Tải bản đầy đủ (.docx) (63 trang)

đẩy mạnh phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ttqt theo phương thức tín dụng chứng từ tại sở giao dịch ngân hàng tmcp ngoại thương việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (318.39 KB, 63 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa ngày càng trở nên phổ
biến với mọi quốc gia trên thế giới. Cùng với xu hướng đó là nhu cầu buôn
bán, trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia khác nhau diễn ra ngày càng lớn.
Quá trình tiến hành một cuộc trao đổi buôn bán hàng hóa được kết thúc bằng
việc bên mua thanh toán tiền cho bên bán, nhận hàng và bên bán giao hàng
hóa, nhận tiền. Các khâu trên đều diễn ra giữa các quốc gia khác nhau,
khoảng cách địa lý lớn nên việc thanh toán, trao đổi diễn ra không dễ dàng
nếu như không có bên thứ ba là ngân hàng đứng ra làm trung gian trong việc
thanh toán. Do đó, hoạt động Thanh toán quốc tế đã hình thành và phát triển.
Thanh toán quốc tế (TTQT) là một lĩnh vực gắn liền với các hoạt động
thương mại quốc tế song phương và đa phương. Với quy mô và phạm vi rộng
lớn, phức tạp, liên quan đến nhiều chủ thể trong các quốc gia khác nhau.
TTQT ngày càng được khẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói
chung và trong hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng. Đây là khâu quan trọng
trong quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các tổ chức, các cá nhân
thuộc các quốc gia khác nhau. Nếu không có hoạt động TTQT thì hoạt động
kinh thế đối ngoại khó có thể tồn tại và phát triển được.
Trong điều kiện tiền tệ thường xuyên biến động, rủi ro trong việc thực
hiện hợp đồng mua bán ngày càng nhiều, vị trí và vai trò của hoạt động TTQT
cũng vì thế mà được khẳng định hơn. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra giải pháp
đồng bộ, hữu hiệu và khả thi nhằm góp phần nâng cao hiệu quả cho hoạt động
TTQT đã và đang trở thành vấn đề bức xúc cả về lý luận và thực tiễn không
chỉ đối với nhà quản trị mà còn cả doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.

1


Trong các phương thức TTQT hiện nay thì phương thức thanh toán theo


thư tín dụng chứng từ là chủ yếu, quan trọng, hiệu quả và phù hợp với bối
cảnh hiện nay. Là một phương thức được sử dụng khá phổ biến nên việc hiểu
và nắm rõ các nghiệp vụ, các quy định pháp lý về nó cũng rất cần thiết để
phòng và tránh những rủi ro đáng tiếc xảy ra cho tất cả các bên khi tham gia
hoạt động ngoại thương. Hơn nữa, khi thực hiện hoạt động thanh toán nếu có
xảy ra sai sót thì thường gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng cho tất cả các
bên tham gia. Hậu quả đó có thể liên quan đến uy tín của ngân hàng, khách
hàng hay là những thiệt hại về mặt kinh tế. Xuất phát từ những lí do trên cùng
với quá trình thực tập tại Phòng TTQT, Sở Giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại
Thương Việt Nam, em đã lựa chọn đề tài “Đẩy mạnh phòng ngừa rủi ro trong
hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ tại Sở Giao dịch Ngân
hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu về hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ tại
Sở Giao dịch Vietcombank, thực trạng hoạt động TTQT bằng L/C. Trên cơ sở
đó, đánh giá thực trạng và đề xuất, kiến nghị các giải pháp để phòng ngừa rủi
ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở Giao dịch
Vietcombank.
3. Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến rủi ro trong TTQT
theo phương thức tín dụng chứng từ.
Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở lí luận chung về hoạt động
TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ, khóa luận tốt nghiệp được hoàn
thành kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau. Các phương pháp đó

2



bao gồm: phương pháp điều tra; phương pháp thống kê, tổng hợp; phương
pháp phân tích, đánh giá;…
4. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, khóa luận tốt nghiệp được chia
làm 3 chương chính sau:
Chương 1 – Lý luận chung về hoạt động TTQT theo phương thức
thanh toán tín dụng chứng từ và rủi ro của phương thức trong TTQT.
Chương 2 – Thực trạng rủi ro trong hoạt động TTQT bằng phương
thức tín dụng chứng từ tại Sở Giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương
Việt Nam.
Chương 3 – Giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động thanh
toán tín dụng chứng từ tại Sở Giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương
Việt Nam.
Sau đây là nội dung chi tiết của các chương:

3


Chương 1 – Lý luận chung về thanh toán quốc tế và rủi ro thanh toán
quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ trong các ngân hàng thương
mại
1.1.

Tổng quan về Thanh toán quốc tế

1.1.1.

Khái niệm về Thanh toán quốc tế
Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫn đến những nhu cầu chi


trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau, từ đó hình thành và
phát triển hoạt động Thanh toán quốc tế (TTQT) với ngân hàng là cầu nối
trung gian giữa các bên. Mục đích chính của hoạt động TTQT là để hỗ trợ và
phục vụ cho hoạt động giao thương quốc tế giữa các chủ thể ở các nước diễn
ra một cách trôi chảy và hiệu quả. Hơn nữa, hoạt động thương mại và hoạt
động TTQT liên quan và gắn liền với nhiều lĩnh vực hoạt động khác, mỗi lĩnh
vực hoạt động là một mắt xích không thể thiếu trong một dây chuyền hoạt
động tài chính quốc tế của mỗi quốc gia nói riêng và trên quy mô toàn thế giới
nói chung. TTQT là khâu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng và nhiều khi là khâu
quyết định đến hiệu quả và tăng trưởng thương mại, bởi vì chỉ khi hoạt động
thanh toán an toàn và trôi chảy thì người xuất khẩu mới thu được tiền và
người nhập khẩu mới nhận được hàng, và đây lại là một trong những cơ sở
nền tảng khiến cho hoạt động tài chính quốc tế tồn tại và phát triển.
Như vậy: Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và
quyền hưởng lợi về tiền tệ trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa
các chủ thể ở quốc gia này và các chủ thể ở quốc gia khác hoặc các tổ chức
quốc tế.
1.1.2.
1.1.2.1.

