thiết bị thanh toán thẻ gọn nhẹ và tiện lợi, tích hợp công nghệ bảo mật cao. Thiết bị
MPOS nhỏ gọn này hứa hẹn sẽ thay thế dần các thiết bị POS (máy chấp nhận thanh toán
thẻ) cố định tại chỗ hoặc thiết bị POS di động GPRS, mang lại một phương thức thanh
toán mới an toàn và tiện lợi.
Dịch vụ chấp nhận thanh toán thẻ bằng thiết bị di động - MPOS của VietinBank phù hợp
với nhiều loại hình doanh nghiệp từ những đơn vị kinh doanh taxi, thanh toán tiền điện,
nước, internet, bảo hiểm, đồ ăn nhanh, nhà hàng, khách sạn,đại lý du lịch, trung tâm
thương mại, siêu thị, chuyển phát nhanh và rất nhiều các loại hình kinh doanh khác.
Khách hàng quẹt thẻ vào MPOS. Sau khi MPOS xử lý thông tin thẻ và hiển thị các thông
tin thẻ trên màn hình điện thoại di động thì đơn vị bán hàng sẽ thực hiện xác nhận thông
tin thẻ của khách hàng. Khách hàng tiến hành ký bằng tay trên màn hình di động. Khi
giao dịch thành công, khách hàng sẽ nhập số điện thoại và địa chỉ E-mail theo hướng dẫn
trên màn hình Smart Phone hoặc Ipad để nhận thông báo hóa đơn đã thanh toán thành
công. Như vậy với đơn vị bán hàng, họ đã tiết kiệm được nhiều chi phí.
Bên cạnh đó, khác với thiết bị quẹt thẻ cố định (POS), sản phẩm MPOS có nhiều ưu điểm
vượt trội với nhiều tiện ích cho cả DN và người tiêu dùng. Đối với sản phẩm MPOS,
khách hàng chủ động quản lý được tên đăng nhập và mật khẩu. Ngoài ra, các thiết bị cá
nhân này cũng tiện sử dụng hơn máy POS do không phải dùng dây, di chuyển dễ dàng và
nhanh chóng kiểm tra ngay trên điện thoại di động. Thiết bị MPOS nhỏ gọn này hứa hẹn
sẽ thay thế dần các thiết bị POS cố định tại chỗ hoặc thiết bị POS di động, mang lại một
phương thức thanh toán mới an toàn và tiện lợi.
Chương 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ Ở VIỆT
NAM
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TECHCOMBANK
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Được thành lập vào ngày 27 tháng 09 năm 1993 theo giấy phép hoạt động số 0040/NHGP ngày 06/08/1993 do Thống đốc NHNN Việt Nam cấp giấy phép kinh doanh số 055679
cấp ngày 07/09/1993 trong thời hạn 20 năm. Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thuật Việt
Nam – Techcombank là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt
Nam được thành lập trong bối cảnh đất nước đang chuyển sang nền kinh tế thị trường với
số vỗn điều lệ là 20 tỷ đồng và trụ sở chính ban đầu được đặt tại số 24 Lý Thường Kiệt,
Hoàn Kiếm, Hà Nội. sau đó chuyển đến 15 Đào Duy Từ và hiện nay là 70-72 Bà Triệu,
Hoàn kiếm, Hà Nội.
Với cấu khẩu hiệu nổi tiếng” Sáng tạo giá trị, chia sẽ thành công” hiện nay techcombank
là một trong 3 NHTM cổ phần đầu tiên của VN. Với 20 năm phát triển, đó là khoảng thời
gian không dài với một ngân hàng nhưng techcombank đã đạt được những thành tưu
khích lệ.
2.2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của Techcombank giai đoạn gần đây
Năm 2013 tiếp tục là một năm khó khăn đối với nền kinh tế nói chung và ngành ngân
hàng nói riêng. Techcombank một mặt vừa duy trì tăng trưởng kinh doanh, mặt khác tiếp
tục tập trung vào công tác quản trị rủi ro, chất lượng tín dụng và củng cố bảng cân đối kế
toán.
Một số nét nổi bật về kết quả hoạt động của Ngân hàng như sau:
• Tổng huy động khách hàng tăng 7,6% đạt 119.978 tỷ đồng.
• Tổng cho vay khách hàng tăng 2,9% đạt VND 70.275 tỷ đồng.
• Thu nhập hoạt động giảm 1.9% xuống còn 5.648 tỷ đồng do việc giảm biên lãi thuần
(NIM) từ mức 3,4% xuống 3,2 % theo xu hướng giảm lãi suất trong năm 2014.
• Với việc quản trị rủi ro nhất quán, thận trọng
và minh bạch, Ngân hàng đã trích lập dự phòng
rủi ro 1.414 tỷ đồng cho các khoản nợ. Tính đến
31/12/2013, Ngân hàng đã bán gần 2 nghìn tỷ
đồng nợ xấu cho Công ty Quản lý Tài sản của
các Tổ chức Tín dụng Việt Nam (VAMC).
• Chi phí hoạt động tăng 1.87% lên mức 3.356
tỷ đồng, phản ánh các khoản chi cho đầu tư cơ
sở hạ tầng, tuyển dụng nhân sự có chất lượng và
duy trì mạng lưới chi nhánh.
• Lợi nhuận trước thuế giảm 13,7 % đạt 878 tỷ
đồng.
• Hệ số an toàn vốn (CAR) tăng từ 12,6% năm
2012 lên 14,03% vào cuối năm 2013, trong khi
đó tỷ lệ cho vay trên huy động được duy trì
quanh mức 58,6%.
