Tải bản đầy đủ (.pdf) (103 trang)

Giáo trình quản lý nhà nước về kinh tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 103 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KINH TẾ - DU LỊCH

GIÁO TRÌNH
(Lƣu hành nội bộ)
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ
(Danh cho Sinh viên Đại học - Hệ Chính quy)

Giảng viên: Nguyễn Thị Kim Phụng

Năm 2017


MỤC LỤC
Chƣơng I..................................................................................................................... 3
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ ..................................... 3
I. Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nƣớc đối với nền kinh tế ................... 3
II. Đối tƣợng, nội dung, phƣơng pháp môn học .................................................... 9
Chƣơng II ................................................................................................................. 13
QUY LUẬT VÀ NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ ........... 13
I. Quy luật............................................................................................................. 13
II. Nguyên tắc quản lý Nhà nƣớc về kinh tế ........................................................ 20
Chƣơng III ................................................................................................................ 29
CÔNG CỤ VÀ PHƢƠNG PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ ........... 29
I. Công cụ quản lý Nhà nƣớc về kinh tế .............................................................. 29
II. Phƣơng pháp quản lý Nhà nƣớc về kinh tế ..................................................... 33
Chƣơng IV ................................................................................................................ 37
MỤC TIÊU VÀ CHỨC NĂNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ .............. 37
I. Mục tiêu ............................................................................................................ 37
II. Chức năng quản lý Nhà nƣớc về kinh tế theo tính chất tác động ................... 40
Chƣơng V ................................................................................................................. 54


THÔNG TIN VÀ QUYẾT ĐỊNH TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ
.................................................................................................................................. 54
I. Thông tin trong quản lý Nhà nƣớc về kinh tế ................................................... 54
II. Quyết định quản lý Nhà nƣớc về kinh tế ......................................................... 58
Chƣơng VI ................................................................................................................ 65
BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ ................................................. 65
I. Khái niệm và hình thức tổ chức bộ máy quản lý Nhà nƣớc về kinh tế ............ 65
III. Cơ cấu bộ máy quản lý Nhà nƣớc về kinh tế ................................................. 73
Chƣơng VII .............................................................................................................. 86
CÁN BỘ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ .................................................. 86
I. Tổng quan về cán bộ quản lý nhà nƣớc về kinh tế ........................................... 86
II. Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế ....................................................... 89


Chƣơng I
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ
I. Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nƣớc đối với nền kinh tế
1. Nhà nƣớc
Ngay từ khi con ngƣời xuất hiện trong tiến trình lịch sử, cuộc sống cộng đồng đã hình
thành, lúc đầu chỉ diễn ra trên quy mô nhỏ hẹp (nhóm nhỏ, bầy, đàn…) rồi mới phát triển
thành các cộng đồng có quy mô lớn hơn. Trong cuộc sống cộng đồng của con ngƣời tất
yếu nảy sinh các va vấp, xung đột, dần dần hình thành quy tắc xử sự chung đƣợc đại đa số
cộng đồng chấp thuận và tuân thủ. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, khi lực lƣợng sản
xuất còn kém phát triển, xã hội chƣa có của cải dƣ thùa, chƣa có tƣ hữu và chƣa có sự
phân chia giai cấp, chƣa có sự đối lập về lợi ích kinh tế giữa các tập đoàn ngƣời thì những
quy tắc xử sự chung của toàn xã hội mà biểu hiện của nó là các phong tục tập quán, các
quy tắc nghi lễ tôn giáo đƣợc thực hiện bằng sự tự giác của mỗi ngƣời trong xã hội và
bằng uy tín của các thủ lĩnh, của các lãnh tụ trong cộng đồng.
Sau khi chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã, xã hội loài ngƣời phân chia thành giai
cấp, bắt đầu xuất hiện sự đối lập về kinh tế giữa các nhóm, các tập đoàn ngƣời thì sự đấu

tranh giữa họ với nhau ngày càng trở nên gay gắt. Trong điều kiện đó, để giữ cho xã hội
trong vòng kỷ cƣơng nhất định, giai cấp thống trị nắm trong tay những tƣ liệu sản xuất
chủ yếu, những của cải chủ yếu, những công cụ bạo lực lớn, các yếu tố chủ yếu tạo ra
quyền lực xã hội, tìm cách tổ chức nên một thiết chế đặc biệt với những công cụ đặc biệt thiết chế nhà nƣớc và Nhà nƣớc bắt đầu xuất hiện. Nhƣ vậy , Nhà nƣớc chỉ ra đời khi sản
xuất và văn minh xã hội phát triển đạt đến trình độ nhất định, cùng với sự phát triển đó là
sự xuất hiện về tƣ hữu tƣ liệu sản xuất và giai cấp xã hội. Nhà nƣớc về thực chất là một
thiết chế quyền lực chính trị, là cơ quan thống trị của một giai cấp, một nhóm giai cấp này
đối với một hoặc toàn bộ nhóm giai cấp khác, đồng thời còn để duy trì và phát triển xã hội
mà Nhà nƣớc phải duy trì, bảo toàn những đặc trƣng về chất của xã hội, hoàn thiện và
phát triển chúng theo hƣớng nhất định, tức Nhà nƣớc thực hiện sự quản lý xã hội. Đây là
sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy Nhà nƣớc, cùng với sự tác động
của các chủ thể xã hội khác lên xã hội theo các đặc trƣng và các mục tiêu lựa chọn. Nhà
nước một mặt (là một thiết chế quyền lực chính trị) là cơ quan thống trị giái cấp của một


(hoặc một nhóm) giai cấp này đối với một (hoặc toàn bộ các giai cấp khác trong xã hội);
mặt khác, nó còn là quyền lực công đại diện cho lợi ích chung của cộng đồng xã hội
nhằm duy trì và phát triển xã hội trước lịch sử và các Nhà nước khác. Nhƣ vậy Nhà nƣớc
có hai thuộc tính cơ bản: thuộc tính giai cấp và thuộc tính xã hội. Hai thuộc tính này gắn
bó với nhau, nƣơng tựa vào nhau và biến đổi không ngừng cùng với sự phát triển hoặc
kìm hãm của xã hội.
2. Quản lý Nhà nƣớc về kinh tế
2.1. Khái niệm
Quản lý của Nhà nƣớc đối với nền kinh tế quốc dân (hoặc vắn tắt là quản lý nhà nƣớc
về kinh tế) là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nƣớc lên nền kinh tế
quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nƣớc, các
cơ hội có thể có, để đạt đƣợc các mục tiêu phát triển kinh tế đất nƣớc đã đặt ra, trong điều
kiện hội nhập và mở rộng gao lƣu quốc tế. Quản lý kinh tế là nội dung cốt lõi của quản lý
xã hội nói chung và nó phải gắn chặt với các hoạt động quản lý khác của xã hội. Quản lý
nhà nƣớc về kinh tế đƣợc thể hiện thong qua các chức năng kinh tế và quản lý kinh tế của

Nhà nƣớc.
Nhƣ đã phân tích ở trên, việc khắc phục những nhƣợc điểm, hạn chế khuyết tật của cơ
chế thị trƣờng, để tạo điều kiện thuận lợi cho cơ chế này hoạt động có hiệu quả, không thể
không có Nhà nƣớc với tƣ cách là chủ thể của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nhƣ vậy,
Nhà nƣớc thực hiện chức năng quản lý kinh tế là nhu cầu khách quan, nội tại và nền kinh
tế thị trƣờng vận động theo cơ chế thị trƣờng; còn việc điều tiết, khống chế và định hƣớng
các hoạt động kinh tế của các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế theo hƣớng và mục tiêu
nào lại lệ thuộc vào bản chất của các hình thức nhà nƣớc và con đƣờng phát triển mà nƣớc
đó lựa chọn.
2.2.Các kết luận cần lưu ý
Từ định nghĩa đã nêu có thể rút ra các kết luận cơ bản sau:
- Thực chất của quản lý nhà nƣớc về kinh tế là việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả
nhất các nguồn lực trong và ngoài nƣớc mà Nhà nƣớc có khả năng tác động vì mục tiêu
xây dựng và phát triển đất nƣớc. Trong đó vấn đề nắm bắt đƣợc con ngƣời, tổ chức và tạo
động lực lớn nhất cho con ngƣời hoạt động trong xã hội là vấn đề có vai trò then chốt.


