BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN HỒNG TÂM
CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng – Năm 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN HỒNG TÂM
CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. TRƯƠNG BÁ THANH
Đà Nẵng – Năm 2012
LI CAM OAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tỏc gi lun vn
Nguyn Hng Tõm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
1
2. Mục tiêu nghiên cứu
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
4. Phương pháp nghiên cứu
3
5. Bố cục đề tài
3
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ
8
1.1. CÁC QUAN ĐIỂM, KHÁI NIỆM TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ
CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
8
1.1.1. Tăng trưởng kinh tế
8
1.1.2. Chất lượng tăng trưởng kinh tế
9
1.2. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ
12
1.3. ĐO LƯỜNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ
12
1.3.1. Các thước đo tăng trưởng kinh tế
12
1.3.2. Các chỉ tiêu đo chất lượng tăng trưởng kinh tế
15
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ
22
1.4.1. Các nhân tố kinh tế
22
1.4.2. Các nhân tố phi kinh tế
24
1.5. MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH
TẾ Ở NƯỚC NGOÀI VÀ Ở TRONG NƯỚC
26
1.5.1. Kinh nghiệm ở nước ngoài
26
1.5.2. Kinh nghiệm ở trong nước
29
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH
32
2.1. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH
32
2.1.1. Vị trí địa lý
32
2.1.2. Diện tích và dân số
33
2.1.3. Tài nguyên thiên nhiên
33
2.1.4. Nguồn nhân lực
34
2.1.5. Cơ sở hạ tầng
34
2.2. THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH
35
2.2.1. Thực trạng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Định
35
2.2.2. Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Định
55
2.3. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
TỈNH BÌNH ĐỊNH
90
2.3.1. Mặt tích cực của chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Định 90
2.3.2. Mặt hạn chế của chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Định 91
2.3.3. Nguyên nhân làm hạn chế chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình
Định
92
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH
93
3.1. CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH
93
3.1.1. Cơ hội và thách thức đối với chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh
Bình Định trong những năm tới
93
3.1.2. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của tỉnh Bình
Định
3.1.3. Quan điểm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế
96
97
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH
3.2.1. Nhóm giải pháp về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
98
99
3.2.2. Nhóm giải pháp về vốn đầu tư
107
3.2.3. Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực
111
3.2.4. Nhóm giải pháp về khoa học công nghệ
113
3.2.5. Nhóm giải pháp tiến bộ và công bằng xã hội
114
3.2.6. Nhóm giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản và hạn chế
ô nhiễm môi trường
118
KẾT LUẬN
121
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
122
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APEC
ASEAN
:
:
Asia Pacific Economic Cooperation - Diễn đàn Hợp tác kinh
tế Châu Á – Thái Bình Dương
Association of Southeast Asian Nations - Hiệp hội các quốc
gia đông nam á
AFTA
: ASEAN Free Trade Area – Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
CNS
: Chi ngân sách
CLTTKT : Chất lượng tăng trưởng kinh tế
ĐH-CĐ
: Đại học và cao đẳng
FDI
: Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
: Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm trong nước
GNP
: Gross Nationnal Product - Tổng sản phẩm quốc dân
GO
: Gross Output - Tổng giá trị sản xuất
GNI
: Gross National Income - Tổng thu nhập quốc dân
ICOR
:
Incremental capital output ratio - Tỷ lệ gia tăng vốn trên sản
lượng
KHCN
: Khoa học công nghệ
NSNN
: Ngân sách nhà nước
NSLĐ
: Năng suất lao động
SNA
: System of National Accounts - Hệ thống tài khoản quốc gia
THCN
: Trung học chuyên nghiệp
TNS
: Thu ngân sách
TFP
: Total Factor Productivities – Năng suất nhân tố tổng hợp
VĐT
: Vốn đầu tư
WTO
: World Trade Organisation - Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
2.1
Trang
Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP của Bình Định và cả nước, tốc
độ tăng trưởng GDP của Bình Định
38
2.2
Lao động đang làm việc chia theo nhóm ngành kinh tế
41
2.3
Cơ cấu lao động đang làm việc chia theo nhóm ngành
kinh tế
2.4
Một số chỉ tiêu đánh giá xuất nhập khẩu tỉnh Bình
Định giai đoạn 1990 - 2010
2.5
42
49
So sánh kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người
của Bình Định và Cả nước
50
2.6