• Tổng thu nhập hoạt động của Ngân hàng
đạt 5.648 tỷ đồng, giảm 1.9% so với năm
ngoái.
Mặc dù thu nhập lãi thuần giảm 16,9% xuống còn 4.336 tỷ đồng do NIM bị giảm từ mức 3,4%
xuống 3,2%, song thu nhập lãi thuần từ hoạt động dịch vụ lại tăng 30,2%, tương đương 736 tỷ
đồng. Thu nhập từ hoạt động đầu tư và kinh doanh được cải thiện đáng kể so với năm ngoái, đạt
145 tỷ đồng so với con số -311 tỷ đồng của năm 2012.
Chi phí hoạt động tăng 62 tỷ đồng, tương đương 1,87 % so với năm ngoái. Ngân hàng
tiếp tục đầu tư vào cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và mạng lưới bao gồm 315 chi
nhánh trên toàn quốc.
Dự phòng rủi ro mất vốn được duy trì ở mức 1.414 tỷ đồng, giảm 36 tỷ so với năm 2012
do tác động của môi trường kinh tế khó khăn và cách tiếp cận thận trọng trong việc đánh
giá nợ xấu (NPL). Tính đến ngày 31/12/2013, tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng đang ở mức
3,65%, giảm mạnh so với mức 5,9% tại thời điểm 30/9/2013. Ngân hàng đã và đang chú
trọng công tác quản lý và thu hồi nợ xấu, song song với việc kiểm soát rủi ro tín dụng
theo các chuẩn mực quốc tế.
Lợi nhuận trước thuế đạt 878 tỷ đồng, giảm 13,72% so với năm ngoái. Theo đó tỷ suất
sinh lời trên tổng tài sản (ROA) giảm từ 0,42% xuống còn 0,39% trong khi đó lợi nhuận
trên vốn chủ sở hữu (ROE) giảm từ 5,58% xuống 4,47% trong năm 2013.
Kết quả hoạt động tài chính trong năm 2013
Cho vay khách hàng tăng 2,9%, trong khi đó huy động khách hàng tăng 7,6% đạt 119.978
tỷ đồng. Tỷ lệ cho vay trên huy động giảm nhẹ từ mức 61,2% xuống 58,6% trong năm
2013. Hệ số an toàn vốn của ngân hàng được cải thiện, tăng 1,43% lên mức 14,03% tính
đến cuối năm 2013, cao hơn nhiều so với mức yêu cầu tối thiểu 9% của Ngân hàng Nhà
nước.
Tính đến cuối năm 2013, với chính sách cho vay thận trọng, dư nợ cho vay khách hàng
của ngân hàng đạt 70.275 tỷ đồng, tăng 2,9% so với năm 2012. Năm 2013 đánh dấu sự
thay đổi trong cơ cấu cho vay theo ngành. Cho vay ngành Nông nghiệp và Lâm nghiệp
giảm 16,69% trong khi đó ngành Xây dựng tăng 66%, do thị trường bất động sản đang
dần hồi phục. Cho vay ngành Thương mại Sản xuất Chế biến cũng tăng 10,3%.
Với sự tin tưởng của khách hàng, huy động khách hàng đã tăng 7,6% đạt 119.978 tỷ đồng.
Huy động khách hàng cá nhân tăng nhẹ 2,5% trong khi đó huy động khách hàng doanh
nghiệp tăng 19,1%.
Tiền gửi Việt Nam đồng tăng 10,3% so với năm 2012 trong khi đó tiền gửi ngoại tệ giảm
11,9%, chủ yếu là trong mảng huy động khách hàng cá nhân.
2.2.
THỰC TRẠNG THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ RỦI RO TRONG THANH
TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG TECHCOMBANK
2.2.1. Thực trạng hoat động thanh toán quốc tế của ngân hàng Techcombank
Nhằm ghi nhận những thành công xuất sắc trong lĩnh vực thanh toán quốc tế, ngày 3/4/2013,
Ngân hàng HSBC – một trong những định chế tài chính lớn nhất trên thế giới đã trao giải thưởng
Tỷ lệ điện đạt chuẩn STP (Straight-Through-Processing) cho Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt
Nam.
Chất lượng giao dịch chuyển tiền thanh toán quốc tế của Techcombank luôn nằm trong số các
ngân hàng đạt chất lượng cao nhất Việt Nam
Tỷ lệ điện đạt chuẩn là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng việc thực hiện
thanh toán tự động của các ngân hàng. Với tỷ lệ điện đạt chuẩn cao, các giao dịch thanh toán
quốc tế của khách hàng Techcombank sẽ được phục vụ một cách nhanh chóng, chính xác; đồng
thời, ngân hàng cũng tiết kiệm được thời gian, chi phí và giảm thiểu rủi ro... Đây là sự khẳng
định và minh chứng cho chất lượng của nền tảng công nghệ cũng như sự xuất sắc trong nghiệp vụ
của
đội
ngũ
cán
bộ
nhân
viên
Techcombank.
Hiện tại, Techcombank có quan hệ đại lý với gần 900 ngân hàng trên thế giới. Năm 2012, doanh
thu về thanh toán quốc tế của Techcombank đạt 5,3 tỷ đô la, đứng đầu trong các ngân hàng
TMCP. Ngoài HSBC, chất lượng thanh toán quốc tế của Techcombank còn được nhiều ngân hàng
đại lý có uy tín khác như Bank of NewYork, Wells Fargo, Standard Chartered Bank, Citibank và
JP
Morgan
Chase
ghi
nhận
và
trao
giải
thưởng.