Đúng nhƣ Trần Hƣng Đạo đã nói: “Kể ra dân không bao giờ hai long, sợ ta thì khinh địch,
sợ địch thì khinh ta. Bị dân khinh thì thua, dân sợ uy thì thắng”
- Bản chất của quản lý nhà nƣớc về kinh tế là đặc trƣng thể chế chính trị của đất nƣớc;
nó chỉ rõ nhà nƣớc là công cụ của giai cấp hoặc của lực lƣợng chính trị, xã hội nào? Nó
dựa vào ai và hƣớng vào ai để phục vụ? Đây là vấn đề khác nhau cơ bản giữa quản lý nhà
nƣớc về kinh tế của các chế đội xã hội khác nhau.
- Quản lý nhà nƣớc về kinh tế là một khoa học vì nó có đối tƣợng nghiên cứu riêng và
có nhiệm vụ phải thực hiện riêng, đó là các quy luật và các vấn đề mang tính quy luật của
các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế của
xã hội (mà ta sẽ đề cập hơn ở phần sau).
- Quản lý nhà nƣớc về kinh tế còn là một nghệ thuật và một nghề vì nó lệ thuộc không
nhỏ vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế;
phong cách làm việc, phƣơng pháp và hình thức tổ chức quản lý; khả năng thích nghi cao

hay thấp v.v… của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nƣớc.
3. Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nƣớc về kinh tế
Nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế thị
trƣờng có điều tiết, nền kinh tế thị trƣuờng có sự quản lý vĩ mô của Nhà nƣớc theo định
hƣớng xã hội chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là, nền kinh tế nƣớc ta chịu sự điều tiết của thị
trƣờng và chịu sự điều tiết của nhà nƣớc (sự quản lý của Nhà nƣớc). Sự quản lý nhà nƣớc
đối với nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sự cần
thiết khách quan, vì những lý do sau đây:
* Thứ nhất, phải khắc phục những hạn chế của việc điều tiết của thị trường, bảo đảm
thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đề ra.
Sự điều tiết của thị trường đối với sự phát triển kinh tế thật kỳ diệu nhưng vẫn có những
hạn chế cục bộ. Ví dụ nhƣ về mặt phát triển hài hoà của xã hội, thì bộc lộ tính hạn chế sự
điều tiết của thị trƣờng.
Thị trƣờng không phải là nơi có thể đạt đƣợc sự hài hoà trong việc phân phối thu nhập
xã hội, trong việc nâng cao chất lƣợng cuộc sống xã hội, trong việc phát triển kinh tế xã
hội giữa các vùng… Cùng với việc đó, thị trƣờng cũng không khắc phục những khuyết tật
của nền kinh tế thị trƣờng, những mặt trái của nền kinh tế thị trƣờng đã nêu ở trên. Tất cả


điều đó không phù hợp và cản trờ việc thực hiện đầy đủ những mục tiêu phát triển kinh
tế-xã hội đã đề ra. Cho nên trong quá trình vận hành kinh tế, sự quản lý nhà nƣớc đối với
kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa là cần thiết để khắc phục những hạn
chế, bổ sung chỗ hổng của sự điều tiết của trhị trƣờng, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội. Đó cũng là thực hiện nhiệm vụ hàng đầu của quàn lý nhà nƣớc về kinh tế.
* Thứ hai: Bằng quyền lực, chính sách và sức mạnh kinh tế của mình. Nhà nước phải
giải quyết những mâu thuẫn lợi ích kinh tế phố biến, thường xuyên và cơ bản trong nền
kinh tế quốc dân.
Trong quá trình hoạt động kinh tế, con ngƣời có mối quan hệ với nhau. Lợi ích kinh
tế là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ đó. Mọi thứ mà con ngƣời phấn đấu đền liên quan
đến lợi ích của mình. Trong nền kinh tế thị trƣờng, mọi đối tác đều hƣớng tới lợi ích kinh

tế riêng của mình. Nhƣng, khối lƣợng kinh tế thì có hạn và không thể chia đều cho mọi
ngƣời, nếu xẩy ra sự tranh giành về lợi ích và từ đó phát sinh ra những mâu thuẫn về lợi
ích. Trong nền kinh tế thị trƣờng có những loại mâu thuẫn cơ bản sau đây:
- Mâu thuẫn giữa các doanh nghiệp với nhau trên thƣơng trƣờng.
- Mâu thuẫn giữa chủ và thợ trong các doanh nghiệp
- Mâu thuẫn giữa ngƣời sản xuất kinh doanh với toàn thể cộng đồng trong việc sử
dụng tài nguyên và môi trƣờng, không tính đến lợi ích chung trong việc họ cung ứng
những hàng hoá và dịch vụ kém chất lƣợng, đe doạ sức khoẻ cộng đồng: trong việc xâm
hại trật tự, an toàn xã hội, đe doạ an ninh quốc gia vì hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình.
- Ngoài ra, còn nhiều mâu thuẫn khác nữa nhƣ mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa cá
nhân; công dân với Nhà nƣớc, giữa các địa phƣơng với nhau, giữa các ngành, các cấp với
nhau trong quá trình hoạt động kinh tế của đất nƣớc.
- Những mâu thuẫn này có tính phổ biến, thƣờng xuyên và có tính căn bản vì liên
quan đến quyền lợi “về sống-chết của con ngƣời”. đến sự ổn định kinh tế-xã hội. Chỉ có
nhà nƣớc mới có thể giải quyết đƣợc các mâu thuãn đó, điều hoà lợi ích của các bên.
* Thứ ba, tính khó khăn phức tạp của sự nghiệp kinh tế
Để thực hiện bất kỳ một hoạt động nào cũng phải giải đáp các câu hỏi: Có muốn làm
không? Có biết làm không? Có phƣơng tiện để thực hiện không? Có hoàn cảnh để làm


không? Nghĩa là, cần có những điều kiện chủ quan và khách quan tƣơng ứng. Nói cụ thể
và để hiểu, làm kinh tế nhất là làm giầu phải có ít nhất các điều kiên: ý chí làm giàu, trí
thức làm giàu, phƣơng tiện sản xuất kinh doanh và môi trƣờng kinh doanh. Không phải
công dân nào cũng có đủ các điều kiện trên để tiến hành làm kinh tế, làm giàu. Sự can
thiệp của nhà nƣớc rất cần thiết trong việc hỗ trợ công dân có những điều kiệncần thiết
thực hiện sự nghiệp kinh tế.
* Thứ tư, tính giai cấp trong kinh tế và bản chất giai cấp của nhà nước
Nhà nƣớc hình thành từ khi xã hội có giai cấp. Nhà nƣớc bao giừ cũng đại diện lợi ích
của giai cấp thống trị nhất định trong đó có lợi ích kinh tế. Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa

Việt Nam đại diện cho lợi ích dân tộc và nhân dân, Nhà nƣớc của ta là nhà nƣớc của dân,
do dân và vì dân. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội do Nhà nƣớc ta xác định và quản lý
chỉ đạo là nhằm cuối cùng đem lại lợi ích vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tuy vây,
trong nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửa với nƣớc ngoài, không phải lúc nào lợi ích
kinh tế của các bên cũng luôn luôn nhất trí. Vì vậy, xuất hiện xu hƣớng vừa hợp tác, vừa
đấu tranh trong quá trình hoạt động kinh tế trên các mặt quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý,
quan hệ phân phối.
Trong cuộc đấu tranh trên mặt trận kinh tế. Nhà nƣớc ta phải thể hiện bản chất giai
cấp của mình để bảo vệ lợi ích của dân tộc và của nhân dân ta. Chỉ có Nhà nƣớc mới có
thể làm đƣợc điều đó. Nhƣ vậy là, trong quá trình phát triển kinh tế, Nhà nƣớc ta đã thể
hiện bản chất giai cấp của mình.
Bốn lý do chủ yếu trên đây chính là sự cần thiết khách quan của Nhà nƣớc đối với nền
kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
4. Quản lý Nhà nƣớc về kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trải qua chặng đƣờng lịch sử 60 năm là
Nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân; tất cả quyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân dân mà nền
tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp tri thức; Nhà nƣớc
đã tiến hành các hoạt động quản lý kinh tế đối với đát nƣớc dựa trên sức mạnh của khối
đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế, xã hội. Trong
mỗi giai đoạn phát triển của đất nƣớc, Nhà nƣớc đã bám sát vào nhiệm vụ cách mạng cụ
thể do Đảng vạch ra đẻ tiến hành công việc của mình. Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất


nƣớc bắt đầu từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng, Nhà nƣớc tiến
hành quản lý kinh tế theo nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nƣớc quản lý, nhân dân làm chủ
nhằm mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; thực hiện
cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc theo cơ chế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ
nghĩa, bảo đảm hội nhập quốc tế. Đặc điểm của cơ chế quản lý kinh tế nói trên là:
4.1. Bảo đảm lãnh đạo của Đảng trên mặt trận kinh tế và quản ký linh tế
- Đảng Cộng sản Việt nam theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh là

lực lƣợng lãnh đạo Nhà nƣớc và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ
Hiến pháp và pháp luật (Điều 4 Hiến pháp 1992).
- Đảng vạch đƣờng lối, chiến lƣợc, con đƣờng xây dựng kinh tế nói riêng, xây dựng đất
nƣớc nói chung:
* Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu nhiều thành phần: 1) kinh tế nhà nƣớc;
2) kinh tế hợp tác; 3) kinh tế cá thể - tiểu chủ; 4) kinh tế tƣ bản tƣ nhân; 5) kinh tế tƣ bản
nhà nƣớc; 6) kinh té có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
* Kinh tế nhà nƣớc đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế’
* Phát triển nền kinh tế nhanh và bền vững, tăng trƣởng kinh tế đi đôi với thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trƣờng.
* Lấy công nghiệp hóa là trọng tâm của thời kỳ quá độ.
* Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực phát huy cao độ mọi nguồn lực.
* Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
* Kết hợp chặt chẽ kinh tế, xã hội với quốc phòng an ninh.
- Đảng phải giữ định hƣớng xã hội chủ nghĩa theo 6 đặc tƣng cơ bản: 1) Là xã hội do
nhân dân lao động làm chủ; 2) Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lƣợng sản
xuất hiện đại và chế đội công hữu về các tƣ liệu sản xuất chủ yếu; 3) Có nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 4) Con ngƣời đƣợc giảu phóng khỏi áp bức, bốc lột, bất
công, làm theo năng lực, hƣởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có
điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; 5) Các dân tộc trong nƣớc bình đẳng, đoàn kết và
giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; 6) Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các
nƣớc trên thế giới.
- Kiên quyết chống lại 4 nguy cơ đe dọa đất nƣớc:


* Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế;
* Nguy cơ diễn biến hòa bình;
* Nguy cơ chệch hƣớng xã hội chủ nghĩa (cả về đƣờng lối lẫn chỉ đạo thực hiện);
- Đảng phải làm tốt công tác nhân sự, đăc biệt là việc bố trí cán bộ chủ chốt tại các cơ
quan đầu não.

- Xây dựng và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội.
4.2. Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý của mình đối với nền kinh tế nói riêng,
kinh tế -xã hội nói chung
- Nhà nƣớc quản lý xã hội bằng pháp lật, tăng cƣờng pháp chês, giữ vững trật tự, kỷ
cƣơng, kiên quiets đấu tranh chống tham nhũng.
- Sử dụng tốt các công cụ quản lý kinh tế: 1) pháp luật; 2) kế hoạch, chƣơng trình, quy
hoạch phát triển kinh tế; 3) Các chính sách kinh tế; 4) bộ máy hành chính và đội ngũ cán
bộ công chức nhà nƣớc; 5) tài sản của nhà nƣớc; 6) các công cụ chuyên chính khác: quân
đội, công an, các phƣơng tiện truyền thông, các tài sản văn hóa v.v…
- Thực hiện tốt các chức năng quản lý kinh tế vĩ mô (đã nêu ở trên).
II. Đối tƣợng, nội dung, phƣơng pháp môn học
1. Đối tƣợng môn học
Quản lý nhà nƣớc về kinh tế là một khoa học giáp ranh giữa kinh tế học, khoa học
quản lý và khoa học về nhà nƣớc pháp quyền, có đối tƣợng nghiên cứu là các quy luật và
các vấn đề mang tính quy luật về sự ra đời, hình thành, tác động qua lại của các mối quan
hệ giữa các thực thể có liên quan đến các hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế của một
nƣớc.
Giữa các thực thể và trong mỗi thƣc thể đều tồn tại các mối quan hệ nhất định chi
phối đến sự biến đổi của nền kinh tế mỗi nƣớc. Để quản lý thành công, nhà nƣớc phải
nắm chắc các quy luật và các vấn đề mang tính quy luật đƣợc hình thành nên giữa các
mối quan hệ nói trên xét trong không gian và thời gian cụ thể của sự biến đổi kinh tế, xã
hội để có giải pháp xử lý thích hợp:
- Các cơ quan quyền lực nhà nƣớc (trong đó có một mảng làm chức năng quản lý nhà
nƣớc về kinh tế) là thực thể khá quan trọng trong việc chi phối, tác động lên các thƣc thể
khác, đặc biệt là các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh tế (mà ở nƣớc ta hiện nay là cá


nhân, đơn vị thuộc 6 thành phần kinh tế); quyền hạn và mức độ tác động của thực thể này
lệ thuộc vào khuôn khổ luật pháp của chế độ xã hội quy định, vào mối tác động tƣơng tác
trở lại đối với các thực thể khác và vào chính mối quan hệ của các cơ quan, phân hệ, cá

nhân nội tại của thực thể này.
- Các chủ thể tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh tế là thực thể thứ hai trong hệ
thống kinh tế quốc dân, vai trò của các chủ thể này ngày một to lớn, đòi hỏi thực thể thứ
nhất phải luôn biết điều chỉnh bản than và các mối tác động quản lý lên thực thể thứ hai.
Các chủ thể thuộc thực thể thứ hai của hệ thống kinh tế quốc dân bao gồm các doanh
nghiệp, các hợp tác xã, các hộ gia đình, các nhóm lien kết hoạt động kinh tế và các cá
nhân thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Thực thể thứ ba của hệ thống các hoạt động kinh tế là các quốc gia (thong qua các
doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức v.v…) và các thực thể xã hội khác (với tƣ cách là các tổ
chức chính quyền nhƣng không đƣợc thế giới công nhận là nhà nƣớc) cũng có những tác
động không nhỏ đối với các hoạt động kinh tế, về tin học, về vũ trụ, về biển cả và môi
trƣờng tự nhiên của nhân loại hiện nay.
- Thực thể thứ tƣ của hệ thống các hoạt động kinh tế là các thiết chế xã hội khác (văn
hóa, tôn giáo, gia đình, dân tộc, giáo dục đào tạo, v.v…) cũng có những tác động theo
những quy luật nhất định đối với các hoạt động kinh tế của mỗi nƣớc.
2. Nội dung môn học
Quản lý nhà nƣớc về kinh tế bao gồm rất nhiều nội dung, các nội dung này có thể gộp
thành các nhóm lớn:
2.1. Cơ sở lý luận và phương pháp luận của môn học: Nhằm giải đáp câu hỏi vì sao phải
quản lý nhà nƣớc về kinh tế? Muốn quản lý thành công phải dựa vào đâu và phải làm gì?
Nó bao gồm:
- Đối tƣợng và phƣơng pháp, nội dung môn học.
- Lý thuyết hệ thống.
- Thực chất và bản chất quản lý nhà nƣớc về kinh tế.
- Các học thuyết quản lý nhà nƣớc về kinh tế.
- Vận dụng các quy luật và các nguyên tắc trong quản lý nhà nƣớc về kinh tế.