Vai trò của Thanh toán quốc tế
Đối với nền kinh tế

4


TTQT là cầu nối trong mối quan hệ kinh tế đối ngoại, là khâu then
chốt, cuối cùng để khép kín một chu trình mua bán hàng hóa, trao đổi dịch vụ
giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia trên thế giới. Có thể nói nếu

không có hoạt động TTQT thì sẽ không có hoạt động kinh tế đối ngoại. TTQT
thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển. Việc tổ chức TTQT được tiến
hành nhanh chóng, chính xác sẽ thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, nhờ đó
mà các hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển, đặc biệt là hoạt động ngoại
thương.
Bên cạnh đó, hoạt động TTQT góp phần hạn chế rủi ro trong quá trình
thực hiện hợp đồng ngoại thương. Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí
địa lý các đối tác xa nhau nên việc tìm hiểu các khả năng tài chính, khả năng
thanh toán của người nhập khẩu gặp nhiều khó khăn. Nếu tổ chức tốt công tác
TTQT thì sẽ giúp cho các nhà kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu hạn chế
được rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại, nhờ đó thúc
đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển.
1.1.2.2.

Đối với các ngân hàng thương mại
Hoạt động Thanh toán quốc tế (TTQT) có vai trò hết sức quan trọng đối

với bản thân ngân hàng thương mại (NHTM). Trước hết, nó tạo ra một khoản
lợi nhuận không nhỏ đóng góp vào khoản lợi nhuận chung của bản thân ngân
hàng. Bên cạnh đó, hoạt động TTQT còn giúp cho ngân hàng thu hút thêm
khách hàng có nhu cầu TTQT, mở rộng và đa dạng các sản phẩm dịch vụ của
mình trên cơ sở đó để có thế phát triển qui mô mạng lưới ngân hàng.
Khi các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa sẽ cần đến các NHTM
với vai trò như một nhà tài trợ tín dụng xuất nhập khẩu, từ đó kéo theo việc
phát triển được các nghiệp vụ TTQT trong ngân hàng như mở L/C, kinh
doanh ngoại tệ, bảo lãnh,…

5



Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng tạo được uy tín trên thị trường
quốc tế cũng như uy tín đối với khách hàng, từ đó ngân hàng có thể khai thác
được các nguồn vốn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên
thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Ngoài ra, hoạt động TTQT giúp các NHTM tăng tính thanh khoản
thông qua lượng tiền ký quỹ. Mức ký quỹ phụ thuộc vào độ tin cậy, an toàn
của từng khách hàng cụ thể. Song xét về tổng thể thì các khoản ký quỹ này
phát sinh một cách thường xuyên và ổn định. Vì vậy, trong thời gian chờ đợi
thanh toán, ngân hàng có thể sử dụng các khoản này để hỗ trợ thanh khoản
khi cần thiết.
Có thể nói, trong xu thế ngày nay, hoạt động TTQT có vai trò hết sức
quan trọng trong hoạt động ngân hàng nói riêng và hoạt động kinh tế đối
ngoại nói chung. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng để có biện pháp thực hiện
nghiệp vụ TTQT có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phục vụ tốt hơn cho
công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam.
1.1.3.

Các phương thức Thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương

mại
Trong thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế là kết quả của hợp đồng
mua bán giữa các chủ thể, do đó, theo nghĩa hẹp: Phương thức thanh toán
quốc tế là toàn bộ quy trình, điều kiện quy định để người nhập khẩu trả tiền
và nhận hàng, còn người xuất khẩu thì giao hàng và nhận tiền theo hợp đồng
thương mại, dịch vụ, thường là thông qua hệ thống ngân hàng phục vụ.
Trong thực tế, điều kiện quy định để các bên giao nhận hàng hóa và chi
trả tiền là rất đa dạng, do đó, tồn tại nhiều phương thức TTQT khác nhau. Mỗi
phương thức đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định, việc lựa chọn phương

6



thức thanh toán thích hợp phải được hai bên xuất khẩu và nhập khẩu bàn bạc
thống nhất, ghi vào hợp đồng thương mại.
Các phương thức TTQT chủ yếu hiện nay bao gồm:
Phương thức chuyển tiền (Remittance)
- Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer – M/T)
- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – T/T)
1.1.3.2.
Phương thức nhờ thu (Collection)
- Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collections
- Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collections)
1.1.3.3.
Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credit)
1.1.3.1.

Đây là phương thức thanh toán quan trọng và chủ yếu tại các ngân hàng
thương mại hiện nay. Phương thức này khắc phục được nhược điểm của
phương thức chuyển tiền và nhờ thu đã nêu ở trên. Trong nội dung tiếp theo
và cũng là nội dung chính của chương một, em xin đề cập sâu hơn về phương
thức thanh toán tín dụng chứng từ.
1.2. Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
1.2.1.
Định nghĩa và đặc điểm
1.2.1.1.
Định nghĩa

Thư tín dụng (Letter of Credit – L/C) là một chứng thư, trong đó ngân
hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình bộ chứng
từ phù hợp với nội dung của L/C.

Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó, một
ngân hàng (ngân hàng mở L/C) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu
mở L/C) sẽ trả một số tiền cho người khác (người thụ hưởng L/C) hoặc chấp
nhận hối phiếu do người này kí phát trong phạm vi số tiền đó khi người này
xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy
định đề ra trong thư tín dụng.
1.2.1.2.

Đặc điểm

7


- L/C là hợp đồng kinh tế hai bên
- L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là Ngân hàng phát hành
(NHPH) và người xuất khẩu. Mọi yêu cầu và chỉ thị của người nhập khẩu đã
do NHPH đại diện, do đó, tiếng nói chính thức của người nhập khẩu không
được thể hiện trong L/C.
- L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa
Về bản chất, L/C là một giao dịch hoàn toàn độc lập với hợp đồng
ngoại thương hoặc hợp đồng khác mà hợp đồng này là cơ sở để hình thành
giao dịch L/C. Trong mọi trường hợp, ngân hàng không liên quan đến hoặc bị
ràng buộc vào hợp đồng như vậy, ngay cả khi L/C có bất cứ dẫn chiếu nào
đến hợp đồng này.
Như vậy, L/C có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợp
đồng ngoại thương nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với
hợp đồng này. Một khi L/C đã được mở và đã được các bên chấp nhận, thì
cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không,
cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến
L/C.

- L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ
Các ngân hàng, chỉ dựa trên cơ sở chứng từ, kiểm tra việc xuất trình để
quyết định xem trên bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp
hay không. Như vậy, các chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc
biệt, nó là bằng chứng về việc giao hàng của người xuất khẩu, là đại diện cho
giá trị hàng hóa đã được giao, do đó, chúng trở thành căn cứ để ngân hàng trả
tiền, là căn cứ để người nhập khẩu hoàn trả tiền cho ngân hàng, là chứng từ đi
nhận hàng của người nhập khẩu,… Việc người xuất khẩu có thu được tiền hay
không, phụ thuộc duy nhất vào xuất trình chứng từ có phù hợp; đồng thời,
ngân hàng cũng chỉ trả tiền khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp, nghĩa là ngân

8


hàng không chịu trách nhiệm về sự thật của hàng hóa mà bất kỳ ngân hàng
nào đại diện.
Khi chứng từ xuất trình phù hợp, thì NHPH phải thanh toán vô điều
kiện cho người xuất khẩu, mặc dù trên thực tế hàng hóa có thể không được
giao hoặc giao không hoàn toàn đúng như ghi trên chứng từ.
1.2.2.
1.2.2.1.

Các bên tham gia
Người yêu cầu mở L/C (Applicant for L/C): Còn được gọi là Người

mở hay Người xin mở L/C, là bên mà L/C được phát hành theo yêu cầu của
họ. Trong thương mại quốc tế, Người yêu cầu thường là người nhập khẩu, yêu
cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C và có trách nhiệm pháp lý về
việc NHPH trả tiền cho Người thụ hưởng L/C.
1.2.2.2.

Người thụ hưởng L/C (Beneficiary of L/C): Còn được gọi là Người
hưởng hay Người hưởng lợi, là bên được hưởng số tiền thanh toán hay sở hữu
hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C.
1.2.2.3.
NHPH (Issuing Bank): Là ngân hàng thực hiện phát hành L/C theo
đơn của Người yêu cầu, nghĩa là nó đã cấp tín dụng cho Người yêu cầu.
NHPH thường được hai bên mua bán thỏa thuận và quy định trong hợp đồng.
Nếu không có sự thỏa thuận trước, thì người nhập khẩu được phép tự chọn
NHPH. NHPH còn gọi là Ngân hàng mở (Opening Bank).
1.2.2.4.
Ngân hàng thông báo (Advising Bank): Là ngân hàng thực hiện
thông báo L/C cho Người thụ hưởng theo yêu cầu của NHPH. Ngân hàng
thông báo thường là ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của NHPH ở nước
người xuất khẩu.
1.2.2.5.
Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): Là ngân hàng bổ sung sự
xác nhận của mình vào L/C theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của NHPH.
1.2.2.6.
Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): Là ngân hàng mà tại đó
L/C có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu. Đối với L/C có giá trị tự do, thì bất
kỳ ngân hàng nào đều có thể trở thành Ngân hàng được chỉ định. Trách nhiệm

9


kiểm tra chứng từ của Ngân hàng được chỉ định là giống như NHPH khi nhận
được bộ chứng từ.
Ngoài ra, tùy từng trường hợp còn có thể có các ngân hàng khác tham
gia vào phương thức thanh toán L/C như: Ngân hàng chiết khấu (Negotiating
Bank), Ngân hàng chấp nhận (Accepting Bank), Ngân hàng hoàn trả

(Reimbursing Bank),…
1.2.3.