Giải thưởng về thanh toán quốc tế của Ngân hàng HSBC là sự ghi nhận tiếp theo của tổ chức tài
chính lớn quốc tế cho những nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ của Techcombank nhằm hướng
tới một ngân hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài giải thưởng trên, trong năm 2012, Techcombank
còn nhận được nhiều giải thưởng về các lĩnh vực khác từ các tổ chức quốc tế uy tín như Tạp chí
Finance Asia, Tạp chí Asian Banking & Finance, Tạp chí Alpha Southest Asia, Global Trade
Review Magazine, Global Finance...
Thành Tích Ấn Tượng Trong Năm 2012
Những nét nổi bật chính:
• Giá trị giao dịch tài trợ thương mại quốc tế giảm xuống 4,995 tỷ USD, trong khi tổng
khối lượng giao dịch giảm nhẹ xuống còn 55.457 giao dịch.
• Số lượng giao dịch chuyển tiền nội địa và quốc tế trong năm 2013 tăng 23% lên 3,7 triệu
giao dịch.
• Mở rộng mô hình Tài trợ Thương mại từ 6 lên 16 chi nhánh.
• Giới thiệu các sản phẩm tài trợ thương mại mới bao gồm Thư tín dụng trả chậm có thể
thanh toán ngay, Bao thanh toán xuất khẩu và Bao thanh toán nội địa.
• Giới thiệu các sản phẩm quản lý tiền tệ mới bao gồm bảo lãnh ngân hàng/ thanh toán
F@st Customs.
• Triển khai dịch vụ thu hóa đơn trực tuyến cho các công ty điện lực và viễn thông lớn.
• Triển khai nền tảng Arc IB tiên tiến cho giao dịch ngân hàng điện tử.
Hoạt Động Tài Trợ Thương Mại Cùng với đà tăng trưởng kinh tế chậm của Việt Nam năm
2012, tốc độ tăng trưởng thương mại quốc tế của Việt Nam cũng suy giảm so với các năm
trước, với tổng giá trị xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam tăng lần lượt 18% và 7%
năm 2012 (so với 34% và 25% của năm 2011). Với mục tiêu có được thị phần lớn hơn về
mảng hoạt động này, chúng tôi đã tăng cường mở rộng dự án được thiết lập năm 2011,
nhằm trang bị và đào tạo các chuyên gia Tài trợ thương mại được tuyển chọn từ những chi
nhánh lớn của Ngân hàng trên khắp cả nước. Với sự thành công của chương trình, số
lượng chi nhánh tham gia đã tăng từ 6 chi nhánh
vào cuối năm 2011 lên 16 chi nhánh năm 2012.
Mức tăng trung bình về khối lượng giao dịch trong năm 2012 tại 6 chi nhánh đầu tiên là
15% so với cùng kỳ năm trước, kết quả này cho thấy sự hiệu quả của chương trình.
Với sự thấu hiểu về thị trường trong nước cùng với đội ngũ quản lý chuyên nghiệp giàu
kinh nghiệm và hệ thống công nghệ mạnh, Techcombank có thể cung cấp các giải pháp
chuyên biệt đáp ứng chính xác các yêu cầu của khách hàng. Hơn nữa, với các mối quan
hệ ngân hàng đại lý sâu rộng và xử lý giao dịch tập trung đảm bảo chất lượng, hạn chế rủi
ro và giảm thiểu chi phí, Techcombank được công nhận là ngân hàng hàng đầu về hoạt
động tài trợ thương mại của Việt Nam, có khả năng cung cấp trọn gói các sản phẩm và
dịch vụ ngân hàng giao dịch, đáp ứng nhu cầu của khách hàng khó tính.
Do các điều kiện kinh tế và kinh doanh khó khăn trong năm 2012, giá trị giao dịch tài trợ
thương mại quốc tế nói chung của Techcombank đã giảm 13,5% xuống mức 4,995 tỷ
USD trong khi tổng số các giao dịch tài trợ thương mại quốc tế giảm nhẹ 1,6% xuống
55.457. Tuy nhiên, chúng tôi tự hào được đóng góp một vai trò quan trọng trong sự thành
công của hàng nghìn doanh nghiệp trong các mảng xuất khẩu chính của Việt Nam như
nông sản và hải sản.
Về mặt phát triển sản phẩm, chúng tôi đã giới thiệu một số sản phẩm mới trong năm 2012
bao gồm: Thư tín dụng trả chậm có thể thanh toán ngay (UPAS), cho phép các nhà nhập
khẩu tiếp cận nguồn vốn bằng ngoại tệ rẻ hơn thông qua các đối tác ngân hàng đại lý của
Techcombank; Bao thanh toán xuất khẩu (cho thị trường Mỹ và Canada) giúp bảo vệ các
nhà xuất khẩu khỏi rủi ro khi các nhà nhập khẩu nước ngoài không thanh toán cho các
giao dịch xuất khẩu với điều kiện thanh toán Mở tài khoản/ thanh toán TT; và Bao thanh
toán nội địa, theo đó các đơn vị bán có được sự đảm bảo về cấp vốn và thanh toán đối với
các hàng hóa trong nước trên cơ sở hóa đơn/mở tài khoản. Những sản phẩm tài trợ tiên
tiến này ngày càng trở nên phổ biến với khách hàng doanh nghiệp và thể hiện cam kết của
Ngân hàng trong việc cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng nhiều hơn và tốt hơn cho
khách hàng.