Thu chi ngân sách và so với GDP của Bình Định
52
2.7
Chi ngân sách tỉnh Bình Định giai đoạn 1990 – 2010
54
2.8
Tính ổn định của tăng trưởng kinh tế Bình Định và cả
nước
55
2.9
Hệ số ICOR trung bình của Bình Định và cả nước
60
2.10
Cơ cấu nguồn vốn và GDP theo thành phần kinh tế
của Bình Định
62
2.11
Đóng góp của các yếu tố vào tăng trưởng kinh tế tỉnh
65
2.12
Tỷ trọng đóng góp của các yếu tố vào tăng trưởng
kinh tế
65
2.13
Đóng góp của xuất khẩu trong tăng trưởng GDP
66
2.14
Cơ cấu % giá trị sản xuất các ngành nông – lâm - thủy
sản
68
Số hiệu
Tên bảng
Trang
2.15
Cơ cấu % giá trị sản xuất của các ngành nông nghiệp
69
2.16
Cơ cấu % giá trị sản phẩm ngành công nghiệp
70
2.17
Hệ số Cosφ đo lường mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh
bảng
tế từ nông-lâm-thủy sản sang công nghiệp-xây dựng
và dịch vụ của tỉnh Bình Định
2.18
72
Hệ số Cosφ đo lường mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh
tế từ nông-lâm-thủy sản và công nghiệp-xây dựng
sang dịch vụ của tỉnh Bình Định
73
2.19
Đóng góp của các ngành vào tăng trưởng
76
2.20
Lao động và việc làm ở Bình Định
78
2.21
Thu nhập và chênh lệch thu nhập giữa nhóm 5 và
nhóm 1 của Bình Định và một số các tỉnh, thành bạn
80
2.22
Bất bình đẵng trong phân phối thu nhập - Hệ số GINI
81
2.23
Hộ nghèo của tỉnh Bình Định qua các năm
83
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số hiệu
Tên hình vẽ
hình vẽ
2.1
Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định
2.2
Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá so sánh)
Bình Định
2.3
Trang
32
36
Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP và tốc độ tăng trưởng GDP Bình
Định
37
2.4
Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP của Bình Định và Việt Nam
39
2.5
Cơ cấu vốn đầu tư theo các thành phần kinh tế
40
2.6
Cơ cấu vốn đầu tư theo các ngành kinh tế của Bình
Định
2.7
Tốc độ tăng trưởng của các nhóm ngành kinh tế Bình
Định
2.8
46
Tốc độ tăng trưởng GDP ngành dịch vụ của Bình Định
và của cả nước
2.12
45
Tốc độ tăng trưởng GDP ngành công nghiệp – xây
dựng của Bình Định và của cả nước
2.11
44
Tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành nông – lâm –
thủy sản theo giá so sánh 1994 (%)
2.10
43
Tốc độ tăng GDP ngành nông – lâm – thủy sản của
Bình Định và của cả nước (%)
2.9
40
47
Năng suất lao động của Bình Định và cả nước qua các
năm
56
Số hiệu
Tên hình vẽ
hình vẽ
2.13
Năng suất lao động các nhóm ngành kinh tế tỉnh Bình
Định
2.14
Trang
57
Cơ cấu lao động của các nhóm ngành kinh tế tỉnh Bình
Định
58
2.15
Hệ số ICOR của Bình Định và của cả nước
59
2.16
Tương quan giữa hệ số ICOR và tốc độ tăng trưởng
GDP của Bình Định, giai đoạn 1990 - 2010
2.17
Cơ cấu GDP theo các nhóm ngành kinh tế của Bình
Định
2.18
61
67
Đóng góp vào 1% tăng trưởng của các nhóm ngành
kinh tế Bình Định
74
2.19
Thu nhập chia theo 5 nhóm qua các năm của Bình Định
79
2.20
Thu nhập bình quân theo khu vực của Bình Định
82
2.21
Chi tiêu bình quân theo khu vực của Bình Định
82
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển kinh tế là nhiệm vụ tất
yếu của tất cả các quốc gia. Ở Việt Nam, nhiệm vụ này thường xuyên được
đặt ra trong tất cả các giai đoạn phát triển. Chiến lược ổn định và phát triển
kinh tế đến năm 2000 do Đại hội VII (1991) thông qua đã xác định: “Hiệu
quả kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển…Khai
thác các yếu tố phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, ngày càng hướng
mạnh vào chiều sâu”(1). Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010
được thông qua tại Đại hội IX (2001) tiếp tục khẳng định “Phát triển nhanh,
hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội và bảo vệ môi trường…Tăng nhanh năng suất lao động xã hội và
nâng cao chất lượng tăng trưởng”(2). Theo tinh thần ấy, mô hình tăng trưởng
kinh tế Việt Nam phải là kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng với chiều sâu
và ngày càng hướng mạnh vào chiều sâu; phát triển bền vững và nâng cao
chất lượng tăng trưởng là quan điểm phát triển chủ đạo. Nhưng đáng tiếc là
trong thực tế, “cơn say tăng trưởng”(3) vô hình chung đã thúc đẩy Việt Nam
theo đuổi mô hình tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên cơ sở tăng vốn đầu tư
và khai thác lợi thế về tài nguyên và sức lao động dồi dào, những khía cạnh
tăng trưởng theo chiều sâu còn khá mờ nhạt. Mô hình tăng trưởng ấy trong
điều kiện của Việt Nam những năm qua đã đem lại những hiệu ứng tích cực:
đạt tốc độ tăng trưởng cao liên tục trong nhiều năm liền và những thành tựu
về xóa đói giảm nghèo. Nhưng việc chậm chuyển đổi mô hình tăng trưởng
(1)
Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới. NXB Chính trị quốc gia, 2005, trang 338 – 339.