Quy trình nghiệp vụ thanh toán theo phương thức tín dụng chứng

từ

10


Trình tự tiến hành:
Sơ đồ 1.1: Quy trình tiến hành nghiệp vụ thanh toán theo phương thức tín
dụng chứng từ
(2)
NHPH
(Issuing Bank)

(5)

Ngân hàng thông báo
(Advising Bank)

(6)

(1)

(7)

(8)


Người yêu cầu mở L/C
(Applicant)

(3)

(4)

(5)

(6)

Người hưởng lợi L/C
(Beneficiary)

Hợp đồng ngoại thương

(1) Người yêu cầu mở L/C làm đơn xin mở L/C gửi tới Ngân hàng phục vụ mình

yêu cầu phát hành L/C cho người xuất khẩu hưởng và tiến hành kí quỹ nếu
cần.
(2) Căn cứ vào đơn xin mở L/C, NHPH L/C và thông báo L/C cho người hưởng
thông qua Ngân hàng đại lý của mình, thường là Ngân hàng đại lý tại nước
người hưởng lợi.
(3) Ngân hàng thông báo kiểm tra tính chân thực của L/C và tiến hành thông báo
tới người hưởng lợi. Người hưởng lợi kiểm tra kĩ nội dung L/C, nếu chấp
nhận thì giao hàng, nếu không sẽ yêu cầu người đề nghị mở L/C tu chỉnh L/C.
(4) Người hưởng lợi giao hàng.
(5) Người hưởng lợi lập bộ chứng từ phù hợp với L/C, xuất trình tại ngân hàng
của mình và yêu cầu Ngân hàng này tiến hành đòi tiền NHPH.


11


(6) NHPH kiểm tra bộ chứng từ, nếu phù hợp với L/C thì thanh toán hoặc chấp

nhận thanh toán, ngược lại nếu bộ chứng từ sai sót sẽ từ chối thanh toán và
thông báo cho ngân hàng xuất trình biết.
(7) Sau khi thanh toán cho người hưởng lợi, NHPH chuyển chứng từ cho người
đề nghị mở L/C hoàn thành thủ tục thanh toán cần thiết.
(8) Người đề nghị mở L/C thanh toán cho ngân hàng và nhận bộ chứng từ để
nhận hàng.
1.3. Rủi ro trong hoạt động Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng
chứng từ
1.3.1. Khái niệm
Do đặc điểm của TTQT, các rủi ro luôn có thể phát sinh trong toàn bộ
các khâu của quá trình TTQT. Rủi ro là sự kiện không may mắn, hết sức đa
dạng, phức tạp và gắn liền với môi trường hoạt động của con người.
Trong cuốn sách “Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong
kinh doanh”, tác giả Nguyễn Hữu Thân cho rằng: “Rủi ro là sự bất trắc gây ra
mất mát, thiệt hại”. Như vậy, rủi ro được coi là những bất trắc gây ra hậu quả
xấu cho con người, còn những bất trắc không gây ra tổn thất không phải là rủi
ro.
Trong các phương thức TTQT, các giao dịch thường được thực hiện
thông qua sự tham gia chủ yếu của các ngân hàng. Tuy nhiên, điều đó không
có nghĩa là nó hoàn toàn loại trừ mọi rủi ro cho các bên tham gia. Trong thanh
toán L/C, rủi ro xảy ra khi quyền lợi của một hoặc các bên tham gia bị vi
phạm. Rủi ro không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc chứng từ không
được thanh toán mà còn phải được hiểu theo nghĩa rộng của nó là bất kỳ một
sự khúc mắc, chậm trễ nào trong các khâu của quá trình thanh toán.
Rủi ro trong thanh toán L/C có thể xảy ra với các bên: đối với người

xuất khẩu, đối với người nhập khẩu và đối với ngân hàng. Trong phạm vi luận

12


văn tốt nghiệp của mình, em chỉ tập trung nghiên cứu các rủi ro đối với
NHTM hiện nay.
1.3.2. Các loại rủi ro có thể xảy ra đối với các ngân hàng thương mại
1.3.2.1. Rủi ro tín dụng

Là loại rủi ro về mất khả năng thanh toán của một trong các bên tham
gia phương thức TTQT. Các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động L/C và gây
thiệt hại cho một hoặc nhiều bên.
- Trường hợp NHPH mất khả năng thanh toán vì một lí do nào đó hoặc phải
đóng cửa vì vỡ nợ thì cũng dẫn tới rủi ro cho người xuất khẩu và ngân hàng
chiết khấu chứng từ. Vì vậy, để tránh xảy ra tình huống như trên, tốt nhất
người xuất khẩu nên yêu cầu người nhập khẩu chọn những NHTM lớn, có uy
tín để phát hành L/C.
- Bản chất của L/C là cam kết trả tiền chắc chắn của NHPH khi người hưởng
lợi xuất trình bộ chứng từ phù hợp. Nếu L/C được ký quỹ 100% thì sẽ không
xảy ra rủi ro cho NHPH. Song phần lớn các ngân hàng khi mở L/C đều tài trợ
cho khách hàng bằng cách cho vay vốn hoặc tài trợ bằng uy tín của khách
hàng và chỉ yêu cầu ký quỹ một tỷ lệ nhất định. Nếu người nhập khẩu bị vỡ
nợ hoặc phá sản dẫn đến mất khả năng thanh toán hoặc vì một lí do nào đó
(hàng hóa bị giảm giá mạnh dẫn đến bị lỗ vốn, hàng hóa bị rủi ro trên đường
vận chuyển,…) mà khách hàng cố tình không thanh toán thì sẽ gây ra rủi ro
tín dụng cho NHPH.
- Rủi ro xảy ra đối với ngân hàng chiết khấu. Có hai loại chiết khấu là chiết
khấu có truy đòi và chiết khấu miễn truy đòi. Chiết khấu có truy đòi là khi
NHPH từ chối thanh toán hay mất khả năng thanh toán thì ngân hàng chiết

khấu có quyền truy đòi lại người nhập khẩu số tiền mà họ đã thanh toán và lãi
phát sinh. Tuy nhiên, nếu người nhập khẩu không có khả năng hoàn lại số tiền
đó thì ngân hàng chiết khấu đã gặp rủi ro.
1.3.2.2. Rủi ro tác nghiệp