2.2. Cơ sở tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế : Nhằm trả lời các câu hỏi:
Nhà nƣớc muốn quản lý kinh tế thành công phải tổ chức nhƣ thế nào? Phải tiến hành các

hoạt động quản lý ra sao? Nội dung bao gồm các vấn đề sau:
- Các chức năng quản lý nhà nƣớc về kinh tế.
- Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý kinh tế.
- Cán bộ viên chức nhà nƣớc trong quản lý kinh tế.
- Thông tin kinh tế.
- Quyết định và mục tiêu quản lý kinh tế.
- Phƣơng pháp, hình thức, nghệ thuật quản lý kinh tế.
- Các công cụ và phƣơng tiện sử dụng trong quản lý kinh tế v.v…
2.3. Cơ sở đổi mới và đánh giá quản lý nhà nước về kinh tế :
Nhằm trả lời các câu hỏi: Nhà nƣớc quản lý về kinh tế tốt hay chƣa tốt? Để phát triển
kinh tế bền vững phải làm gì? Nội dung bao gồm các vấn đề:
- Phân tích kết quả quản lý kinh tế.
- Hiệu quả quản lý nhà nƣớc về kinh tế.
- Đổi mới quản lý nhà nƣớc về kinh tế v.v…
3. Phƣơng pháp môn học
Quản lý nhà nƣớc về kinh tế là một môn học khoa học ẫ hội, chịu tác động to lớn của
ý thức xã hội và các phƣơng pháp chung thƣờng dung.
Ở nƣớc ta hiện nay, phƣơng pháp luận của quản lý nhà nƣớc về kinh tế đƣợc sử dụng là
phƣơng pháp luận triết học Mác - Lênin (phƣơng pháp duy vật lịch sử, phƣơng pháp duy
vật biện chứng) và các quan điểm đổi mới có tính thời đại của Đảng và Nhà nƣớc.
Trong tiến trình thực hành quản lý, quản lý nhà nƣớc về kinh tế đƣợc sử dụng rất nhiều
phƣơng pháp thong dụng:
- Các phƣơng pháp điều tra xã hội học.
- Các phƣơng pháp thống kê toán.
- Các phƣơng pháp phân tích hệ thống.
- Các phƣơng pháp phân tích lịch sử.
- Các phƣơng pháp của dịch học.
- Các phƣơng pháp mô phỏng toán học v.v…



Trong đó, một phƣơng pháp đƣợc đặc biệt sử dụng là phƣơng pháp phân tích hệ thống mà
nguời ta thƣờng gọi là quản lý nhà nƣớc về kinh tế xét trên quan điểm hệ thống.
Câu hỏi:
1. Nêu khái niệm Nhà nƣớc, quản lý Nhà nƣớc về kinh tế.
2. Vì sao phải quản lý Nhà nƣớc về kinh tế?
3. Đặc trƣng của quản lý Nhà nƣớc ở Việt Nam hiện nay.
4. Trình bày đối tƣợng, nội dung, phƣơng pháp môn học.


Chƣơng II
QUY LUẬT VÀ NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ
I. Quy luật
1. Định nghĩa về quy luật
- Định nghĩa về quy luật nói chung:
Quy luật là mối liên hệ nhân quả, bản chất, tất nhiên, phổ biến, bền vững, lặp đi lặp lại
trong các sự vật và hiện tƣợng khi những điều kiện tồn tại của nó vẫn còn.
Ví dụ: Khi còn sức hút của trái đất thì ta tung một vật lên nó sẽ rơi xuống trái đất.
- Định nghĩa về quy luật kinh tế:
Quy luật kinh tế là mối liên hệ nhân quả, bản chất, phô biến, tồn tại trong các hiện
tƣợng kinh tế ở những thời điểm nhất định khi điều kiện tồn tại của nó vẫn còn.
Ví dụ: Khi có sản xuất hàng hóa thì có quy luật giá trị hoạt động. Hoặc có cơ chế thị
trƣờng thì có quy luật cạnh tranh.
2. Tính khách quan của các quy luật
- Con ngƣời không thể tạo ra, bỏ đi hay thay thế các quy luật khách quan.
- Kết quả hoạt động của các quy luật không tùy thuộc vào ý muốn của con ngƣời.
- Thừa nhận tính khách quan của các quy luật không có nghĩa là phủ nhận vai trò tích
cực của con ngƣời. Con ngƣời không thể tạo ra quy luật, nhƣng con ngƣời hoàn toàn có
thể nhận biết các quy luật và vận dụng nó trong hoạt động thực tiễn.
3. Đặc điểm của các quy luật kinh tế
3.1. Các quy luật kinh tế hoạt động và tồn tại thông qua hoạt động của con nguời

Nếu nhƣ các quy luật tự nhiên xuất hiện trƣớc khi có xã hội loài ngƣời, có thể hoạt
động không phụ thuộc vào con ngƣời, thì các quy luật kinh tế chỉ có thể hoạt động thông
qua hoạt động của các nhóm ngƣời trong xã hội.
Vì các quy luật kinh tế chỉ hoạt động thông qua hoạt động của con ngƣời, nên chúng
liên quan chặt chẽ với các lợi ích của con ngƣời trong khi các quy luật tự nhiên hoạt động
độc lập với đời sống con ngƣời và lợi ích của họ. Các lợi ích kinh tế là động lực chủ yếu
thúc đẩy hoạt động sản xuất của con ngƣời.
Nếu trong tự nhiên, các lƣc lƣợng mù quáng, vô ý thức hoạt động, thì trong đời sống
con ngƣời lại hoạt động một cách tự giác thực hiện những mục đích đã đề ra. Nhìn bề


ngoài ngƣời ta thƣờng cảm thấy dƣờng nhƣ hoạt động kinh tế của con ngƣời không phụ
thuộc vào các quy luật kinh tế, con ngƣời tùy ý đề ra bất cứ quyết định nào; thực ra hoạt
động con ngƣời không phải tùy ý mà do các quy luật kinh tế quyết định.
3.3. Một đặc điểm khác của các quy luật kinh tế là chúng kém bền vững hơn so với các
quy luật tự nhiên
Tuyệt đại đa số các quy luật kinh tế, nhất là các quy luật kinh tế đặc thù, chỉ hoạt
động trong giới hạn của một hình thái kinh tế xã hội. Còn các quy luật tự nhiên không gắn
với sự qua độ từ một phƣơng thức sản xuất này sang một phƣơng thức sản xuất khác.
Khi vận dụng các quy luật kinh tế phải tính đến giai đoạn phát triển hiện tại của nền
kinh tế, bởi vì các quy luật kinh tế thể hiện sự hoạt động của mình thông qua các hình
thức và quá trình kinh tế cụ thể mà ngƣời ta gặp phải rất nhiều trong thực tiễn nhƣ: các
sản phẩm, thu nhập, tiền lƣơng v.v…Những yếu tố tác động đến hình thức biểu hiện các
quy luật rất nhiều, sau đây là một số yếu tố có tính chất nguyên tắc:
- Trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất.
- Mức độ phát triển của quan hệ sản xuất.
Điều kiện của đất nƣớc (điều kiện lịch sử, tài nguyên thiên nhiên)
- Trạng thái của ý thức xã hội (trình độ cán bộ)
- Hoàn cảnh quốc tế.
Cho nên vấn đề lựa chọn các hình thức biểu hiện của quy luật có ý nghĩa rất quan trọng.