(2)
Văn kiện đã dẫn. Trang 699.
(3)
Từ dùng của Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc World Bank Vietnam trong tọa đàm bàn tròn “Điểm nghẽn nào cản trở
kinh tế Việt Nam” do Vietnamnet.vn tổ chức ngày 12/11/2010.
2
này đã mang lại những hệ lụy tiêu cực, mà nổi bật là chất lượng tăng trưởng
còn thấp và bất cập trong bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững, sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế diễn ra chậm, đặc biệt là sự gia tăng chênh lệch về trình độ
phát triển và thu nhập giữa các vùng và các tầng lớp dân cư, sự gia tăng tình
trạng ô nhiễm môi trường và nguy cơ cạn kiệt nhiều loại tài nguyên. Tỉnh
Bình Định là một địa phương của Việt Nam cũng mắc phải các vấn đề trên.
Trong những năm qua, kinh tế của tỉnh Bình Định đã đạt được những
thành tựu quan trọng, tốc độ tăng trưởng GDP liên tục tăng, bình quân thời kỳ
1990 – 1995 đạt 7,91%; thời kỳ 1996 – 2000 đạt 8,65%; thời kỳ 2001 – 2005
đạt 9,69%; thời kỳ 2006 – 2011 đạt 10,47%; thời kỳ 1990 – 2011 đạt 9,36%;
tuy nhiên tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bình Định còn bộc lộ nhiều hạn chế,
ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế bền vững của tỉnh nhà. Bước vào thời kỳ
mới 2010 – 2020, yêu cầu về nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế là càng
hết sức cần thiết, để Bình Định có thể rút ngắn được khoảng cách phát triển so
với các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước. Vì vậy, nghiên cứu thực trạng tăng
trưởng kinh tế cả hai mặt lượng và chất một cách toàn diện và khoa học, tìm
ra những hạn chế, từ đó đề ra định hướng các giải pháp nâng cao chất lượng
tăng trưởng kinh tế của tỉnh, đó chính là lý do học viên chọn đề tài “ Chất
lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Định”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này nhằm giải quyết các vấn đề sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về chất lượng tăng trưởng kinh tế.
- Phân tích, đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Định
trong thời gian qua, giai đoạn 1990 – 2011.
- Đề xuất định hướng một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng
trưởng kinh tế tỉnh Bình Định trong thời gian tới.
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình
Định giai đoạn 1990 – 2011.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng tăng trưởng kinh
tế tỉnh Bình Định xét theo góc độ kinh tế và một số nội dung trong mối quan
hệ với các vấn đề xã hội, môi trường.
- Không gian: Nghiên cứu chất lượng tăng trưởng kinh tế tại địa bàn
tỉnh Bình Định.
- Thời gian: Đánh giá thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh
Bình Định giai đoạn 1990 – 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp luận
như: phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử,
phương pháp phân tích thực chứng và phương pháp phân tích chuẩn tắc.