13


Đây là loại rủi ro do những sai sót mang tính kỹ thuật trong quy trình
thanh toán L/C do chính các bên tham gia gây nên, rủi ro này được thể hiện
trong việc lập các hồ sơ chứng từ không hoàn hảo, không đáp ứng đầy đủ các
điều khoản và điều kiện của L/C hoặc hành động không đúng theo UCP 600
và các thông lệ, tập quán quốc tế khác.
1.3.2.3. Rủi ro đạo đức
Là rủi ro xảy ra khi một bên tham gia thanh toán cố tình không thực
hiện nghĩa vụ của mình, gây thiệt hại tới quyền lợi của các bên còn lại.
Ngân hàng là trung gian thanh toán giữa người nhập khẩu và người
xuất khẩu, ngân hàng cũng có thể gặp nhiều rủi ro từ phía khách hàng.
Trước hết, ngân hàng thường chịu ảnh hưởng gián tiếp từ những rủi ro
của khách hàng. Khi người nhập khẩu không nhận được đúng hàng hóa theo
yêu cầu và thời hạn, kế hoạch kinh doanh không thực hiện được, họ không thể
hoàn trả các khoản nợ vay để thanh toán cũng như phí dịch vụ cho ngân hàng.
Khi người xuất khẩu không nhận được tiền hàng, họ cũng không thể thanh
toán cho ngân hàng các khoản vay để sản xuất, thu gom hàng hóa và các
khoản phí thanh toán cho ngân hàng.
1.3.2.4. Rủi ro ngoại hối
Là rủi ro xảy ra khi việc thanh toán được ấn định bằng ngoại tệ nào đó.
Khi tỷ giá biến động sẽ gây tổn thất cho một trong hai phía đối tác tham gia
thanh toán. Nếu ngoại tệ được lựa chọn trong thanh toán lên giá sẽ gây tổn
thất cho người nhập khẩu, ngược lại ngoại tệ đó mất giá lại gây thiệt hại cho

bên xuất khẩu. Trong giao dịch thanh toán L/C, các ngân hàng cũng gặp phải
rủi ro về ngoại hối, những rủi ro này xuất hiện khi ngân hàng ở trạng thái
“đoản” về ngoại tệ đó khi ngoại tệ này lên giá, và ngược lại, ở trạng thái
“trường” khi ngoại tệ này mất giá. Khi đó, ngân hàng sẽ phải gánh chịu tổn
thất.
1.3.2.5. Rủi ro chính trị
Rủi ro chính trị trong TTQT là những rủi ro bắt nguồn từ sự phát triển
kinh tế - chính trị - xã hội của các nước có liên quan đến quá trình thanh toán.

14


Do hoạt động TTQT có liên quan đến mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, mọi hoạt
động kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia. Một sự biến động về kinh tế chính trị - xã hội sẽ có tác động đa chiều tới các hoạt động của xã hội và ảnh
hưởng tới quá trình thanh toán. Những rủi ro chính trị thường gặp như: rủi ro
do sự thay đổi của môi trường pháp lý; rủi ro do chiến tranh, bị bao vây cấm
vận, xung đột sắc tộc, đảo chính, biểu tình, đình công; rủi ro gắn liền với suy
thoái kinh tế và tình trạng nợ quốc gia nặng nề;…
1.4. Sự cần thiết phải phòng ngừa rủi ro trong hoạt động TTQT theo phương
thức tín dụng chứng từ
Xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế đã mở ra cho nhân loại cánh cửa giao
lưu đầy triển vọng. Lịch sử đã chứng minh rằng không một quốc gia nào có
thể phát triển trong sự tách biệt với thế giới bên ngoài, các nước đang xích lại
gần nhau thông qua chiếc cầu nối thương mại quốc tế. Vượt qua không gian
và thời gian, những luồng chu chuyển hàng hóa, dịch vụ và tiền tệ đã tạo ra sự
gắn kết bền vững giữa cung và cầu ở những nước có trình độ kinh tế khác
nhau và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng kéo theo sự phức tạp ngày
càng lớn trong mắt xích cuối cùng của quá trình trao đổi, thanh toán quốc tế.
Được xem là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thương mại
quốc tế, hoạt động TTQT đã không ngừng được đổi mới và hoàn thiện nhằm

đáp ứng yêu cầu an toàn, thuận tiện và nhanh chóng của các giao dịch thương
mại. Cùng với xu hướng hội nhập ngày càng tăng, các mối giao lưu thương
mại cũng ngày càng được mở rộng. Điều đó đặt ra cho các ngân hàng thương
mại phải phát triển các dịch vụ kinh tế đối ngoại một cách tương ứng, trong
đó không thể không kể đến hoạt động TTQT với nhiều phương thức thanh
toán đa dạng và phong phú. Trong các phương thức thanh toán này, tín dụng
chứng từ là phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất do những ưu
việt của nó. Song tín dụng chứng từ không phải là nghiệp vụ đơn giản, trong
thực tế công tác này đã gặp phải không ít những rủi ro gây thiệt hại cả về tài