+ Làm sao cho các hình thức đƣợc lựa chọn phản ánh đúng đắn bản chất của các quy
luật kinh tế. Điều cần chú ý là: các quy luật kinh tế có liên quan chặt chẽ với nhau và tạo
thành hệ thống, cho nên một hình thức biểu hiện nào đó đƣợc lựa chọn thì không phải là
sự biểu hiện của một quy luật riêng lẻ nào mà là của một số quy luật kinh tế. Vì thế khi
lựa chọn các hình thức biểu hiện của quy luật kinh tế, không thể lựa chọn một cách ngẫu
nhiên và tách rời nhau.
+ Làm sao cho các hình thức biểu hiện của các quy luật kinh tế quốc dân trong những
điều kiện lịch sử của đất nƣớc. Cần chú ý là mỗi quy luật có bản chất nhất định của nó,
nhƣng các hình thức biểu hiện của nó rất khác nhau. Điều đó có ý nghĩa là con ngƣời có
thể sử dụng các phƣơng pháp và phƣơng tiện khác nhau để vận dụng các quy luật kinh tế.
Không có hình thức và phƣơng pháp nào đều tốt nhƣ nhau đối với mọi điều kiện. Song,


các phƣơng pháp và các hình thức có sự kế thừa nhất định. Vì thế, điều rất quan trọng là
nghiên cứu và tổng kết những kinh nghiệm thƣc tiễn đã tích lũy đƣợc, gạt bỏ những
phƣơng pháp đã lỗi thời, sử dụng những phƣơng pháp mới có hiệu quả hơn. Việc hoàn
thiện các hình thức và các phƣơng pháp vận dụng các quy luật kinh tế không phải là biện
pháp một lần mà là một quá trình hoạt động liên tục.
3.4. Các quy luật kinh tế hoạt động trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau hỗ trợ và
thúc đẩy lẫn nhau đi theo một hướng do quy luật kinh tế cơ bản quy định
Việc nhận thức các quy luật kinh tế trong hệ thống của chúng cho phép làm sáng tỏ
cơ chế hoạt động của các quy luật kinh tế, điều này rất quan trọng để quy định hình thức
vận dụng chúng.
Hệ thống các quy luật kinh tế có hạt nhân của nó dƣới dạng kinh tế cơ bản của hình
thái kinh tế - xã hội, biều hiện bản chất của hình thái đó, quan hệ sản xuất cơ bản của nó.
Bản chất của quan hệ sản xuất cơ bản của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định đóng
dấu ấn của nó trên tất cả các quan hệ khác, vì thế quy luật kinh tế cơ bản xác định bản
chất và tinh thần hoạt động của các quy luật khác.
Nhƣ vậy các quy luật kinh tế không thể hoạt động nhƣ là những quy luật của các lực
lƣợng có hƣớng khác nhau và dẫn đến sự xung đột lẫn nhau, hoạt động theo những

phƣơng thức khác nhau. Mọi quy luật hoạt động theo một hƣớng chong do quy luật cơ
bản đề ra. Vì thế, khi đánh giá hoạt động của các quy luật kinh tế, trƣớc hết cần chú ý đến
mối liên hệ của chúng với quy luật kinh tế cơ bản của hình thái kinh tế - xã hội.
Nền kinh tế quốc dân đƣợc phát triển trong môi trƣờng tự nhiên nhất định cũng nhƣ
gắn với thƣợng tầng kiến trúc nhất định. Vì thế, càn phải nghiên cứu các quy luật kinh tế
trong sự tác động qua lại của chúng với quy luật tự nhiên và các quy luật của những quan
hệ thƣợng tầng.
Điều này có lien quan đến việc các cơ quan quản lý cần chú ý đến những dự trù
nguyên liệu trên mặt đất và dƣới lòng đất khi phân bổ lực lƣợng sản xuất theo lãnh thổ,
xác định các luồng vận tải, sự di chuyển các nguồn lao động, sự biến động của năng suất
lao động mà đề ra những biện pháp nhất định hƣớng vào việc tái sản xuất những loại
nguyên liệu đƣợc tái sinh, việc sử dụng đầy đủ nhất và thu hồi những nguyên liệu chƣa


đƣợc tái sinh. Mặt khác trong việc hoàn thiện kỹ thuật, phải có kiến thức sâu về thành tựu
khoa học và kỹ thuật, và có nhãn quan kinh tế rộng.
Nhƣ đã nói trên, nền kinh tế quốc dân đƣợc phát triển trong những điều kiện xã hội
nhất định. Vì thế, cần nghiên cứu quy luật kinh tế trong sự tác ddoongj qua lại của chúng
với các quy luật của những quan hệ thƣợng tầng kiến trúc. Tính chất và quá trình phát
triển của thƣợng tầng do hạ tầng cơ sở quyết định. Nhƣng các quan hệ thƣợng tầng trong
phạm vi một hình thái kinh tế - xã hội nhất định có tính độc lập tƣơng đối của nó, có
lôgich phát triển khách quan của nó và ảnh hƣởng quan trọng đến hạ tầng cơ sở. Để sử
dụng có hiệu quả sức mạnh của sự tác động ngƣợc lại của quan hệ thƣợng tầng đên kinh
tế, cần thiết phải nghiên cứu những quan hệ này; đánh giá ý nghĩa của chúng nhƣ là các
lực lƣợng xã hội, xác lập suy luận phát triển của chúng và phƣơng pháp vận dụng chúng
trong lãnh đạo xã hội nói chung và lãnh đạo kinh tế nói riêng. Việc nghiên cứu các quy
luật phát hiện cơ chế hoạt động của chúng và việc xác định những hình thức và phƣơng
pháp vận dụng chúng là rất cấp bách nhƣng còn phải tùy điều kiện phát triển của xã hội.
3.5. Các quy luật kinh tế hoạt động có liên quan đến cơ chế quản lý kinh tế
- Nếu cơ chế quản lý có kế hoạch thì các quy luật hoạt động một cách tự giác.

Ví dụ: khi nhà nƣớc muốn đảm bảo đƣợc chỉ tiêu xuất khẩu gạo theo kế hoạch cùng với
tăng giá phải có một số chính sách khuyến khích thì nông dân sẽ bán gạo cho nhà nƣớc
một cách tự nguyện mà không cần phải sử dụng các biện pháp mệnh lệnh khác.
- Nếu cơ chế quản lý tự do không có kế hoạch thì các quy luật sẽ hoạt động một cách tự
phát và rất dễ gây cho nền kinh tế bất ổn.
Ví dụ: khi nhà nƣớc đề ra các chính sách quản lý mà không tính đến sự tác động của quy
luật khách quan sẽ làm cho nền kinh tế lộn xộn.
Tuy nhiên tính tự giác và tính tự phát không làm giảm tính khách quan của quy luật.
4. Cơ chế vận dụng quy luật
4.1. Khái niệm về cơ chế vận dụng quy luật
Cơ chế vận dụng quy luật là một quá trình bao gồm từ khâu nhận thức quy luật đến
tạo điều kiện và kết hợp hài hòa các lợi ích trong xã hội làm cho các quy luật phát huy tác
dụng.
4.2.Cơ chế vận dụng quy luật gồm có những đặc điểm sau


- Tính bao quát toàn diện và phục vụ cho việc vân dụng tổng hợp các quy luật khách
quan trong quản lý kinh tế, trong đó các quy luật kinh tế giữ vai trò quyết định đối với sự
phát triển kinh tế.
- Tính thống nhất trong cả nền kinh tế trong phạm vi cả nƣớc và trong mỗi lĩnh vực
hoạt động kinh tê, trong mọi cấp và mọi thành phần kinh tế.
- Tính đồng bộ nhịp nhàng ăn khớp giữa các yếu tố hợp thành cơ chế thống nhất gắn
liền với hạch toán kinh tế và các đòn bẫy khuyến khích kinh tế.
- Tính khoa học và tính cách mạng kết hợp với nhau trong việc xây dựng, hoàn thiện
và vận dụng cơ chế trong thực hiện quản lý kinh tế. Nó chứa dựng khả năng phát hiện đấu
tranh và loại trừ những yếu tố quan liêu trì trệ cản trở ngay khi chúng bắt đầu phát sinh và
thu hút những thành tựu mới của các nghành khoa học và kỹ thuật để bổ sung và hoàn
thiện cơ chế.
4.3. Nội dung của cơ chế vận dụng quy luật
- Phải nhận biết đƣợc quy luật