Ngoài việc sử dụng các phương pháp luận nêu trên, luận văn đã kết hợp
sử dụng nhiều phương pháp khác như: phương pháp phân tích tăng trưởng,
phương pháp hạch toán tăng trưởng, phương pháp mục tiêu tăng trưởng, phương
pháp đại số, phương pháp định lượng, các phương pháp thống kê, mô tả, so sánh,
đánh giá…
Luận văn đã kế thừa và phân tích khách quan các kết quả nghiên cứu
của các tác giả trong và ngoài nước. Luận văn cũng đã sử dụng một số phần
mềm tin học để tính toán định lượng.
5. Bố cục đề tài
Tên đề tài: “Chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Định”.
Ngoài phần mở đầu, danh mục các bảng, hình vẽ, các chữ viết tắt, danh
4
mục tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục đề tài bao gồm ba chương:
- Chương 1. Cở sở lý luận về chất lượng tăng trưởng kinh tế.
- Chương 2. Thực trạng tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế
tỉnh Bình Định.
- Chương 3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế
tỉnh Bình Định.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trên thế giới, từ khi kinh tế học ra đời đến nay, đã có nhiều công trình
nghiên cứu lý thuyết và mô hình về tăng trưởng kinh tế đã được hình thành và
hoàn thiện, nó chủ yếu tập trung phân tích và đánh giá sự tăng trưởng về số
lượng, tăng trưởng về mặt chất lượng hầu như mới được nhắc đến vào khoảng
thập kỷ 90 trở lại đây. Đã có các nghiên cứu tiếp cận khác nhau khi xem xét
đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế. Có nghiên cứu tiếp cận chất lượng
tăng trưởng kinh tế là phát triển bền vững, điển hình là công trình của Mani
Wheeler (Industrial Pollution in Economic Development, 1998, WB) [27]; có
nghiên cứu tiếp cận chất lượng tăng trưởng kinh tế qua sự đóng góp của các
nhân tố sản xuất, điển hình là công trình nghiên cứu của LeeVine (2000) [27],
Romer (1993) [27]; có nghiên cứu tiếp cận chất lượng tăng trưởng kinh tế
thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế, điển hình là nghiên cứu của Walt
Rostow [26].
Ở Việt Nam, chất lượng tăng trưởng kinh tế được nghiên cứu muộn
hơn so với thế giới, và đang có xu hướng quan tâm nghiên cứu ngày càng
nhiều hơn. Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến chất lượng tăng
trưởng kinh tế, điển hình cụ thể như:
- Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuệ Anh và Lê Xuân Bá
(2005) thuộc Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đã đưa ra khung
phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam như sau: Hình thành các
5
loại tài sản vốn, mô hình tăng trưởng, phân phối thu nhập và phân phối cơ
hội, quản lý hiệu quả của Nhà nước [1].
- Theo tác giả Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt (2006) cho rằng:
chất lượng tăng trưởng kinh tế cao là sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền
vững của nền kinh tế, thể hiện qua năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và
năng suất lao động xã hội và ổn định, mức sống của người dân được nâng
cao không ngừng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp với từng thời kỳ
phát triển của đất nước, sản xuất có tính cạnh tranh cao, tăng trưởng kinh tế
đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, quản lý kinh tế
nhà nước có hiệu quả [11].
- Theo nghiên cứu của Lê Huy Đức (2004), chất lượng tăng trưởng
kinh tế vừa bao gồm tính ổn định và trạng thái bên trong vốn có của quá trình
tăng trưởng kinh tế, vừa phản ánh những thuộc tính cơ bản hay đặc trưng tạo
thành bản chất của tăng trưởng kinh tế [8].
- Theo tác giả Đỗ Phú Trần Tình (2008) cho rằng: chất lượng tăng
trưởng kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, theo chiều sâu, đảm
bảo sử dụng có hiệu quả các nhân tố đầu vào của nền kinh tế, trên cơ sở kết
hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái và
bảo đảm tiến bộ công bằng xã hội [13].
- Theo tác giả Trần Văn (2011) cho rằng: chất lượng tăng trưởng kinh
tế là số đo tổng hợp, thể hiện ở: (1) Quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế, quy mô và tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế; (2) Cơ cấu
ngành kinh tế, bao gồm cơ cấu ngành, vùng, cơ cấu trong từng nội bộ của các
ngành kinh tế; (3) Cơ cấu công nghệ và trình độ công nghệ; (4) Trình độ hội
nhập kinh tế quốc tế; (5) Cơ cấu và chất lượng nguồn lực nhân lực; trình độ,
năng lực nguồn lao động; tỷ trọng lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao
động xã hội; và cuối cùng (6) Cơ cấu dân số, về mức sống dân cư, về môi
6
trường sống chỉ mức độ đô thị hóa, cơ cấu phân bổ lực lượng sản xuất và cơ
cấu dân số, GDP bình quân đầu người; các mục tiêu về văn hóa – xã hội; chỉ
số phát triển con người, xóa đói giảm nghèo. Chất lượng tăng trưởng kinh tế
là một trong ba trụ cột của phát triển bền vững. Xu hướng phát triển của chất
lượng tăng trưởng kinh tế chính là sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với giải
quyết thỏa đáng các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sống của nhân loại.