15


chính lẫn uy tín cho các ngân hàng thương mại cũng như các doanh nghiệp
Việt Nam.
Những rủi ro xảy ra trong quá trình thanh toán quốc tế nói chung và
phương thức tín dụng chứng từ nói riêng đã gây ra những hậu quả rất lớn đối
với hoạt động TTQT của các NHTM. Điều đó gây trở ngại cho hoạt động
kinh tế đối ngoại của quốc gia.
Với một phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến hiện nay với
rất nhiều bên tham gia như phương thức tín dụng chứng từ thì việc xảy ra rủi
ro và hậu quả mà nó để lại là không thể lường trước được. Một khi có rủi ro
xảy ra, tùy ở mức độ sẽ ảnh hưởng tới tất cả các bên tham gia thanh toán L/C,
gây tổn thất cho các bên và cho cả nền kinh tế.
Thực trạng trên cho thấy việc phát hiện, phòng ngừa những rủi ro trong
thanh toán quốc tế đặc biệt là thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ
là một việc làm cần thiết mà các NHTM cũng như các doanh nghiệp Việt
Nam phải quan tâm chú trọng.
Chương 1 đã trình bày cơ sở lý luận về thanh toán quốc tế và những rủi
ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại các ngân hàng thương mại. Chương

2 sẽ đi sâu tìm hiểu về tình hình thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế và
những rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở Giao dịch Ngân hàng
thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam những năm gần đây.

16


Chương 2 – Thực trạng rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo
phương thức tín dụng chứng từ tại Sở Giao Dịch Ngân hàng TMCP
Ngoại Thương Việt Nam
2.1. Khái quát chung về Sở Giao Dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt

Nam
1.

Quá trình hình thành và phát triển của Sở Giao Dịch Ngân
hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam trước đây, nay là Ngân hàng
TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) chính thức đi vào hoạt động
ngày 01/4/1963, với tổ chức tiền thân là Cục Ngoại hối (trực thuộc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam). Là ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên được
Chính phủ lựa chọn thực hiện thí điểm cổ phần hoá, Ngân hàng Ngoại
Thương Việt Nam chính thức hoạt động với tư cách là một Ngân hàng TMCP
vào ngày 02/6/2008 sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hóa thông
qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Ngày 30/6/2009, cổ phiếu
Vietcombank (mã chứng khoán VCB) chính thức được niêm yết tại SGD
Chứng khoán TPHCM.
Mặc dù Vietcombank đã có quá trình hình thành và phát triển được 50
năm, SGD của ngân hàng mới chính thức hoạt động như một chi nhánh độc
lập tháng 5/2006 lấy tên là Sở Giao Dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt

Nam. Trước thời điểm đó, SGD vẫn trực thuộc Hội sở chính và hoạt động
theo quyết định 1234/QĐ-NHNT-TCCB-ĐT ngày 30/12/2005. Đến ngày
5/6/2008, sau khi Vietcombank tiến hành cổ phần hóa, SGD Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam đổi tên thành Sở Giao Dịch Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngoại Thương Việt Nam theo quyết định số 431/QĐ-NHNT-TCCB-ĐT.
Sau khi được tách ra hoạt động độc lập với Hội sở chính, SGD phải đối
mặt với những khó khăn nhất định, song SGD đã khẳng định được vị trí và
vai trò quan trọng của mình trong hệ thống chi nhánh của Vietcombank. Tính

17


tới thời điểm 2008, SGD Vietcombank có 19 phòng giao dịch và khoảng 150
máy ATM. SGD luôn coi trọng đến việc đổi mới cũng như phát triển đa dạng
các dịch vụ, nhằm đáp ứng những nhu cầu luôn thay đổi của khách hàng.
Không chỉ quan tâm đến số lượng các dịch vụ hiện có, SGD còn luôn chú
trọng đến chất lượng các dịch vụ. Bằng cách ứng dụng công nghệ hiện đại đối
với các dịch vụ và đào tạo đội ngũ cán bộ tận tình, trách nhiệm, SGD mong
muốn mang đến cho khách hàng sự thuận tiện cũng như sự hài lòng nhất.
Sở Giao Dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam đã đóng vai
trò là một trong những đơn vị dẫn đầu hệ thống Ngân hàng TMCP Ngoại
Thương Việt Nam về hoạt động thanh toán quốc tế. Năm 2006 thời điểm tách
SGD, các khách hàng lớn được Trung ương giữ lại quản lý, SGD gặp không ít
khó khăn trong khâu tiếp cận, phục vụ khách hàng nhỏ, nhằm duy trì và tăng
trưởng giao dịch. SGD không những thực hiện các giao dịch thanh toán xuất
nhập khẩu với khách hàng của Sở, mà còn thực hiện xác nhận L/C và mở L/C
cho khách hàng của các ngân hàng khác như: Ngân hàng Quân đội, Ngân
hàng Xăng dầu, Ngân hàng Đại dương,… Doanh số thanh toán xuất nhập
khẩu các năm đều tăng trưởng. SGD đã phát huy những thế mạnh sẵn có, nỗ
lực phục vụ, tăng cường chính sách khách hàng, tích cực tìm kiếm nguồn

ngoại tệ và đã đạt được những thành quả nhất định.

18


2.

Cơ cấu tổ chức hoạt động của Sở Giao Dịch Ngân hàng
TMCP Ngoại Thương Việt Nam
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của SGD Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt
Nam

Tổ
K
Ph
Khối chung
ếxử
òn

gto
kế

tin
qu
nợ
kh
đầ
tín
bả
V

Th
án
ki
th
D
ểto
ỹhọ
ản
uác
odụ
ốn
an
gi
ẻnh
V
án
m
cch



hvà
ao
do
ng
tài
tra
ín
nợ


dự
D
nh
ki
to
dị
an
ân
ân
gi
ng
N
nh
án
hch

sự
áín
th
vừ
do
qu
dị
ng
h
m
aểản
an
ốc
ch

đặ
sát
trị
nh
hvà
tế
cvụ
tu
ân
nh
ng
bi
ỏân
oạ
ệt
ith

tệ

Khối chung

19


Sơ lược kết quả hoạt động kinh doanh của Sở Giao Dịch

3.

Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam giai đoạn 2008-2012
SGD Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam với chức năng kinh

doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng đã liên tục tự đổi mới và đi lên. Mặc dù
tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường nhiều biến động, trong thời kì
kinh tế khó khăn, trước sự cạnh tranh khốc liệt của nhiều NHTM và các tổ
chức tín dụng trong và ngoài nước cùng hoạt động trên địa bàn Hà Nội, trong
những năm qua, SGD đã không ngừng mở rộng và phát triển các hoạt động
dịch vụ kinh doanh tiền tệ, nâng cao chất lượng phục vụ, ứng dụng các công
nghệ dịch vụ ngân hàng hiện đại tiên tiến, đổi mới phong cách giao dịch, tạo
uy tín với khách hàng, thể hiện qua một số kết quả sau đây:
- Kết quả hoạt động kinh doanh của SGD Vietcombank giai đoạn 2008 –
2012:
Bảng 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của SGD Vietcombank giai đoạn
2008 – 2012
ĐVT: Tỷ VND
Năm
2008

Năm
2009

Tổng doanh thu

2,501.29

3,718.79

3,792.93 3,944.87

4,025.07

Tổng chi


1,979.30

3,408.94

3,075.21 3,112.56

3,143.68

521.99

309.85

Chỉ tiêu

Lợi nhuận trước thuế

Năm
2010

717.72

Năm
2011

832.31

Năm
2012


881.39

(Nguồn: Báo cáo tổng kết của SGD Vietcombank giai đoạn 2008 – 2012 –
Phòng vốn và kinh doanh ngoại tệ)
Trong những năm qua, tuy nền kinh tế có nhiều biến động, tốc độ phát
triển thay đổi qua các năm nhưng nhìn chung hoạt động kinh doanh của SGD
vẫn tăng trưởng và phát triển khá tốt, luôn khẳng định vị thế là một ngân hàng
hàng đầu Việt Nam.
Lợi nhuận trước thuế nhìn chung đã tăng trưởng khá tốt trong 5 năm
2008 – 2012. Năm 2008 tuy là một năm đặc biệt khó khăn của Ngân hàng

20


TMCP Ngoại Thương Việt Nam nói chung và SGD Vietcombank nói riêng
nhưng bằng những nỗ lực đặc biệt, SGD đã đạt được những thành tựu đáng
ghi nhận và đến cuối năm 2008, lợi nhuận trước thuế đạt 521.99 tỷ đồng. Đến
cuối năm 2009, do cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008-2009 đã kéo theo đà tăng
trưởng không tốt tới tình hình kinh doanh của SGD, lợi nhuận trước thuế cuối
năm 2009 đạt 309.85 tỷ đồng, giảm 212.14 tỷ đồng so với năm 2008. Đến
năm 2012, lợi nhuận trước thuế đạt 881.39 tỷ đồng, tăng 49.08 tỷ đồng so với
cuối năm 2011. Nhìn chung, qua năm năm từ 2008 tới 2012, SGD đã vượt qua
được khó khăn và đạt được đà tăng trưởng khá tốt.
2.2. Thực trạng rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng
chứng từ tại SGD Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
2.2.1.
Các quy định chung về hoạt động thanh toán L/C hiện nay được áp
dụng tại SGD Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
2.2.1.1. Quy trình thanh toán L/C xuất khẩu
2.2.1.1.1. Thông báo L/C và sửa đổi L/C

Vietcombank kiểm tra tính chân thực bề ngoài của L/C hoặc sửa đổi
L/C và thông báo đến doanh nghiệp.
- Lợi ích


Việc thông báo L/C và sửa đổi L/C được thực hiện nhanh chóng và chính
xác;



Vietcombank lưu ý doanh nghiệp những điều khoản L/C bất lợi nếu có;



Doanh nghiệp có thể liên hệ với Vietcombank trước khi kí kết hợp đồng để
được tư vấn miễn phí về các điều khoản thanh toán, nội dung L/C và ngân
hàng phát hành nhằm đảm bảo an toàn thanh toán và tiết kiệm chi phí.
2.2.1.1.2. Xác nhận L/C

Vietcombank cam kết sẽ thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho
người hưởng thư tín dụng khi đến hạn với điều kiện bộ chứng từ được xuất

21


trình phù hợp với các điều khoản, điều kiện của L/C do ngân hàng nước ngoài
phát hành.
- Lợi ích



Được ngân hàng phát hành và Vietcombank cùng cam kết thanh toán/chấp
nhận thanh toán;



Giúp doanh nghiệp giảm bớt lo lắng do không hiểu biết nhiều về ngân hàng
phát hành;



Phòng tránh rủi ro phát sinh từ phía ngân hàng phát hành;



Hoàn toàn yên tâm với cam kết của một ngân hàng uy tín hàng đầu trong
nước.
2.2.1.1.3. Kiểm tra bộ chứng từ và gửi chứng từ đòi tiền theo L/C

Vietcombank tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của bộ chứng từ so với
điều kiện của L/C và thông lệ quốc tế. Trong trường hợp Vietcombank nhận
thấy bộ chứng từ có những điểm không hợp lệ, Vietcombank sẽ hướng dẫn
doanh nghiệp hoàn thiện chứng từ nhằm đảm bảo khả năng đòi tiền từ ngân
hàng nước ngoài.
Sau đó, Vietcombank tiến hành gửi bộ chứng từ đòi tiền và thanh toán
cho doanh nghiệp khi có báo có của ngân hàng nước ngoài.
- Lợi ích


Được hỗ trợ trong việc lập và xuất trình bộ chứng từ hợp lệ đến ngân hàng
nước ngoài;




Giảm thiểu rủi ro tranh chấp về tình trạng chứng từ và khả năng không được
thanh toán;



Được hỗ trợ trong việc tra soát, đàm phán với ngân hàng nước ngoài khi
phát sinh vướng mắc trong quá trình đòi tiền;



Thu hồi tiền hàng trong thời gian ngắn nhất với mức phí hợp lí.