Hoạt Động Quản Lý Tiền Tệ
Tương ứng với cơ sở khách hàng và niềm tin của khách hàng ngày càng gia tăng, hoạt
động quản lý tiền tệ của Techcombank tiếp tục tăng trưởng đáng kể trong năm 2012, trong
đó khối lượng giao dịch chuyển tiền nội địa do Techcombank thực hiện tăng 23% so với
cùng kỳ năm ngoái lên mức gần 3,7 triệu giao dịch. Con số này tăng gần gấp ba lần kể từ
khi Khối Ngân hàng giao dịch được thành lập vào năm 2009. Trên 99% giao dịch chuyển
tiền được xử lý “thông suốt” không có sự can thiệp bằng tay thông qua mạng lưới ngân
hàng đại lý, do đó mang lại sự hài lòng cao nhất cho khách hàng.
Trong năm qua, Khối Ngân hàng giao dịch đã giới thiệu các giải pháp quản lý tiền tệ tiên
tiến hơn bao gồm F@st Customs, cho phép các nhà nhập khẩu và xuất khẩu xác minh trực
tuyến số thuế phải nộp cho Tổng cục Hải quan để thực hiện thanh toán hoặc có được bảo
lãnh ngân hàng ngay tức thì, sản phẩm hỗ trợ khách hàng đẩy nhanh đáng kể tiến độ
thông quan hàng hóa xuất, nhập khẩu tại cảng.
2.2.
Rủi ro trong thanh toán quốc tế của ngân hàng Techcombank
Một số rủi ro chủ yếu trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Trong hoạt động ngân hàng, lợi nhuận và rủi ro luôn đi đôi với nhau và có mối quan hệ
ngược chiều. Lợi nhuận càng cao thì rủi ro ngân hàng gặp phải càng lớn và ngược lại.
Trong hoạt động thanh toán TDCT, ngân hàng cũng không thể tránh khỏi rủi ro. Các rủi ro
trong thanh toán TDCT mà ngân hàng và các bên tham gia thường gặp là: Rủi ro kỹ thuật
Rủi ro kỹ thuật là những rủi ro do những sai sót mang tính kỹ thuật trong quy trình thanh
toán TDCT. Rủi ro đối với nhà Xuất khẩu Khi tham gia phương thức thanh toán TDCT,
nhà XK hay gặp những rủi ro sau:
1. Khi nhận được L/C từ NH thông báo, nếu nhà XK kiểm tra các điều kiện chứng từ
không kĩ, chấp nhận cả những yêu cầu bất lợi mà nhà XK không thể đáp ứng được trong
khâu lập chứng từ sau này. Khi các yêu cầu đó không được thoả mãn, NH phát hành từ
chối bộ chứng từ và không thanh toán. Lúc đó, nhà NK sẽ có lợi thế để thương lượng lại
về giá cả nằm ngoài các điều khoản của L/C và nhà XK sẽ gặp bất lợi.
2. Trong thanh toán TDCT, ngân hàng mở L/C đứng ra cam kết thanh toán cho người XK
khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C, NH chỉ làm việc với các
chứng từ quy định trong L/C. Phương thức thanh toán TDCT đòi hỏi sự chính xác tuyệt
đối giữa bộ chứng từ thanh toán với nội dung quy định trong L/C. Chỉ cần một sơ suất
nhỏ trong việc lập chứng từ thì nhà XK cũng có thể bị NH mở L/C và người mua bắt lỗi,
từ chối thanh toán. Do đó, việc lập bộ chứng từ thanh toán là một khâu quan trọng và rất
dễ gặp rủi ro đối với nhà XK. Một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với L/C phải đáp ứng
được các yêu cầu sau : • Các chứng từ phải phù hợp với luật lệ và tập quán thương mại
mà hai nước người mua và người bán đang áp dụng và được dẫn chiếu trong L/C. • Nội
dung và hình thức của các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng yêu cầu đề ra
trong L/C. • Những nội dung và các số liệu có liên quan giữa các chứng từ không được
mâu thuẫn với nhau, nếu có sự mâu thuẫn giữa các chứng từ mà từ đó người ta không thể
xác định một cách rõ ràng, thống nhất nội dung thuộc về tên hàng, số lượng, trọng lượng,
giá cả, tổng trị giá, tên của người hưởng lợi…thì các chứng từ đó sẽ bị ngân hàng từ chối
thanh toán vì bộ chứng từ đó mâu thuẫn với nhau.
1.
• Bộ chứng từ phải được xuất trình tại địa điểm qui định trong L/C và trong thời
hạn hiệu lực của L/C. Trên thực tế có rất nhiều sai sót xảy ra trong quá trình lập chứng từ,
thường gặp vẫn là: • Lập chứng từ sai lỗi chính tả, sai tên, địa chỉ của các bên tham gia,
của hãng vận tải • Chứng từ không hoàn chỉnh về mặt số lượng. • Các sai sót trên bề mặt
chứng từ : số tiền trên chứng từ vượt quá giá trị của L/C; các chứng từ không ghi số L/C,
không đánh dấu bản gốc; các chứng từ không khớp nhau hoặc không khớp với nội dung
của L/C về số lượng, trọng lượng, mô tả hàng hoá…; các chứng từ không tuân theo quy
định của L/C về cảng bốc dỡ hàng, về hãng vận tải, về phương thức vận chuyển hàng
hóa… Tất cả những sai sót trên đều là những nguyên nhân gây nên rủi ro cho nhà XK khi
lập bộ chứng từ thanh toán. Ngoài ra, do sự khác biệt về tập quán, luật lệ ở mỗi nước cho
nên dễ dẫn đến những sai sót khi nhà XK hoàn tất bộ chứng từ hàng hoá để gửi NH xin
thanh toán. 3. Nếu nhà XK xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi khoản
thanh toán hay chấp nhận có thể đều bị từ chối, và nhà XK phải tự xử lý hàng hoá như dỡ
hàng, lưu kho cho đến khi vấn đề được giải quyết hoặc phải tìm
2.
người mua mới, bán đấu giá hay chở hàng về quay về nước. Đồng thời, nhà XK
phải chịu những chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho… trong khi đó không biết rõ lập
trường của nhà NK là sẽ đồng ý hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng từ có sai sót. 4.