Chỉ có trong điều kiện đó, xã hội loài người có thể phát triển bền vững, hướng
tới không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Bất kỳ xu
hướng phát triển nào khác, đi ngược lại xu thế này của tăng trưởng kinh tế,
đều sẽ tác động xấu đến hai trụ cột còn lại, và sẽ được coi là tăng trưởng kinh
tế không bền vững [17].
- Theo tác giả Nguyễn Kế Tuấn (2011) cho rằng: giữa tốc độ tăng
trưởng, chất lượng tăng trưởng và ổn định các cân đối kinh tế vĩ mô có mối
quan hệ tương hỗ. Một số tăng trưởng cao được duy trì liên tục sẽ tạo khả
năng rút ngắn sự chênh lệch về thu nhập so với các nước đi trước và tạo cơ sở
để thực hiện công cuộc xóa đói, giảm nghèo. Nhưng để thực hiện được những
yêu cầu đó lại đòi hỏi phải phân phối và quản lý sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực phát triển gắn liền với việc ứng dụng những thành tựu mới của
khoa học công nghệ. Nghĩa là, phải luôn quan tâm đến nâng cao chất lượng
tăng trưởng. Đến lượt mình, tốc độ và hiệu quả của tăng trưởng vừa có ảnh
hưởng trực tiếp, vừa phụ thuộc ở mức độ quan trọng vào sự ổn định của các
cân đối kinh tế vĩ mô. Cũng cần nhấn mạnh rằng, nếu không gắn với yếu tố
chất lượng cao, thì tốc độ tăng trưởng cao cũng không có tác động đến thu
hẹp sự chênh lệch về trình độ phát triển so với các nước khác [16].
- Theo tác giả Nguyễn Văn Lịch (2011) cho rằng: (1) tăng trưởng kinh
tế hay sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức thu nhập bình
quân trên đầu người. Đây là tiêu chí thể hiện quá trình biến đổi về lượng của
7
nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia
và thực hiện những mục tiêu khác của sự phát triển kinh tế; (2) sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, theo hướng tỷ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm
còn tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng trong tổng sản
phẩm quốc dân; (3) sự cải thiện ngày càng tốt hơn các vấn đề xã hội. Các chỉ
tiêu xã hội chính là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế của một quốc
gia [9].
- Theo tác Lê Xuân Bá (2011) cho rằng: tăng trưởng theo hướng thân
thiện với môi trường, đồng nghĩa với bảo vệ môi trường và cải thiện môi
trường. Nếu cứ tiếp tục mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, khai thác và sử
dụng tài nguyên trong giai đoạn vừa qua và chạy theo tốc độ tăng trưởng
trước, xử lý môi trường theo sau sẽ làm cho tình trạng ô nhiễm, cạn kiệt tài
nguyên trầm trọng hơn, đe dọa mục tiêu phát triển bền vững [5].
Ngoài ra, còn nhiều nội dung đề cập đến chất lượng tăng trưởng kinh tế
dưới các hình thức, các cách tiếp cận và quy mô nghiên cứu khác nhau. Tuy
nhiên, việc nghiên cứu chất lượng tăng trưởng kinh tế từ thực tế của từng địa
phương hiện nay ở nước ta còn rất ít.
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHẤT LƯỢNG
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1. CÁC QUAN ĐIỂM, KHÁI NIỆM TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ
CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1.1. Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế không đồng nghĩa với phát triển kinh tế. Nhưng
tăng trưởng kinh tế không chỉ là trọng tâm mà còn là điều kiện quyết định quá
trình phát triển, và phát triển bền vững cũng như xóa nghèo không thể diễn ra
nếu không có tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu của chúng ta là hiểu rõ hơn về quá
trình tăng trưởng và phát triển của các nền kinh tế, và những đặc điểm phân
biệt các nền kinh tế tăng trưởng nhanh so với những nền kinh tế tăng trưởng
chậm.