Nhận biết quy luật tức là phải nắm đƣợc nội dung của quy luật, năm đƣợc các mối lien hệ
bản chất và sự biểu hiện của các quy luật. Có 2 cách nhận biết quy luật:
Cách thứ nhất: Nhận biết quy luật bằng kinh nghiệm. theo cách này, việc nhận biết quy
luật diễn ra lâu dài mà khả năng vận dụng lại không rộng rãi, sâu sắc.
Ví dụ: ngƣời Ấn Độ biết dung thuyền độc mộc để đi trên sông nƣớc và muốn đi nhanh
phải làm mũi thuyền nhọn, muốn chở đƣợc nhiều phải đục cây gỗ lớn. Nhƣng phải hàng
trăm năm sau Ácsimet mới phát hiện ra định luật sức đẩy của nƣớc và từ đó mới chế tạo
đƣợc những con tàu chở hang nghìn tấn.
5. Các loại quy luật
Nếu xét theo lĩnh vực có thể chia thành các loại quy luật sau:
5.1. Các loại quy luật kinh tế
- Quy luật giá trị: Là quy luật cơ bản của nền kinh tế hàng hóa. Trong nền kinh tế
hàng hóa đều phải dựa vào giá trị hàng hóa. Giá trị của hàng hóa biểu thị trên thị trƣờng là
giá cả thị trƣờng, mà giá cả thị trƣờng là một nhân tố của cơ chế điều tiết thị trƣờng.
- Quy luật cung cầu (cùng với quy luật giá trị) là một nhân tố trong cơ chế thị
trƣờng. Chính giá cả hàng hóa tăng lên làm cho cầu sản phẩm hàng hóa giảm đi nhƣng


cung của hàng hóa đó tăng lên. Ngƣợc lại, giá cả hàng hóa giảm xuống làm cho cầu tăng
lên và cung giảm xuống. Cứ nhƣ vậy, sự vận dụng của cung cầu sẽ điều tiết giá cả thị
trƣờng.
- Quy luật cạnh tranh là một trong những quy luật vốn có của cơ chế thị trƣờng.
Quy luật này buộc các nhà doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải luôn luôn cố
gắng cải tiến sản phẩm, hạ giá thành và phải luôn phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách
hàng. Kết quả của quy luật cạnh tranh là làm cho giá cả hàng hóa phong phú, chất lƣợng
ngày càng cao và giá cả ngày một hạ.
5.2. Các quy luật tâm lý xã hội
- Quy luật về tính khí của con ngƣời là một tính khí của con ngƣời, gắn liền với hệ
thần kinh. Nó đƣợc biểu hiện thành những hành vi cử chỉ của con ngƣời hàng ngày. Tính
khí của con ngƣời đƣợc chia thành 4 loại: tính khí nóng, tính khí lạnh, tính khí hoạt, tính

khí ƣu tƣ.
Quy luật về nhu cầu
Nhu cầu là sự thiếu thốn về một cái gì đó mong muốn đƣợc đáp ứng. Hoặc cũng có
thể nói nhu cầu là sự mất cân bằng về mặt sinh lý. Nhu cầu là nguyên nhân sinh ra động
cơ hoạt động của con ngƣời, mọi hoạt động của con ngƣời là nhằm để thỏa mãn một nhu
cầu nào đó. Nhu cầu của con ngƣời ngày một tăng lên không ngừng. Có nhiều loại nhu
cầu: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu tự thể hiện mình…
Quy luật về lợi ích
Lợi ích là sự vận động tự giác, chủ quan của con ngƣời nhằm thỏa mãn một nhu cầu
nào đó của con ngƣời. Các quy luật về lợi ích là:
- Quan tâm lợi ích trƣớc mắt hơn lợi ích lâu dài
- Quan tâm lợi ích vật chất hơn lợi ích tinh thần
- Quan tâm lợi ích cá nhân hơn lợi ích tập thể
5.3. Các quy luật mang tính tổng quát
- Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lƣợng sản xuất.
Sản xuất đòi hỏi con ngƣời phải có quan hệ với tự nhiên và quan hệ với nhau. Hai loại
quan hệ đó hình thành lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất. Lực lƣợng sản xuất bao
gồm tƣ liệu sản xuất và ngƣời lao động cùng với kinh nghiệm và thói quen của họ. Còn


quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ trong phân phối.
Tính quy luật là quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lƣợng sản
xuất. Khi lực lƣợng sản xuất phát triển sẽ phá vỡ quan hệ sản xuất cũ và hình thành quan
hệ sản xuất mới cao hơn.
- Quy luật các quốc gia đều có mục tiêu phát triển kinh tế: dân giàu nƣớc mạnh để đảm
bảo độc lập tự chủ về đƣờng lối và chủ quyền lãnh thổ. Đây là một quy luật kinh tế tổng
quát của sự phát triển của mọi quốc gia ngày nay. Nó cũng là quy luật chi phối đƣờng lối
chủ trƣơng của mỗi nƣớc và lãnh đạo mỗi nƣớc. Chính quy luật này đang chi phối vận
mệnh của nhân loại, đó là cùng tồn tại và phát triển trong hòa bình và hội nhập kinh tế
quốc tế, hay mầm mống của chiến tranh, xâm lƣợc, chống xâm lƣợc.

- Quy luật về sự phân hóa xã hội. Đây là quy luật phát triển không đồng đều đối với mọi
quốc gia đi theo cơ chế kinh tế thị trƣờng. Một xã hội không có sự chênh lệch về thu
nhập, về kết quả hoạt động làm việc của con ngƣời tạo ra thì xã hội sẽ không có động lực,
nhƣng nếu sự chênh lệch đẩy đến lực phi lý thì trở thành mâu thuẫn và rất dễ đổ bể. Do
vậy, các nhà quản lý quốc gia phải luôn ứng dụng các quy luật tạo ra chính sách nhằm
đảm bảo công bằng hợp lý nhƣng lại luôn luôn tạo ra động lực cho xã hội phát triển.
6. Cơ chế quản lý kinh tế
6.1 Cơ chế quản lý kinh tế
Theo nghĩa hẹp của từ cơ chế, cơ chế quản lý kinh tế là sự tƣong tác giữa các phƣơng
thức, biện pháp quản lý kinh tế khi chúng đồng thời tác động lên đối tƣợng quản lý. Nó
cũng có thể đƣợc hiểu nhƣ là sự diễn biến của quá trình quản lý, trong đó có sự tác động
của từng biện pháp quản lý lên đối tƣợng, những kết quả tích cực và tiêu cực sẽ xảy ra sau
mỗi biện pháp đó, sự khắc phục các mặt tiêu cực mới phát sinh bằng các biện pháp song
hành nhƣ thế nào? Với quan niệm hẹp này, cơ chế quản lý kinh tế bao gồm các nguyên
tắc, phƣơng pháp, biện pháp quản lý, các công cụ đƣợc sử dụng đồng thời trong quá trình
tác động lên đối tƣợng quản lý.
Theo nghĩa rộng, cơ chế quản lý kinh tế cũng có thể đƣợc hiểu đồng nghĩa với
phƣơng thức (cách thức) quản lý mà qua đó Nhà nƣớc tác động vào nền kinh tế.
6.2. Các bộ phận cấu thành của cơ chế quản lý kinh tế
- Cơ chế của đối tƣợng quản lý, tức cơ chế kinh tế