Nếu NH phát hành mất khả năng thanh toán, thì cho dù bộ chứng từ xuất trình là hoàn hảo
thì cũng không được thanh toán. 5. Thư tín dụng có thể huỷ ngang có thể được NH phát
hành sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ bất cứ lúc nào trước khi nhà XK xuất trình bộ chứng từ
mà không cần sự đồng ý của nhà XK. Rủi ro đối với nhà Nhập khẩu • Trong thanh toán
TDCT, việc thanh toán của NH cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ xuất
trình mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hoá. NH chỉ kiểm tra tính chân thật bề
ngoài của chứng từ, mà không chịu trách nhiệm về tính chất bên trong của chứng từ, cũng
như chất lượng và số lượng hàng hoá. Như vậy sẽ không có sự đảm bảo nào cho nhà NK
rằng hàng hoá sẽ đúng như đơn đặt hàng hay không. Nhà NK có thể nhận được hàng kém
chất lượng hoặc bị hư hại trong quá trình vận chuyển mà vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền
thanh toán cho NH phát hành. • Khi nhà NK chấp nhận bộ chứng từ hàng hoá sẽ có nguy
cơ gặp rủi ro. Bộ chứng từ là cơ sở pháp lý đầu tiên về tính đúng đắn của hàng hoá. Nếu
nhà NK không chú ý kiểm tra kỹ bộ chứng từ (từ lỗi, câu chữ, số
3.
lượng các loại chứng từ, cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy chứng nhận…)
mà chấp nhận bộ chứng từ có lỗi sẽ bị thiệt hại và gặp khó khăn trong việc khiếu nại sau
này. • Một rủi ro mà nhà NK hay gặp là hàng đến trước bộ chứng từ, nhà NK chưa nhận
được bộ chứng từ mà hàng đã cập cảng. Bộ chứng từ bao gồm vận đơn, mà vận đơn lại là
chứng từ sở hữu hàng hoá nên thiếu vận đơn thì hàng hoá không được giải toả. Nếu nhà
NK cần gấp ngay hàng hoá thì phải thu xếp để NH phát hành phát hành một thư bảo lãnh
gửi hãng tàu để nhận hàng. Để được bảo lãnh nhận hàng, nhà NK phải trả thêm một
khoản phí cho NH. Hơn nữa, nếu nhà NK không nhận hàng theo qui định thì tiền bồi
thường giữ tàu quá hạn sẽ phát sinh. Rủi ro đối với ngân hàng phát hành 1. Trong nghiệp
vụ mở L/C, nếu NH phát hành kiểm tra không kĩ đơn xin mở L/C sẽ dẫn đến việc chấp
nhận cả những điều khoản hàm chứa rủi ro cho NH sau này. 2. Khi nhận được bộ chứng
từ xuất trình, nếu NH phát hành trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà
không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, nhà NK
không chấp nhận, thì NH không thể đòi tiền nhà NK. 3. Ngân hàng phát hành phải thực
hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo qui định của L/C ngay cả trong trường hợp nhà
NK mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản do kinh doanh thua lỗ.
4. Trong trường hợp hàng đến trước bộ chứng từ thì NH phát hành hay được yêu cầu chấp
nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy bộ chứng từ. Nếu không có sự
chấp nhận trước của người NK về việc hoàn trả, thì NH phát hành sẽ gặp rủi ro khi bộ
chứng từ có sai sót, khi đó nhà NK không chấp nhận và NH sẽ không truy hoàn được tiền
từ nhà NK. 5. Nếu trong L/C ngân hàng phát hành không qui định bộ vận đơn đầy đủ(full
set off bills of lading) thì một người NK có thể lấy được hàng hoá khi chỉ cần xuất trình
một phần của bộ vận đơn, trong khi đó người trả tiền hàng hoá lại là ngân hàng phát hành
theo cam kết của L/C. 6. NH phát hành có thể gặp rủi ro do không hành động đúng theo
UCP 500, đó là đưa ra quyết định từ chối bộ chứng từ vượt quá 7 ngày làm việc của ngân
hàng, theo qui định của UCP 500 là không quá 7 ngày. Rủi ro đối với ngân hàng thông
báo NH thông báo có trách nhiệm phải đảm bảo rằng thư tín dụng là chân thật, đồng thời
phải xác minh chữ ký, mã khoá (test key), mẫu điện của NH phát hành trước khi gửi
thông báo cho nhà XK. Rủi ro xảy ra với NH thông báo là khi NH này thông báo một L/C
giả hoặc sửa đổi một L/C không có hiệu lực trong khi chính NH chưa xác nhận được tình
trạng mã khoá hay chữ ký uỷ quyền của NH mở L/C. Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận
4.