Khái niệm tăng trưởng kinh tế vĩ mô là sự gia tăng sản lượng hàng hóa,
dịch vụ của nền kinh tế. Trong kinh tế học phát triển, tăng trưởng kinh tế liên
quan đến sự gia tăng thu nhập quốc dân thực trên đầu người, nghĩa là sự gia
tăng giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trên mỗi đầu người trong
một nền kinh tế sau khi đã điều chỉnh lạm phát. Đây là chỉ số đo mục tiêu
tương đối về năng lực kinh tế. Chỉ số này đã được thừa nhận rộng rãi và có
thể được tính với những mức độ chính xác khác nhau cho hầu hết các nền
kinh tế.
Tăng trưởng phản ánh sự gia tăng kết quả hoạt động kinh tế. Chỉ tiêu
phản ánh kết quả hoạt động sản xuất của nền kinh tế được sử dụng rộng nhất
hiện nay là GDP (hoặc GNP). Nó phản ánh mức sản lượng của nền kinh tế.
Quy mô GDP thay đổi theo thời gian phản ánh sự tăng trưởng kinh tế. Từ đó
chúng ta có thể định nghĩa như sau:
9
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế
(GDP) hay sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người (GDP/người) trong
một thời gian nhất định (thường là một năm), thường được phản ánh qua mức
tăng trưởng và tỷ lệ tăng trưởng trên đầu người. Quy mô sản lượng của nền
kinh tế tính trên đầu người lại phụ thuộc vào quy mô sản lượng của nền kinh
tế và dân số của quốc gia. Nếu sự gia tăng của cả hai yếu tố này khác nhau sẽ
làm cho quy mô sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người thay đổi [3].
Tăng trưởng kinh tế được xem xét dưới góc độ số lượng và chất lượng.
Mặt số lượng của tăng trưởng kinh tế là biểu hiện bên ngoài của sự tăng
trưởng, nó thể hiện ở ngay trong khái niệm về tăng trưởng như đã nói ở trên.
Còn mặt chất lượng được xem xét ở phần khái niệm dưới đây.
1.1.2. Chất lượng tăng trưởng kinh tế
Đến nay, đã có nhiều khái niệm về chất lượng tăng trưởng kinh tế
nhưng vẫn chưa có một khái niệm chính thức về chất lượng tăng trưởng kinh
tế. Vì vậy, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm chất lượng tăng
trưởng, trong phạm vi đề tài này, chất lượng tăng trưởng được xem xét cho
một địa phương (tỉnh), tác giả xin nêu ra các khái niệm về chất lượng tăng
trưởng sau:
Theo quan điểm của Thomas, Dailami và Dhareshwar (2004): chất
lượng tăng trưởng thể hiện trên hai khía cạnh: tốc độ tăng trưởng cao cần
được duy trì trong dài hạn và tăng trưởng cần phải được đóng góp trực tiếp
vào cải thiện một cách bền vững và xóa đói giảm nghèo. Với quan niệm này,
tăng trưởng kinh tế được nhìn nhận tổng quát toàn diện [11].
Theo Ngân hàng thế giới, Chương trình phát triển của Liên hợp quốc và
một số nhà kinh tế học nổi tiếng được nhận giải thưởng Nobel gần đây như
G.Becker, R.Lucas, Amrtya Sen, J.Stiglitz, thì cùng với quá trình tăng trưởng,
chất lượng tăng trưởng biểu hiện tập trung ở các tiêu chuẩn chính sau:
10
(1) Trong các yếu tố đầu vào của tăng trưởng thì đóng góp của năng
suất nhân tố tổng hợp (TFP) phải cao, đảm bảo cho việc duy trì tốc độ tăng
trưởng dài hạn, giảm thiểu được những biến động từ bên ngoài;
(2) Tăng trưởng phải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng cao
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế;
(3) Tăng trưởng đi kèm với phát triển môi trường bền vững;
(4) Tăng trưởng phải đạt được mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội và
giảm nghèo.
Theo tác giả Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt (2006): chất lượng
tăng trưởng kinh tế cao là sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền
kinh tế, thể hiện qua năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động xã hội
tăng và ổn định, mức sống của người dân được nâng cao không ngừng, cơ cấu
kinh tế chuyển dịch phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, sản xuất
có tính cạnh tranh cao, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã
hội và bảo vệ môi trường, quản lý kinh tế nhà nước có hiệu quả [11].