- Cơ chế của chủ thể quản lý, tức cơ chế quản lý theo nghĩa hẹp (nhƣ đã nêu ở trên).
Thông qua cách nhìn toàn diện này giúp ngƣời quản lý có thể thấy đƣợc rằng, hành vi
quản lý chỉ là khâu khởi đầu, phần còn lại chính là sự tự vận hành của đối tƣợng theo cơ
chế nội tại của nó. Cơ chế quản lý bao gồm cả cơ chế khách quan và chủ quan, khách thể
và chủ thể trong sự tƣơng tác lẫn nhau.
II. Nguyên tắc quản lý Nhà nước về kinh tế
1. Định nghĩa các nguyên tắc quản lý Nhà nƣớc về kinh tế
Các nguyên tắc quản lý Nhà nƣớc về kinh tế là các quy tắc chỉ đạo, các tiêu chuẩn

hành vi mà các cơ quan quản lý Nhà nƣớc phải tuân thủ trong quá trình quản lý kinh tế.
Các nguyên tắc quản lý Nhà nƣớc về kinh tế do con ngƣời đặt ra nhƣng không phải
do ý muốn chủ quan mà phải dựa trên các yêu cầu khách quan của các quy luật chi phối
quá trình quản lý kinh tế. Đồng thời, các nguyên tắc này phải phù hợp với mục tiêu của
quản lý; phải phản ánh đúng tính chất các quan hệ kinh tế; phải đảm bảo tính hệ thống,
tính nhất quán và phải đƣợc đảm bảo bằng pháp luật.
Quản lý Nhà nƣớc đối với nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc
ta cần vận dụng các nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Nguyên tắc kết hợp quản lý ngành với quản lý theo lãnh thổ.
- Nguyên tắc phân định và kết hợp quản lý Nhà nƣớc về kinh tế với quản lý sản xuất
kinh doanh.
- Nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa ngƣời lao động, doanh nghiệp và xã hội.
- Nguyên tắc tăng cƣờng pháp chế XHCN trong quản lý Nhà nƣớc về kinh tế.
2. Các nguyên tắc quản lý Nhà nƣớc về kinh tế
2.1. Tập trung dân chủ
2.1.1. Khái niệm
Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa hai mặt cơ bản “tập
trung” và “dân chủ” trong mối quan hệ hữu cơ biện chứng chứ không phải chỉ là tập
trung, hoặc chỉ là dân chủ. “Dân chủ” là điều kiện, là tiền đề của tập trung; cũng nhƣ “tập
trung” là cái bảo đảm cho dân chủ đƣợc thực hiện. Hay nói cách khác, tập trung phải trên
cơ sở dân chủ; dân chủ phải trong khuôn khổ tập trung.


Nguyên tắc tập trung dân chủ đƣợc đặt ra xuất phát từ lí do sau đây: hoạt động kinh tế
và việc của công dân, nên công dân phải có quyền (đó là dân chủ), đông thời, trong một
chừng mực nhất định, hoạt động kinh tế của công dân có ảnh hƣởng rõ rệt tới lợi ích của
Nhà nƣớc, lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, do đó Nhà nƣớc cũng phải có quyền (đó là
tập trung).
2.1.2. Hướng vận dụng nguyên tắc

- Bảo đảm cho cả Nhà nƣớc và công dân, cho cả cấp trên và cấp dƣới, tập thể và các
thành viên tập thể đều có quyền quyết định, không thể chỉ có Nhà nƣớc hoặc chỉ có công
dân, chỉ có cấp trên hoặc chỉ có cấp dƣới có quyền. Có nghĩa là vừa phải có tập trung, vừa
phải có dân chủ.
- Quyền của mỗi bên (Nhà nƣớc và công dân; cấp trên và cấp dƣới) phải đƣợc xác lập
một cách có căn cứ khoa học và thực tiễn. Có nghĩa là, phải xuất phát từ yêu cầu và khả
năng làm chủ của mỗi chủ thể: Nhà nƣớc và công dân, cấp trên và cấp dƣới.
- Trong mỗi cấp của hệ thống quản lý nhiều cấp của Nhà nƣớc phải bảo đảm vừa có
cơ quan thẩm quyền chung, vừa có cơ quan thẩm quyền riêng. Mỗi cơ quan phải có thẩm
quyền rõ rệt, phạm vi thẩm quyền của cơ quan thẩm quyền riêng phải trong khuôn khổ
thẩm quyền chung. Trong cơ quan thẩm quyền chung, mỗi ủy viên phải đƣợc giao nhiệm
vụ nghiên cứu chuyên sâu một số vấn đề, có trách nhiệm phát biểu sâu sắc về các vấn đề
đó, đồng thời tập thể đƣợc trao đổi, bổ sung và biểu quyết theo đa số.
Tập trung quan liêu vào cấp trên, vào trung ƣơng hoặc phân tán, phép vua thua lệ
làng; chuyên quyền, độc đoán của Nhà nƣớc đến mức vi phạm nhân quyền, dân quyền
hoặc dân chủ quá trớn trong hoạt động kinh tế đều trái với nguyên tắc tập trung dân chủ.
Khuynh hƣớng phân tán, tự do vô tổ chức của nền sản xuất nhỏ đang là cản trở nguy hại
và phổ biến hiện nay.
2.2. Kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ
2.2.1. Quản lý Nhà nước theo ngành
a) Khái niệm ngành trong kinh tế (ngành kinh tế kỹ thuật)
Ngành kinh tế kỹ thuật là tổng hợp của nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh, mà hoạt
động của chúng có những đặc trƣng kỹ thuật – sản xuất giống nhau, hoặc tƣơng tự nhau,
vê: cùng thực hiện một phƣơng pháp công nghệ hoặc công nghệ tƣơng tự; sản phẩm sản


xuất ra từ một loại nguyên liệu hay nguyên liệu đồng loại; sản phẩm có công dụng cụ thể
giống nhau hoặc tƣơng tự nhau. Chẳng hạn, về công nghệ sản xuất có ngành công nghiệp
khai thác, ngành công nghiệp hóa học, ngành công nghiệp sinh hóa; về nguyên liệu cho
sản xuất có ngành công nghiệp chế biến xen-luy-lo, ngành công nghiệp chế biến kim loại

đen, kim loại màu; về công dụng của sản phẩm có ngành công nghiệp thực phẩm, ngành
chế tạo ô tô, ngành công nghiệp điện tử
b) Khái niệm quản lí theo ngành
Quản lý theo ngành là việc quản lý về mặt kỹ thuật, về nghiệp vụ chuyên môn của Bộ
quản lý ngành ở trung ƣơng đối với tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc ngành
trong phạm vi cả nƣớc.
c) Sự cần thiết phải quản lý theo ngành
Các đơn vị sản xuất trong cùng một ngành có rất nhiều mối liên hệ với nhau. Chẳng
hạn, các mối liên hệ về sản phẩm sản xuất ra ( nhƣ các thông số kỹ thuật để đảm bảo tính
lắp lẫn; chất lƣợng sản phẩm; thị trƣờng tiêu thụ…); các mối liên hệ về việc hỗ trợ và hợp
tác (nhƣ hỗ trợ và hợp tác trong việc sử dụng lao động; trang bị máy móc thiết bị; ứng
dụng công nghệ - kỹ thuật; áp dụng kinh nghiệm quản lý…)
d) Nội dung quản lý Nhà nước theo ngành
Quản lý Nhà nƣớc theo ngành bao gồm các nội dung quản lý sau đây:
- Trong việc xây dựng và triển khai thực hiện pháp luật, chủ trƣơng, chính sách phát
triển kinh tế toàn ngành.
- Trong việc xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lƣợc, quy hoach, kế hoạch và
các dự án phát triển kinh tế toàn ngành.
- Trong việc xây dựng và triển khai các chính sách, biện pháp nhằm phát triển nguồn
nhân lực, nguồn vốn, nguồn nguyên liệu và khoa học công nghệ….cho toàn ngành.
- Trong việc xây dựng và triển khai thực hiện các quan hệ tài chính giữa các đơn vị
kinh tế trong ngành với Ngân sách Nhà nƣớc.
- Thống nhất trong toàn ngành và liên ngành về việc tiêu chuẩn hóa quy cách, chất
lƣợng sản phẩm. Hình thành tiêu chuẩn quốc gia về chất lƣợng sản phẩm.