1. Nếu bộ chứng từ được xuất trình là hoàn hảo thì NH xác nhận phải trả tiền cho
nhà XK bất luận là có truy hoàn được tiền từ NH phát hành hay không. Như vậy, NH xác
nhận chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát hành. 2. Nếu NH xác nhận trả tiền hay chấp
nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra bộ chứng từ một cách thích
đáng, để bộ chứng từ có lỗi, NH phát hành không chấp nhận thanh toán thì NH xác nhận
không thể đòi tiền NH phát hành. Rủi ro đối với ngân hàng được chỉ định Các NH được
chỉ định không có trách nhiệm thanh toán cho nhà XK trước khi nhận được tiền hàng từ
NH phát hành. Tuy nhiên trong thực tế, trên cơ sở bộ chứng từ được xuất trình, các NH
được chỉ định thường ứng trước cho nhà XK với điều kiện truy đòi để trợ giúp nhà XK,
do đó NH này phải chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát hành hoặc nhà XK. Rủi ro đạo
đức Rủi ro đạo đức là những rủi ro khi một bên tham gia phương thức thanh toán TDCT
cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo qui định của L/C, làm ảnh hưởng
tới quyền lợi của bên kia. Rủi ro đạo đức đối với nhà XK Mặc dù trong thanh toán TDCT
đã có sự cam kết của NH mở L/C nhưng sự tin tưởng và thiện chí giữa người mua và
người bán vẫn được coi là yếu tốquan trọng đảm bảo cho sự an toàn của TTQT. Khi người
NK không thiện chí, cố ý không muốn thực hiện hợp đồng thì họ có thể dựa vào sai sót
cho dù là rất nhỏ của bộ chứng từ để đòi giảm giá, kéo dài thời gian để chiếm dụng vốn
của người bán, thậm chí từ chối thanh toán. Rủi ro đạo đức đối với nhà NK Với người
mua sự trung thực của người bán là rất quan trọng bởi vì NH chỉ làm việc với các chứng
từ mà không cần biết việc giao hàng có đúng hợp đồng hay không. Do đó nhà NK có thể
gặp rủi ro nếu nhà XK có hành vi gian dối, lừa đảo trong việc giao hàng như : cố tình giao
hàng kém phẩm chất, không đúng số lượng… Một nhà XK chủ tâm gian lận có thể xuất
trình bộ chứng từ giả mạo, có bề ngoài phù hợp với L/C cho NH mà thực tế không có
hàng giao, người NK vẫn phải thanh toán cho NH ngay cả trong trường hợp không nhận
được hàng hoặc nhận được hàng không đúng theo hợp đồng. Rủi ro đạo đức đối với ngân
hàng NH là người gánh chịu rủi ro đạo đức : NH phát hành phải thực hiện thanh toán cho
người hưởng lợi theo qui định của L/C ngay cả trong trường hợp người NK chủ tâm
không hoàn trả. NH là người gây ra rủi ro đạo đức: NH mở L/C có thể vi phạm cam kết
của mình như từ chối thanh toán hoặc trì hoãn thanh toán hoặc đứng về phía khách hàng
gây khó khăn trong quá trình thanh toán.
5.
Rủi ro chính trị: Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một trong các
phương thức được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế. Các chủ thể tham gia trong
phương thức TDCT ở nhiều quốc gia khác nhau và tham gia vào nhiều lĩnh vực ngành
nghề khác nhau. Do đó, phương thức TDCT chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường
chính trị, xã hội của các quốc gia. Một sự biến động dù là nhỏ về chính trị, xã hội của một
quốc gia cũng sẽ ảnh hưởng tới sự vận động của tự do thương mại, đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghịêp…từ đó ảnh hưởng tới quá trình thanh toán. Rủi ro
chính trị trong thanh toán quốc tế theo phương thức TDCT là những rủi ro bắt nguồn từ sự
không ổn định về chính trị của các nước có liên quan trong quá trình thanh toán.Thông
thường đó là rủi ro do thay đổi môi trường pháp lý như: thay đổi đột ngột về thuế XNK,
hạn ngạch, cơ chế ngoại hối (hạn chế ngoại hối), luật XNK. Những thay đổi này làm cho
các điều kiện trên thị trường tài chính thay đổi đột biến không dự tính trước làm các bên
tham gia XNK và ngân hàng không thực hiện được nghĩa vụ của mình, làm cho L/C có
thể bị huỷ bỏ, gây thiệt hại cho các bên tham gia. Bên cạnh đó, các cuộc nổi loạn, biểu
tình, bạo động hay chiến tranh, đảo chính, đình công…hoặc những rủi ro bất khả kháng
như thiên tai, hoả hoạn ở các nước tham gia, chứng từ bị thất lạc cũng có thể gây rủi ro
trong quá trình thanh toán. Rủi ro khách quan từ nền kinh tế
6.
Một rủi ro mà các bên tham gia phương thức thanh toán TDCT hay gặp là sự
khủng hoảng, suy thoái kinh tế và tình trạng công nợ nặng nề của các quốc gia. Khi nền
kinh tế của một quốc gia bị suy thoái, khủng hoảng sẽ kéo theo các ngân hàng bị phong
toả hoặc tạm ngưng hoạt động, từ đó làm ảnh hưởng rtới quá trình thanh toán quốc tế.
Nếu nợ nước ngoài của một quỗc gia là quá lớn thì các biện pháp như tăng thuế, phá giá
nội tệ sẽ được áp dụng, từ đó làm giảm khả năng chi trả của người mua và ngân hàng có
nguy cơ không đòi được tiền. Ngoài ra, sự phong toả kinh tế của các quốc gia như trường
hợp của Cuba, Iraq… cũng mang lại những rủi ro cho bất kì quốc gia, đơn vị kinh tế nào
có hoạt động xuất nhập khẩu với các nước đó. Tóm lại những nội dung trên đã đi vào
nghiên cứu các vấn đề cơ bản về thanh toán TDCT, trong đó phần lớn tập trung vào việc
phân tích các loại rủi ro đối với các chủ thể tham gia vào phương thức thanh toán này.