Theo tác giả Đỗ Phú Trần Tình (2008) cho rằng: chất lượng tăng
trưởng kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, theo chiều sâu, đảm
bảo sử dụng có hiệu quả các nhân tố đầu vào của nền kinh tế, trên cơ sở kết
hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái và
bảo đảm tiến bộ công bằng xã hội [13].
Theo tác giả Trần Văn (2011) cho rằng: chất lượng tăng trưởng kinh tế
là số đo tổng hợp, thể hiện ở: (1) Quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh
tế, quy mô và tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế; (2) Cơ cấu ngành
kinh tế, bao gồm cơ cấu ngành, vùng, cơ cấu trong từng nội bộ của các ngành
kinh tế; (3) Cơ cấu công nghệ và trình độ công nghệ; (4) Trình độ hội nhập
kinh tế quốc tế; (5) Cơ cấu và chất lượng nguồn lực nhân lực; trình độ, năng
lực nguồn lao động; tỷ trọng lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động
11
xã hội; và cuối cùng (6) Cơ cấu dân số, về mức sống dân cư, về môi trường
sống chỉ mức độ đô thị hóa, cơ cấu phân bổ lực lượng sản xuất và cơ cấu dân
số, GDP bình quân đầu người; các mục tiêu về văn hóa – xã hội; chỉ số phát
triển con người, xóa đói giảm nghèo. Chất lượng tăng trưởng kinh tế là một
trong ba trụ cột của phát triển bền vững. Xu hướng phát triển của chất lượng
tăng trưởng kinh tế chính là sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết
thỏa đáng các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sống của nhân loại. Chỉ có
trong điều kiện đó, xã hội loài người có thể phát triển bền vững, hướng tới
không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Bất kỳ xu hướng
phát triển nào khác, đi ngược lại xu thế này của tăng trưởng kinh tế, đều sẽ tác
động xấu đến hai trụ cột còn lại, và sẽ được coi là tăng trưởng kinh tế không
bền vững [17].
Có thể khái quát một nền kinh tế tăng trưởng có chất lượng thể hiện
qua các đặc trưng sau:
(i) Tốc độ tăng trưởng cao và được duy trì trong dài hạn.
(ii) Tăng trưởng có hiệu quả, thể hiện qua năng suất lao động, hệ số
ICOR phù hợp, đóng góp TFP lớn, và nền kinh tế có tính cạnh tranh cao.
(iii) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng nâng cao hiệu quả, phù hợp
với thực tiễn cả nền kinh tế trong mỗi thời kỳ.
(iv) Tăng trưởng đi đôi với phát triển hài hòa đời sống xã hội.
(v) Tăng trưởng đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái.
(vi) Quản lý có hiệu quả của nhà nước.
Từ những quan điểm và khái niệm trên, đề tài xin đưa ra một quan
niệm về chất lượng tăng trưởng kinh tế:
Một nền kinh tế tăng trưởng có chất lượng là nền kinh tế duy trì tốc độ
tăng trưởng ổn định trong dài hạn và theo chiều sâu, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế phù hợp, trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với
12
đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.
1.2. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ
Chất lượng tăng trưởng được thể hiện ở tính hiệu quả của việc đạt được
các chỉ tiêu tăng trưởng và khả năng duy trì nó trong dài hạn. Chất lượng tăng
trưởng thể hiện năng lực sử dụng các yếu tố đầu vào, tạo nên tính chất, sự vận
động của các chỉ tiêu tăng trưởng và ảnh hưởng lan tỏa của nó đến các lĩnh
vực của đời sống kinh tế - xã hội. Do đó, nó có ý nghĩa quan trọng, thể hiện:
- Chính việc quan tâm đến các tiêu chí về nâng cao chất lượng tăng
trưởng lại là cơ hội để đạt được mục tiêu tăng trưởng về số lượng trong dài
hạn, đó là: sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu
nhập bình quân trên một đầu người.
- Mục tiêu cuối cùng của quá trình phát triển là vì con người. Nên hiệu
ứng của việc nâng cao chất lượng tăng trưởng có tác động lan tỏa trực tiếp
đến các khía cạnh của phát triển bền vững quốc gia như: chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế theo hướng tích cực, nâng cao mức sống dân cư, giảm nghèo
đói và bất bình đẳng, giảm duy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình
quân, hả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí, giáo
dục của đại bộ phận quần chúng nhân dân ngày một tốt hơn.