22


2.2.1.1.4. Chuyển nhượng L/C

Với tư cách người hưởng lợi thứ nhất, doanh nghiệp có thể yêu cầu
Vietcombank chuyển nhượng từng phần hoặc toàn bộ trị giá L/C.
Vietcombank sẽ thực hiện việc chuyển nhượng và thông báo L/C đến người
hưởng lợi thứ hai. Sau đó, Vietcombank tiếp nhận chứng từ và gửi chứng từ đi
thanh toán.
- Lợi ích


Cung cấp phương tiện đảm bảo cho người hưởng lợi thứ hai mà không phải
sử dụng hạn mức tín dụng tại Vietcombank;




Người hưởng lợi thứ hai sẽ được đảm bảo thanh toán và có quyền yêu cầu
ngân hàng được chỉ định trong L/C gốc thực hiện thanh toán.
2.2.1.2. Quy trình thanh toán L/C nhập khẩu
2.2.1.2.1. Phát hành L/C

Vietcombank thực hiện phát hành L/C theo yêu cầu của doanh nghiệp
(người nhập khẩu) để cam kết thanh toán ngay hoặc thanh toán vào một thời
hạn nhất định trị giá của L/C cho người hưởng lợi khi người hưởng lợi xuất
trình bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện nêu trong L/C.
L/C có thể được phát hành miễn kí quĩ hoặc kí quĩ theo một tỉ lệ nhất
định trên tổng trị giá cam kết của Vietcombank, với tỉ lệ kí quĩ hoặc miễn kí
quĩ tùy thuộc vào mức độ tín nhiệm doanh nghiệp.
- Lợi ích


Đảm bảo an toàn cho cả bên xuất khẩu và nhập khẩu;



Giúp cho bên nhập khẩu giảm bớt áp lực về vốn;



Nhận được tư vấn về nội dung và cách thức giao dịch tốt nhất để đảm bảo
quyền lợi;




Có thể được tài trợ vốn thông qua miễn giảm tỉ lệ kí quĩ phát hành L/C hoặc
cho vay vốn.

23


2.2.1.2.2. Sửa đổi L/C

Vietcombank thực hiện sửa đổi L/C theo yêu cầu của doanh nghiệp
(người nhập khẩu).
- Lợi ích


Việc sửa đổi L/C nhanh chóng và thuận tiện;



Hỗ trợ xem xét các điều khoản sửa đổi và tư vấn hợp lí để đảm bảo quyền
lợi cho doanh nghiệp.
2.2.1.2.3. Ủy quyền nhận hàng/Kí hậu vận đơn/Bảo lãnh nhận hàng

Vietcombank kí hậu trên vận đơn hoặc phát hành ủy quyền nhận hàng
hoặc bảo lãnh nhận hàng theo L/C để doanh nghiệp làm thủ tục nhận hàng với
người vận chuyển.
- Lợi ích
Giúp doanh nghiệp làm thủ tục nhận hàng khi bộ chứng từ đầy đủ chưa về




mà mới chỉ có bản gốc/bản sao của vận đơn đường biển hoặc bản gốc của
vận đơn hàng không.
2.2.1.2.4. Thanh toán L/C

Vietcombank thực hiện cam kết thanh toán theo L/C khi nhận được bộ
chứng từ xuất trình phù hợp với điều kiện của L/C hoặc khi doanh nghiệp
chấp nhận thanh toán bộ chứng từ bất hợp lệ.
- Lợi ích
Hỗ trợ doanh nghiệp trong việc xử lí chứng từ nhằm giảm thiểu những rủi ro



trong thanh toán;
Việc thanh toán được thực hiện trong thời gian hợp lí và mức phí cạnh tranh



nhất.
2.2.2.

Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín

dụng chứng từ tại Sở Giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt
Nam giai đoạn 2008 – 2012

24


Bảng 2.2. Doanh số thanh toán quốc tế tại SGD Vietcombank giai đoạn
2008-2012

ĐVT: Triệu USD
Chỉ tiêu/Năm

2008

2009

2010

2011

2012

1.Hàng nhập khẩu

3,208.85

3,277.20

3,682.94

4,023.18

4,040.37

L/C nhập

1,524.30

1,594.23


1,740.94

1,842.44

1,852.26

58.92

50.86

59.79

71.12

63.46

Chuyển tiền

1,625.63

1,632.11

1,882.21

2,109.62

2,124.65

2.Hàng xuất khẩu


1,649.68

1,633.73

1,785.64

1,907.13

1,912.92

L/C xuất

623.89

618.72

725.39

826.20

809.34

Nhờ thu

12.89

12.31

14.58


15.46

14.01

Chuyển tiền đến

1,012.90

1,002.70

1,045.67

1,065.47

1,089.57

Tổng cộng

4,858.53

4,910.93

5,468.58

5,930.31

5,953.29

Nhờ thu


(Nguồn: Báo cáo tổng kết của SGD Vietcombank 2008-2012 – Phòng Thanh
toán quốc tế)

25


×