1 RR đối với nhà nhập khẩu:
Việc thanh toán của ngân hàng cho nhà xuất khẩu chỉ căn cứ vào bộ chứng từ xuất
trình mà không căn cứ vào việc kiểm tra thực tế hàng hóa. Ngân hàng chỉ kiểm tra
tính hợp lệ bề ngoài của chứng từ. Nếu nhà xuất khẩu chủ tâm gian lận có thể xuất
trình chứng từ giả mạo cho ngân hàng chỉ định để thanh toán. Như vậy, sẽ không
có sự đảm bảo nào cho nhà nhập khẩu rằng hàng hóa sẽ đúng như hợp đồng về số
lượng, chủng loại và không bị hư hỏng gì. Trong trường hợp này nhà nhập khẩu
vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền đã thanh toán cho ngân hàng phát hành.
Khi nhà nhập khẩu trong hoạt động kinh doanh của mình bị vỡ nợ, phá sản mất khả
năng thanh toán sẽ gây rủi ro cho Ngân hàng phát hành thư tín dụng. Khi ngân
hàng phát hành L/C thay mặt người nhập khẩu cam kết trả tiền cho bên xuất khẩu,
trong trường hợp các NH không yêu cầu kí quỹ 100% mà ngược lại ngân hàng tài
trợ cho vay đối với người nhập khẩu, fawpj trường hợp mất kahr năng thanh toán
của người nhập khẩu, rủi ro trong thanh toán hàng nhập xảy ra sẽ gây khó khăn,
tổn thất cho NH phát hành
2 RR đối với nhà xuất khẩu:
Khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi khoản
thanh toán (chấp nhận) đều có thể bị từ chối và nhà xuất khẩu có thể sẽ phải tự giải
quyết bằng cách dở hàng, lưu kho, bán đấu giá…cho đến khi vấn đề được giải
quyết hoặc phải chử hàng quay về nước. nhà xuất khẩu phải trả các khoản chi phí
như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho, mua bảo hiểm hàng hóa… trong khi không biết
nhà nhập khẩu có đồng ý nhận hàng hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng từ có
sai sót.nếu ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận mất khả năng thanh toán
thì mặc dù bộ chứng từ xuất trình có hoàn hảo cũng không được thanh toán. Cũng
tương tự như vậy, nếu ngân hàng chấp nhận hối phiếu kỳ hạn trước khi đến hạn thì
hối hiếu cũng không được trả tiền. Trừ khi L/C được xác nhận bởi một ngân hàng
hạng nhất trong nước, còn lại nhà xuất khẩu sẽ phải chịu rủi ro về hệ số tín nhiệm
của ngân hàng phát hành cũng như rủi ro chính trị hay rủi ro do cơ chế chính sách
của Nhà nước thay đổi.
Rủi ro này thường xảy ra trong trường hợp NH thực hiện chiết khấu chứng từ đối
với hàng xuất khẩu, sự thiếu xót trong khâu kiểm tra chứng từ, gây tình trạng sai
sót trong hồ sơ thanh toán bị từ chối thanh toán, trường hợp này NH chiết khấu
thanht oán có quyền truy đồi lại số tiền thanh toán cho người xuất khẩu, nếu người
xuất khẩu không có khả năng thanh toán sẽ gây hậu quả rủi ro cho NH chiết khấu.
3 RR đối với ngân hàng phát hành (Nhag mở L/C):
Ngân hàng phát hành là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu, nó cung cấp tín
dụng cho người nhập khẩu. Ngân hàng này thường được hai bên xuất khẩu và nhập
khẩu thỏa thuận lựa chọn và được quy định trong hợp đồng, nếu chưa có sự quy
định trước, người nhập khẩu có quyền lựa chọn. Rủi ro đối với ngân hàng phát
hành là ở chỗ ngân hàng phát hành phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng
theo quy định của L/C trong trường hợp nhà nhập khẩu chủ tâm không thanh toán
hay không có khả năng thanh toán. Vì thế, trước khi chấp nhận thanh toán L/C,
ngân hàng cần thẩm định một cách chặt chẽ giống như việc ccaps một khoản tín
dụng cho khách hàng.
Nếu ngân hàng phát hành mất khae năng thanh toán vì một lí do nào đó hoặc bị vỡ
nợ, đống cửa sẽ đẫn đến rủi ro cho NH chiết khấu và người xuất khẩu điều này phụ
thuộc nhiều vào mức độ tín nhiệm của NH phát hành.
4 RR đối với ngân hàng thông báo tín dụng:
Ngân hàng thông báo là ngân hàng được ngân hàng mở yêu cầu thông báo cho một
L/C do ngân hàng mở phát hành cho người bán. Ngân hàng thông báo phải chịu
trách nhiệm về tính chân thật, hợp lệ của thư tín dụng (bao gồm cả việc xác minh
chữ ký, khóa mã, mẫu điện…) trước khi thông báo cho nhà xuất khẩu. Rủi ro đối
với ngân hàng thông báo xảy ra khi gặp phải một L/C giả (hoặc sửa đổi giả) mà
không có ghi chú gì. Theo thông lệ quốc tế thì ngân hàng thông báo phải chịu hoàn
toàn trách nhiệm với các bên liên quan.
• Rủi ro đối với NH được chỉ định: NH được chỉ định không có một trách nhiệm nào
phải thanh toán cho nhà xuất khẩu trước khi nhận được tiền từ NH phát hành. Tuy
nhiên trong thực tế, các NH được chỉ định thường ứng trước tiền cho nhà xuất
khẩu với điều kiện truy đòi (with recourse) để trợ giúp cho nhà xuất khẩu. Do đó,
NH này thường phải tự chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát hành hoặc nhà xuất
khẩu.