1.3. ĐO LƯỜNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHẤT LƯỢNG
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.3.1. Các thước đo tăng trưởng kinh tế
Theo mô hình kinh tế thị trường, thước đo được dùng để đánh giá tăng
trưởng kinh tế là các chỉ tiêu trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) bao
gồm:
GO - Tổng giá trị sản xuất: là tổng giá trị sản xuất vật chất và dịch
vụ được tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ
13
nhất định.
GDP - tổng sản phẩm trong nước: là tổng giá trị sản xuất vật chất và
dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm vi lãnh thổ của một
quốc gia tạo nên trong một thời kỳ nhất định.
GNI - Tổng thu nhập quốc dân: đây là chỉ tiêu xuất hiện trong SNA
1993 thay cho chỉ tiêu GNP trong SNA năm 1968. Về nội dung thì GNP GNI
là như nhau. Tuy nhiên GNI tiếp cận dưới góc độ thu nhập chứ không phải
dưới góc độ sản phẩm như GNP.
Để đánh giá xác thực hơn tăng trưởng kinh tế của một quốc gia dưới
góc độ mức sống dân cư, người ta thường sử sụng các chỉ tiêu bình quân đầu
người, chẳng hạn như: GDP bình quân đầu người hoặc GNI bình quân đầu
người.
Trong các chỉ tiêu nêu trên, GDP là chỉ tiêu quan trọng nhất và thường
được sử dụng rộng rãi nhất, biểu thị qua mức (quy mô) tăng trưởng và tốc độ
tăng trưởng của nó, cụ thể:
a. Mức tăng trưởng kinh tế
Mức tăng trưởng kinh tế là giá trị khối lượng hàng hóa dịch vụ gia tăng
trong một thời kỳ nghiên cứu tại một vùng lãnh thổ.
Nếu gọi: Y là GDP hay GNI theo phương pháp liên hoàn
Yt là GDP hay GNI tại thời điểm t của kỳ phân tích
Yt-1 là GDP hay GNI năm trước của kỳ phân tích
∆Y là mức tăng trưởng của năm t so với năm t-1
Khi đó:
∆Y = Yt – Yt-1
(1.1)
b. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo phương pháp liên hoàn) sẽ cho biết
quy mô sản lượng gia tăng nhanh hay chậm qua so sánh với năm trước trong
kỳ nghiên cứu. Sử dụng kết quả phần trên ta có:
14
Tốc độ tăng trưởng giữa thời kỳ t và t-1
gy =
DY
x100
Yt -1
(1.2)
Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn
gy = n
Y
Y
Y1 Y2
x x...x n -1 = n n -1
Y0 Y1
Yn-1
Y0
(1.3)
Trong đó: n là số năm trong giai đoạn chúng ta cần xác định kể từ năm
gốc.
Khi sử dụng các chỉ tiêu này theo thời gian sẽ chỉ ra xu hướng tăng
trưởng kinh tế trong dài hạn – một trong những chỉ tiêu đánh giá chất lượng
tăng trưởng và xem xét những biến động kinh tế. Lưu ý rằng công thức trên
không chỉ được sử dụng tính tốc độ tăng trưởng kinh tế chung mà còn được
sử dụng để tính tăng trưởng của các ngành trong nền kinh tế.
c. Tăng trưởng kinh tế nhìn từ các yếu tố đầu vào
Tăng trưởng kinh tế nhìn từ các yếu tố đầu vào được đánh giá bằng
đóng góp của hai yếu tố đó là: vốn đầu tư và nguồn lao động.
(1) Vốn sử dụng trong các hoạt động đầu tư được gọi là vốn đầu tư. Do
đó, vốn đầu tư quốc gia được hiểu như là phần vốn bổ sung vào nền kinh tế
hàng năm để làm tăng tích tụ tài sản, mở rộng thêm quy mô vốn sản xuất [3].
(2) Nguồn lao động là nguồn lực con người của một quốc gia hay lãnh
thổ phản ánh khả năng lao động của xã hội được thể hiện qua hai mặt: số
lượng và chất lượng [3].
d. Tăng trưởng kinh tế nhìn từ các yếu tố đầu ra
Tăng trưởng kinh tế nhìn từ các yếu tố đầu ra được đánh giá thông qua
các tiêu chí sau:
- Tốc độ tăng trưởng của các ngành: nông – lâm và thủy sản, công