- Trong việc thực hiện các chính sách, biện pháp phát triển và mở rộng thị trƣờng tiêu
thụ sản phẩm chung cho toàn ngành và thực hiện sự bảo hộ sản xuất của ngành nội địa
trong những trƣờng hợp cần thiết.
- Trong việc áp dụng các hình thức tổ chứ sản xuất khoa học và hợp lý các đơn vị sản

xuất kinh doanh trong toàn ngành.
- Trong việc thanh tra và kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh
tế trong ngành. Định hƣớng đầu tƣ xây dựng lực lƣợng của ngành, chống sự mất cân đối
trong cơ cấu ngành và vị trí ngành trong cơ cấu chung cua rnền kinh tế quốc dân.
- Thực hiện các chính sách, các biện pháp phát triển thị trƣờng chung cho toàn
ngành, bảo hộ sản xuất ngành nội địa.
- Thống nhất hóa, tiêu chuẩn hóa quy cách, chất lƣợng hàng hóa và dịch vụ, hình
thành hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về chất lƣợng sản phẩm để cơ quan có thẩm quyền
ban bố.
- Thực hiện các biện pháp, các chính sách quốc gia trong phát triển nguồn nhân lực,
nguồn nguyên liệu, nguồn trí tuệ khoa học và công nghệ chung cho toàn ngành.
- Tham gia xây dựng các dự án Luânt, pháp lệnh, pháp quy, thẻ chế kinh tế theo
chuyên môn của mình để cùng các cơ quan chức năng chuyên môn khác hình thành hệ
thống văn bản pháp luật quản lý ngành.
2.2.2. Quản lí theo lãnh thổ.
a) Khái niệm lãnh thổ
Lãnh thổ của một nƣớc có thê chia ra thành nhiều vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó
có lãnh thổ của các đơn vị hành chính với các cấp độ khác nhau. Chẳng hạn: lãnh thổ Việt
Nam dƣợc chia thành 4 cấp: lãnh thổ cả nƣớc, lãnh thổ tỉnh, lãnh thổ huyện, lãnh thổ xã.
b) Khái niệm quản lý theo lãnh thổ
Quản lý về Nhà nƣớc trên lãnh thổ là việc tổ chức, điều hòa, phối hợp hoạt động của
tất cả các đơn vị kinh tế phân bổ trên địa bàn lãnh thổ (ở nƣớc ta, chủ yếu là theo lãnh thổ
của các đơn vị hành chính)
c) Sự cần thiết phải thực hiện quản lý kinh tế theo lãnh thổ


Các đơn vị kinh tế phân bổ trên cùng một địa bàn lãnh thổ (có thể cùng một ngành
hoặc không cùng ngành) có nhêìu mối quan hệ. Có thể kể đến các mối quan hệ chủ yếu
sau:
- Mối quan hệ về việc cung cấp và tiêu thụ sản phẩm của nhau.

- Sự hợp tác và liên kết với nhau trong việc khai thác và sử dụng các nguồn lực sẵn có
trên địa bàn lãnh thổ. Cụ thể: trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, lâm
sản, hải sản,…), khai thác và sử dụng điều kiện tự nhiên ( nhƣ đất đai, thời tiết, sông hồ,
bờ biển, thềm lục địa…); sử dụng nguồn nhân lực và ngành; xử lí chất thải, bảo vệ môi
trƣờng sinh thái; sử dụng kết cấu hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cung ứng điện nƣớc, bƣu
chính viễn thông…)
Chính vì giữa các đơn vị kinh tế trên địa bàn lãnh thổ có nhiều mối quan hệ nhƣ trên
nen đòi hỏi phải có sự tổ chức, điều hòa và phối hợp hoạt động của chúng để đảm bảo
một cơ cấu kinh tế lãnh thổ hợp lí và hoạt động kinh tế có hiệu quả trên địa bàn lãnh thổ.
d) Nội dung quản lý kinh tế theo lãnh thổ
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và dự án phát triển kinh tế - xã hội trên lãnh thổ (
không phân biệt kinh tế trung ƣơng, kinh tế địa phƣơng, các thành phần kinh tế khác
nhau) nhằm xây dựng một cơ cấu kinh tế lãnh thổ hợp lí và có hiệu quả.
- Điều hòa, phối hợp hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các đơn vị kinh tế trên
lãnh thổ nhằm tận dụng tối đa và sử dụng một cách có hiệu quả nhất nguồn lực sẵn có tại
địa phƣơng.
- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật của từng vùng lãnh thổ bao gồm: hệ
thống giao thông vận tải; cung ứng điện năng; cấp thoát nƣớc; đƣờng sá, cầu cống; hệ
thống thông tin liên lạc….để phục vụ chung cho cả cộng đồng kinh tế trên lãnh thổ.
- Thực hiện công tác thăm dò, đánh giá tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn lãnh thổ.
- Thực hiện sự phân bố các cơ sở sản xuất trên địa bàn lãnh thổ một cách hợp lí và
phù hợp với lợi ích quốc gia.
- Quản lý, kiểm soát việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên quốc gia trên địa
bàn lãnh thổ.
- Quản lý, kiểm soát việc xử lí chất thải, bảo vệ môi trƣờng sinh thái trên địa bàn lãnh
thổ.


2.2.3. Kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ.
a) Khái niệm

Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ đòi hỏi phải có sự phối hợp
chặt chẽ giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế.
Cả hai chiều quản lý đều phải có trách nhiệm chung trong việc thực hiện mục tiêu của
ngành cũng nhƣ của lãnh thổ. Sự kết hợp này sẽ tránh đƣợc tƣ tƣởng bản vị của bộ,
ngành, trung ƣơng và tƣ tƣởng cục bộ địa phƣơng của chính quyền địa phƣơng. Theo đó,
Bộ chỉ quan tâm đến lợi ích của các đơn vị kinh tế do mình thành lập và Ủy ban nhân dân
địa phƣơng chỉ quan tâm đến lợi ích của các đơn vị kinh tế của địa phƣơng. Từ đó, dẫn
đến tình trạng tranh chấp, không có sự liên kết giữa các đơn vị kinh tế trên cùng một địa
bàn lãnh thổ, do đó hiệu quả thấp.
b) Nội dung kết hợp
Sự kết hợp quản lý nhà nƣớc theo ngành và theo lãnh thổ đƣợc thực hiện nhƣ sau:
- Thực hiện quản lý đồng thời cả hai chiều: Quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh
thổ. Có nghĩa là, các đơn vị đó phải chịu sự quản lý của ngành (Bộ) đồng thời nó cũng
phải chịu sự quản lý theo lãnh thổ của chính quyền địa phƣơng trong một số nội dung
theo chế độ quy định.
- Có sự phân công quản lý rành mạch cho các cơ quan quản lý theo ngành và theo
lãnh thổ, không trùng lặp, không bỏ sót về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.
- Các cơ quan quản lý nhà nƣớc theo mỗi chiều thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản
lý theo thẩm quyền của mình trên cơ sở đồng quảnl hiệp quản, tham quản với cơ quan nhà
nƣớc thuộc chiều kia, theo quy định cụ thể của Nhà nƣớc. Đồng quản là cùng có quyền và
cùng nhau ra quyết định quản lý theo thể thức liên tịch. Hiệp quản là cùng nhau ra quyết
định quản lý theo thẩm quyền, theo vấn đề thuộc tuyến của mình nhƣng có sự thƣơng
lƣợng, trao đổi, bàn bạc để hai loại quyết định của mỗi bên tƣơng đắc với nhau. Tham
quản là việc quản lý , ra quyết định của mỗi bên phải trên cơ sở đƣợc lấy ý kiến của bên
kia.


×