• Rủi ro đối với NH xác nhận (confirming bank): là ngân hàng được chỉ định bởi
nhà xuất khẩu, có chức năng xác nhận khả năng thanh toán của ngân hàng phát
hành L/C và cùng cam kết việc thanh toán với NH phát hành. NH xác nhận thường
là NH lớn có uy tín hoặc NH có quan hệ tiền gửi, tiền vay với NH mở, được NH
mở yêu cầu xác nhận và cam kết trả tiền cho người bán nếu như NH mở không
thực hiện được nghĩa vụ của mình.
• Rủi ro đối với NH chiết khấu (negotiating bank): NH chiết khấu là NH được chỉ
định cụ thể hoặc bất cứ NH nào nếu L/C cho chiết khấu tự do. Cũng như NH phát
hành, NH chiết khấu có thể gặp phải rủi ro nếu như không thực hiện chính xác
nghiệp vụ cũng như không tuân thủ theo các điều kiện của UCP500. Rủi ro xảy ra
đối với NH chiết khấu phần nhiều phụ thuộc vào thiện chí của NH mở và nhà nhập
khẩu. Các rủi ro mà NH chiết khấu có thể gặp phải là: Rủi ro do những nguyên
nhân bất khả kháng; rủi ro do nhà nhập khẩu trì hoãn thanh toán; rủi ro trong quá
trình vận chuyển; rủi ro do nhà nhập khẩu từ chối thanh toán bộ chứng từ; rủi ro do
NH mở bị phá sản; rủi ro do NH chiết khấu không hành động đúng theo quy định
của UCP500.
• Rủi ro mặt đạo đức kinh doanh: Là những rủi ro khi một bên tham gia cố tình không
thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các bên khác. Đây
là loại rủi ro ít xảy ra song một khi đã xảy ra thì gây ra thiệt hại lớn cho ngân hàng và
các đối tác khác.
Ví dụ: công ty hóa chất Medimex xin ngân hàng mở L/C số 070JP02LCNN00023 để
nhập axit từ Nhật Bản. thởi điểm ký hợp đồng, axit ở Việt Nam đang có nhu cầu lớn
và không có nhiều công ty có khả năng cung cấp mặt hàng này. Tuy nhiên khi hàng về
đến cảng axit không còn khang hiếm như ngaỳ trước nữa, giá thị trường hạ xuống thấp
hơn cả giá công ty nhập. nếu chấp nhận lô hàng này, chắc chắn sẽ chịu thua lỗ. Vì vậy
công ty không muốn nhận lô hàng và đưa ra lý do chứng từ sai sót ( viết là H 2SO4 thay
vì axit sunfuric ). Trong trường hợp này, tuy ngân hàng không chịu thiệt hại gì về tài
chính nhưng uy tín thanh toán của ngân hàng đối với phía đối tác Nhật Bản là không
còn. Trong một vài trường hợp khác, ngân hàng không tìm được bất cứ một lỗi trong
chứng từ và buộc phải thanh toán cho phía xuất khẩu. không tiêu thụ được lô hàng,
công ty nhập khẩu không có khả năng trả nợ, ngân hàng còn phải chịu thêm rủi ro tín
dụng.
soát chứng từ, ép giá người bán để thu lợi cho mình.
Đẩy ngân hàng vào tình thế khó khan trong xử lý vốn, đặc biệt trong nghiệp vụ trả
chậm.
+ Rủi ro của nhà xuất khẩu: nhà xuất khẩu cố ý giao hàng hóa không phù hợp với hợp
đồng hoặc không giao hàng nhưng vẫn xuất bộ chứng từ hoàn hảo phù hợp các điều
khoản hợp đồng đã kí kết
Nếu ngân hàng tài trợ cho nhà nhập khẩu thì ngân hàng phải gánh chịu rủi ro này.
+ Rủi ro của ngân hàng: trong trường hợp ngân hàng trì hoãn, hoặc từ chối thanh toán
bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu hoặc đối với sự thiếu trung thực của ngân hàng chiết
khấu.
Rủi ro do cơ chế chính sách thay đổi hay còn gọi là rủi ro chính trị: Là những rủi ro có
quan hệ với nhiều đối tượng ở nhiều quốc gia khác nhau. Mỗi một sự thay đổi về kinh tế,
chính trị đều có ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và sự đáp ứng các điều kiện đã thoả
thuận trong hợp đồng của các bên. Suy thoái kinh tế và biến động chính trị sẽ có ảnh
hưởng tiêu cực đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và giao lưu
thương mại quốc tế.
Những biến động về chính trị như chiến tranh, nổi loạn, đảo chính và các biến cố chính trị
khác, thay đổi về thể chế chính trị, chính phủ thay đổi các cam kết trong thanh toán quốc
tế hoặc nổ ra bạo động, đình công hay cản trở việc giao nhận hàng giữa các bên đối tác, từ
đó ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh của cả hai bên xuất nhập khẩu. Những vấn đề
về kinh tế như dự trữ ngoại hối quá ít làm thâm hụt cán cân thanh toán với nước ngoài, sự
cấm vận kinh tế, nợ nước ngoài chồng chất khiến quốc gia tuyên bố vỡ nợ, sự thay đổi
trong chính sách thương mại, tất cả đều ảnh hưởng rất lớn đến thanh toán quốc tế nói
chung và thanh toán thư tín dụng nói riêng. Tóm lại, ta có thể thấy rằng biến động chính
trị - kinh tế - xã hội dù trực tiếp hay gián tiếp, tức thì hay lâu dài đều gây ra những ảnh
hưởng không nhỏ tới hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng
2.3.
NHẬN XÉT